Hệ thống báo cáo tài chính là những báo cáo tổng hợp nhất về tình hình tài chính của doanh nghiệp, về kết quả kinh doanh của doanh nghiệp sau một chu kỳ kinh doanh. Thông tin của hệ thống báo cáo tài chính không chỉ cần thiết cho các nhà quản lý doanh nghiệp mà còn là sự quan tâm của các nhà đầu tư, cơ quan quản lý nhà nước, người lao động, các đối thủ cạnh tranh… Do đó việc phân tích hệ thống báo cáo tài chính là công cụ mang tính chất nghiệp vụ trợ giúp đắc lực cho từng đối tượng quan tâm kể trên. Tuỳ từng đối tượng mà nội dung và phương pháp phân tích khác nhau cho phù hợp với mục đích. Công ty Cổ phần Bảo hiểm Quân đội (Tên viết tắt bằng tiếng anh là MIC) được thành lập ngày 8102007 theo Giấy phép thành lập và hoạt động số 43GPKDBH của Bộ Tài chính và là doanh nghiệp bảo hiểm đầu tiên thành lập theo Nghị định số 45CP ngày 2732007 của Chính Phủ với vốn điều lệ là 300 tỷ đồng, hoạt động trong lĩnh vực Bảo hiểm phi nhân thọ. Đặc biệt là trong giai đoạn tới, Công ty tiến hành niêm yết chứng khoán trên sàn giao dịch thì hệ thống báo cáo tài chính hay còn gọi là cáo bạch trở thành thông tin tổng hợp mang đầy đủ tính chất pháp lý cho các đối tượng bên ngoài doanh nghiệp cần quan tâm phân tích. Do đó, việc phân tích hệ thống báo cáo của Công ty Cổ phần Bảo hiểm Quân đội để đánh giá tình hình tài chính cũng như khả năng của Công ty trong tương lai là rất cần thiết.Chính vì những lý do trên mà em chọn “Hoàn thiện nội dung và phương pháp phân tích báo cáo tài chính tại Công ty Cổ phần Bảo hiểm Quân đội” làm đề tài luận văn thạc sỹ của mình.
Trang 1DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH M C CÁC B NG, S ỤC CÁC BẢNG, SƠ ĐỒ ẢNG, SƠ ĐỒ Ơ ĐỒ ĐỒ
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH TRONG CÁC CÔNG TY BẢO HIỂM 3
1.1 Báo cáo tài chính và phân tích báo cáo tài chính 3
1.1.1 Báo cáo tài chính 3
1.1.2 Phân tích BCTC 7
1.2 Nội dung và phương pháp phân tích BCTC trong các công ty bảo hiểm 9
1.2.1 Đặc điểm của các công ty bảo hiểm có ảnh hưởng đến nội dung và phương pháp phân tích BCTC 9
1.2.2 Nội dung phân tích BCTC 14
1.2.3 Phương pháp phân tích BCTC 36
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN BẢO HIỂM QUÂN ĐỘI 40
2.1 Tổng quan về Công ty Cổ phần BH Quân đội 40
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển 40
2.1.2 Đặc điểm hoạt động kinh doanh 41
2.1.3 Đặc điểm tổ chức bộ máy quản lý hoạt động kinh doanh 46
2.1.4 Đặc điểm tổ chức bộ máy kế toán và bộ sổ kế toán 48
2.1.5 Vai trò và xu thế phát triển 51
2.2 Khái quát chung về nội dung và phương pháp phân tích BCTC tại Công ty Cổ phần BH Quân đội 51
2.2.1 Về nội dung phân tích 51
2.2.2 Về phương pháp phân tích 52
2.3 Thực trạng nội dung và phương pháp phân tích BCTC tại Công ty Cổ phần BH Quân đội 52
2.3.1 Phân tích cấu trúc tài chính 52
2.3.2 Phân tích BCTC để xem xét tình hình đảm bảo nguồn vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty 59
2.3.3 Phân tích tình hình và khả năng thanh toán của Công ty 60
2.3.4 Phân tích hiệu quả kinh doanh của Công ty 66
Trang 2Công ty Cổ phần BH Quân đội 72
2.4.1 Về phương pháp phân tích 72
2.4.2 Về nội dung phân tích 73
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN BẢO HIỂM QUÂN ĐỘI 75
3.1 Mục tiêu và phương hướng hoàn thiện nội dung và phương pháp phân tích BCTC tại Công ty Cổ phần BH Quân đội 75
3.1.1 Mục tiêu hoàn thiện 75
3.1.2 Phương hướng hoàn thiện 77
3.2 Giải pháp hoàn thiện nội dung và phương pháp phân tích BCTC tại Công ty Cổ phần BH Quân đội 78
3.2.1 Hoàn thiện công tác tổ chức phân tích BCTC tại Công ty Cổ phần BH Quân đội 78
3.2.2 Hoàn thiện nội dung phân tích BCTC tại Công ty Cổ phần BH Quân đội 80
3.2.3 Hoàn thiện phương pháp phân tích BCTC tại Công ty Cổ phần BH Quân đội 96
3.3 Điều kiện thực hiện các giải pháp hoàn thiện nội dung và phương pháp phân tích BCTC tại Công ty Cổ phần BH Quân đội 99
3.3.1 Về phía Nhà nước 99
3.3.2 Về phía Công ty 103
KẾT LUẬN 105
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 106
Trang 3BH Bảo hiểm
Trang 4Bảng 2.1 Bảng phân tích tình hình biến động của tài sản năm 2009 54
Bảng 2.2 Bảng phân tích tình hình biến động của nguồn vốn năm 2009 58
Bảng 2.3 Bảng phân tích mức độ đảm bảo nguồn vốn cho hoạt động kinh doanh năm 2009 60
Bảng 2.4 Bảng phân tích các tỷ suất liên quan đến khoản phải thu năm 2009 61
Bảng 2.5 Bảng phân tích các khoản phải thu năm 2009 62
Bảng 2.6: Bảng phân tích các khoản phải thu khách hàng năm 2009 63
Bảng 2.7: Bảng phân tích các khoản trả trước cho người bán năm 2009 64
Bảng 2.8 Bảng phân tích các khoản nợ phải trả năm 2009 64
Bảng 2.9 Bảng phân tích khả năng thanh toán năm 2009 66
Bảng 2.10 Bảng phân tích Báo cáo kết quả kinh doanh năm 2008 và 2009 .68
Bảng 2.11: Phân tích dòng tiền trên Báo cáo lưu chuyển tiền tệ năm 2009 69
Bảng 2.12 Bảng phân tích hiệu quả sử dụng tài sản 70
Bảng 2.13 Bảng phân tích hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn 71
Bảng 2.14 Bảng phân tích giá trị DN của Công ty 72
Bảng 3.1 Bảng phân tích các chỉ tiêu đánh giá khái quát tình hình tài chính năm 2009 81
Bảng 3.2 Bảng phân tích các chỉ tiêu về cân bằng tài chính trong năm 2009 82
Bảng 3.3 Bảng phân tích khả năng và nhu cầu thanh toán của Công ty tại ngày 31/12/2009 84
Bảng 3.4 Bảng tính biên khả năng thanh toán tối thiểu của Công ty tại ngày 31/12/2009 85
Bảng 3.5 Bảng tính biên khả năng thanh toán của Công ty CPBH Quân đội năm 2009 86
Bảng 3.6 Bảng phân tích Báo cáo kết quả kinh doanh năm 2008 và 2009 .89
Bảng 3.7 Bảng đánh giá khái quát hiệu quả kinh doanh của DN 91
Bảng 3.8 Bảng phân tích cổ phiếu Công ty Cổ phần BH Quân đội 93
Bảng 3.9: Các chỉ tiêu phản ánh rủi ro tài chính qua cơ cấu nợ năm 2009 .95
Bảng 3.10: Bảng tính các nhân tố tác động đến ROE của Công ty 97
Bảng 3.11: Bảng phân tích ROE theo phương pháp Dupont của Công ty 98
SƠ ĐỒ Sơ đồ 1.1: Mối quan hệ giữa các chỉ tiêu phản ánh suất sinh lời theo phương pháp Dupont 38
Sơ đồ 2.1: Sơ đồ khái quát bộ máy quản lý hoạt động kinh doanh của Công ty Cổ phần Bảo hiểm Quân đội 47
Sơ đồ 2.2: Mô hình tổ chức bộ máy kế toán của Công ty CPBH Quân đội
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hệ thống báo cáo tài chính là những báo cáo tổng hợp nhất về tình hình tàichính của doanh nghiệp, về kết quả kinh doanh của doanh nghiệp sau một chu kỳkinh doanh Thông tin của hệ thống báo cáo tài chính không chỉ cần thiết cho cácnhà quản lý doanh nghiệp mà còn là sự quan tâm của các nhà đầu tư, cơ quan quản
lý nhà nước, người lao động, các đối thủ cạnh tranh… Do đó việc phân tích hệthống báo cáo tài chính là công cụ mang tính chất nghiệp vụ trợ giúp đắc lực chotừng đối tượng quan tâm kể trên Tuỳ từng đối tượng mà nội dung và phương phápphân tích khác nhau cho phù hợp với mục đích
Công ty Cổ phần Bảo hiểm Quân đội (Tên viết tắt bằng tiếng anh là MIC) được thành lập ngày 8/10/2007 theo Giấy phép thành lập và hoạt động số 43GP/KDBH của Bộ Tài chính và là doanh nghiệp bảo hiểm đầu tiên thành lập theo Nghị định số 45/CP ngày 27/3/2007 của Chính Phủ với vốn điều lệ là 300 tỷ đồng, hoạt động tronglĩnh vực Bảo hiểm phi nhân thọ Đặc biệt là trong giai đoạn tới, Công ty tiến hành niêm yết chứng khoán trên sàn giao dịch thì hệ thống báo cáo tài chính hay còn gọi là cáo bạch trở thành thông tin tổng hợp mang đầy đủ tính chất pháp lý cho các đối tượng bên ngoài doanh nghiệp cần quan tâm phân tích Do đó, việc phân tích hệ thống báo cáo của Công ty Cổ phần Bảo hiểm Quân đội để đánh giá tình hình tài chính cũng như khả năng của Công ty trong tương lai là rất cần thiết
Chính vì những lý do trên mà em chọn “Hoàn thiện nội dung và phương pháp phân tích báo cáo tài chính tại Công ty Cổ phần Bảo hiểm Quân đội” làm
đề tài luận văn thạc sỹ của mình
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận về phân tích báo cáo tài chính củadoanh nghiệp, luận văn tập trung phân tích báo cáo tài chính tại Công ty Cổ phầnBảo hiểm Quân đội để đề xuất những giải pháp nhằm tăng cường quản lý tài chínhtại Công ty Cổ phần Bảo hiểm Quân đội
Nhiệm vụ khoa học của luận văn:
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về nội dung phân tích báo cáo tài chính;
- Phân tích báo cáo tài chính của Công ty Cổ phần Bảo hiểm Quân đội;
- Nêu lên định hướng và các giải pháp thiết thực để tăng cường quản lý tàichính tại Công ty Cổ phần Bảo hiểm Quân đội trong giai đoạn hiện nay
Trang 73 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Cơ sở lý luận và thực trạng về phân tích hệ thống báocáo tài chính
- Phạm vi nghiên cứu: Giới hạn tại Công ty Cổ phần Bảo hiểm Quân đội
4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp duy vật biện chứng là cơ sở nền tảng để nghiên cứu Ngoài raluận văn còn sử dụng các phương pháp toán học, hệ thống hoá kết hợp với lý luận
cơ bản của khoa học chuyên ngành kế toán tài chính để nghiên cứu đề tài này
6 Kết cấu của đề tài
Ngoài lời mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 phần:Chương 1: Cơ sở lý luận về nội dung và phương pháp phân tích báo cáo tàichính trong các Công ty Bảo hiểm
Chương 2: Thực trạng nội dung và phương pháp phân tích báo cáo tài chính tạiCông ty Cổ phần Bảo hiểm Quân đội
Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện nội dung và phương phápphân tích báo cáo tài chính tại Công ty Cổ phần Bảo hiểm Quân đội
Trang 8CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH TRONG CÁC
CÔNG TY BẢO HIỂM
1.1 Báo cáo tài chính và phân tích báo cáo tài chính
1.1.1 Báo cáo tài chính
Báo cáo tài chính (BCTC) là hệ thống báo cáo được lập theo chuẩn mực vàchế độ kế toán hiện hành phản ánh các thông tin kinh tế, tài chính chủ yếu của đơn
vị Theo đó, BCTC chứa đựng những thông tin tổng hợp nhất về tình hình tài sản,nguồn vốn chủ sở hữu và công nợ cũng như tình hình tài chính, kết quả kinh doanhtrong kỳ của doanh nghiệp (DN)
Theo quyết định số 15/2006/QĐ-BTC do Bộ Tài chính ban hành ngày20/03/2006, quy định đối với các DN Nhà nước, hệ thống BCTC bao gồm:
1/ Bảng cân đối kế toán (Mẫu số B01-DN)
2/ Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh (Mẫu số B02-DN)
3/ Báo cáo lưu chuyển tiền tệ (Mẫu số B03-DN)
4/ Thuyết minh BCTC (Mẫu số B09-DN)
Trong hệ thống BCTC, mỗi loại báo cáo trên lại có vai trò cung cấp thông tin đốivới việc phân tích tình hình tài chính DN dưới góc độ cụ thể khác nhau: [15,t9-t10]
- Bảng cân đối kế toán: Cung cấp những thông tin về tình hình tài sản, cáckhoản nợ, nguồn hình thành tài sản của DN tại một thời kỳ nhất định, giúp cho việcđánh giá phân tích thực trạng tài chính của DN, như: tình hình biến động về quy mô
và cơ cấu tài sản, nguồn hình thành tài sản, về tình hình thanh toán và khả năng thanhtoán, tình hình phân phối lợi nhuận Đồng thời, giúp cho việc đánh giá khả năng huyđộng nguồn vốn vào quá trình sản xuất kinh doanh của DN trong thời gian tới
- Báo cáo kết quả kinh doanh: Cung cấp những thông tin về kết quả sản xuấtkinh doanh của DN trong kỳ, cung cấp những thông tin về tình hình thực hiện nghĩa
vụ đối với Ngân sách Nhà nước của DN Từ sự phân tích các số liệu trên báo kếtquả kinh doanh, giúp quản trị DN và các đối tượng sử dụng thông tin đánh giá đượccác thay đổi tiềm tàng về các nguồn lực kinh tế mà DN có thể kiểm soát trong tươnglai, đánh giá khả năng sinh lợi của DN, hoặc đánh giá tính hiệu quả của các nguồnlực bổ sung mà DN có thể sử dụng
Trang 9- Báo cáo lưu chuyển tiền tệ: cung cấp những thông tin về biến động tài chínhtrong DN, giúp cho việc phân tích các hoạt động đầu tư, tài chính, kinh doanh của
DN, nhằm đánh giá khả năng tạo ra nguồn tiền và khoản tương đương tiền trongtương lai, cũng như việc sử dụng các nguồn tiền này cho các hoạt động kinh doanh,đầu tư tài chính của DN
- Thuyết minh BCTC: Cung cấp những thông tin chi tiết hơn về tình hình sảnxuất kinh doanh, về tình hình tài chính của DN, giúp cho việc phân tích một cách cụthể một số chỉ tiêu, phản ánh tình hình tài chính khác không thể trình bày được Như vậy, có thể nói hệ thống BCTC là “bức tranh sinh động nhất”, đầy đủnhất, cung cấp toàn bộ những thông tin kế toán hữu ích, giúp cho việc phân tíchthực trạng tài chính của DN Đồng thời, phản ánh khả năng huy động mọi nguồnvốn vào quá trình sản xuất kinh doanh của DN trong thời gian tới Trên cơ sở đánhgiá và nhận định, các nhà quản trị DN có thể căn cứ vào kết quả phân tích tình hìnhtài chính của DN để đề ra những quyết định trong kinh doanh, nhằm đạt được kếtquả cao nhất trong hoạt động sản xuất kinh doanh của DN Đồng thời cũng là quátrình thực hiện việc kiểm tra, kiểm soát đối với các hoạt động tài chính – khâu trungtâm của mọi hoạt động, đảm bảo cho mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của DNđạt kết quả cao, đúng hướng, đúng pháp luật
BCTC theo chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS)
Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam, BCTC phải phản ánh theo một cấu trúcchặt chẽ tình hình tài chính, kết quả kinh doanh của một DN Để hiểu sâu hơn vềBCTC, ta tìm hiểu về mục đích, yêu cầu, nguyên tắc lập, kết cấu và nội dung chủyếu của các BCTC theo chuẩn mực kế toán Việt Nam (chuẩn mực số 21 – VAS 21)
về “Trình bày báo cáo tài chính”
Mục đích của BCTC là cung cấp các thông tin về tình hình tài chính, tìnhhình kinh doanh và các luồng tiền của một DN, đáp ứng nhu cầu hữu ích cho sốđông những người sử dụng trong việc đưa ra các quyết định kinh tế Để đạt mụcđích này BCTC phải cung cấp những thông tin của một DN về: tài sản, nợ phải trả;vốn chủ sở hữu; doanh thu, thu nhập khác, chi phí, lãi và lỗ; các luồng tiền Vì vậy,theo VAS hệ thống BCTC của DN gồm:
- Bảng cân đối kế toán
- Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
- Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
- Bản thuyết minh BCTC
Để đảm bảo yêu cầu trung thực và hợp lý các BCTC phải được lập và trình
Trang 10bày trên cơ sở tuân thủ các chuẩn mực kế toán và các quy định có liên quan hiệnhành Do đó khi lập BCTC DN phải tuân thủ các nguyên tắc sau: nguyên tắc hoạtđộng liên tục, nguyên tắc cơ sở kế toán dồn tích, nguyên tắc nhất quán, nguyên tắctrọng yếu, nguyên tắc bù trừ, nguyên tắc có thể so sánh Từ mục đích và các nguyêntắc lập, theo chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS 21) BCTC bao gồm 4 mẫu đượclập với nội dung như sau:
Bảng cân đối kế toán là BCTC cơ bản tổng hợp, toàn diện, cung cấp thôngtin tổng quát tình hình tài sản của DN theo giá trị ghi sổ của tài sản và nguồn hìnhthành tài sản tại một thời điểm nhất đinh (cuối tháng, cuối quý, cuối năm) Bảng cânđối kế toán được kết cấu dưới dạng bảng cân đối số dư các tài khoản kế toán vàđược sắp xếp theo trật tự các chỉ tiêu (được mã hoá) theo yêu cầu của quản lý gồmtài sản và nguồn vốn Phần “Tài sản” phản ánh giá trị ghi sổ của toàn bộ tài sản hiện
có của DN đến cuối năm kế toán đang tồn tại dưới nhiều hình thái và trong tất cảcác giai đoạn, các khâu của quá trình kinh doanh Phần “Nguồn vốn” phản ánhnguồn hình thành các loại tài sản của DN đến cuối kỳ hạch toán
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là BCTC phản ánh tóm lược các khoảndoanh thu, chi phí, kết quả phát sinh từ kết quả hoạt động kinh doanh và ngoài hoạtđộng kinh doanh của DN trong một thời kỳ nhất định Đồng thời báo cáo kết quả kinhdoanh còn phản ánh chi phí thuế thu nhập và lợi nhuận thuần của DN trong kỳ đó.Báo cáo lưu chuyển tiền tệ là BCTC tổng hợp, phản ánh việc hình thành và sửdụng lượng tiền phát sinh trong kỳ báo cáo của DN Thông tin về lưu chuyển tiền tệcủa DN cung cấp cho người sử dụng thông tin có cơ sở để đánh giá khả năng tạo racác khoản tiền và việc sử dụng những khoản tiền đã tạo ra đó trong hoạt động kinhdoanh của DN DN trình bày các luồng tiền từ hoạt động kinh doanh, hoạt độngđầu tư và hoạt động tài chính theo cách thức phù hợp nhất với đặc điểm kinh doanhcủa DN
Thuyết minh BCTC là báo cáo nhằm thuyết minh và giải trình bằng lời, bằng
số liệu một số chỉ tiêu kinh tế - tài chính chưa được thể hiện trên các BCTC ở trên.Bảng thuyết minh này cung cấp thông tin bổ sung cần thiết cho việc đánh giá kếtquả kinh doanh của DN trong năm báo cáo được chính xác
BCTC theo chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS)
Do chế độ kế toán giữa từng quốc gia có nhiều điểm khác nhau nên chế độBCTC cũng không giống nhau Việc hoàn thiện hệ thống BCTC của Việt Namnhằm cung cấp các thông tin kịp thời, chính xác cho những đối tượng sử dụng đồngthời phù hợp với thông lệ kế toán quốc tế trong tiến trình hội nhập vào nền kinh tếtoàn cầu là mục tiêu mà chúng ta luôn hướng tới Chính vì vậy, nghiên cứu nội dung
Trang 11của BCTC theo chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS) nhằm tìm ra những ưu điểm, vậndụng linh hoạt vào thực tế Việt Nam là một việc làm cần thiết
Chuẩn mực kế toán quốc tế về trình bày BCTC (Chuẩn mực số 1 – IAS1) mô
tả cơ sở cho việc trình bày các BCTC Chuẩn mực này thiết lập khuôn khổ và tráchnhiệm của việc trình bày các BCTC, hướng dẫn cấu trúc và yêu cầu nội dung tốithiểu trên các BCTC và được áp dụng cho tất cả các BCTC trên cơ sở các chuẩnmực kế toán quốc tế [10,t13] Một hệ thống đầy đủ các BCTC bao gồm:
- Bảng cân đối kế toán
- Báo cáo kết quả kinh doanh
- Báo cáo khác phản ánh những thay đổi về vốn chủ sở hữu, những thay đổi vềvốn chủ sở hữu ngoài các nghiệp vụ góp vốn và phân chia cho chủ sở hữu
- Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
- Các chính sách kế toán và các thuyết minh khác
Cũng theo IAS 1, các nguyên tắc cơ bản phải tuân thủ khi lập BCTC bao gồm:nguyên tắc hoạt động liên tục, nguyên tắc nhất quán với năm trước, nguyên tắc dồntích, nguyên tắc trọng yếu Bên cạnh đó, IAS 1 còn quy định các yêu cầu phải tuântheo khi lập BCTC: tính kịp thời; tính khả dụng của các phương pháp áp dụng; nêucác chuẩn mực được áp dụng trước kia; cơ sở cho việc lựa chọn một chính sách kếtoán và cách thức trình bày các cơ sở này; quy tắc cho việc bù trừ tài sản và công nợ,
bù trừ chi phí và doanh thu; các chỉ tiêu mang tính so sánh Từ các nguyên tắc và yêucầu lập BCTC trên, nội dung và kết cấu của các BCTC cũng được chỉ ra, tuy nhiênkhông bắt buộc phải theo mẫu chuẩn tuyệt đối:
Bảng cân đối kế toán phải bao gồm các khoản mục hàng dọc trình bày các sốliệu bằng tiền sau: các tài sản cố định hữu hình, các tài sản cố định vô hình, các tàisản tài chính, các khoản đầu tư được hạch toán theo phương pháp nguồn vốn chủ sởhữu, hàng tồn kho, các khoản phải thu của khách hàng và các khoản phải thu khác,tiền mặt và tương đương tiền mặt, các khoản phải trả cho nhà cung cấp và cáckhoản phải trả khác, các khoản thuế phải thu và phải trả, các khoản dự phòng, cáckhoản nợ cố định chịu lãi, các phần của cổ đông thiểu số không thuộc quyền sở hữucủa DN, nguồn vốn phát hành và các khoản dự trữ
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh phải bao gồm các khoản mục hàng dọctrình bày tối thiểu các số liệu bằng tiền sau: thu nhập, kết quả phát sinh từ các hoạtđộng kinh doanh, các chi phí tài chính, phần trăm kết quả của các công ty thànhviên và các liên doanh được hạch toán theo phương pháp nguồn vốn chủ sở hữu, chiphí thuế, kết quả phát sinh từ các hoạt động bình thường, các khoản mục bất
Trang 12thường, phần của các cổ đông thiểu số không thuộc quyền sở hữu của DN, kết quảthuần của niên độ.
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ cần trình bày các luồng tiền trong kỳ được phânloại theo các hoạt động kinh doanh, hoạt động đầu tư, hoạt động tài chính Cácluồng tiền từ hoạt động kinh doanh chủ yếu bắt nguồn từ các hoạt động sinh lời cơbản của DN, thường là kết quả của các giao dịch và sự kiện có tham gia vào việcxác định lãi hay lỗ ròng Các luồng tiền từ hoạt động đầu tư thể hiện phạm vi màcác chi phí được thực hiện cho các nguồn dự dịnh sẽ tạo ra lợi nhuận và các luồngtiền trong tương lai: thu từ bán các cổ phiếu, trái phiếu của các công ty khác Cácluồng tiền từ hoạt động tài chính thường gồm tiền ròng thu được từ việc phát hành
cổ phiếu hay các công cụ về vốn khác, tiền trả cho các chủ sở hữu để mua hay thanhtoán các cổ phiếu của DN, tiền ròng thu từ việc phát hành trái phiếu, thương phiếu,tiền trả các khoản đã vay
Phần thuyết minh các BCTC của một DN trình bày các thông tin về cơ sở tiêuchí dùng để lập BCTC và các chính sách kế toán cụ thể được chọn và áp dụng đốivới các nghiệp vụ giao dịch và các sự kiện quan trọng Thuyết minh BCTC cũngnêu ra các thông tin cần phải được cung cấp theo quy định của các Chuẩn mực Kếtoán Quốc tế nhưng không được trình bày trong các bảng BCTC khác và cung cấpcác thông tin bổ sung không được trình bày trong các bảng BCTC khác nhưng lạicần thiết cho việc trình bày trung thực
Như vậy, qua nghiên cứu về chuẩn mực kế toán Việt Nam và chuẩn mực kếtoán quốc tế ta thấy về cơ bản chế độ kế toán Việt Nam đã tuân thủ và kế thừa đượcnhững ưu điểm của chuẩn mực kế toán quốc tế Tuy nhiên, để hệ thống BCTC thực
sự tiết kiệm công sức trong khâu chuẩn bị, minh bạch, dễ hiểu, dễ kiểm tra, kiểmsoát đòi hỏi chúng ta phải sửa đổi và hoàn thiện hơn nữa cho phù hợp với nền kinh
tế thị trường còn nhiều bước phát triển
1.1.2 Phân tích BCTC
Phân tích BCTC là quá trình xem xét, kiểm tra, đối chiếu và so sánh số liệu vềtài chính trong kỳ hiện tại với các kỳ kinh doanh đã qua Thông qua việc phân tíchBCTC sẽ cung cấp cho người sử dụng thông tin có thể đánh giá BCTC sẽ cung cấpcho người sử dụng thông tin có thể đánh giá tiềm năng, hiệu quả kinh doanh cũngnhư những rủi ro về tài chính trong tương lai của DN Phân tích BCTC nhằm cungcấp những thông tin hữu ích không chỉ cho quản trị DN mà còn cung cấp nhữngthông tin kinh tế - tài chính chủ yếu cho các đối tượng sử dụng thông tin ngoài DN.Bởi vậy, phân tích BCTC không phải chỉ phản ánh tình hình tài chính của DN tạimột thời điểm nhất định, mà còn cung cấp những thông tin về kết quả hoạt động sản
Trang 13xuất kinh doanh của DN đã đạt được trong một kỳ nhất định [15,t8]
Phân tích BCTC xét theo nghĩa khái quát đề cập tới nghệ thuật phân tích vàgiải thích các BCTC Để áp dụng hiệu quả nghệ thuật này đòi hỏi phải thiết lập mộtquy trình có hệ thống và logic, có thể sử dụng làm cơ sở cho việc ra quyết định.Trong phân tích cuối cùng, việc ra quyết định là mục đích chủ yếu của phân tíchBCTC Dù cho đó là nhà đầu tư cổ phần vốn có tiềm năng, một nhà cho vay tiềmtàng, hay một nhà phân tích tham mưu của một công ty đang được phân tích, thìmục tiêu cuối cùng đều như nhau - đó là cung cấp cơ sở cho việc ra quyết định hợp
lý Các quyết định xem nên mua hay bán cổ phần, nên cho vay hay từ chối hoặc nênlựa chọn giữa cách tiếp tục kiểu trước đây hay là chuyển sang một quy trình mới, tất
cả sẽ phần lớn sẽ phụ thuộc vào các kết quả phân tích tài chính có chất lượng Loạihình quyết định đang được xem xét sẽ là yếu tố quan trọng của phạm vi phân tích,nhưng mục tiêu ra quyết định là không thay đổi Chẳng hạn, cả những người muabán cổ phần lẫn nhà cho vay ngân hàng đều phân tích các BCTC và coi đó như làmột công việc hỗ trợ cho việc ra quyết định, tuy nhiên phạm vị chú ý chính trongnhững phân tích của họ sẽ khác nhau Nhà cho vay ngân hàng có thể quan tâmnhiều hơn tới khả năng cơ động chuyển sang tiền mặt trong thời kỳ ngắn hạn và giátrị lý giải của các tài sản có tính cơ động Còn các nhà đầu tư cổ phần tiềm năngquan tâm hơn đến khả năng sinh lợi lâu dài và cơ cấu vốn Tuy nhiên, trong cả haitrường hợp, sự định hướng vào việc ra quyết định của công tác phân tích là đặctrưng chung
Có hai mục đích hoặc mục tiêu trung gian trong phân tích BCTC, đồng thời làmối quan tâm cho mọi nhà phân tích thông minh
- Thứ nhất, mục tiêu ban đầu của việc phân tích BCTC là nhằm để "hiểu đượccác con số" hoặc để "nắm chắc các con số", tức là sử dụng các công cụ phân tích tàichính như là một phương tiện hỗ trợ để hiểu rõ các số liệu tài chính trong báo cáo.Như vậy, người ta có thể đưa ra nhiều biện pháp phân tích khác nhau nhằm để miêu
tả những quan hệ có nhiều ý nghĩa và chắt lọc thông tin từ các dữ liệu ban đầu
- Thứ hai, do sự định hướng của công tác phân tích tài chính nhằm vào việc raquyết định, một mục tiêu quan trọng khác là nhằm đưa ra một cơ sở hợp lý cho việc
dự đoán tương lai Trên thực tế, tất cả các công việc ra quyết định, phân tích tàichính hay tất cả những việc tương tự đều nhằm hướng vào tương lai Do đó, người
ta sử dụng các công cụ và kĩ thuật phân tích BCTC nhằm cố gắng đưa ra đánh giá
có căn cứ về tình hình tài chính tương lai của công ty, dựa trên phân tích tình hìnhtài chính trong quá khứ và hiện tại, và đưa ra ước tính tốt nhất về khả năng củanhững sự cố kinh tế trong tương lai.Trong nhiều trường hợp người ta nhận thấy
Trang 14rằng, phần lớn công việc phân tích BCTC bao gồm việc xem xét cẩn thận, tỷ mỉ cácBCTC, thậm chí cả việc đọc kỹ lưỡng hơn đối với các chú thích và việc sắp xếp lạihoặc trình bày lại các số liệu sẵn có để đáp ứng nhu cầu của người phân tích Khi
đó, người ta có thể hỏi tại sao không thể chấp nhận các BCTC đã chuẩn bị theo cácmệnh giá, nói cách khác là tại sao lại “can thiệp vào các con số” ngay từ đầu? Câutrả lời hiển nhiên là, hầu như luôn luôn phải có can thiệp đôi chút để “hiểu rõ cáccon số” Nhìn chung, đòi hỏi phải có sự phân tích nào đó với tư cách là bước đầutiên đối với BCTC đã được chuẩn bị nhằm chắt lọc các thông tin từ các số liệu trìnhbày trong báo cáo Thứ hai, hầu hết các quyết định được thực hiện trên cơ sở phântích BCTC là khá quan trọng, cho nên việc chấp nhận các số liệu tài chính đã trìnhbày lúc đầu thường là một cách làm không tốt Về mặt tài chính, hầu hết các quyếtđịnh đều đòi hỏi phải sử dụng một kết cấu logic, trong đó, các cảm nghĩ và các kếtluận có thể được phát triển một cách có hệ thống và có ý kiến đánh giá hợp lý.[16]
1.2 Nội dung và phương pháp phân tích BCTC trong các công ty bảo hiểm
1.2.1 Đặc điểm của các công ty bảo hiểm có ảnh hưởng đến nội dung và phương pháp phân tích BCTC
Hoạt động kinh doanh bảo hiểm là hoạt động hết sức đặc thù bắt đầu xuấthiện ở nước ta vào năm 1993 sau khi có sự ra đời của Nghị định 100/1993/NĐ-CP.Hiện nay, loại hình kinh doanh này chịu sự quy định của Luật kinh doanh bảo hiểm
số 24/2000/QH10 của Quốc hội và hai nghị định mới nhất: nghị định
45/2007/NĐ-CP của Chính phủ về việc quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Kinhdoanh bảo hiểm và nghị định 46/2007/NĐ-CP của Chính phủ về việc quy định chế
độ tài chính đối với DNBH và DN môi giới BH Đối với từng loại hình DN, việc ápdụng phương pháp và thực hiện nội dung phân tích sẽ có những khác biệt nhất định.Chính vì vậy, để phục vụ cho việc phân tích BCTC của Công ty Cổ phần Bảo hiểmQuân đội, trong chương này, ta đi nghiên cứu đặc điểm tổ chức hoạt động kinhdoanh, đặc điểm quản lý tài chính và đặc điểm doanh thu, chi phí, kết quả của cáccông ty bảo hiểm nói chung
Đặc điểm tổ chức hoạt động kinh doanh
Theo điều 60 của Nghị định số 46/2007/NĐ-CP ngày 27/03/2007 của Chínhphủ về việc Quy định chế độ tài chính đối với DN bảo hiểm (BH) và DN môi giới
BH, hoạt động của DNBH bao gồm:
- Kinh doanh BH, kinh doanh tái BH;
- Đề phòng, hạn chế rủi ro, tổn thất;
- Giám định tổn thất;
Trang 15- Đại lý giám định tổn thất, xét giải quyết bồi thường, yêu cầu người thứ ba bồi hoàn;
- Quản lý quỹ và đầu tư vốn;
- Các hoạt động khác theo quy định của pháp luật
Trong đó, kinh doanh BH là hoạt động của DNBH nhằm mục đích sinh lợi,theo đó DNBH chấp nhận rủi ro của người được BH, trên cơ sở bên mua BH đóngphí BH để DNBH trả tiền BH cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho ngườiđược BH khi xảy ra sự kiện BH
Kinh doanh tái BH là hoạt động của DNBH nhằm mục đích sinh lợi, theo đóDNBH nhận một khoản phí BH của DNBH khác để cam kết bồi thường cho cáctrách nhiệm đã nhận BH Kinh doanh tái BH bao gồm:
+ Chuyển 1 phần trách nhiệm đã nhận BH cho một hay nhiều DNBH khác;+ Nhận BH lại một phần hay toàn bộ trách nhiệm mà DNBH khác đã nhận BHCũng theo nghị định này, DNBH không được phép đồng thời kinh doanh BHnhân thọ và BH phi nhân thọ, trừ trường hợp DNBH phi nhân thọ kinh doanh dịch
vụ BH sức khoẻ và BH tai nạn con người bổ trợ cho BH nhân thọ
Đặc điểm quản lý tài chính
Theo quy định của Nghị định số 46/2007/NĐ-CP, DNBH, DN môi giới BH tựchủ về tài chính, tự chịu trách nhiệm về quản lý giám sát hoạt động tài chính, kếtquả hoạt động kinh doanh và thực hiện các nghĩa vụ, cam kết của mình theo quyđịnh của pháp luật Theo điều 4 của Nghị định số 46/2007/NĐ-CP, mức vốn phápđịnh của DNBH được quy định như sau:
+ Kinh doanh BH phi nhân thọ: 300.000.000.000 đồng Việt Nam;
+ Kinh doanh BH nhân thọ: 600.000.000.000 đồng Việt Nam
Mức vốn pháp định của DN môi giới BH: 4.000.000.000 đồng Việt Nam.Sau khi các thành viên, cổ đông góp hoặc cam kết góp vốn trong một thời hạnnhất định, khoản vốn đó chính là vốn điều lệ của DNBH, khoản vốn này sẽ được ghivào điều lệ DNBH Trong quá trình hoạt động, DNBH, DN môi giới BH phải luônduy trì mức vốn điều lệ đã góp không thấp hơn mức vốn pháp định và phải được bổsung tương xứng với nội dung, phạm vi và địa bàn hoạt động kinh doanh của DN.Nếu trong trường hợp thay đổi vốn điều lệ, DNBH, DN môi giới BH phải có đơn đềnghị và văn bản giải trình gửi Bộ Tài chính Đối với trường hợp DNBH được thànhlập, tổ chức và hoạt động trước ngày Nghị định này có hiệu lực, có số vốn điều lệthấp hơn mức vốn pháp định quy định như trên thì trong thời hạn 3 năm, kể từ ngàyNghị định này có hiệu lực, DNBH phải bổ sung đủ vốn điều lệ theo quy định Hoạt động kinh doanh BH là hoạt động kinh doanh hết sức đặc thù: kinh
Trang 16doanh rủi ro, chính vì vậy, Nhà nước mà cụ thể là Bộ tài chính rất quan tâm, bảo vệđối tượng mua bảo hiểm thể hiện ở việc DN kinh doanh BH phi nhân thọ và nhânthọ phải trích lập dự phòng nghiệp vụ theo từng nghiệp vụ BH đối với phần tráchnhiệm giữ lại của DN Đối với DN kinh doanh BH phi nhân thọ, dự phòng nghiệp
vụ bao gồm: dự phòng phí, dự phòng bồi thường và dự phòng dao động lớn Trong
đó nội dung của các khoản dự phòng được quy định như sau:
+ Dự phòng phí chưa được hưởng, được sử dụng để bồi thường cho trách nhiệm
sẽ phát sinh trong thời gian còn hiệu lực của hợp đồng BH trong năm tiếp theo;
+ Dự phòng bồi thường cho khiếu nại chưa giải quyết, được sử dụng để bồithường cho các tổn thất đã phát sinh thuộc trách nhiệm BH chưa khiếu nại hoặc đãkhiếu nại nhưng đến cuối năm tài chính chưa được giải quyết;
+ Dự phòng bồi thường cho các dao động lớn về tổn thất, được sử dụng để bồithường khi có dao động lớn về tổn thất hoặc tổn thất lớn xảy ra mà tổng phí BH giữlại trong năm tài chính sau khi đã trích lập dự phòng phí chưa được hưởng và dựphòng bồi thường cho khiếu nại chưa giải quyết không đủ để chi trả tiền bồi thườngđối với phần trách nhiệm giữ lại của DNBH
Trong khi đó, đối với DN kinh doanh BH nhân thọ ngoài ba khoản dự phòngđược trích lập giống DN kinh doanh bảo hiểm nhân thọ còn bao gồm thêm haikhoản dự phòng sau đây:
+ Dự phòng toán học là khoản chênh lệch giữa giá trị hiện tại của số tiền BH
và giá trị hiện tại của phí BH sẽ thu được trong tương lai, được sử dụng để trả tiền
BH đối với những trách nhiệm đã cam kết khi xảy ra sự kiện BH;
+ Dự phòng chia lãi, được sử dụng để trả lãi mà DNBH đã thoả thuận với bênmua BH trong hợp đồng BH;
Đối với bất kỳ một công ty BH nào, hoạt động đầu tư cũng luôn được chútrọng Từ đặc thù hoạt động kinh doanh BH luôn trích lập nguồn dự phòng vì vậynguồn vốn đầu tư của DNBH, DN môi giới BH ngoài nguồn vốn chủ sở hữu, cácnguồn hợp pháp khác theo quy định của pháp luật còn có thêm nguồn vốn nhàn rỗi
từ dự phòng nghiệp vụ BH Theo đó, việc đầu tư từ nguồn vốn chủ sở hữu phải bảođảm an toàn, hiệu quả và tính thanh khoản theo hướng dẫn của Bộ Tài chính DNBH,
DN môi giới BH được phép đầu tư ra nước ngoài theo quy định của pháp luật đối vớiphần vốn chủ sở hữu vượt quá mức vốn pháp định hoặc biên khả năng thanh toán tốithiểu, tùy theo số nào lớn hơn Còn nguồn vốn nhàn rỗi từ dự phòng nghiệp vụ BHcủa DNBH là tổng dự phòng nghiệp vụ BH trừ các khoản tiền mà DNBH dùng đểbồi thường BH thường xuyên trong kỳ đối với BH phi nhân thọ (không thấp hơn25% tổng dự phòng nghiệp vụ BH và được gửi tại các tổ chức tín dụng hoạt động
Trang 17tại Việt Nam), trả tiền BH thường xuyên trong kỳ đối với BH nhân thọ (không thấphơn 5% tổng dự phòng nghiệp vụ BH và được gửi tại các tổ chức tín dụng hoạtđộng tạị Việt Nam).
Để đảm bảo được khả năng thanh toán của DNBH, cũng theo nghị định này,DNBH phải luôn duy trì khả năng thanh toán trong suốt quá trình hoạt động kinhdoanh BH DNBH được coi là có đủ khả năng thanh toán khi đã trích lập đầy đủ dựphòng nghiệp vụ BH và có biên khả năng thanh toán không thấp hơn biên khả năngthanh toán tối thiểu Trong đó, biên khả năng thanh toán tối thiểu của DN kinhdoanh BH phi nhân thọ là số lớn hơn của một trong hai kết quả tính toán sau:
+ 25% tổng phí BH thực giữ lại tại thời điểm tính biên khả năng thanh toán;+ 12,5% của tổng phí BH gốc và phí nhận tái BH tại thời điểm tính biên khảnăng thanh toán
Còn biên khả năng thanh toán tối thiểu của DN kinh doanh BH nhân thọ:+ Đối với hợp đồng BH nhân thọ có thời hạn 5 năm trở xuống bằng tổng của4% dự phòng nghiệp vụ BH và 0,1% số tiền BH chịu rủi ro;
+ Đối với hợp đồng BH nhân thọ có thời hạn trên 5 năm bằng tổng của 4% dựphòng nghiệp vụ BH và 0,3% số tiền BH chịu rủi ro
Sau khi đã tính biên khả năng thanh toán tối thiểu, DNBH tính biên khả năngthanh toán của DNBH để tiến hành so sánh Biên khả năng thanh toán của DNBH làphần chênh lệch giữa giá trị tài sản và các khoản nợ phải trả của DNBH tại thờiđiểm tính biên khả năng thanh toán Tuy nhiên, các tài sản tính biên khả năng thanhtoán của DNBH phải bảo đảm tính thanh khoản (tức là phải tính đến các tài sản bịloại trừ toàn bộ hoặc một phần thực hiện theo hướng dẫn của Bộ Tài chính) DNBH
bị coi là có nguy cơ mất khả năng thanh toán khi biên khả năng thanh toán củaDNBH thấp hơn biên khả năng thanh toán tối thiểu Khi đó, DNBH phải chủ độngthực hiện ngay các biện pháp tự khôi phục khả năng thanh toán đồng thời báo cáo
Bộ Tài chính về thực trạng tài chính, nguyên nhân dẫn đến nguy cơ mất khả năngthanh toán và phương án khôi phục khả năng thanh toán Trong trường hợp DNBHkhông tự khôi phục được khả năng thanh toán thì Bộ Tài chính có quyền yêu cầuDNBH thực hiện khôi phục khả năng thanh toán, gồm những biện pháp sau: bổsung nguồn vốn chủ sở hữu; Tái BH; thu hẹp nội dung, phạm vi và địa bàn hoạtđộng; đình chỉ một phần hoặc toàn bộ hoạt động; củng cố tổ chức bộ máy và thayđổi người quản trị, điều hành của DN; yêu cầu chuyển giao hợp đồng BH; các biệnpháp khác Trong trường hợp DNBH không khôi phục được khả năng thanh toántheo yêu cầu của Bộ Tài chính, DNBH sẽ bị đặt vào tình trạng kiểm soát đặc biệt
Trang 18Một phần rất quan trọng trong đặc điểm quản lý tài chính của DNBH là chế độ
kế toán, kiểm toán, thống kê và BCTC Về chế độ kế toán: DNBH, DN môi giới BH
phải thực hiện ghi chép đầy đủ chứng từ ban đầu, cập nhật sổ kế toán và phản ánhđầy đủ, kịp thời, trung thực, chính xác, khách quan các hoạt động kinh tế, tài chính
Cũng giống như tất cả các hoạt động kinh doanh khác, năm tài chính của DNBH,
DN môi giới BH bắt đầu từ ngày 01 tháng 01 và kết thúc vào ngày 31 tháng 12cùng năm dương lịch Cũng theo nghị định này thì DNBH, DN môi giới BH cótrách nhiệm lập và gửi các BCTC, báo cáo thống kê, báo cáo nghiệp vụ định kỳ, độtxuất theo quy định của pháp luật hiện hành và hướng dẫn của Bộ Tài chính Riêngđối với BCTC năm của DNBH, DN môi giới BH thì phải được tổ chức kiểm toánđộc lập hoạt động hợp pháp tại Việt Nam kiểm toán và xác nhận các vấn đề tàichính trọng yếu trước khi nộp Bộ Tài chính và sau đó phải công khai BCTC theoquy định của pháp luật
Bộ Tài chính cũng yêu cầu DNBH, DN môi giới BH thực hiện công tác quảntrị tài chính theo các nguyên tắc, chuẩn mực do Bộ Tài chính quy định đồng thờiDNBH, DN môi giới BH phải xây dựng, triển khai và giám sát việc thực hiện quychế tài chính, quy chế đầu tư, quy chế kiểm soát và kiểm toán nội bộ và các quytrình thủ tục tương ứng
Đặc điểm doanh thu, chi phí, kết quả
Với đặc điểm tổ chức hoạt động của DNBH đã trình bày ở trên, doanh thu củaDNBH bao gồm thu từ hoạt động kinh doanh BH, thu từ hoạt động tài chính, thunhập hoạt động khác
Doanh thu hoạt động kinh doanh BH là số tiền phải thu phát sinh trong kỳ saukhi đã trừ các khoản phải chi để giảm thu phát sinh trong kỳ:
+ Số tiền phải thu phát sinh trong kỳ bao gồm: thu phí BH gốc, thu phí nhậntái BH, thu hoa hồng nhượng tái BH, thu phí về dịch vụ đại lý bao gồm giám địnhtổn thất, xét giải quyết bồi thường, yêu cầu người thứ ba bồi hoàn, xử lý hàng bồithường 100%, thu phí giám định tổn thất không kể giám định hộ giữa các đơn vịthành viên hạch toán nội bộ trong cùng một DNBH hạch toán độc lập
+ Các khoản phải chi để giảm thu phát sinh trong kỳ bao gồm: hoàn phí BH,giảm phí BH, phí nhượng tái BH, hoàn phí nhận tái BH, giảm phí nhận tái BH, hoànhoa hồng nhượng tái BH, giảm hoa hồng nhượng tái BH
Doanh thu hoạt động tài chính: thu hoạt động đầu tư, thu từ hoạt động muabán chứng khoán, thu lãi trên số tiền ký quỹ, thu cho thuê tài sản, thu khác theo quyđịnh của pháp luật
Trang 19Thu nhập hoạt động khác: thu từ nhượng bán, thanh lý tài sản cố định, cáckhoản nợ khó đòi đã xoá nay thu hồi được, thu khác theo quy định của pháp luật.
Theo điều số 21, cũng tại nghị định này thì chi phí của DNBH là số tiền phải
chi, phải trích phát sinh trong kỳ bao gồm: chi phí hoạt động kinh doanh BH, chiphí hoạt động tài chính và chi phí hoạt động khác
Trong đó chi phí hoạt động kinh doanh bảo hiểm là số tiền phải chi, phải tríchphát sinh trong kỳ sau khi đã trừ các khoản phải thu để giảm chi phát sinh trong kỳ:+ Số tiền phải chi, phải trích phát sinh trong kỳ bao gồm: bồi thường BH gốcđối với BH phi nhân thọ; trả tiền BH đối với BH nhân thọ; chi bồi thường nhận táiBH; trích lập dự phòng nghiệp vụ; chi hoa hồng BH; chi giám định tổn thất; chi phí
về dịch vụ đại lý bao gồm giám định tổn thất, xét giải quyết bồi thường, yêu cầungười thứ ba bồi hoàn; chi xử lý hàng bồi thường 100%; chi quản lý đại lý BH; chi
đề phòng, hạn chế rủi ro, tổn thất; chi đánh giá rủi ro của đối tượng BH; các khoảnchi, trích khác theo quy định của pháp luật
+ Các khoản phải thu để giảm chi phát sinh trong kỳ bao gồm: thu bồi thườngnhượng tái BH; thu đòi người thứ ba bồi hoàn; thu hàng đã xử lý, bồi thường 100%.Chi phí hoạt động tài chính: chi phí hoạt động tài chính của DNBH bao gồm 5loại chi phí sau: chi phí hoạt động đầu tư; thu nhập đầu tư phải trả cho bên mua BHtheo cam kết tại hợp đồng BH nhân thọ; chi phí cho thuê tài sản; chi thủ tục phíngân hàng, trả lãi tiền vay; chi, trích khác theo quy định của pháp luật
Chi phí hoạt động khác: chi nhượng bán, thanh lý tài sản cố định; chi phí choviệc thu hồi khoản nợ phải thu khó đòi đã xoá nay thu hồi được; chi, trích khác theoquy định của pháp luật
Căn cứ vào đặc điểm doanh thu và chi phí của DNBH, kết quả kinh doanh củaDNBH bao gồm kết quả của ba hoạt động trên: lợi nhuận hoạt động kinh doanh BH,lợi nhuận hoạt động tài chính và lợi nhuận hoạt động khác Sau khi tính được kếtquả kinh doanh BH, DNBH, DN môi giới BH phải làm đầy đủ nghĩa vụ với ngânsách nhà nước theo quy định của pháp luật như: nộp thuế Thu nhập doanh nghiệp(TNDN) theo luật định, trích lập quỹ dự trữ bắt buộc (được tính bằng 5% lợi nhuậnsau thuế, tối đa có thể bằng 10% mức vốn điều lệ của DN), sau đó DNBH, DN môigiới BH mới được phân phối lợi nhuận còn lại theo quy định của pháp luật
1.2.2 Nội dung phân tích BCTC
Phân tích BCTC là việc sử dụng các phương pháp nhằm đánh giá tình hìnhtài chính và kết quả kinh doanh của DN trong một thời gian hoạt động nhất định.Trên cơ sở đó, giúp cho các nhà quản trị DN cũng như các đối tượng quan tâm bênngoài DN đưa ra các quyết định chuẩn xác trong quá trình kinh doanh và đầu tư
Theo PGS.TS.Nguyễn Năng Phúc nhằm phát huy vai trò và nhiệm vụ phân
Trang 20tích BCTC trong quản lý DN, nội dung cơ bản của phân tích BCTC trong các DNbao gồm [15,t16]:
- Phân tích hệ thống chỉ tiêu thông tin kế toán đã được trình bày trên cácBCTC DN
- Phân tích mối liên hệ giữa các chỉ tiêu trên từng BC và trên các BCTCnhằm đánh giá những nội dung cơ bản của hoạt động tài chính:
+ Đánh giá khái quát tình hình tài chính
+ Phân tích cấu trúc tình hình tài chính và tình hình đảm bảo vốn cho hoạtđộng sản xuất kinh doanh của DN
+ Phân tích tình hình và khả năng thanh toán
+ Phân tích hiệu quả sản xuất kinh doanh của DN
+ Phân tích khả năng sinh lời của tài sản
+ Định giá DN và phân tích tình hình rủi ro tài chính của DN
+ Dự báo các chỉ tiêu tài chính chủ yếu của DN
Theo PGS.TS.Nguyễn Văn Công tùy theo vị trí và mục đích sử dụng thôngtin của người phân tích mà nội dung phân tích BCTC có thể không giống nhau giữacác nhóm phân tích khác nhau Tuy nhiên, phân tích BCTC thường bao gồm nhữngnội dung chủ yếu sau [10.t445]:
+ Đánh giá khái quát tình hình tài chính
+ Phân tích cấu trúc tài chính và tình hình bảo đảm vốn cho hoạt động KD+ Phân tích tình hình và khả năng thanh toán
+ Phân tích hiệu quả kinh doanh
+ Phân tích tốc độ luân chuyển của tài sản ngắn hạn
+ Phân tích rủi ro tài chính
+ Phân tích giá trị DN và dự báo nhu cầu tài chính
+ Phân tích bản thân từng BCTC
Như vậy, có thể nói về cơ bản, việc thực hiện phân tích BCTC theo nhữngnội dung khá giống nhau Trong khuôn khổ bài luận văn này, nhận thức được tầmquan trọng của mục đích phân tích BCTC, kế thừa những nội dung phân tích BCTC
ở trên, theo tác giả, nội dung phân tích BCTC sẽ bao gồm những nội dung sau:
+ Đánh giá khái quát tình hình tài chính và phân tích cấu trúc tài chính + Phân tích tình hình bảo đảm vốn cho hoạt động kinh doanh
+ Phân tích tình hình và khả năng thanh toán
Trang 21+ Phân tích hiệu quả kinh doanh
+ Phân tích rủi ro tài chính
+ Phân tích giá trị DN
+ Dự báo nhu cầu tài chính
Đánh giá khái quát tình hình tài chính và phân tích cấu trúc tài chính
Hoạt động tài chính là những hoạt động gắn với sự vận động và chuyển hoácác nguồn lực tài chính, tạo ra sự chuyển dịch giá trị trong quá trình kinh doanh vàlàm biến động vốn cũng như thay đổi cấu trúc vốn của DN Nói cách khác, hoạtđộng tài chính là những hoạt động gắn với việc xác định nhu cầu, tạo lập, tìm kiếm,
tổ chức, huy động và sử dụng với một cách hợp lý, có hiệu quả Hoạt động tài chính
là một trong những nội dung cơ bản thuộc hoạt động kinh doanh của DN và có vaitrò hết sức quan trọng đối với hoạt động kinh doanh Hoạt động tài chính tốt sẽ cótác động thúc đẩy sự phát triển của hoạt động kinh doanh và ngược lại; hoạt độngkinh doanh có hiệu quả thì mới bảo đảm cho hoạt động tài chính được vận hành trôichảy; từ đó thúc đẩy được sản xuất – kinh doanh phát triển, nâng cao được hiệu quảkinh doanh Bằng việc xem xét hoạt động tài chính, các nhà quản lý có thể đánh giáchính xác thực trạng tài chính DN Có thể khái quát vai trò của hoạt động tài chínhtrên các điểm sau: [15,t167]
+ Đáp ứng đủ vốn cho hoạt động và phát triển của DN
+ Huy động vốn với chi phí thấp nhất
+ Sử dụng hiệu quả các nguồn vốn
+ Quyết định việc tăng, giảm vốn và quyết định đầu tư vốn
Đánh giá khái quát tình hình tài chính là việc dựa trên những dữ liệu tài chínhtrong quá khứ và hiện tại của DN để tính toán và xác định các chỉ tiêu phản ánhthực trạng và an ninh tài chính của DN Từ đó, giúp các nhà quản lý nhìn nhận đúngđắn về vị trí hiện tại và an ninh tài chính của DN nhằm đưa ra những quyết định tàichính hữu hiệu Bởi vậy, yêu cầu đặt ra khi đánh giá khái quát tình hình tài chính làphải chính xác và toàn diện Có đánh giá chính xác thực trạng tài chính và an ninhtài chính của DN trên tất cả các mặt mới giúp các nhà quản lý đưa ra các quyết địnhhiệu quả, phù hợp với tình trạng hiện tại của DN và định hướng phát triển trongtương lai Việc đánh giá chính xác và toàn diện còn giúp các nhà quản lý có các kếsách thích hợp để nâng cao năng lực tài chính, năng lực kinh doanh và năng lựccạnh tranh của DN Với mục đích trên, khi đánh giá khái quát tình hình tài chính,các nhà phân tích chỉ dừng lại ở một số nội dung mang tính khái quát, tổng hợp,phản ánh những nét chung nhất phản ánh thực trạng hoạt động tài chính và an ninh tài
Trang 22chính của DN như: tình hình huy động vốn, mức độ độc lập tài chính, khả năng thanhtoán và khả năng sinh lợi của DN Đồng thời, phương pháp sử dụng để đánh giá kháiquát cũng khá đơn giản, chủ yếu sử dụng phương pháp so sánh Mặt khác, hệ thốngchỉ tiêu sử dụng để đánh giá khái quát tình hình tài chính trên các mặt chủ yếu củahoạt động tài chính cũng mang tính tổng hợp, đặc trưng; việc tính toán những chỉ tiêunày cũng hết sức đơn giản, dễ tính toán và có thể ước tính được [15,t168]
Cấu trúc tài chính là một khái niệm rộng, phản ánh cấu trúc tài sản, cấu trúcnguồn vốn và cả mối quan hệ giữa tài sản và nguồn vốn của DN Phân tích cấu trúctài chính là việc phân tích khái quát tình hình huy động, sử dụng vốn và mối quan
hệ giữa tình hình huy động với tình hình sử dụng vốn của DN Qua đó, giúp các nhàquản lý nắm được tình hình phân bổ tài sản và các nguồn tài trợ tài sản, biết đượcnguyên nhân cũng như các dấu hiệu ảnh hưởng đến cân bằng tài chính Để phân tíchkhái quát tình hình huy động vốn và sử dụng vốn, nhà phân tích tiến hành phân tích
cơ cấu tài sản và cơ cấu nguồn vốn [10, t465]
Phân tích cơ cấu tài sản:
Khi xem xét cơ cấu tài sản, ngoài việc so sánh tổng số tài sản cũng như từngloại tài sản cuối năm so với đầu năm còn phải xem xét tỷ trọng từng loại tài sảnchiếm trong tổng số và xu hướng biến động của chúng để thấy được mức độ hợp lýcủa việc phân bổ T tr ng này đ c tính nh sau:ỷ trọng này được tính như sau: ọng này được tính như sau: ược tính như sau: ư
mà chỉ tiêu “Tiền và các khoản tương đương tiền” trên bảng cân đối kế toán có thểđem lại do tính thời điểm của chỉ tiêu này, khi xem xét cần liên hệ với tình hìnhbiến động của chỉ tiêu “Hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn của tiền và cáckhoản tương đương tiền” đồng thời căn cứ vào nhu cầu thực tế về tiền của DN trongtừng giai đoạn để nhận xét Khoản mục này có thể (tăng hoặc giảm) không phải do
ứ đọng (hay thiếu tiền) mà có thể do DN đang có kế hoạch tập trung tiền để chuẩn
bị đầu tư mua sắm vật tư, tài sản, … hay do DN vừa đầu tư vào một số lĩnh vựckinh doanh,…[15,t182]
+ Về đầu tư tài chính: Khi xem xét khoản đầu tư này, cần liên hệ với chínhsách của DN cũng như môi trường đầu tư trong từng thời kỳ; bởi vì, không phải DNnào cũng có điều kiện đầu tư tài chính Hơn nữa, môi trường đầu tư cũng ảnh hưởng
Trang 23nhiều đến tỉ trọng của khoản đầu tư này Một điều có thể khẳng định rằng, trongđiều kiện hội nhập của nền kinh tế, đầu tư tài chính là cơ hội cần thiết để giúp DN
sử dụng vốn dôi thừa có hiệu quả; đồng thời tạo cho DN có nhiều cơ hội để nắmbắt, học hỏi được kinh nghiệm và kiến thức quản lý kinh tế tiên tiến, góp phần thứcđẩy tăng trưởng kinh tế cũng như có điều kiện để ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật vàosản xuất [15,t182-t183]
+ Về các khoản phải thu: Đối với khoản phải thu khách hàng, tỷ trọng của loạitài sản này phụ thuộc vào phương thức bán hàng, chính sách bán hàng, khả năngquản lý nợ của DN Nếu DN bán lẻ, bán hàng thu tiền ngay thì tỷ trọng khoản phảithu thấp và ngược lại đối với DN bán buôn thì tỷ trọng này lại lớn Nếu thời hạn tíndụng dài, số dư định mức cho khách hàng cao thì tỷ trọng khoản phải thu lớn vàngược lại Tuy nhiên, tín dụng bán hàng lại ảnh hưởng đến doanh số bán hàng nênkhi đánh giá tính hợp lý của chỉ tiêu này cần đặt trong mối quan hệ với doanh thutiêu thụ của DN
+ Về hàng tồn kho: Đối với hàng tồn kho, tỷ trọng loại tài sản này cũng phụthuộc đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của từng loại hình DN Trong các
DN sản xuất có chu kỳ kinh doanh dài như xây lắp, đóng tàu, tỷ trọng hàng tồn kho
sẽ cao Các DN thương mại, hàng tồn kho là đối tượng cơ bản trong kinh doanh nên
tỷ trọng cũng tương đối cao hơn so với các loại tài sản khác Ngược lại, DN kinhdoanh dịch vụ thì tỷ trọng hàng tồn kho thấp Tỷ trọng loại tài sản này còn phụthuộc vào chính sách dự trữ và tính thời vụ trong hoạt động kinh doanh của DN.Ngoài ra khi phân tích tỷ trọng hàng tồn kho cần xem xét trong mối tương quan vớităng trưởng DN
+ Về tài sản cố định: Đối với TSCĐ, tỷ trọng của tài sản này trong tổng số đốivới từng ngành nghề là khác nhau Tỷ trọng này thường cao đối với các DN sảnxuất, nhất là hoạt động trong những ngành có hàm lượng kỹ thuật cao: như côngnghiệp thăm dò khai thác dầu khí (90%) , ngành luyện kim (70%) Ngược lại, trongcác ngành kinh doanh thương mại, dịch vụ, thông thường tỷ trọng TSCĐ thấp,ngoại trừ trong trường hợp kinh doanh khách sạn và hoạt động vui chơi giải trí Donhững đặc điểm trên, để đánh giá tính hợp lý trong đầu tư TSCĐ cần xem xét đến sốliệu trung bình ngành Ngoài ra, tỷ trọng TSCĐ còn phụ thuộc vào chính sách đầu
tư, phương pháp khấu hao mà DN đang áp dụng
Trong trường hợp thu thập đầy đủ số liệu, nên phân tích sự biến động về tỷtrọng của từng bộ phận tài sản chiếm trong tổng số tài sản của DN qua nhiều nămkhác nhau, đồng thời có thể so sánh với cơ cấu chung của ngành để việc đánh giáđược toàn diện hơn
Trang 24 Phân tích cơ cấu nguồn vốn:
Phân tích cơ cấu nguồn vốn được thực hiện nhằm đánh giá tình hình huy độngvốn của DN Việc phân tích cơ cấu nguồn vốn cũng tiến hành tương tự với việcphân tích cơ cấu tài sản Ngoài ra việc so sánh sự biến động trên tổng số nguồn vốncũng như từng nguồn vốn cuối kỳ so với đầu năm, các nhà phân tích còn phải xemxét tỷ trọng từng loại nguồn vốn chiếm trong tổng số và xu hướng biến động củachúng nhằm đánh giá được khả năng tự chủ về mặt tài chính của DN cũng như mức
độ tự chủ, chủ động trong kinh doanh
Tỷ trọng của từng bộ phận nguồn vốn trong tổng số nguồn vốn đ c xác đ nhược tính như sau: ịnh
Cơ cấu nguồn vốn được xem là tối ưu là cơ cấu nguồn vốn với mục tiêu tốithiểu hoá chi phí sử dụng vốn Vì vậy, các nhà phân tích thường kết hợp phân tích chỉtiêu “chi phí sử dụng vốn bình quân” Chỉ tiêu này được xác định bằng công thức:
CP = NV cfi
nvi
n i
1 = Tti cfi
n i
1 [1.3]
Trong đó: nvi: Mức huy động của nguồn vốn i
NV: Tổng nhu cầu tài trợ (Tổng số vốn dự kiến huy động)
Cfi: Chi phí sử dụng nguồn vốn i
Tti: Tỷ trọng nguồn vốn i
Bằng phương pháp so sánh chi phí vốn bình quân kỳ phân tích với chi phívốn bình quân kỳ gốc để xác định chênh lệch sau đó tìm hiểu những nguyên nhândẫn đến chênh lệch, đặc biệt đề cập đến những lý do khiến DN lựa chọn chính sáchtài trợ có chi phí vốn cao.[2,t33]
Phân tích tình hình bảo đảm vốn cho hoạt động kinh doanh
Để tiến hành hoạt động sản xuất, kinh doanh, các DN cần phải có tài sản, baogồm tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn Việc bảo đảm đầy đủ nhu cầu về tài sản là
Trang 25một vấn đề cốt yếu để bảo đảm cho quá trình kinh doanh được tiến hành liên tục và
có hiệu quả Phân tích tình hình bảo đảm vốn cho hoạt động kinh doanh chính làviệc xem xét mối quan hệ cân đối giữa tài sản và nguồn hình thành tài sản của DN.Mối quan hệ này phản ánh cân bằng tài chính của DN Vì thế, khi phân tích tìnhhình bảo đảm vốn cho hoạt động kinh doanh, các nhà phân tích thường xem xét tìnhhình bảo đảm vốn theo quan điểm luân chuyển vốn và tình hình bảo đảm vốn theoquan điểm ổn định nguồn tài trợ cùng với cân bằng tài chính của DN.[15,t193-t194]
Xét theo quan điểm luân chuyển vốn, tài sản ban đầu của DN được hình
thành trước hết bằng nguồn vốn chủ sở hữu Số tài sản ban đầu được tài trợ bằngvốn chủ sở hữu này không bao gồm số tài sản trong thanh toán (khoản bị chiếmdụng) Tuy nhiên trong quá trình hoạt động kinh doanh, khi vốn chủ sở hữu khôngđáp ứng đủ nhu cầu về vốn cho kinh doanh, DN được phép đi vay để bổ sung vốnkinh doanh Loại trừ các khoản vay quá hạn thì các khoản vay ngắn hạn, trung hạn vàdài hạn (của Ngân hàng hay của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước) chưa đếnhạn trả, dùng cho mục đích kinh doanh đều được coi là nguồn vốn vay hợp pháp (vayhợp pháp) Nếu số vốn chủ sở hữu và vốn vay hợp pháp hiện có của DN lớn hơn sốtài sản ban đầu, tức là không sử dụng hết số vốn hiện có, số vốn dư thừa của DN sẽ bịchiếm dụng Nếu lượng tài sản ban đầu phục vụ cho hoạt động kinh doanh của DNlớn hơn số vốn chủ sở hữu và vốn vay hợp pháp, để có đủ tài sản phục vụ cho nhucầu kinh doanh, DN buộc phải đi chiếm dụng vốn trong thanh toán (chiếm dụng hợppháp và bất hợp pháp) Mặt khác, do tính chất cân bằng của Bảng cân đối kế toán,tổng số tài sản luôn luôn bằng tổng số nguồn vốn nên ta có cân đối sau đây:
Vốn chủ sở hữu + Vốn vay hợp pháp + Nguồn vốn thanh toán = Tài sản ngắnhạn + Tài sản dài hạn + Tài sản thanh toán
Cân đối này cho thấy: số vốn mà DN bị chiếm dụng (phần chênh lệch giữavốn chủ sở hữu và vốn vay hợp pháp lớn hơn số tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạntương ứng) đúng bằng số chênh lệch giữa số tài sản phát sinh trong quá trình thanhtoán (nợ phải thu ngắn hạn và nợ phải thu dài hạn) với nguồn vốn chiếm dụng trongthanh toán (nợ phải trả ngắn hạn và dài hạn) và ngược lại; số vốn mà DN đi chiếmdụng (phần chênh lệch giữa số tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn lớn hơn số vốnchủ sở hữu và vốn vay hợp pháp) đúng bằng số chênh lệch giữa nguồn vốn chiếmdụng trong thanh toán (công nợ phải trả) với số tài sản phát sinh trong quá trình
thanh toán (nợ phải thu ngắn hạn và dài hạn) Cân đối này thể hiện cân đối giữa tài
sản và nguồn tài trợ tài sản của DN.[15,t200]
Phân tích tình hình đảm bảo vốn theo tính ổn định của nguồn tài trợ được
thực hiện dựa trên cơ sở phân chia nguồn hình thành nên tài sản sử dụng trong quá
Trang 26trình hoạt động của DN thành hai loại tương ứng với thời gian luân chuyển tài sản lànguồn vốn ngắn hạn và nguồn vốn dài hạn Trong đó, nguồn vốn ngắn hạn là nguồntài trợ mà DN sử dụng tạm thời vào hoạt động trong một thời gian ngắn nên còn gọi
là nguồn tài trợ tạm thời Nguồn vốn dài hạn là nguồn vốn mà DN được sử dụng lâudài trong quá trình hoạt động, thường xuyên tồn tại ở DN trong một chu kỳ kinhdoanh còn gọi là nguồn tài trợ thường xuyên
Nguyên tắc cơ bản để đảm bảo cân bằng tài chính là: “Tài sản được tài trợtrong một thời gian không thấp hơn thời gian chuyển hoá tài sản ấy” Như vậy, khitính đến độ an toàn, ổn định trong việc tài trợ, nguyên tắc cân bằng tài chính đòihỏi: Tài sản dài hạn chỉ được tài trợ bởi nguồn vốn dài hạn (nguồn tài trợ thườngxuyên); nguồn vốn ngắn hạn (nguồn tài trợ tạm thời) chỉ tài trợ cho tài sản ngắnhạn Với nguyên tắc này, khi phân tích mức độ đảm bảo vốn theo tính ổn định,nguồn tài trợ cần xác định phần nguồn vốn dài hạn, thường xuyên lưu lại DN được
sử dụng để tài trợ cho tài sản luân chuyển liên tục, thời gian luân chuyển ngắn (tàisản ngắn hạn) Phần nguồn vốn dài hạn tài trợ cho Tài sản ngắn hạn được gọi là vốnlưu chuyển Nếu DN có vốn lưu chuyển thì có thể coi đây là dấu hiệu an toàn đốivới DN vì nó cho phép DN đương đầu được với những rủi ro có thể xảy ra Để cócăn cứ đánh giá tính ổn định và bền vững của cân bằng tài chính, khi phân tích, cácnhà phân tích cần thiết phải xem xét sự biến động của vốn lưu chuyển trong nhiều
kỳ liên tục Điều đó vừa khắc phục được sự sai lệch về số liệu do tính thời vụ haychu kỳ kinh doanh của doanh nghiêp lại vừa cho phép dự đoán được tính ổn định vàcân bằng tài chính trong tương lai
Căn cứ vào Bảng cân đối kế toán, có thể khái quát cân bằng tài chính của DNtheo góc đ n đ nh ngu n tài tr qua đ ng th c: ộ ổn định nguồn tài trợ qua đẳng thức: ổn định nguồn tài trợ qua đẳng thức: ịnh ồn tài trợ qua đẳng thức: ợc tính như sau: ẳng thức: ức:
Tài sản NH + Tài sản DH = Nguồn vốn NH
(Nguồn tài trợ TT) +
Nguồn vốn DH (Nguồn tài trợ TX)Hay:
Tài sản NH - Nguồn tài trợ TT = Nguồn tài trợ TX - Tài sản DHNhư vậy, phân tích tình hình tài trợ thực chất là xem xét mối quan hệ giữaNguồn vốn dài hạn (bao gồm nguồn vốn chủ sở hữu và vay dài hạn) với Tài sản dàihạn hay Tài sản ngắn hạn với Nguồn vốn tạm thời
Ngoài ra, để có nhận xét xác đáng và chính xác về tình hình bảo đảm vốn chohoạt động kinh doanh, các nhà phân tích còn quan tâm tới các chỉ tiêu sau:[15,t205]
Hệ số tài trợ thường xuyên:
Hệ số tài trợ thường xuyên = Nguồn tài trợ thường xuyên Tổng nguồn vốn [1.4]
Trang 27Hệ số cho biết so với tổng nguồn tài trợ tài sản của DN (nguồn vốn), nguồntài trợ thường xuyên chiếm mấy phần Trị số của chỉ tiêu này càng lớn, tính ổn định
và cân bằng tài chính của DN càng cao và ngược lại
Hệ số vốn chủ sở hữu so với nguồn tài trợ thường xuyên:
Hệ số VCSH so với
nguồn vốn thường xuyên =
Vốn chủ sở hữu
[1.6]
Nguồn vốn tài trợ thường xuyên
Hệ số cho biết trong tổng số nguồn tài trợ thường xuyên, số vốn chủ sở hữuchiếm mấy phần Trị số của chỉ tiêu này càng lớn, tính tự chủ và độc lập về tàichính của DN càng cao và ngược lại
Hệ số giữa nguồn tài trợ thường xuyên so với tài sản dài hạn:
Hệ số giữa nguồn vốn thường xuyên
so với tài sản dài hạn =
Nguồn vốn thường xuyên
[1.7]
Tài sản dài hạn
Hệ số cho biết, mức độ tài trợ tài sản dài hạn bằng nguồn vốn thường xuyên(nguồn tài trợ thường xuyên) Trị số của chỉ tiêu này càng lớn hơn 1, tính ổn định vàbền vững về tài chính của DN càng cao và ngược lại, trị số của chỉ tiêu này càngnhỏ hơn 1, DN càng bị áp lực nặng nề trong thanh toán nợ ngắn hạn, cân bằng tàichính ở trong tình trạng xấu, không ổn định
Hệ số giữa tài sản ngắn hạn so với nợ ngắn hạn:
Phân tích tình hình và khả năng thanh toán
Bằng việc phân tích tình hình thanh toán và khả năng thanh toán của DN, cácnhà phân tích có thể đánh giá được chất lượng hoạt động tài chính, nắm được việcchấp hành kỷ luật thanh toán đánh giá được sức mạnh tài chính hiện tại, tương laicũng như dự đoán được tiềm lực trong thanh toán và an ninh tài chính của DN
Thực tế cho thấy, một DN có hoạt động tài chính tốt và lành mạnh, sẽ không
Trang 28phát sinh tình trạng dây dưa nợ nần, chiếm dụng vốn lẫn nhau, khả năng thanh toándồi dào Ngược lại, khi một DN phát sinh tình trạng nợ nần dây dưa, kéo dài thìchắc chắn, chất lượng hoạt động tài chính của DN không cao (trong đó có quản lýnợ), thực trạng tài chính không mấy sáng sủa, khả năng thanh toán thấp Vì thế, cóthể nói, qua phân tích tình hình và khả năng thanh toán của DN, các nhà quản lý cóthể đánh giá được chất lượng và hiệu quả hoạt động tài chính Đó cũng chính là mụcđích của phân tích tình hình và khả năng thanh toán.[10,t484]
Tình hình thanh toán của DN thể hiện qua việc thu hồi các khoản nợ phải thu
và việc chi trả các khoản nợ phải trả của DN Do các khoản nợ phải thu và nợ phải trảtrong DN chủ yếu là các khoản nợ đối với người mua, người bán nên khi phân tích,các nhà phân tích chủ yếu đi sâu xem xét các khoản nợ phải thu người mua (tiền bánhàng hóa, dịch vụ ); khoản nợ phải trả người bán (tiền mua hàng hóa, vật tư, dịch vụ ) Về mặt tổng thể, khi phân tích tình hình thanh toán, các nhà phân tích tính toán và
so sánh các chỉ tiêu và dựa vào sự biến động của các chỉ tiêu để nhận xét: [10,t484]
Tỷ lệ các khoản nợ phải thu so với các khoản nợ phải trả (%):
Tỉ lệ các khoản nợ phải thu
so với các khoản nợ phải trả =
Số vòng quay các khoản phải thu ngắn hạn (vòng):
Số vòng quay các
khoản phải thu NH =
Tổng số tiền hàng bán chịu (hoặc doanh thu thuần)
[1.10]
Số dư bình quân các khoản phải thu ngắn hạn
Chỉ tiêu này phản ánh trong kỳ kinh doanh, các khoản phải thu ngắn hạn quayđược mấy vòng Chỉ tiêu cho biết mức độ hợp lý của số dư các khoản phải thu ngắnhạn và hiệu quả của việc thu hồi nợ ngắn hạn Nếu số vòng quay của các khoản phảithu ngắn hạn lớn, chứng tỏ DN thu hồi tiền hàng kịp thời, ít bị chiếm dụng vốn Tuynhiên, số vòng quay các khoản phải thu ngắn hạn nếu quá cao sẽ không tốt vì có thểảnh hưởng đến khối lượng hàng tiêu thụ do phương thức thanh toán quá chặt chẽ(chủ yếu là thanh toán ngay trong thời gian ngắn)
Trong công th c trên, s d bình quân các kho n ph i thu đ c tính nh sau:ức: ố dư bình quân các khoản phải thu được tính như sau: ư ản phải thu được tính như sau: ản phải thu được tính như sau: ược tính như sau: ư
Trang 29Số dư bình quân các khoản
phải thu ngắn hạn =
Tổng số nợ phải thu ngắn hạn đầu năm và cuối năm [1.11]
2
Thời gian thu tiền bình quân:
Thời gian thu tiền
bình quân =
Thời gian của kỳ phân tích
[1.12]
Số vòng quay các khoản phải thu ngắn hạn
Chỉ tiêu phản ánh thời gian bình quân thu các khoản phải thu ngắn hạn Thời gianthu tiền càng ngắn, chứng tỏ tốc độ thu hồi tiền hàng càng nhanh, DN ít bị chiếmdụng vốn Ngược lại, thời gian thu tiền càng dài, chứng tỏ tốc độ thu hồi tiền hàngcàng chậm, số vốn DN bị chiếm dụng nhiều Tuy nhiên, thời gian thu tiền ngắn quá
sẽ gây khó khăn cho người mua, không khuyến khích người mua nên sẽ ảnh hưởngđến tốc độ bán hàng
Số vòng quay các khoản phải trả ngắn hạn (vòng):
Số vòng quay các khoản
phải trả NH =
Tổng số tiền chậm trả
[1.13]
Số dư bình quân các khoản phải trả NH
Chỉ tiêu phản ánh trong kỳ kinh doanh, các khoản phải trả ngắn hạn quayđược bao nhiêu vòng Chỉ tiêu cho biết mức độ hợp lý của số dư các khoản phải trảngười bán và hiệu quả của việc thanh toán nợ Nếu số vòng quay của các khoảnphải trả lớn, chứng tỏ DN thanh toán tiền hàng kịp thời, ít đi chiếm dụng vốn Tuynhiên, số vòng quay các khoản phải trả nếu quá cao có thể ảnh hưởng đến kết quảkinh doanh trong kỳ của DN, do DN phải huy động mọi nguồn vốn để trả nợ (kể cảvay, bán rẻ hàng hoá, dịch vụ )
Trong công th c trên, s d bình quân các kho n ph i tr đ c tính nh sau:ức: ố dư bình quân các khoản phải thu được tính như sau: ư ản phải thu được tính như sau: ản phải thu được tính như sau: ản phải thu được tính như sau: ược tính như sau: ư
Thời gian thanh toán:
Thời gian thanh toán
Thời gian của kỳ phân tích
[1.15]
Số vòng quay các khoản phải trả ngắn hạn
Chỉ tiêu phản ánh thời gian bình quân mà DN thanh toán tiền cho chủ nợ trong
kỳ Thời gian thanh toán tiền càng ngắn, chứng tỏ tốc độ thanh toán tiền càngnhanh, DN ít đi chiếm dụng vốn Ngược lại, thời gian thanh toán tiền càng dài, tốc
độ thanh toán tiền càng chậm, số vốn DN đi chiếm dụng nhiều Khi phân tích tìnhhình thanh toán, cần tính toán và so sánh với thời gian mua chịu được người bán
Trang 30quy định cho DN Nếu thời gian thanh toán tiền lớn hơn thời gian chậm trả được quiđịnh thì việc thanh toán tiền là chậm trễ và ngược lại, số ngày qui định mua chịu lớnhơn thời gian thanh toán tiền, chứng tỏ việc thanh toán nợ sớm hơn so với kế hoạch
về thời gian Ngoài việc tính và so sánh các chỉ tiêu trên, để nắm được tình hìnhthanh toán các khoản nợ phải thu và các khoản nợ phải trả trong kỳ của DN, các nhàphân tích tiến hành so sánh các khoản nợ phải thu, nợ phải trả giữa cuối năm vớiđầu năm trên tổng số cũng như trên từng khoản nợ phải thu, nợ phải trả và số tiền
nợ quá hạn cả về số tuyệt đối và số tương đối trên từng chỉ tiêu và dựa vào tình hìnhbiến động cụ thể của từng chỉ tiêu để rút ra nhận xét
Khả năng thanh toán của DN cho biết năng lực tài chính trước mắt và lâu dài
của DN Khả năng thanh toán của DN càng cao, năng lực tài chính càng lớn, anninh tài chính càng vững chắc và ngược lại, khả năng thanh toán của DN càng thấp,năng lực tài chính càng nhỏ và an ninh tài chính sẽ kém bền vững
Để phân tích khả năng thanh toán, các nhà phân tích thường dùng các chỉ tiêuliên quan đến hệ số thanh toán sau:
H s kh n ng thanh toán t ng quátệ số khả năng thanh toán tổng quát ố dư bình quân các khoản phải thu được tính như sau: ản phải thu được tính như sau: ăng thanh toán tổng quát ổn định nguồn tài trợ qua đẳng thức:
Hệ số khả năng thanh toán tổng quát =
Tổng số tài sản
[1.16]
Tổng số nợ phải trả Nếu trị số của chỉ tiêu “Hệ số khả năng thanh toán tổng quát” luôn ≥ 1 thì DN
bảo đảm được khả năng thanh toán và ngược lại, trị số này càng < 1 thì DN mất dầnkhả năng thanh toán
Chỉ tiêu này cho biết khả năng giá trị thuần của TSNH đảm đương các khoản
nợ ngắn hạn mà không cần phải vay thêm Theo PGS.TS Nguyễn Văn Công, nếuchỉ tiêu này xấp xỉ bằng 1 thì DN có đủ khả năng thanh toán các khoản nợ vay ngắnhạn và tình hình tài chính là bình thường, hoặc khả quan Ngược lại, nếu chỉ tiêunày nhỏ hơn 1 thì khả năng thanh toán nợ ngắn hạn của DN càng thấp TheoTS.Nguyễn Tấn Bình cho rằng, chỉ tiêu này “thông thường lớn hơn hoặc bằng 2 thìđược xem là lành mạnh” Cũng có tác giả cho rằng, “hệ số thanh toán ngắn hạnđược các chủ nợ chấp nhận là bằng 2” Tuy nhiên, để đánh giá hệ số này của DN làtốt hay xấu cần phải xem xét thêm các yếu tố: bản chất kinh doanh, cơ cấu tài sảnngắn hạn, hệ số quay vòng của từng loại tài sản ngắn hạn
Hệ số thanh toán nhanh
Trang 31Hệ số khả năng
thanh toán nhanh =
Tiền và các khoản tương đương tiền
[1.18] Tổng số nợ ngắn hạn
Chỉ tiêu này cho biết khả năng thanh toán nhanh của DN đối với các khoảncông nợ ngắn hạn Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ khả năng thanh toán của DN dồidào, tuy nhiên chỉ tiêu này cao quá kéo dài có thể dẫn tới vốn bằng tiền của DNnhàn rỗi, ứ đọng, dẫn đến hiệu quả sử dụng vốn thấp Chỉ tiêu này thấp quá chứng
tỏ DN không có đủ khả năng thanh toán các khoản công nợ Trường hợp chỉ tiêunày thấp quá kéo dài ảnh hưởng đến uy tín của DN và có thể dẫn tới DN bị giải thểhoặc phá sản
Bên cạnh các chỉ tiêu trên, để đánh giá đầy đủ và toàn diện hơn về khả năngthanh toán của DN, nhà phân tích còn sử dụng chỉ tiêu sau:
Hệ số khả năng thanh toán:
Hệ số khả năng thanh toán = Khả năng thanh toán [1.19]
Nhu cầu thanh toán
Chỉ tiêu này phản ánh mối quan hệ giữa khả năng thanh toán (gồm tất cả cácnguồn có thể huy động dùng để trả nợ) và nhu cầu thanh toán (gồm tất cả các khoản
nợ cần phải trả trước mắt hoặc trong một thời hạn ấn định) Trong đó:
Nhu cầu thanh toán bao gồm: nhu cầu thanh toán ngắn hạn, nhu cầu thanhtoán dài hạn Trong nhu cầu thanh toán ngắn hạn bao gồm: các khoản phải thanhtoán ngay (như nợ quá hạn, phải nộp ngân sách Nhà nước, phải trả tiền vay, phải trảngười lao động, phải trả người bán, phải trả người mua, phải trả nội bộ, phải trảkhác, các khoản nợ đến hạn) và các khoản phải thanh toán trong thời gian tới
Khả năng thanh toán có thể bao gồm: khả năng thanh toán ngắn hạn và khảnăng thanh toán dài hạn Trong khả năng thanh toán ngắn hạn gồm: các khoản có thểdùng để thanh toán ngay (như tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển, cáckhoản tương đương tiền khác) và các khoản có thể thanh toán trong thời gian tới
Chỉ tiêu này có thể được tính cho cả kỳ hoặc cho từng giai đoạn (khả năngthanh toán ngắn hạn, khả năng thanh toán dài hạn, khả năng thanh toán tháng tới…)
Hệ số này lớn hơn hoặc bằng 1: chứng tỏ DN bảo đảm khả năng thanh toán và tìnhhình tài chính là bình thường hoặc khả quan Khi chỉ tiêu này càng lớn hơn 1 thìkhả năng thanh toán của DN càng dồi dào và an ninh tài chính vững chắc Hệ số nàynhỏ hơn 1: chứng tỏ DN không có khả năng thanh toán Hệ số này càng nhỏ baonhiêu thì DN mất dần khả năng thanh toán bấy nhiêu Khi nó gần bằng 0, thì DNphá sản, không còn khả năng thanh toán
Phân tích hiệu quả kinh doanh
Trang 32Bản thân hoạt động kinh doanh đã là một hoạt động kiếm lời, bởi vậy mốiquan tâm thường trực của các nhà đầu tư không ngừng nâng cao hiệu quả kinhdoanh, thu được nhiều lợi nhuận Hiệu quả kinh doanh là một chỉ tiêu kinh tế tổnghợp phản ánh trình độ sử dụng các nguồn vật lực, tài chính của DN để đạt hiệu quảcao nhất Nâng cao hiệu quả kinh doanh là một trong những biện pháp cực kỳ quantrọng của các DN để thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng cao một cách bền vững Dovậy, phân tích hiệu quả kinh doanh là một nội dung cơ bản của phân tích tài chínhnhằm góp phần cho DN tồn tại và phát triển không ngừng Mặt khác, hiệu quả kinhdoanh còn là chỉ tiêu đánh giá kết quả kinh doanh của các DN, góp phần tăng thêmsức cạnh tranh cho các DN trên thị trường Để có những nhận định, đánh giá sơ bộ,ban đầu về hiệu quả kinh doanh của DN, các nhà quản lý cần có những thông tinkhái quát phản ánh hiệu quả kinh doanh Đây là những thông tin thể hiện rõ nétnhất, tập trung nhất hiệu quả kinh doanh của một DN mà các nhà quản lý có thể dễdàng thu thập được Về mặt lý luận cũng như thực tiễn, có khá nhiều chỉ tiêu được
sử dụng để đánh giá khái quát hiệu quả kinh doanh Tuy nhiên, kinh doanh là hoạtđộng kiếm lời, hoạt động sinh lợi nên các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả hoạt động haykhả năng sinh lợi được sử dụng phổ biến
Vì thế, để đánh giá khái quát hiệu quả kinh doanh của DN, các nhà phân
tích thường sử dụng các chỉ tiêu sau: Sức sinh lời của vốn góp chủ sở hữu, Sức sinhlời của vốn chủ sở hữu, Sức sinh lời của doanh thu, Sức sinh lời của chi phí hoạtđộng, Lãi cơ bản trên mỗi cổ phiếu
Sức sinh lời của vốn góp chủ sở hữu (ROPIC – Return on paid in capital):
Sức sinh lời của vốn góp
Tổng lợi nhuận sau thuế TNDN
[1.20] Vốn góp bình quân của chủ sở hữu
Là chỉ tiêu phản ánh một đơn vị lợi nhuận sau thuế Đây là chỉ tiêu được cácnhà đầu tư quan tâm hàng đầu vì họ muốn biết số lợi nhuận mà họ thực sự thu được
là bao nhiêu khi đầu tư góp vốn vào công ty Trị số của chỉ tiêu này càng lớn, hiệuquả kinh doanh của DN càng cao, càng hấp dẫn các nhà đầu tư và ngược lại, sứcsinh lợi vốn đầu tư của chủ sở hữu càng nhỏ, hiệu quả kinh doanh càng thấp
Sức sinh lời của vốn chủ sở hữu (ROE – Return on equity):
Sức sinh lời của
Trang 33hữu càng tốt, góp phần nâng cao khả năng đầu tư của chủ DN Đối với các công ty
cổ phần thì các nhà đầu tư lại càng quan tâm đến chỉ tiêu này
Sức sinh lời của doanh thu thuần (ROS – Return on sales):
Sức sinh lời của
doanh thu thuần =
Tổng lợi nhuận sau thuế TNDN
[1.22]
Doanh thu thuần
Chỉ tiêu này cho biết một đơn vị doanh thu đem lại mấy đơn vị lợi nhuận sauthuế Trị số của chỉ tiêu càng cao, hiệu quả kinh doanh của DN càng cao và ngượclại, trị số của chỉ tiêu càng thấp, hiệu quả kinh doanh của DN càng thấp Trong phântích kinh doanh, chỉ tiêu ROS được sử dụng như một chỉ tiêu bổ sung để đánh giákhái quát hiệu quả kinh doanh của DN bên cạnh chỉ tiêu ROE
Sức sinh lời của chi phí hoạt động (ROOE – Return on operating expenses): Sức sinh lời của
chi phí hoạt động =
Tổng LN kế toán sau thuế TNDN
x 100 [1.23] Chi phí hoạt động
Là chỉ tiêu phản ánh một đơn vị chi phí hoạt động phát sinh trong kỳ đem lạimấy đơn vị lợi nhuận sau thuế Trị số của ROOE càng lớn, hiệu quả kinh doanhcàng cao và ngược lại Cũng như chỉ tiêu ROS, chỉ tiêu ROOE cũng được sử dụng
bổ sung để đánh giá khái quát hiệu quả kinh doanh của DN Trong đó, chi phí hoạtđộng là toàn bộ chi phí mà DN tiêu hao có liên quan đến kết quả hoạt động trong
kỳ, bao gồm giá vốn hàng bán, chi phí bán hàng và quản lý DN, chi phí hoạt độngtài chính và chi phí khác
Lãi cơ bản trên cổ phiếu (EPS – Earnings per share)
Lãi cơ bản
trên cổ phiếu =
Lãi (Lỗ) được chia cho các cổ phiếu phổ thông
[1.24] Tổng cổ phiếu phổ thông trong kỳ
Chỉ tiêu này cho biết, các cổ đông đầu tư 1 đồng cổ phiếu phổ thông theomệnh giá thì thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận Chỉ tiêu này càng cao càng hấpdẫn các nhà đầu tư
Phân tích hiệu quả sử dụng tài sản
Khi phân tích hiệu quả sử dụng tài sản trước hết phải xây dựng được hệ thốngcác chỉ tiêu tài chính tổng hợp và chi tiết phù hợp với đặc điểm của từng nhóm tàisản sử dụng trong các DN, sau đó tổng hợp lại từ đó đưa ra các biện pháp nâng caohiệu quả sử dụng tài sản, nhằm khai thác hết công suất các tài sản đã đầu tư
Các chỉ tiêu thường sử dụng phân tích hiệu quả sử dụng tài sản như sau:
Số vòng quay của tài sản:
Số vòng quay của tài sản = Tổng doanh thu thuần [1.25]
Trang 34Tài sản bình quân
Chỉ tiêu này cho biết trong một kỳ phân tích các tài sản quay được bao nhiêuvòng, chỉ tiêu này càng cao, chứng tỏ các tài sản vận động nhanh, góp phần tăngdoanh thu và là điều kiện nâng cao lợi nhuận cho DN Nếu chỉ tiêu này thấp, chứng
tỏ các tài sản vận động chậm làm cho doanh thu của DN giảm Tuy nhiên chỉ tiêunày phụ thuộc vào đặc điểm ngành nghề kinh doanh, đặc điểm cụ thể của tài sảntrong các DN
Sức sinh lời của tài sản:
Sức sinh lời của tài sản = Lợi nhuận sau thuế TNDN [1.26]
Suất hao phí của tài sản so với doanh thu thuần
Suất hao phí của tài sản
so với doanh thu thuần =
Tài sản bình quân
[1.27] DTT bán hàng và cung cấp dịch vụ
Chỉ tiêu này cho biết trong kỳ phân tích, DN thu được 1 đồng doanh thu thuầnthì cần bao nhiêu đồng tài sản đầu tư, chỉ tiêu này càng thấp hiệu qủa sử dụng tài sảncàng tốt, góp phần tiết kiệm tài sản và nâng cao doanh thu thuần trong kỳ của DN
Suất hao phí của tài sản so với lợi nhuận sau thuế:
Suất hao phí của tài sản so với
lợi nhuận sau thuế =
Tài sản bình quân
[1.28] Lợi nhuận sau thuế TNDN
Chỉ tiêu này cho biết trong kỳ phân tích, DN thu được 1 đồng lợi nhuận sauthuế thu nhập DN thì cần bao nhiêu đồng tài sản, chỉ tiêu này càng thấp hiệu quả sửdụng các tài sản càng cao, hấp dẫn các cổ đông đầu tư
Phân tích hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn:
Tài sản ngắn hạn đó là các tài sản có thời gian thu hồi vốn ngắn, thời gian thuhồi vốn phụ thuộc vào chu kỳ kinh doanh của DN Tài sản ngắn hạn của DN baogồm: Tiền và các khoản tương đuơng tiền như tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, tiềnđang chuyển, chứng khoán dễ thanh khoản, các khoản phải thu ngắn hạn như phảithu của khách hàng, phải thu về việc trả trước cho người bán, phải thu nội bộ, hàngtồn kho (nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ, thành phẩm…) Tài sản ngắn hạn của
DN thường được phân bổ ở khắp giai đoạn của quá trình sản xuất thể hiện dướinhiều hình thức khác nhau Do vậy, để nâng cao hiệu quả kinh doanh cần phải
Trang 35thường xuyên phân tích từ đó đưa ra các biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tàisản ngắn hạn Để phân tích hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn ta thường dùng cácchỉ tiêu sau:
Số vòng quay của tài sản ngắn hạn:
Sức sinh lời của tài sản ngắn hạn
Sức sinh lời của
Su t hao phí c a tài s n ng n h n so v i doanh thuất hao phí của tài sản ngắn hạn so với doanh thu ủa tài sản ngắn hạn so với doanh thu ản phải thu được tính như sau: ắn hạn so với doanh thu ạn so với doanh thu ới doanh thu
Suất hao phí của tài sản
so với doanh thu =
Tài sản ngắn hạn bình quân
[1.31] Doanh thu (Doanh thu thuần)
Chỉ tiêu này cho biết DN muốn có 1 đồng doanh thu, doanh thu thuần trong
kỳ thì cần bao nhiêu đồng giá trị tài sản ngắn hạn, đó là các căn cứ để đầu tư các tàisản ngắn hạn cho phù hợp Chỉ tiêu này càng thấp chứng tỏ hiệu quả sử dụng tài sảnngắn hạn càng cao
Su t hao phí c a tài s n ng n h n so v i l i nhu n sau thuất hao phí của tài sản ngắn hạn so với doanh thu ủa tài sản ngắn hạn so với doanh thu ản phải thu được tính như sau: ắn hạn so với doanh thu ạn so với doanh thu ới doanh thu ợc tính như sau: ận sau thuế ế
Suất hao phí của TSNH so với
lợi nhuận sau thuế =
Tài sản ngắn hạn bình quân
[1.32] Lợi nhuận sau thuế TNDN
Chỉ tiêu này cho biết để có 1 đồng lợi nhuận sau thuế thì cần bao nhiêu đồngtài sản ngắn hạn bình quân, chỉ tiêu này càng thấp chứng tỏ hiệu quả sử dụng tài sảnngắn hạn càng cao
Để phân tích tốc độ luân chuyển của tài sản ngắn hạn ta sử dụng chỉ tiêu:
Thời gian của một vòng luân chuyển:
Thời gian của
một vòng quay TSNH =
Thời gian của kỳ phân tích
[1.33]
Số vòng quay của TSNH trong kỳ
Chỉ tiêu này thể hiện số ngày cần thiết để cho TSNH quay được một vòng.Bên cạnh việc đánh giá hiệu quả kinh doanh thông qua các chỉ tiêu trên, các nhà
Trang 36phân tích có thể đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh thông qua báo cáo kết quảkinh doanh bằng phương pháp so sánh.
Phân tích rủi ro tài chính
Hoạt động kinh doanh của DN thường xuyên phải đối đầu với các rủi ro trênthương trường Qua phân tích BCTC, các nhà quản lý dự báo những rủi ro tiềm ẩn
về tài chính trên khía cạnh thanh toán thậm chí cả rủi ro về phá sản mà DN có thểphải đương đầu Từ đó, các nhà quản lý sẽ đề ra các kế sách, các quyết định kịpthời, hợp lý để ngăn ngừa và giảm thiểu rủi ro cho DN
Rủi ro tài chính là rủi ro gắn liền với cấu trúc nguồn vốn và là rủi ro mà cácchủ sở hữu phải gánh chịu do việc sử dụng nợ mang lại Bởi vậy khi xem xét rủi rotài chính các nhà phân tích thường xem xét rủi ro thanh toán nợ và ảnh hưởng của
cơ cấu nợ đến khả năng sinh lợi trên vốn chủ sở hữu của DN
Rủi ro thanh toán nợ là một bộ phận cấu thành nên rủi ro tài chính Rủi rothanh toán nếu không kịp thời khắc phục, tất yếu sẽ dẫn DN đến rủi ro phá sản, rủi
ro thanh toán nợ xảy ra khi DN không đủ hoặc không có khả năng thanh toán Bởivậy, để phân tích rủi ro thanh toán, nhất là khả năng thanh toán nợ đến hạn và nợngắn hạn Khả năng thanh toán nợ đến hạn không những cho nhà quản lý biết đượcnăng lực thanh toán nợ đến hạn mà còn báo cho nhà quản lý biết được khả năng cóthể dẫn DN lâm vào tình trạng phá sản Bên cạnh đó để có thể dự đoán được nhữngrủi ro về thanh toán có thể gặp trong tương lai, các nhà phân tích còn xem xét khảnăng thanh toán trong thời gian tới Khả năng thanh toán của DN được đo bằng
nhiều chỉ tiêu khác nhau, như “Hệ số khả năng thanh toán tổng quát”, “Hệ số khả năng thanh toán nhanh”, “Hệ số khả năng thanh toán của tài sản ngắn hạn”, “Hệ
số khả năng thanh toán”.
* Rủi ro do ảnh hưởng của cơ cấu nợ
Rủi ro tài chính mà DN gặp phải còn gián tiếp thể hiện qua ảnh hưởng của cơcấu nợ đến khả năng sinh lời tính trên vốn chủ sở hữu hay mức lợi nhuận trên mỗi
cổ phiếu thường của DN Trong điều kiện kinh doanh thuận lợi, ổn định, trị số đònbẩy tài chính càng cao thì suất sinh lời của tài sản (ROA) và suất sinh lời của vốnchủ sở hữu (ROE) càng cao và ngược lại Tuy nhiên trong môi trường kinh doanhđầy biến động với sự cạnh tranh, việc nâng cao hiệu quả kinh doanh bằng cách thayđổi cấu trúc nguồn vốn theo hướng tăng số nợ phải trả để tăng trị số của đòn bẩy tàichính thực sự là con dao hai lưỡi Ngoài việc tăng số nợ đặt DN vào tình trạng luônphải đối phó với các khoản nợ đến hạn thì khi tăng số nợ cũng đồng nghĩa tăng sốlãi vay phải trả (trừ một vài khoản nợ không phải chịu lãi) Vì thế, phân tích rủi rotài chính gián tiếp qua cơ cấu nợ thường sử dụng các chỉ tiêu phản ánh đòn bẩy tài
Trang 37chính và khả năng thanh toán lãi vay của DN
Theo PGS.TS.Nguyễn Văn Công, các chỉ tiêu mà các nhà phân tích thường sử dụngphản ánh rủi ro tài chính qua cấu trúc nguồn vốn và khả năng thanh toán lãi vay là:
- Đòn bẩy tài chính (a): được tính bằng tỷ lệ tài trợ tài sản bằng VCSH:
Đòn bẩy tài chính (a) =
Đòn bẩy tài chính (b) = Vốn chủ sở hữu Nợ phải trả [1.35]
- Độ nhạy của đòn bẩy tài chính: để phân tích mức độ thay đổi của lợi nhuận
sau thuế so với lợi nhuận trước thuế và lãi vay
Độ nhạy của
đòn bẩy tài chính =
% thay đổi của lợi nhuận sau thuế
[1.36]
% thay đổi của lợi nhuận trước thuế và lãi vay
Việc phân tích rủi ro tài chính không chỉ dừng lại ở việc xem xét trực tiếp cácchỉ tiêu trên mà còn được xem xét trong quan hệ với hiệu quả kinh doanh Bởi vì khikinh doanh kém hiệu quả, DN không những không có tích lũy mà còn không bù đắp đủchi phí bỏ ra, trong đó có chi phí lãi vay do sử dụng các khoản nợ Do vậy, trong quan
hệ với hiệu quả kinh doanh, khi phân tích rủi ro tài chính, các nhà phân tích thườngxem xét thêm chỉ tiêu sau:
Hệ số chi trả lãi vay = Lợi nhuận trước thuế và lãi vay [1.37]
Lãi vay
Do lợi nhuận trước thuế và lãi vay = Lợi nhuận trước thuế TNDN + Lãi vay
nên Hệ số chi trả lãi vay được biến đổi thành:
Hệ số chi trả lãi vay = Lợi nhuận trước thuế thu nhập DN +1 [1.38]
Lãi vay
N u tr s c a ch tiêu này < 1, t c là ế ịnh ố dư bình quân các khoản phải thu được tính như sau: ủa tài sản ngắn hạn so với doanh thu ỉ tiêu này < 1, tức là ức:
Lợi nhuận trước thuế thu nhập DN
< 0
Lãi vay
Điều đó có nghĩa là DN kinh doanh bị lỗ, lợi nhuận thu không đủ chi trả lãi vay
Nếu Hệ số chi trả lãi vay =1 ngh a là:ĩa là:
Lợi nhuận trước thuế thu nhập DN = 0
Trang 38Lãi vay
Lúc này lợi nhuận mà DN thu được chi vừa đủ trang trải lãi vay, không có đểnộp ngân sách và tích lũy hay phân chia cho các thành viên
Nếu Hệ số chi trả lãi vay > 1 ngh a là:ĩa là:
Lợi nhuận trước thuế thu nhập DN
> 0
Lãi vay
Điều này cho thấy, hoạt động kinh doanh của DN đã có lãi, sau khi bù đắp cácchi phí bỏ ra và nộp thuế thu nhập DN, DN còn dôi ra để tích lũy và phân chia chocác thành viên
Phân tích khả năng chi trả lãi vay còn được đặt trong mối quan hệ với suấtsinh lời của vốn chủ sở hữu Trong quan hệ này, suất sinh lời của vốn chủ sở hữu(ROE) đ c vi t d i d ng sau:ược tính như sau: ế ưới doanh thu ạn so với doanh thu
x
LN trướcthuế(EBT) +
Lãivay(I)
x
LN sau thuế(NI)VCSH
LN trướcthuế (EBT) +
Lãivay(I)Sau khi bi n đ i ta thu đ c đ ng th c sau:ế ổn định nguồn tài trợ qua đẳng thức: ược tính như sau: ẳng thức: ức:
ROE =[
Đòn bẩy
tàichính
x (
Suất sinh lờikinh tế của TS
- rb) +
Suất sinh lờikinh tế của TS
“đòn bẩy dương” Ngược lại, khi ROA < rb thì việc vay nợ đã phần nào làm giảmhiệu quả kinh doanh của DN Nếu DN tiếp tục vay thêm thì không những làm giảmhiệu quả kinh doanh mà chắc chắn sẽ gặp rủi ro trong thanh toán Vì thế trong
Trang 39trường hợp này, đòn bẩy tài chính được gọi là “đòn bẩy âm”
Phân tích giá trị DN
Mọi hoạt động trong DN, suy cho cùng, đều hướng tới mục tiêu là nâng cao
và suy tôn giá trị DN Có thể coi giá trị DN là chỉ tiêu đo lường độ phát triển của
DN cũng như uy tín của DN trên thương trường Phân tích giá trị DN chính là việcxem xét, phân tích giá trị DN cũng như các nhân tố ảnh hưởng đến giá trị DN Bởivậy, phân tích giá trị DN luôn luôn gắn với phương pháp xác định giá trị DN Quaphân tích giá trị DN, các nhà quản lý biết được các nguyên nhân ảnh hưởng đến giá
tị DN: từ đó, tìm ra các giải pháp để sử dụng mọi tiềm năng một cách hiệu quảnhằm tăng lợi nhuận, nâng cao hiệu quả kinh doanh, tạo lập và củng cố được uy tíntrong thương trường, xây dựng được một thương hiệu vững mạnh [10,t550]
Có khá nhiều quan điểm và cách thức khác nhau về việc xem xét đánh giá giátrị DN như: phương pháp đánh giá giá trị DN theo Bảng cân đối kế toán, đánh giágiá trị DN theo giá thực tế có tính đến khả năng sinh lợi, phương pháp chiết khấudòng tiền, phương pháp tính theo giá thị trường,… Mỗi một phương pháp đều có ưuđiểm, nhược điểm, điều kiện vận dụng và độ chính xác khác nhau
- Phân tích giá trị DN trên cơ sở Bảng cân đối kế toán:
Giá trị DN được xác định trên cơ sở Bảng cân đối kế toán là giá trị được xácđịnh bằng cách lấy tổng tài sản hiện có trừ đi toàn bộ số nợ phải trả của DN, tức là:
Giá trị DN = Tổng giá trị tài sản - Tổng số nợ phải trả
Nếu DN làm ăn phát đạt, giá trị tài sản hàng năm gia tăng bằng nguồn vốn chủ
sở hữu thì giá trị DN sẽ lớn, và ngược lại: nếu DN làm ăn kém hiệu quả, nợ nầnnhiều thì giá trị DN sẽ giảm dần theo thời gian, thậm chí < 0 Khi đó, DN sẽ khôngcòn giá trị mặc dầu tài sản vẫn còn (do số nợ > nguồn vốn) Phương pháp phân tíchgiá trị theo sổ sách mặc dù đơn giản dễ làm nhưng giá trị DN thường không chínhxác Điều này một phần do giá trị tài sản và nợ phải trả xem xét ở trạng thái tĩnh màkhông căn cứ vào tình trạng kỹ thuật và giá trị thị trường của tài sản cũng nhưkhông tính đến giá trị vô hình; phần nữa, giá trị tài sản phụ thuộc nhiều vào phươngpháp tính khấu hao, phương pháp ghi nhận giá thực tế của vật tư, hàng hoá,… Vìthế, giá trị DN xác định trên cơ sở Bảng cân đối kế toán nhiều khi cao hơn hoặcthấp hơn nhiều giá trị thực tế của DN
- Phân tích giá trị DN theo phương pháp tài sản:
Phương pháp tài sản là phương pháp xác định giá trị DN trên cơ sở đánh giágiá trị thực tế toàn bộ tài sản hiện có của DN tại thời điểm xác định giá trị DN Dovậy, giá trị thực tế của DN là giá trị thực tế toàn bộ tài sản hiện có của DN tại thời
Trang 40điểm xác định giá trị DN có tính đến khả năng sinh lời của DN.
DN chỉ xác định giá thực tế của những tài sản mà DN tiếp tục sử dụng Giáthực tế được xác định trên cơ sở nguyên giá (tính theo giá thị trường hiện hành)nhân với chất lượng còn lại của tài sản Đối với tài sản vô hình, giá thực tế được xácđịnh theo giá trị còn lại trên sổ sách kế toán,… Căn cứ vào biên bản xác định giá trị
DN, các nhà phân tích sẽ tiến hành xem xét tình hình biến động giá trị DN Bằng cách
so sánh giá trị DN thực tế với giá trị sổ sách kế toán trên tổng số cũng như từng bộphận giá trị, các nhà quản lý sẽ biết được nguyên nhân ảnh hưỏng đến giá trị DN Từ
đó, đánh giá tính hợp lý về sự biến động của các nhân tố ảnh hưởng đến giá trị DN và
đề xuất các giải pháp thích hợp để tăng giá trị DN Trong điều kiện cho phép, nếu có
số liệu xác định giá trị DN của nhiều kỳ trước, các nhà phân tích có thể so sánh giá trịthực tế của DN kỳ này so với kỳ trước nhằm biết được tình hình tăng trưởng và xuhướng biến động về giá trị DN
So với việc phân tích giá trị DN trên cơ sở giá trị sổ sách, phân tích giá trị DNtrên cơ sở giá trị thực tế tài sản chính xác hơn nhiều Bằng cách này, các nhà quản
lý đã phần nào đưa giá trị DN đến gần với giá trị thực của DN trên thị trường Tuynhiên, cách thức xác định bộ phận giá trị vô hình, nhất là lợi thế kinh doanh của DNlại chưa thật thuyết phục
- Phân tích giá trị DN theo Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh:
Trên cơ sở xác định giá trị DN theo khả năng sinh lời của DN trong tương laidựa vào Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của nhiều năm liền kề trước đó, cácnhà phân tích sẽ tiến hành xác định tình hình biến động của giá trị DN cũng như cácnhân tố ảnh hưởng đến sự biến động của giá trị DN Phương pháp xác định giá trị
DN theo khả năng sinh lời (phản ánh trên Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh)còn gọi là phương pháp dòng tiền chiết khấu (Discounted cash flow) vì phươngpháp này xác định giá trị DN dựa vào giá trị hiện tại của tất cả các khoản lợi nhuậnthu được trong tương lai được chiết khấu theo chi phí vốn (còn gọi là tỷ lệ chiếtkhấu hay tỷ lệ hoàn vốn cần thiết) Phương pháp này dựa trên quan điểm cho rằng:luồng tiền duy nhất mà nhà đầu tư có thể nhận được là luồng lợi nhuận dự kiến Giá trị DN xác định theo khả năng sinh lời trong tương lai của DN phụ thuộcvào tính ổn định trong dự đoán sự phát triển của DN Do vậy, các nhà phân tích phảichú ý đến lợi nhuận sau thuế mà DN thu được của một khoảng thời gian dài Mặtkhác, việc xác định tỷ lệ chiết khấu (chi phí vốn) cũng có nhiều cách khác nhau đểxác định Theo phương pháp này, giá trị DN đ c tính theo công th c sau:ược tính như sau: ức: