1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn triết học Một số nội dung cơ bản trong tư tưởng chính trị xã hội của Tự Đức

109 559 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 710,03 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đây cũng là định hướng cho việc nghiên cứu tư tưởng chính trị - xã hội của Tự Đức với tư cách một ông vua ở vào thời kỳ khó khăn phức tạp nhất của triều Nguyễn với những vấn đề về chính

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

A MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Thân thế và sự nghiệp của Tự Đức gắn liền với những biến động lớn của đất nước ta nửa cuối thế kỷ XIX - thời kỳ dân tộc ta phải đương đầu quyết liệt để chống lại âm mưu và hành động xâm lược của thực dân Pháp Là nhà vua, người nắm quyền tối cao quyết định vận mệnh dân tộc, để đất nước ta dần biến thành thuộc địa của Pháp, ông đã bị kết tội “bán rẻ đất nước”[40, tr 18] cho thực dân Tuy nhiên, trước đòi hỏi về tính khách quan, khoa học của ngành sử học, việc đánh giá Tự Đức vốn là “một trong những người uyên bác bậc nhất thời đó”[68, tr 206] có đúng là người muốn bán rẻ nước ta như lịch

sử đã quy trách nhiệm cho ông hay không?

Để tìm lời giải cho câu hỏi đó, chúng ta cần tìm hiểu và trình bày tư tưởng chính trị - xã hội của Tự Đức để làm rõ những gì ảnh hưởng và chi phối đến “hành động” của ông trước các vấn đề phức tạp của đất nước thời bấy giờ Đồng thời, việc tìm hiểu tư tưởng chính trị - xã hội của Tự Đức còn góp phần lý giải sự biến đổi trong đời sống chính trị - xã hội của đất nước thời ông trị vì

Mặt khác, chúng tôi thấy rằng, nếu chỉ đánh giá Tự Đức qua cuộc đời chính trị thì chưa đủ, mà cần phải nghiên cứu tư tưởng của Tự Đức qua các trước tác của ông, đó là một di sản tinh thần không nhỏ mà Tự Đức đã để lại, gồm thơ văn, chiếu, dụ, v.v

Về mặt thực tiễn, Việt Nam là một nước chịu ảnh hưởng sâu rộng của

tư tưởng Nho giáo nói chung và tư tưởng chính trị - xã hội Nho giáo nói riêng Vì vậy, trong công cuộc đổi mới đất nước để hội nhập và phát triển hiện nay thì việc nghiên cứu, đánh giá lại các giá trị tích cực và tiêu cực của

tư tưởng chính trị - xã hội Nho giáo trong lịch sử dân tộc là việc làm cần thiết Cho nên, nghiên cứu tư tưởng chính trị - xã hội của Tự Đức còn góp phần

Trang 3

“gạn đục khơi trong” chắt lọc những gì là giá trị, từ đó rút ra bài học lịch sử đối với việc quản lý xã hội từ chính cuộc đời Tự Đức cho hôm nay và mai sau Hơn nữa, vấn đề triều Nguyễn nói chung, của Tự Đức nói riêng vẫn đang

là vấn đề cần phải được nghiên cứu trở lại dưới nhiều góc độ khác nhau

Vì những lý do trên, chúng tôi lựa chọn vấn đề Một số nội dung cơ bản trong tư tưởng chính trị - xã hội của Tự Đức làm đề tài nghiên cứu cho luận

văn thạc sĩ Triết học của mình

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Tư tưởng Tự Đức là vấn đề cho đến nay vẫn còn gây nhiều tranh luận không chỉ trong giới khoa học xã hội Việt Nam, mà còn là vấn đề quan tâm của nhiều học giả nước ngoài Đã có nhiều công trình của các học giả bàn luận xung quanh vị vua này về tư tưởng, vai trò cũng như trách nhiệm của ông trước việc để nước ta biến thành thuộc địa của Pháp trong thời kỳ lịch sử nói trên Chính vì vậy, công và tội của ông đến nay vẫn còn là vấn đề đang được bàn luận rộng rãi Chúng tôi tạm phân định một số lĩnh vực nghiên cứu

về thân thế, sự nghiệp và tư tưởng của Tự Đức như sau:

Thứ nhất, ở góc độ sử học, có một số công trình đánh giá về Tự Đức

với nhiều quan điểm khác nhau Cuốn sách Những vấn đề văn hóa - xã hội

thời Nguyễn (Nxb Khoa học xã hội, 1992) do Mạc Đường, Lê Trung chủ biên

Cuốn sách này là tập hợp các báo cáo khoa học và những phát biểu thuyết trình tại cuộc hội thảo “Một số vấn đề về triều Nguyễn” được tổ chức vào tháng 10 năm 1989 Đây là cuộc hội thảo đầu tiên về triều Nguyễn được tổ chức với mục đích nhận thức lại vấn đề đánh giá triều Nguyễn Cuốn sách là kết quả sơ bộ và đầu tiên nhằm mở đầu cho quá trình nghiên cứu tiếp theo về triều Nguyễn với những cách nhìn, nhận định khác nhau của nhiều nhà nghiên

cứu về vấn đề triều Nguyễn

Cuốn sách Những vấn đề lịch sử và văn chương triều Nguyễn (Nxb

Trang 4

Giáo dục, Hà Nội, 1997) do Nguyễn Phong Nam chủ biên Cuốn sách này là tập hợp các bài báo cáo tại hội thảo khoa học “Tư tưởng Việt Nam dưới thời Nguyễn” do Đại học Sư phạm Huế tổ chức vào 27 và 28 tháng 4 năm 1994 Nội dung cuốn sách không đưa ra những kết luận, đánh giá, nhận định có tính chất tổng kết về triều Nguyễn, mà chỉ cung cấp những cách nhìn, những kiến giải khác nhau, thậm chí trái ngược nhau của các nhà nghiên cứu về một số vấn đề cụ thể của nhà Nguyễn và Tự Đức, như vấn đề canh tân, vấn đề chiến hay hoà, những vấn đề văn chương triều Nguyễn, v.v

Trong cuốn sách Việc đào tạo và sử dụng quan lại của triều Nguyễn từ

năm 1802 đến năm 1884 (Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1998) của Lê Thị

Thanh Hòa, tác giả đã khái quát về việc đào tạo và sử dụng quan lại của nước

ta trước thời Nguyễn Đặc biệt, tác giả tập trung phân tích việc đào tạo quan lại qua giáo dục, thi cử và chính sách sử dụng, tuyển chọn quan lại của triều Nguyễn từ 1802 đến 1884

Cuốn sách Một số vấn đề về quan chế triều Nguyễn (Nxb Thuận Hóa,

Huế, 1998) của các tác giả Phan Đại Doãn, Nguyễn Minh Tưởng, Hoàng Phương, Lê Thành Lân, Nguyễn Ngọc Quỳnh Trong sách, các tác giả nghiên cứu về nguyên lý cai trị, quan chế, tổ chức quân đội của triều Nguyễn

Cuốn sách Lịch sử nhà Nguyễn một cách tiếp cận mới (Nxb Đại học Sư

phạm, Hà Nội, 2005) của nhiều tác giả, là tập hợp các bài báo cáo tại hội thảo khoa học quốc gia về “Nghiên cứu và giảng dạy lịch sử thời Nguyễn ở Đại học, Cao đẳng sư phạm và Phổ thông”, do Khoa Lịch sử và trường Đại học

Sư phạm Hà Nội tổ chức vào tháng 10 năm 2002 Từ cách tiếp cận khác nhau, các nhà sử học đã có những cái nhìn và đánh giá khác nhau về vai trò, công và tội của triều Nguyễn; đưa ra những nhận định về vai trò lịch sử của các vua nhà Nguyễn, v.v

Cuốn sách Những phát hiện mới về triều Nguyễn (Nxb Văn nghệ TP

Trang 5

Hồ Chí Minh, 2002) của tác giả Tố Am Nguyễn Toại Nội dung cuốn sách ghi lại một số sự kiện lịch sử trong triều Nguyễn, trong đó có một số sự kiện liên quan đến thời Tự Đức như quan hệ ngoại giao giữa nước Đại Thanh với nước Đại Nam trong triều Tự Đức (1847 - 1883), Nho sĩ nước Nam đối với vua Tự Đức, v.v., góp phần tìm hiểu sâu sắc hơn một giai đoạn lịch sử

Cuốn sách Huế - Triều Nguyễn một cái nhìn (Nxb Thuận Hóa, Huế,

2004) của Trần Đức Anh Sơn là tập hợp gồm 32 bài viết với đủ mọi đề tài giới thiệu đủ khía cạnh của nền văn hóa Huế được tác giả viết vào nhiều thời điểm khác nhau Qua đó, giúp chúng ta thấy được cái nhìn của người đương đại đối với nghệ thuật, văn hóa cung đình Huế

Cuốn sách Mười ba đời vua nhà Nguyễn (Nxb Thuận Hóa, Huế, 2004),

các tác giả Trần Quỳnh Cư, Trần Việt Quỳnh đã lên án Tự Đức rất nhiều, như khước từ mọi đề nghị cải cách của Phạm Phú Thứ, Trần Đình Túc, Nguyễn Trường Tộ, v.v.; duy trì lối học và thi cổ; thực thi chính sách bế quan tỏa cảng; ít quan tâm đến việc sửa sang chính trị, quân sự, phát triển kinh tế

Cuốn sách Khiêm lăng và vua Tự Đức (Nxb Thuận Hóa, Huế, 2004)

của tác giả Mai Khắc Ứng đã giới thiệu sơ lược về xã hội Việt Nam dưới thời

Tự Đức Ngoài ra, trong sách còn giới thiệu một số nét về đặc điểm văn hóa cũng như đặc điểm mỹ thuật của Khiêm lăng, về các nhà nho, nhà sử học, nhà thơ dưới triều Nguyễn

Trong cuốn sách Bang giao Đại Việt triều Nguyễn (Nxb Văn hóa -

Thông tin, Hà Nội, 2005) của Nguyễn Thế Long, tác giả viết về quan hệ giữa triều Nguyễn và triều Thanh, giữa triều Nguyễn với Pháp Tác giả khẳng định trách nhiệm của nhà Nguyễn để mất nước

Cuốn sách Ngoại giao giữa Việt Nam và các nước phương tây dưới

triều Nguyễn (1802-1858) (Nxb Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh, 2006)

của Trần Nam Tiến Tác giả đã khái quát về quan hệ ngoại giao giữa Việt

Trang 6

Nam với các nước phương Tây từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XVIII, trình bày về mối quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và các nước phương Tây qua các thời

kỳ Gia Long, Minh Mệnh, Thiệu Trị và Tự Đức (1847-1858) Từ đó, tác giả rút ra những đóng góp và hạn chế của triều Nguyễn trong chính sách ngoại giao với các nước phương Tây

Cuốn sách Những vấn đề lịch sử triều Nguyễn (Nxb Văn hóa Sài Gòn,

2007), là tập hợp những bài viết của nhiều tác giả về các sự kiện lịch sử, các mối quan hệ ngoại giao, chính sách ruộng đất và quốc phòng cùng các mối quan hệ trong triều đình thời Nguyễn đã được đăng tải trên Tạp chí Xưa và Nay

Cuốn sách Kinh tế và xã hội Việt Nam dưới các vua triều Nguyễn (Nxb

Văn học, 2008) của Nguyễn Thế Anh Tác giả đã giới thiệu dân cư Việt Nam, giới sĩ phu với tổ chức xã hội, nông dân và các hoạt động nông nghiệp, các hoạt động công nghệ, thương mại, các vấn đề xã hội và các đề nghị cải cách dưới thời Nguyễn

Đánh giá vai trò và trách nhiệm của các chúa Nguyễn và vua Nguyễn, gần đây, cụ thể là tại Hội thảo khoa học về “Chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn trong lịch sử Việt Nam từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XIX” được tổ chức vào ngày 18 và 19 tháng 10 năm 2008 tại Thanh Hóa, Phan Huy Lê đã có bài tổng kết khái quát kết quả của Hội thảo với 92 báo cáo khoa học như sau:

“Mọi người tham gia hội thảo đều nhận thấy sự phê phán, lên án đến mức độ gần như phủ định mọi thành tựu của thời kỳ các chúa Nguyễn và triều Nguyễn trước đây là quá bất công, thiếu khách quan <…> Hội thảo cũng nhất trí nêu lên những mặt hạn chế của thời kỳ chúa Nguyễn và triều Nguyễn Tuy còn nhiều vấn đề đang tồn tại nhưng Hội thảo đã tạo nên một hướng nhận thức mới để cùng tiếp tục nghiên cứu và thảo luận Đây là một đổi mới quan trọng trong nhận thức về chúa Nguyễn và triều Nguyễn Nhưng cần nhấn mạnh “đổi mới” hoàn toàn không có nghĩa là lật ngược lại vấn đề, chuyển từ

Trang 7

cực đoan phê phán sang cực đoan tôn vinh một chiều mà là nhận thức lại trên

cơ sở những kết quả nghiên cứu khoa học mới nhất ở trong nước và trên thế giới với những luận chứng khoa học có sức thuyết phục”[76,] Đây cũng là định hướng cho việc nghiên cứu tư tưởng chính trị - xã hội của Tự Đức với tư cách một ông vua ở vào thời kỳ khó khăn phức tạp nhất của triều Nguyễn với những vấn đề về chính trị, ngoại giao, tôn giáo, v.v

Đối với các tác giả nước ngoài, vấn đề tư tưởng Nho giáo của Tự Đức

cũng được chú ý nghiên cứu Tác phẩm Nước Đại Nam đối diện với Pháp và

Trung Hoa 1847 - 1885 (Nxb Trẻ, TP Hồ Chí Minh, 1999) của Yoshiharu

Tsuboi Tác giả đã đưa ra những kiến giải khá sâu sắc và mới mẻ trước vấn đề

tư tưởng Nho giáo của Tự Đức Nhưng vì đối tượng nghiên cứu của tác phẩm này là quan hệ giữa Đại Nam với Pháp và Trung Hoa nên vấn đề tư tưởng Nho giáo của Tự Đức chỉ được tác giả bàn tới rất sơ lược Ngoài những nhận xét, đánh giá ra, điều đáng quý ở đây là việc đưa vào cuốn sách một số tư liệu được lưu trữ ở nước ngoài mà sử triều Nguyễn không có

Thứ hai, từ góc độ tôn giáo, liên quan đến đề tài có một số công trình như: Trong bài viết: “Quan niệm của Tự Đức về Công giáo qua tác phẩm

Đạo biện” của Đỗ Lan Hiền (Tạp chí Triết học, số 6/2001), đã phân tích thái

độ phê phán của Tự Đức đối với đạo Lão, đạo Phật và đặc biệt là đạo Gia tô Mặc dù Tự Đức chỉ dựa vào khái niệm “đạo” trên lập trường của Nho giáo, song có thể nói, đây là tác phẩm thể hiện quan điểm phê phán của ông đối với giáo lý Công giáo trên bình diện triết học - tôn giáo

Trong bài viết: “Trở lại chính sách cấm đạo của nhà Nguyễn qua bộ

Đại Nam thực lục” của Lê Thị Thắm (Tạp chí Nghiên cứu tôn giáo, số

2/2002), đã hệ thống lại những chỉ dụ của triều Nguyễn đối với Công giáo, từ

đó rút ra những nhận định về thực chất của vấn đề cấm đạo dưới triều Nguyễn

và thời Tự Đức

Trang 8

Cuốn sách Công giáo Việt Nam thời kỳ triều Nguyễn (1802 - 1883)

(Nxb Tôn giáo, Hà Nội, 2007) của Nguyễn Quang Hưng đã trình bày bối cảnh lịch sử, quá trình truyền đạo vào Việt Nam, thái độ ứng xử của các vua triều Nguyễn với Công giáo, trong đó chú trọng tới “vấn đề nghi lễ” trong xung đột giữa Công giáo và triều đình Đặc biệt, tác giả tập trung làm sáng tỏ vấn đề Công giáo thời Tự Đức

Luận án: “Chính sách tôn giáo thời Tự Đức” của Nguyễn Ngọc Quỳnh (2009), dưới lăng kính triết học tác giả đã phân tích làm rõ chính sách tôn giáo của triều Tự Đức với nhiều biến cố đặc biệt phức tạp, từ đó đóng góp vào cái nhìn tổng thể của chính sách tôn giáo triều Nguyễn Mặt khác, tác giả đã rút ra bài học chính trị hiện tại về chính sách quản lý tôn giáo của nhà nước, về quan điểm, đường lối đoàn kết tôn giáo trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc

Thứ ba, ở góc độ tư tưởng triết học, có một số công trình nghiên cứu tiêu biểu như sau:

Công trình “Tư tưởng Việt Nam dưới thời Tự Đức” của Cao Xuân Huy,

in trong sách Tư tưởng phương Đông gợi những điểm nhìn tham chiếu (Nxb Văn học, Hà Nội, 1995) Trong bài viết này, tác giả không chỉ dừng ở việc

nghiên cứu tư tưởng Nho giáo của Tự Đức, mà còn được mở rộng ra tới toàn

bộ tư tưởng Nho giáo dưới triều Tự Đức Tư tưởng Nho giáo của Tự Đức mới chỉ được nghiên cứu một cách sơ lược về mặt nhận thức luận, còn các vấn đề khác như quan điểm về đường lối trị nước, về giáo dục, v.v., chưa được đề cập đến Như vậy, tư tưởng Nho giáo của Tự Đức trong tác phẩm này cũng chỉ là một phần nhỏ và mới chỉ được đề cập đến một vài khía cạnh

Cuốn sách Sự phát triển của tư tưởng ở Việt Nam từ thế kỷ XIX đến

cách mạng tháng Tám, Tập I - Hệ ý thức phong kiến và sự thất bại của nó

trước các nhiệm vụ lịch sử (Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1996) của Trần Văn Giàu là cuốn sách được Nhà nước trao tặng giải thưởng Hồ Chí Minh

Trang 9

Trong tác phẩm này, tác giả đã đề cập đến một loạt nguyên nhân dẫn tới sự thất bại của hệ ý thức phong kiến dưới triều Nguyễn trước các nhiệm vụ của lịch sử Trong đó, học thuyết chính trị - xã hội của Nho giáo mà triều Nguyễn

và Tự Đức dựa vào đó để xây dựng nên hệ tư tưởng chính thống của triều đại, được tác giả xác nhận như là một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn tới sự thất bại của triều Nguyễn Tuy nhiên, tác giả dường như chỉ thấy sự hạn chế của hệ tư tưởng chủ đạo dẫn đến sự thất bại mà không đưa ra sự cần thiết phải tìm hiểu và đánh giá khách quan hơn về nó để chỉ ra những mặt tích cực và tiêu cực của hệ tư tưởng triều Nguyễn trước sự biến động phức tạp của tình hình trong nước và khu vực

Cuốn sách Lịch sử tư tưởng Việt Nam, Tập II (Nxb Khoa học xã hội,

Hà Nội, 1997) của Lê Sỹ Thắng đã tập trung phân tích những vấn đề thực tiễn đặt ra cho lịch sử tư tưởng Việt Nam vào nửa cuối thế kỷ XIX, đó là vấn đề bảo vệ tổ quốc và canh tân đất nước Mặc dù cuốn sách đã phân tích và đánh giá khách quan về những đóng góp, hạn chế của Tự Đức trong lịch sử tư tưởng nước ta thời kỳ đó, song việc hệ thống hóa tư tưởng Tự Đức chưa được làm rõ

Nguyễn Tài Thư trong sách Nho học và Nho học ở Việt Nam một số vấn

đề lý luận và thực tiễn (Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1997) của mình đã dành

ra một chuyên mục nghiên cứu “Nho học triều Nguyễn - nội dung, tính chất và vai trò lịch sử” Trong bài viết này, tác giả vạch rõ nội dung, tính chất, vai trò của Nho giáo triều Nguyễn trước và trong thời gian đế quốc Pháp xâm lược nước ta Từ đó, tác giả đưa ra nhận định cho rằng, sự thất bại của Nho giáo triều Nguyễn là một tất yếu lịch sử vì nó đi ngược lại quyền lợi của nhân dân

“Nho giáo dưới triều Nguyễn (nửa đầu thế kỷ XIX)” của Nguyễn

Thanh Bình, in trong sách Học thuyết chính trị - xã hội của Nho giáo và ảnh

hưởng của nó ở Việt Nam (Từ thế kỷ XI đến nửa đầu thế kỷ XIX) (Nxb Chính

Trang 10

trị Quốc gia, Hà Nội, 2007) Tác giả chỉ rõ những tư tưởng bảo thủ, giáo điều của Nho giáo đã kìm hãm sự phát triển của đất nước ta lúc đó là tư tưởng

“xưa hơn nay”, “trọng đạo khinh thường lợi”, “nội hạ ngoại di”, “nông vi bản, thương vi mạt”

Mấy năm gần đây, nhiều tác phẩm, nhiều luận văn khoa học nghiên cứu

về Nho giáo triều Nguyễn cũng đã ít nhiều đề cập tới tư tưởng Nho giáo của

Tự Đức như: Nho giáo xưa và nay (Vũ Khiêu - chủ biên, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1990), Nho giáo tại Việt Nam (Lê Sỹ Thắng - chủ biên, Nxb

Khoa học xã hội, Hà Nội, 1994), và trên các tạp chí Nghiên cứu lịch sử, tạp chí Xưa và Nay, tạp chí Tôn giáo, tạp chí Triết học, v.v

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu chủ yếu đề cập đến cuộc đời, sự nghiệp, vai trò lịch sử cũng như công và tội của Tự Đức dưới góc độ sử học, tôn giáo Riêng góc độ triết học, có một số công trình về nội dung Nho giáo triều Nguyễn nói chung, chưa có nhiều công trình nghiên cứu một cách hệ thống về tư tưởng Tự Đức, đặc biệt là tư tưởng chính trị - xã hội của ông Việc nghiên cứu tư tưởng Nho giáo của Tự Đức cho đến nay chủ yếu chỉ được nghiên cứu lướt qua, rời rạc, chưa tương xứng với vị trí của nó trong lịch sử tư tưởng Việt Nam Trước nhu cầu của xã hội về nghiên cứu và giảng dạy lịch sử tư tưởng triết học dân tộc, việc nghiên cứu chuyên sâu về tư tưởng

Tự Đức, đặc biệt là tư tưởng chính trị - xã hội của ông sẽ có ý nghĩa lý luận và thực tiễn thiết thực Đó cũng là nhiệm vụ nghiên cứu khoa học không bao giờ kết thúc

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Luận văn tập trung trình bày một cách hệ thống nội dung tư tưởng chính trị - xã hội của Tự Đức, từ đó làm rõ những giá trị, hạn chế chủ yếu trong tư tưởng đó của ông

Trang 11

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Xuất phát từ mục đích nghiên cứu trên, luận văn cần giải quyết các nhiệm vụ sau:

- Phân tích những điều kiện và tiền đề hình thành tư tưởng chính trị -

xã hội của Tự Đức

- Phân tích và hệ thống hóa một số nội dung chủ yếu trong tư tưởng chính trị - xã hội của Tự Đức qua thơ văn, chiếu biểu và hành động của ông

- Làm rõ những giá trị cũng như hạn chế trong tư tưởng chính trị - xã hội của Tự Đức

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

4.1 Cơ sở lý luận

Cơ sở lý luận là: Các quan điểm duy vật về lịch sử của triết học Mác - Lênin; Tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về lịch sử tư tưởng dân tộc; Nguyên tắc phương pháp luận nghiên cứu lịch sử

triết học

Cơ sở tài liệu: Luận văn được thực hiện trên cơ sở tư liệu chủ yếu từ

các cuốn sách: Tự Đức ngự chế thi tập, Tự Đức ngự chế văn tập, Ngự chế Việt

sử tổng vịnh tập, Thơ văn Tự Đức, Đại Nam thực lục chính biên (Đệ tứ kỷ), Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Đại Nam liệt truyện, Châu bản triều Tự Đức, và một số tài liệu khác nghiên cứu về Tự Đức đã được công bố

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn dựa trên các phương pháp cụ thể sau: Phương pháp logic lịch sử, phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, hệ thống hóa

-5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

5.1 Đối tượng nghiên cứu

Trên cơ sở mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu trên, chúng tôi xác định đối tượng nghiên cứu của luận văn là một số nội dung cơ bản trong tư tưởng

Trang 12

chính trị - xã hội của Tự Đức

5.2 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu một số quan điểm cơ bản thuộc tư tưởng chính trị - xã hội của Tự Đức được trình bày trong thơ văn, chiếu biểu và hành động của ông

6 Đóng góp của luận văn

Luận văn trình bày một cách hệ thống về điều kiện và tiền đề hình thành, nội dung tư tưởng chính trị - xã hội của Tự Đức

Luận văn xác định những giá trị, hạn chế chủ yếu trong tư tưởng chính trị - xã hội của Tự Đức Trên cơ sở đó, luận văn bước đầu đưa ra sự đánh giá vai trò của Tự Đức trong bối cảnh lịch sử thời đại ông nói riêng và của vương triều Nguyễn nói chung trong tiến trình lịch sử dân tộc

7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

8 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 2 chương, 7 tiết

Trang 13

B NỘI DUNG Chương 1 NHỮNG TIỀN ĐỀ CƠ BẢN CHO SỰ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG

CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI CỦA TỰ ĐỨC 1.1 Hoàn cảnh xuất thân và con người Tự Đức

1.1.1 Hoàn cảnh xuất thân

Tự Đức tên húy là Thì, tên chữ là Hồng Nhiệm, sinh ngày 25 tháng 8 năm Kỷ Sửu, tức ngày 22 tháng 9 năm 1829; là con thứ hai của vua Thiệu Trị,

và bà Phạm Thị Hằng, con gái Thượng thư bộ Lễ Phạm Đăng Hưng, người ở Tân Hòa, Gia Định, bà là người có ảnh hưởng nhiều đến Tự Đức sau này

Sách Đại Nam liệt truyện nhận xét về bà như sau: “Tính hậu lại thông minh

nhớ lâu, hết thảy việc cũ và nghe tuyên đọc các sách, giấy tờ gì, là hiểu ngay, không đợi mở xem, lại vua có hỏi đến, thưa rõ từng điều, không sót < > Lòng từ ái không thể thuật hết <…> tính hạnh đoan cẩn”[41, tr 29-30] Bà mất năm Thành Thái thứ 13 (1901)

Ngay từ khi sinh ra, Tự Đức đã được sống trong thời kỳ mà Nho giáo giữ vị trí thống trị, cho nên việc học hành của ông rất được chú trọng Năm Thiệu Trị thứ 1 (1841) Tự Đức được cho ra giảng đường để học tập Bản thân

Tự Đức cũng là một người thông minh, ham học: “Khi còn ở tiềm để không ham thích gì khác, chỉ kê cứu các kinh sách, ngày nối tới đêm, những sách của bách gia chư tử [các nhà trước tác] không sách nào không đọc qua”[43, tr

31] Sách Đại Nam thực lục chính biên (Đệ tam kỷ) đã ghi lại nhận xét, đánh

giá về khả năng và quá trình hoàn thiện nhân cách của Tự Đức như sau:

“Hoàng tử thứ hai thông minh sớm, ngay từ thuở mới đặt tên cho Một hôm, gọi vào chầu, vua hỏi rằng: “Con có biết ý ta đặt tên cho con là nghĩa gì không?” Hoàng tử thưa rằng: “[nghĩa là] gánh chịu những việc nặng” Vua lấy làm lạ lắm! Sau đó, khi ra cung các đọc sách, hoàng tử không ham muốn

Trang 14

gì, chỉ thích ngâm vịnh Vua thường gọi vào nội điện, khi rỗi việc một lát, hoặc khi đương tấu nhạc, hoặc đương lúc hầu cơm, sai làm thơ để xem có nhanh không Rồi sai cung tần mang văn phòng tứ bảo của ngự dụng, cho phép được lấy mà dùng Hoàng tử thứ hai khiêm tốn không dám vượt lễ, chỉ biết vâng mệnh nghĩ ngay ra thơ, hạ bút làm xong ngay Vua khen là thông minh, có khi thưởng cho cái nhẫn lớn bằng ngọc kim cương, có khi ban cho cái bát cơm bằng thứ ngọc quý mà nhà vua đương ăn, dụ rằng: “Ăn thứ thừa này để chịu lấy phúc thừa” Cặn kẽ dạy bảo, yêu quý đặc biệt khác cả”[42, tr 375] Như vậy, ngay từ khi còn nhỏ, Tự Đức đã sớm ý thức được trọng trách trong tương lai của mình Ông tỏ ra nhân hiếu, thông minh và chăm học, được vua cha rất yêu quý, bảo có nhiều tính giống mình nên có ý truyền ngôi cho Hồng Nhiệm vì thế mà được vua gọi vào chầu riêng để dạy bảo Khi ấy, Yên Phong Công Hồng Bảo tuy là con cả nhưng lại ít học, chỉ ham vui chơi Sách

Đại Nam thực lục chính biên (Đệ tứ kỷ) cũng có khá nhiều tư liệu cho thấy sự

ân cần dạy bảo của Thiệu Trị đối với Tự Đức: “Hiến tổ Chương hoàng đế cho

là giống tính mình yêu mến khác thường, hằng vâng đặc chỉ gọi vào chầu dạy lấy đạo học của đế vương, và việc cấy gặt khó nhọc của nhân dân Hoặc có khi rảnh việc ngồi ngay đấy mà ngâm vịnh nối theo, cầm bút viết xong ngay, thường được ban khen bằng bài thơ”[43, tr 31-32]

Tháng 10 năm Đinh Mùi (1847), Hồng Nhiệm lên ngôi ở điện Thái Hòa, nhưng lấy sang năm Mậu Thân làm năm Tự Đức thứ 1 (1848) và làm vua từ đó cho đến lúc mất, hiệu là Dực tông Anh hoàng đế Trong cuộc đời làm vua của mình, Tự Đức làm việc không biết mệt mỏi Điều đó sẽ không có gì đặc biệt ở một ông vua nếu chúng ta biết rằng, thể chất của ông “từ lúc trẻ đến lúc khôn lớn cho đến lúc già, bệnh nươm ở người”[50, tr 7] Khi thiết triều, thỉnh thoảng ông vẫn bị chóng mặt: “Trẫm thực là người nhiều bệnh, vì ở trong chốn thâm nghiêm, thấp khí u uất rất thịnh, ngồi lâu thì chóng mặt, nói nhiều thì hụt hơi,

Trang 15

dù trong bụng muốn nói ra, nhưng sức không nói được”[63, tr 37]

Do sức khỏe kém mà Tự Đức luôn ở trong Đại nội Huế, trừ hai chuyến

đi cửa biển Thuận An đều đặn mỗi năm để tránh thời tiết quá nóng hoặc quá lạnh Suốt đời ông chỉ có một chuyến đi xa là ra Hà Nội, đó là vào dịp lễ thụ phong vương của vua cha - vua Thiệu Trị Cũng chính vì ít vi hành nên Tự Đức điều khiển đất nước chỉ thông qua hệ thống quan lại Điều này có thể nói, là hạn chế rất lớn đến tư tưởng và hành động của ông trong thời gian trị vì đất nước

Về tính cách, ông tự răn mình có đức khiêm Ông đã xây cho mình một

cái lăng và đặt tên là Khiêm lăng Theo ông, khiêm là kính, là nhường Nhưng

ở ông, chúng tôi cảm nhận được sự khiêm nhường đến thái quá khi ông tự đánh giá mình:

“Trẫm nay: Đức như muỗi nhỏ,

Trí kém sâu đo”[63, tr 336]

Tính khiêm tới mức thái quá của ông như vậy đã chuyển thành tính thiếu quyết đoán, không quả quyết trong mọi việc, phải dựa vào triều thần bàn việc, mà triều thần lại có nhiều người bảo thủ Điều này ảnh hưởng rất nhiều không chỉ đến cuộc đời của ông mà còn đến cả vận mệnh đất nước

Tự Đức ở ngôi 36 năm Ông mất ngày 16 tháng 6 năm Quý Mùi, tức ngày 19 tháng 7 năm 1883 Sau đó không lâu, đất nước ta đã trở thành thuộc địa của thực dân Pháp

Tự Đức có may mắn là được xuất thân trong một gia đình vương quyền, lại được kế vị ngai vàng của vua cha Nhưng vì được sinh ra và lớn lên trong bối cảnh Nho giáo giữ địa vị thống trị xã hội nên ngay từ nhỏ, Tự Đức đã được giáo dục, định hướng theo quỹ đạo Nho học Chính vì vậy mà Tự Đức tiếp tục truyền thống của ông cha trong việc lựa chọn, sử dụng Nho giáo làm tư tưởng chính trị - xã hội cho mình và làm hệ tư tưởng chính thống cho triều đại mình

Trang 16

1.1.2 Con người của Tự Đức

Tự Đức được đánh giá là “một trong những người uyên bác bậc nhất thời đó”[68, tr 206] bởi tư tưởng của ông không chỉ là những lý luận điều hành chính sự, mà còn về cả vấn đề học thuật

Không chỉ là nhà vua, Tự Đức còn là một nhà thơ, nhà văn, nhà sử học lớn của thế kỷ XIX Suốt đời ông, ngoài cương vị là một hoàng đế cần mẫn với công việc, ông còn dành nhiều thì giờ để trước tác Do đó, số lượng tác phẩm của ông rất nhiều, không chỉ bằng chữ Hán mà còn cả các tác phẩm chữ Nôm

Thơ văn chữ Hán đều mang tên ngự chế như: Ngự chế thi tập, Ngự chế văn tập,

v.v., và phân ra nhiều tập, bao gồm đủ các thể loại truyền thống như thơ, phú,

ca, truyện với nhiều chủ đề khác nhau Các tác phẩm chữ Nôm có Luận ngữ

diễn ca, Thập điều diễn ca, v.v Đặc biệt, Tự Đức đã biên soạn bộ Tự học giải nghĩa ca, đây là bộ từ điển Hán Việt khá sớm với mục đích là phổ biến cách

học chữ Hán, nhưng cũng còn thể hiện ý muốn chuẩn hóa, hệ thống hóa chữ

Nôm đang trong tình trạng thiếu nhất quán Và cũng chính ông đã viết Ngự chế

Việt sử tổng Vịnh với mong muốn rằng, dân ta cần biết sử ta Tự Đức còn chỉ

dụ cho Quốc sử quán biên soạn nhiều bộ sách giá trị như: Khâm định Việt sử

thông giám cương mục, Lịch triều hiến chương loại chí, v.v Đó là những bộ

sách có giá trị và có tính công cụ cho việc nghiên cứu và tra cứu ngày nay

Vừa là vua, vừa là học giả, Tự Đức muốn làm chủ tể cả tư tưởng và học thuật Ông tự mình thảo ra các bài chế sách và trực tiếp phê điểm các bài đối sách Đó là những vấn đề được đặt ra xung quanh lý luận kinh điển Nho giáo,

về thực trạng hiện thời, v.v Có những lần Tự Đức còn tuyên triệu những người đã trúng tuyển khoa bảng vào nhà Duyệt thí để khảo sát học lực và kiến thức của họ một lần nữa bằng những bài đối sách đặc biệt Ông lại thường

trước tác về các vấn đề về lý luận kinh điển như chữ nhân, chữ tâm, v.v Tự

Đức xứng đáng được coi là người đầu tiên trong lịch sử nước ta sáng tạo ra

Trang 17

hình thức mà ngày nay chúng ta gọi là sinh hoạt học thuật

Là nhà vua và là nhà thơ, nên “lời văn thì quan hệ về chính sự văn giáo rất nhiều”[63, tr 239] Qua các tác phẩm của ông, chúng ta nhận thấy

sự trăn trở đối với những đau khổ của dân chúng cũng như trách nhiệm của người làm vua, sự răn dạy các quan bỏ hết thói tệ, làm tốt chức trách của mình, những quan tâm pha lẫn cả sự lo lắng tìm kiếm nhân tài giúp nước,

về những chuẩn mực đạo đức làm người, v.v Đặc biệt, chúng ta nhận thấy một tâm trạng đầy mâu thuẫn giữa việc ông luôn tâm niệm sẽ trở thành một

vị vua giỏi, mẫu mực, với hiện thực quản lý đất nước của ông làm nước ta ngày càng đi vào thế bí, đất đai của tổ tông chưa có cách nào lấy lại được

Đó là điều làm Tự Đức âm thầm đau khổ đến cuối đời Trong Khiêm cung

ký, ông viết: “Điều ta đáng ngậm ngùi là học chưa thành, chí chưa đạt, hư

danh không chống nổi thực tội, thể chất yếu không đủ cáng đáng được nhiều, khiến nay cõi bờ chìm đắm chưa khôi phục được, mối họa biên cương chưa dẹp yên”[75, tr 180]

Có lẽ vì vậy mà, dù là một hoàng đế, nhưng Tự Đức luôn tự nhận là

đã thất bại về mặt công danh: “Trẫm muốn chính mình làm được thái bình, để được nhà no người đủ, nhưng giận vì tài sơ đức bạc, không thể

hy vọng được đều như thế”[63, tr 171] Ông muốn quay về với mặt nhân đức, chăm lo việc khoa cử Ông nhiều lần sửa đổi quy chế thi để làm cho Nho sĩ có “thực học” hơn, để chọn được người có “thực tài” giúp ích cho nước nhà

Tự Đức là nhà vua, nhưng đồng thời lại là một học giả kiệt xuất thời

đó Với tư cách là nhà vua thì trách nhiệm lớn nhất của ông là đã thi hành nhiều chính sách lỗi thời, khiến cho thế nước ngày một suy yếu Nhưng qua những chiếu dụ, những dòng tâm sự bằng thơ văn của ông, chúng ta thấy sự bộc bạch những phiền muộn, trăn trở đầy tính trách nhiệm của ông

Trang 18

1.2 Tiền đề kinh tế, chính trị - xã hội

1.2.1 Bối cảnh xã hội Việt Nam thế kỷ XIX

Dưới triều Nguyễn, Việt Nam là một quốc gia thống nhất về mặt lãnh thổ, có thể nói đây là thuận lợi lớn để phát triển đất nước Tuy nhiên, chính quyền nhà Nguyễn không phát huy được mặt mạnh này, đặc biệt, đến thời Tự Đức đã diễn ra nhiều biến động lớn trong đời sống xã hội

Tình hình kinh tế:

Triều Nguyễn được tái thiết sau một thời gian nội chiến kéo dài làm cho nông nghiệp sa sút Đến thời Tự Đức, kinh tế nông nghiệp vẫn được coi là nền tảng của nền kinh tế nước nhà Chính sách trọng nông vẫn được Tự Đức đề cao,

cụ thể, ông sử dụng nhiều biện pháp như doanh điền, đồn điền, v.v., để khuyến khích nhân dân khai hoang phục hóa, nhờ đó đã thu được những kết quả quan trọng, nổi bật là diện tích canh tác được mở rộng Nhưng ruộng tư ngày càng nhiều lên cùng với sự phát triển của giai cấp địa chủ, kéo theo tô thuế mỗi ngày một nặng Thêm nữa, hạn hán, lụt lội lại thường xuyên đe dọa mùa vụ của người nông dân, rồi nạn vỡ đê, riêng đê Văn Giang ở Hưng Yên trong thời Tự Đức đã

bị vỡ 18 năm liền, làm cho đời sống của người nông dân hết sức khó khăn, người đói ăn, lưu tán ngày càng nhiều Sau này, trong khoảng 10 năm cuối đời, Tự Đức

vì lắm việc đã bãi bỏ cả các chức chuyên trách như hà đê sứ, doanh điền sứ và giao lại việc quản lý đê điều cho quan lại địa phương

Sản xuất công nghiệp không thể phát triển vì triều đình Tự Đức nắm trong tay những xưởng lớn (tượng cục) như xưởng đúc tiền, đúc súng, đóng tàu, v.v., nhằm mục đích phục vụ triều đình Riêng ngành công nghiệp khai thác khoáng sản đã có bước phát triển cả về số lượng lẫn quy mô, tuy còn hạn chế về kỹ thuật và tổ chức khai thác nhưng đều do người Hoa nắm giữ

Các ngành nghề thủ công ở nông thôn và thành thị mặc dù vẫn tồn tại, song cũng không có điều kiện phát triển do người thợ phải làm theo đúng

Trang 19

những kiểu mẫu chạm trổ hay kiến trúc nhất định, không phát huy được sáng kiến, cải tiến nghề nghiệp của mình Thêm vào đó là tình trạng các làng, các phường còn giấu nghề, làm cho tài năng, sáng kiến, kỹ thuật không thể phổ biến một cách rộng rãi được

Đặc biệt, từ đời Tự Đức trở đi, thương nghiệp ngày càng sút kém hẳn

do chính sách đối ngoại bế quan tỏa cảng, cấm buôn bán với nước ngoài, chính sách đối nội thì ức thương, cấm buôn bán từ tỉnh này sang tỉnh khác, đặt

ra nhiều luật lệ phức tạp, thuế khóa nặng nề Hơn nữa, do nghèo đói cùng cực nên sức mua của nhân dân hầu như bị tê liệt Mặc dù từ tháng 3 năm 1876, Tự Đức cho bỏ lệ cấm xuống biển đi buôn, mở cửa thông thương với nước ngoài, cho phép buôn bán giữa các tỉnh trong nước, song triều đình Tự Đức cũng không thể xoay chuyển được tình thế Trong khi đó, đất nước ta lại đang phải chiến đấu chống lại hành động xâm lược của thực dân Pháp, khó khăn lại nối tiếp khó khăn

Về tình hình chính trị - xã hội, thời Tự Đức có điểm đáng chú ý là các

tệ nạn của quan lại và sự lộng hành ghê gớm của bọn cường hào đang trở nên phổ biến Chính Tự Đức khi mới lên ngôi đã chỉ rõ điều này: “Nay mối tệ của quan lại rất nhiều, nhân dân cùng khổ trộm cướp nổi dậy, chưa chắc là không bởi tại đó Dân thì sợ phiền mà không tố cáo, quan thì vì nể nhau mà không nói ra”[46, tr 42]

Tình trạng đó đã làm cho những xung đột xã hội ngày càng căng thẳng, dẫn tới các cuộc khởi nghĩa nông dân diễn ra liên tiếp, mạnh mẽ và rộng khắp

Trang 20

Đây là biểu hiện sự khủng hoảng của chế độ phong kiến nhà Nguyễn, đồng thời làm cho sự đoàn kết gắn bó giữa nhà nước và nhân dân cũng không còn được như dưới các triều đại trước đó Chỉ tính từ năm 1848 đến 1862 đã có 40 cuộc khởi nghĩa trong nước, tiêu biểu như khởi nghĩa của Cao Bá Quát (1854 - 1855) nổ ra ở ba tỉnh Sơn Tây, Hà Nội, Bắc Ninh; cuộc khởi nghĩa lớn đánh vào tận cung cấm của dân công, binh lính công trường Vạn Niên do Đoàn Hữu Trưng lãnh đạo năm 1866, v.v Thêm vào đó là bọn phỉ Mãn Thanh ở phía Bắc thường xuyên quấy nhiễu Đặc biệt, ngày 1 tháng 9 năm 1858, thực dân Pháp

đã nổ súng xâm lược nước ta, làm cho tình hình chính trị - xã hội ngày càng phức tạp, buộc Tự Đức phải đứng giữa sự lựa chọn giữa chiến hay hòa

Tình hình quân sự:

Nhà Nguyễn coi trọng việc binh bị Số lượng quân lính và số vũ khí trang bị không phải là ít Nhưng quân đội luyện tập ít và chiến thuật, chiến lược còn lạc hậu so với thời bấy giờ Quân đội là cái áo giáp của đất nước, thế nhưng từ đời Gia Long cho đến đời Tự Đức, quân đội nước ta cứ giảm sút dần

cả về số lượng và về chất lượng, trong khi kẻ địch hung hãn bên ngoài càng ngày càng tiến bộ về kỹ thuật, khí tài Vì muốn củng cố, tăng cường tiềm lực quân sự, Tự Đức đã bỏ tiền mua khí giới châu Âu, nhưng ông lại không biết rằng, đó là những vũ khí được sản xuất trước cuộc cách mạng về vũ khí ở châu Âu (trước 1848)

Tình hình văn hóa, tư tưởng:

Trong lĩnh vực tư tưởng, Nho giáo được đề cao, trở thành hệ tư tưởng chính thống Để củng cố ý thức hệ phong kiến, Tự Đức luôn tự nhận trách nhiệm của mình là vừa làm vua, vừa làm thầy, với mục đích đẩy mạnh truyền

bá hệ tư tưởng Nho giáo Ông đã diễn nôm Mười huấn dụ của Minh Mệnh để

dễ phổ biến trong nhân dân, gọi là Thập điều diễn ca, diễn nôm cả sách Luận

ngữ của Khổng Tử Việc làm đó đều nhằm đào tạo nên những con người có tư

Trang 21

tưởng và hành động theo đúng đạo Nho

Một diễn biến quan trọng trong lĩnh vực tư tưởng lúc này là sự xuất hiện trào lưu tư tưởng mới với chủ trương canh tân đất nước của các nhà nho tiến bộ như Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Lộ Trạch, Đặng Huy Trứ, Phạm Phú Thứ, Bùi Viện, v.v Vì vậy, đã diễn ra cuộc đấu tranh gay gắt giữa duy tân và thủ cựu trong triều đình Tự Đức cũng như trong chính tư tưởng của ông

Đáng chú ý trong lĩnh vực văn hóa, tư tưởng lúc này là chiêu bài đạo Gia tô được thực dân Pháp sử dụng để dọn đường cho âm mưu xâm lược nước ta của chúng Cho nên, từ trong nội bộ triều đình Tự Đức đến toàn xã hội lúc bấy giờ đã diễn ra cuộc đấu tranh quyết liệt giữa chính giáo (Nho giáo) và tà giáo (Công giáo)

Về mặt văn hóa, thời Tự Đức đã phục hưng, phát triển nền văn hóa đa dạng, giàu bản sắc nhưng mang tính thống nhất của quốc gia Đại Việt, tạo nên diện mạo mới cho văn hóa dân tộc, đồng thời đã để lại cho lịch sử nước ta một di sản văn hóa khổng lồ và có giá trị về nhiều mặt Các hoạt động sinh hoạt văn hóa văn nghệ của nhân dân ta vẫn phong phú

Giáo dục có bước phát triển, nhà nước đặc biệt chú trọng tuyển chọn nhân tài Tự Đức nhiều lần định lại chế độ thi cử và ra sắc dụ cầu hiền Chính bản thân ông đã tham gia trực tiếp vào việc khoa cử, tuyển chọn nhân tài, làm cho lĩnh vực này có quy củ và phát triển hơn so với các thời đại trước Tuy ông đã có rất nhiều cố gắng muốn cải cách giáo dục nhưng về mặt học vấn vẫn là theo lối từ chương cử nghiệp của Nho giáo Khoa học có bước phát

triển, nhất là về lịch sử với các bộ sử lớn như: Đại Nam thực lục, Việt sử

thông giám cương mục, Lịch triều hiến chương loại chí; về địa lý học có: Đại Nam nhất thống chí, Đại Nam nhất thống toàn đồ, v.v

Tóm lại, thế kỷ XIX là thế kỷ đầy thách thức đối với lịch sử dân tộc ta Chế độ phong kiến khủng hoảng trầm trọng, phong trào khởi nghĩa của nông

Trang 22

dân lan rộng, phỉ Mãn Thanh ở phía Bắc thường xuyên quấy nhiễu, thực dân Pháp lại nổ súng xâm lược, v.v Là người đứng đầu và quyết định vận mệnh dân tộc, Tự Đức phải đứng trước nhiều sự lựa chọn Cho nên, trong tư tưởng của ông diễn ra cuộc đấu tranh quyết liệt như đã nói ở trên, là giữa chiến và hòa, giữa duy tân và thủ cựu, giữa chính đạo và tà đạo, v.v Để tìm hiểu kỹ hơn vấn đề này, chúng tôi sẽ nghiên cứu những vấn đề kinh tế, chính trị - xã hội đặt ra dưới thời Tự Đức

1.2.2 Những vấn đề kinh tế, chính trị - xã hội đặt ra dưới thời Tự Đức

Thời đại mà Tự Đức sống là thời kỳ lịch sử đầy những biến động lớn trên thế giới Chủ nghĩa tư bản ở phương Tây đã chuyển sang giai đoạn chủ nghĩa đế quốc, tăng cường mở rộng xâm lược các nước yếu kém, lạc hậu hơn vào nửa cuối thế kỷ XIX Đi đầu trong phong trào thực dân là Anh và Pháp Ý thức được bối cảnh hiểm nghèo đó, một số nước châu Á đã tiến hành cải cách đất nước như Nhật Bản, Thái Lan để tự cứu mình

Thái Lan vào thế kỷ XIX cũng đang là quốc gia bị thực dân Anh và Pháp nhòm ngó Trước sự xâm nhập của chủ nghĩa thực dân phương Tây, Thái Lan đã chủ trương mở cửa đối với tất cả các nước muốn quan hệ với họ Chính sách mở cửa này đã làm hình thành và phát triển tầng lớp quý tộc tư sản hóa và tư sản Thái Lan Đó chính là tiền đề cho Thái Lan cải cách thành công và hội đủ điều kiện đối phó với những thách thức từ các nước phương Tây, giữ vững được độc lập của quốc gia

Nhật Bản đã biết phát huy lợi thế của mình trong việc thực hiện chính sách đóng cửa hoặc mở cửa hạn chế, nhờ đó Nhật Bản đã tạo được sự chuyển biến từ nền kinh tế tự nhiên sang một nền kinh tế hàng hóa tư bản chủ nghĩa, tạo ra tầng lớp thương nhân Chính sự phát triển của tầng lớp thương nhân đã tạo tiềm lực cho Nhật Bản tiến hành công nghiệp hóa một cách nhanh chóng sau khi cánh cửa thương mại được mở ra thế giới bên ngoài

Trang 23

Trung Quốc đương thời là một nước rộng lớn và hùng mạnh, cũng phải đối mặt với sự xâm lược của thực dân Anh, Pháp, Hà Lan, v.v., đồng thời cũng gặp nhiều lúng túng trong các biện pháp về ngoại giao cũng như quân

sự Triều đình nhà Thanh đã lựa chọn thái độ dè chừng, khép kín với các nước phương Tây, tuy nhiên cũng đã bắt đầu học tập văn minh phương Tây

Kết quả là Nhật Bản và Thái Lan đã tiến vào quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản, từng bước xóa bỏ được những hiệp ước bất bình đẳng mà trước đó đã ký với phương Tây, thoát khỏi thân phận thuộc địa Trung Quốc trở thành miếng bánh ngon cho các nước thực dân xâu xé

Tháng 12 năm 1881, Quan Khoa đạo là Lê Đĩnh từ Hương Cảng về, từ hiểu biết những diễn biến của thời cuộc, đã tâu rõ điều này với Tự Đức: “các nước Thái Tây giàu mạnh, không ngoài việc buôn và việc quân mà thôi, lấy sức lực tàu binh để bảo vệ tàu buôn, tất phải trước hết lấy thuế tàu buôn để nuôi tàu binh, cho nên chỉnh đốn việc thông thương rất nhanh Gần đây nước Nhật Bản theo gót Thái Tây, thông thương khắp nơi, nước Thanh cũng bắt chước mà làm <…> dần được cường thịnh”[51, tr 86] Như vậy, Nhật Bản đã bắt chước người Tây dương mở cửa thông thương để đất nước được cường thịnh, thoát khỏi sự nhòm ngó của người phương Tây, Trung Quốc cũng đã từ

bỏ quan niệm nội hạ ngoại di để học tập văn minh phương Tây Tiếc rằng khi

Tự Đức biết được điều này thì đã quá muộn

Cũng như nhiều nước phương Đông lạc hậu khác, sự uy hiếp của tư bản phương Tây đặt Việt Nam trước nguy cơ bị xâm lược Mặt khác, chính sách cấm đạo, sát hại các nhà truyền giáo và tín đồ Công giáo từ thời Minh Mệnh

vô tình trở thành tiền đề cho mưu đồ xâm lược của thực dân Pháp đối với nước ta Bối cảnh lịch sử đó không cho phép một sự chậm trễ, lạc hậu hay sai lầm nào trong đối nội cũng như đối ngoại Nó đặt triều đình Tự Đức đứng trước những thách thức vô cùng nghiệt ngã, buộc nhà vua phải đứng trước sự

Trang 24

lựa chọn liên quan đến sự tồn vong của dân tộc và triều đại Hoặc là mở cửa thông thương, học tập kỹ thuật tiên tiến, đưa nước nhà tiến lên con đường tư bản chủ nghĩa, để khỏi mất nước; hoặc là vẫn tiếp tục đóng chặt cửa không giao lưu với bên ngoài, từ chối mọi sự canh tân, để rồi cuối cùng mất nước Hoặc là khoan dung với đạo Gia tô, bãi bỏ lệnh cấm đạo cho nhân dân được

tự do theo hoặc không theo tôn giáo, hoặc là tiếp tục duy trì chính sách cấm đạo vốn được đẩy mạnh từ thời Minh Mệnh và Thiệu Trị Vận mệnh của cả dân tộc ta đang phải đứng trước ngã ba đường, mà người đứng đầu là Tự Đức chỉ cần đi chệch thì vận mệnh của dân tộc sẽ sang một hướng khác

Là người đang nắm giữ vận mệnh của đất nước, Tự Đức đã chọn con đường thứ hai, vẫn tiếp tục chính sách bế quan tỏa cảng, từ chối mọi sự thông thương; tiếp tục thực hiện chính sách cấm đạo và sát đạo, thậm chí còn gắt gao hơn cả những chỉ dụ của Minh Mệnh và Thiệu Trị Đường lối ngoại giao đóng của Tự Đức không những làm khủng hoảng xã hội trong nước thêm sâu sắc, mà còn làm cho mâu thuẫn với các nước thực dân, với giáo hội Công giáo đến độ không khoan nhượng Chính sách đó của Tự Đức đã đi ngược lại xu thế phát triển của thế giới, làm nguyên cớ cho Pháp nổ súng tấn công Việt Nam năm 1858

Lúc này đây, cả dân tộc Việt Nam lại tiếp tục phải đứng trước một sự lựa chọn nữa, đó là chủ chiến hay chủ hòa với thực dân Pháp Là người đang nắm giữ vận mệnh của cả dân tộc, Tự Đức một lần nữa lại phải đưa ra sự lựa chọn cuối cùng Với tư tưởng chính trị - xã hội Nho giáo được trang bị khá quy củ, hoàn bị đã khiến Tự Đức trở nên lúng túng trong phân tích thời thế, đánh giá tương quan lực lượng giữa ta và địch cũng như nhận diện bản chất của kẻ thù mới, dẫn tới hệ quả là không hoạch định được một chiến lược phù hợp chống lại cuộc xâm lược của thực dân Pháp

Vào thời điểm này ở nước ta xuất hiện một luồng tư tưởng mới như

Trang 25

một luồng gió mới thổi vào dân tộc, đó là luồng gió canh tân với các đại biểu như: Nguyễn Trường Tộ, Phạm Phú Thứ, Nguyễn Thông, Đặng Huy Trứ, Đinh Văn Điền, Bùi Viện, Nguyễn Lộ Trạch, Nguyễn Hiệp, v.v Đặc biệt phải

kể đến tư tưởng canh tân của Nguyễn Trường Tộ qua các bản điều trần của ông Là một giáo dân yêu nước, lại có may mắn được đến các nước phương Tây mở rộng tầm mắt, Nguyễn Trường Tộ đã tha thiết gửi lên triều Tự Đức những đề nghị canh tân với tất cả tâm huyết và lửa nhiệt tình của một người con yêu nước Trong suốt 8 năm rưỡi (từ năm 1863 đến 1871), ông đã gửi cho

Tự Đức 58 bản điều trần, đề cập một cách có hệ thống hàng loạt vấn đề cấp

thiết của đất nước trước nguy cơ còn mất của dân tộc

Khi đọc những bản điều trần của các nhà nho có tư tưởng tiến bộ, thái

độ của Tự Đức không phải lúc nào cũng thờ ơ với những điều tâm huyết được trình bày trong những bản điều trần của họ Ông đã trân trọng và giao cho các đại thần thân tín nghiên cứu, sau đó phải tâu rõ cho ông biết khoản nào nên làm ngay, khoản nào nên đình lại trên cơ sở tình hình thực tiễn đất nước Tự Đức cũng đã nhận thức “nên làm thế nào cho tiến bộ, chứ không tiến là thoái vậy!”[11, tr 325] Trong thực tế, nhà vua đã cho thi hành một số cải cách trong các lĩnh vực kinh tế như “đặt nha sơn phòng, nha hải phòng, đặt nha doanh điền, đặt sở đồn điền, lại đặt ty Bình Chuẩn, mở thương chính, sốt sắng muốn cho nước được giàu mạnh”[51, tr 204]; trong lĩnh vực quân sự thì mua sắm vũ khí, đóng tàu, đúc súng, dịch tài liệu quân sự nước ngoài để huấn luyện quân đội; trong văn hóa, giáo dục thì phê chuẩn việc học tiếng nước ngoài; trong quan hệ đối ngoại đã giao lưu với một số nước, v.v Ngay các nhà canh tân dâng điều trần cho triều đình cũng đều do triều đình cử đi tiếp xúc với nước ngoài như Đặng Huy Trứ, Phạm Phú Thứ, Nguyễn Trường Tộ, Bùi Viện, v.v

Rõ ràng là Tự Đức có quan tâm đến các đề nghị cải cách, ông còn chủ

Trang 26

động tìm hiểu về thời đại thông qua đọc Tân văn, Tân thư Điểm hạn chế ở ông là tầm nhìn thời đại do sự thủ cựu của Nho giáo chi phối, làm cho ông không nhạy bén với thời cuộc, không nắm bắt kịp xu thế phát triển của thời đại, để tiến hành canh tân toàn diện đất nước Thêm vào đó là bản tính khiêm nhường đến thiếu quyết đoán, thận trọng trong cải cách, dù ít nhiều có sự đổi mới trong tư tưởng, muốn làm sao cho tiến bộ Vì vậy, ông không chấp nhận

và thực hiện cải cách như một chủ trương của triều đình

Tuy nhiên, chúng ta cũng phải kể đến những nhân tố khách quan ảnh hưởng đến việc thực thi hay không thực thi cải cách của Tự Đức Đó là những

đề nghị cải cách xuất hiện muộn, trước nguy cơ tồn vong của dân tộc nó mới được ra đời, mặt khác tồn tại xã hội nước ta lúc đó không tạo ra được cơ sở vật chất để tiếp nhận các đề nghị canh tân, thiếu hẳn giai cấp xã hội đủ năng lực để tiến hành cải cách, đặc biệt là do sự thủ cựu của các đình thần trong triều Tự Đức Thêm vào đó là sự yếu kém về kinh tế của đất nước khiến sự đầu tư cho cuộc canh tân không đủ, nhiều chương trình học nước ngoài bị bỏ

dở nửa chừng, máy móc nhập về không đồng bộ Lại đang lúc thực dân Pháp

bề ngoài thì kí hiệp ước, nhưng thực chất là muốn đặt sự bảo hộ với nước ta Chúng tìm mọi cách ngăn cản quan hệ ngoại giao của nước ta với các nước khác, v.v

Như vậy, chúng ta không thể đổ hoàn toàn trách nhiệm lên vai Tự Đức Bản thân ông cũng muốn học Nhật Bản, cũng muốn cải cách, nhưng chính sách bế quan tỏa cảng trước đó đã triệt tiêu mầm mống của của hình thái kinh

tế - xã hội tương lai Trong Đại Nam thực lục ghi rõ: tháng 10 năm 1878,

“Vua xem nhật báo Hương cảng tân văn, bàn về việc cốt yếu làm cho nước

được mạnh, có các khoản thông thương và chống kẻ dám khinh, (1 - đóng tàu,

2 - đúc súng, 3 - học tiếng [ngoại quốc], 4 - luyện tập quân), ý muốn thi hành, sai quan viện cơ mật xét nghĩ, rồi đem các lễ nghi định tâu lên:

Trang 27

Thông thương là việc rất cần kíp duy chỉ nước khác làm thì dễ, mà ta làm thì khó, vì các dân châu Âu phần nhiều theo nghề buôn, lại khéo đi biển, những nơi biển rộng đảo xa, không chỗ nào là không đi đến, đi đến đâu lấy mới lạ làm thân thiết, cho nên kéo cả bọn đến được Nước ta từ trước cấm ra nước ngoài, dân không đi buôn xa, trong nước không có bọn buôn mà muốn giắt người buôn nước ngoài đến, thế chưa thể vội được”[50, tr 165-166] Còn nếu nói về ông thì đúng như nhà nghiên cứu Nhật Bản Tsuboi nhận xét, rằng

Tự Đức là “một ông vua thực sự thiếu may mắn”[69, tr 32] Trong Đại Nam

thực lục cũng nhận xét, nếu ở vào thời đại khác, với một con người có trách

nhiệm, có lòng nhiệt huyết, có tình yêu thương dân chúng như ông thì có thể kết quả sẽ khác: “Than ôi, cứ theo thiên tư thánh học, hiếu văn, thủ thành của nhà vua, nếu gặp vận thịnh thì vua Thành, vua Khang nhà Chu, vua Văn, vua Cảnh nhà Hán sao đủ nói được!”[51, tr 204] Nhưng tiếc rằng, thời thế đã đổi, Nho giáo đã không thể đảm nhiệm được sứ mệnh lịch sử trong lúc này nên sự học của ông không đủ để mang ra cai trị

Tóm lại, tình hình chính trị - xã hội Việt Nam thời Tự Đức rất phức tạp Kinh tế trong nước đang khủng hoảng nghiêm trọng, lại thường xuyên phải lo đối phó với phong trào khởi nghĩa của nông dân, phỉ Mãn Thanh, đặc biệt là với âm mưu và hành động xâm lược của thực dân Pháp Cho nên, trong tư tưởng của Tự Đức lúc đó diễn ra cuộc đấu tranh quyết liệt giữa những vấn đề phải lựa chọn: chiến hay hòa, duy tân hay thủ cựu, chính đạo hay tà đạo, v.v Về phía bản thân Tự Đức lại chưa được chuẩn

bị đầy đủ kinh nghiệm và cũng không có đủ điều kiện về thời gian, lực lượng, không được sự ủng hộ của số đông dân chúng, vì vậy đã vấp phải những sai lầm trong việc đề ra chính sách đối với đạo Gia tô, với công cuộc canh tân đất nước cũng như trong cuộc đấu tranh chống lại sự xâm lược của thực dân Pháp

Trang 28

1.3 Tiền đề tư tưởng

1.3.1 Học thuyết Nho giáo

Tự Đức sinh ra và lớn lên vào lúc chế độ quân chủ trung ương tập quyền nhà Nguyễn đang ở đỉnh cao cực thịnh, khi đó Nho giáo được xem là kim chỉ nam của mọi hành động xã hội Cho nên, Tự Đức được giáo dục theo quỹ đạo Nho học ngay từ nhỏ, ông đã sớm mang trong mình tư tưởng Nho giáo

Nho giáo là một học thuyết triết học, chính trị - đạo đức ra đời và phát triển trong xã hội phong kiến Trung Quốc thời Xuân Thu - Chiến Quốc, do Khổng Tử (551 - 479 TCN) sáng lập Tư tưởng cơ bản của Nho giáo đề cập đến những vấn đề con người và giáo dục con người vì mục tiêu thiết lập xã hội trật tự, ổn định theo tổ chức xã hội được tiền định về đẳng cấp

Với tư cách là học thuyết chính trị - xã hội, một trong những chức năng chủ yếu của Nho giáo là giáo hóa, đào tạo con người và ổn định trật tự xã hội

Do vậy, Nho giáo đã đề xuất ra một đường lối trị nước là đức trị (nhân trị, lễ trị, chính danh trên cơ sở vương đạo), tức là dùng đạo đức để cai trị và quản

lý xã hội Tư tưởng đức trị thể hiện ở các nội dung cơ bản sau:

Tư tưởng đức trị thể hiện ở việc thực hiện nhân, lễ, chính danh trong cai trị và quản lý xã hội Nhân, lễ, chính danh là ba phạm trù cơ bản của học thuyết Nho giáo và giữa chúng có quan hệ biện chứng: nhân là nội dung của lễ, lễ là hình thức của nhân, sự thống nhất của nhân và lễ là chính danh Trong đó, nhân

là phạm trù cơ bản, quan trọng nhất của tư tưởng Đức trị Nhân là chuẩn mực đạo đức cơ bản để con người tu dưỡng, hoàn thiện nhân cách; là các đức tính cần có của con người Lễ chỉ tôn ti, trật tự của xã hội mà mọi người phải biết và tuân thủ Chính danh yêu cầu mỗi người cần phải có bổn phận và địa vị tương xứng với nhau, nói cách khác, chính danh gắn liền với định phận

Trong tư tưởng Đức trị, Nho giáo đặc biệt đề cao vai trò của đạo đức người làm vua; coi sự tu dưỡng đạo đức của vua có quan hệ mật thiết đến

Trang 29

thịnh hay suy của triều đại, như Khổng Tử đã chỉ rõ: “Mình mà chính đáng (ngay thẳng, đàng hoàng), dù không ra lệnh, dân cũng theo; mình không chính đáng, tuy ra lệnh, dân cũng chẳng theo”[31, tr 142] Do vậy, vua phải là người mẫu mực, có đạo đức, là tấm gương đạo đức khiến mọi người phải phục, phải theo mình và luôn phải thành, kính trong việc tu dưỡng đạo đức ở mọi nơi, mọi lúc Vua cai trị nước phải theo mệnh trời và ý dân, phải có trách nhiệm với dân, với nước, tức là phải làm cho quốc gia hưng thịnh, dân đông,

no đủ và được giáo hóa

Trong tư tưởng Đức trị, dân và vai trò của dân cũng rất được quan tâm Nho giáo coi dân là gốc của nước, dân là quý, dân cũng đồng thời là lực lượng lao động chính của xã hội, có nghĩa vụ nuôi dưỡng, phục vụ người cai trị Do vậy, người cai trị muốn giữ được địa vị thống trị của mình thì phải giữ được dân Để giữ được dân, vua phải có những đường lối, chính sách cai trị hợp lòng dân, đó là chính sách dưỡng dân và giáo hóa dân Dưỡng dân là việc chăm lo đời sống vật chất cho dân no đủ, an cư lạc nghiệp; sai khiến dân hợp lý; giảm thuế khóa và các đóng góp của dân, v.v Giáo hóa dân là dạy cho dân biết và thực hiện những chuẩn mực đạo đức theo tam cương, ngũ thường, v.v., để ngăn chặn hành động hám lợi, gian tà của dân, đồng thời buộc dân tuân theo lễ giáo do chế độ phong kiến đặt ra Bên cạnh việc giáo hóa bằng đạo đức, Nho giáo còn chủ trương giáo hòa bằng pháp luật, tất cả cũng chỉ nhằm bảo vệ kỷ cương, trật tự xã hội

Như vậy, nho giáo đã đề cao vai trò của đạo đức trong việc hoàn thiện con người cũng như trong việc cai trị và quản lý xã hội nhằm củng cố, bảo vệ chế độ phong kiến Vì thế, học thuyết chính trị - xã hội của Nho giáo đã viện tới ý trời, mệnh trời, cùng với việc kết hợp với pháp trị trong cai trị và quản lý xã hội

Tư tưởng chính trị - xã hội của Tự Đức được thể hiện rõ qua quan niệm của ông về đường lối trị nước, về giáo dục - đào tạo, về tôn giáo và chính sách

Trang 30

đối với đạo Gia tô Điều này sẽ được chúng tôi phân tích làm rõ trong chương

2 Tuy nhiên cần nhấn mạnh rằng, vì mục đích sử dụng Nho giáo làm hệ tư tưởng thống trị xã hội, cho nên ông nói nhiều tới mệnh trời theo tinh thần của Hán Nho, Tống Nho Cụ thể là, qua các chiếu dụ, huấn điều, các tác phẩm thơ

văn, chúng ta thấy ông đặc biệt đề cao tư tưởng mệnh trời, mà thực chất là để

củng cố vững chắc hơn tư tưởng vua là người thay trời trị dân, nhằm mục đích

đề cao quyền uy tuyệt đối của nhà vua Ông luôn khẳng định: “trời sinh ra dân, đặt ra vua để đứng đầu mà cai trị”[50, tr 80], vì vậy mà “làm con phải hiếu, làm tôi phải trung, là đạo thường của trời đất, nghĩa lớn của xưa nay”[63, tr 69] Như vậy, từ tư tưởng đề cao mệnh trời, Tự Đức đi lý giải và dẫn mọi người đến chỗ thừa nhận quan niệm trung, hiếu là đạo của trời đất mà mọi người phải thực hiện Bởi theo ông, ngôi vua là do trời ban, vua có trách nhiệm thay trời trị dân của trời, cho nên, trung với vua cũng là trung với trời,

là đạo của trời đất

Bên cạnh tư tưởng mệnh trời, Tự Đức còn chịu ảnh hưởng và dùng học

thuyết tam cương, ngũ thường để củng cố địa vị của mình Trong sách Đạo

biện, khái niệm “đạo” mà ông muốn nhấn mạnh là đạo làm người, đạo nhân

luân - một chuẩn mực đạo đức trong Nho giáo, như ông viết: “Đạo chung của thiên hạ có năm, là vua tôi, là cha con, là vợ chồng, là anh em, là bè bạn chơi với nhau Năm điều ấy là đạo chung của thiên hạ”[71, tr 32] Coi tam cương, ngũ thường là đạo chung của thiên hạ, mà mọi người phải tuân theo, nên với

Tự Đức, mỗi người đều phải thực hành nó như một tất yếu trong đời sống Quan niệm đó của Tự Đức chủ yếu là nhằm củng cố vững chắc hơn hệ tư tưởng của chế độ quân chủ phong kiến

Ngoài ra phải kể đến một số quan niệm của Nho giáo có ảnh hưởng lớn

đến tư tưởng chính trị - xã hội của Tự Đức, như quan niệm nội hạ ngoại di;

nông vi bản, thương vi mạt; trọng đạo khinh thường lợi; xưa hơn nay

Trang 31

Chịu ảnh hưởng sâu sắc của Nho giáo, đặc biệt là quan niệm nội hạ

ngoại di, tự coi mình cũng là Hoa Hạ như Trung Quốc, lấy Nho giáo làm

tiêu chuẩn để phân biệt văn minh và man di, cho nên, Tự Đức đã có thái độ phủ nhận các nền văn hóa khác, ngoại trừ văn hóa Trung Quốc Tự Đức đã

coi nước Pháp là Tây di vì nó ở phương Tây, hoặc là dương di vì nó đến từ biển, coi văn minh, kỹ thuật phương Tây chỉ là trò dâm xảo, thua xa và không quý bằng Kinh Thi, Kinh Thư, cũng không đáng tin cậy vì nó không

dựa trên thuyết âm dương, ngũ hành mà không tìm hiểu thực chất nền văn hóa của họ Điều này dẫn ông đến sai lầm tai hại là nhận diện sai kẻ thù đang ở một trình độ cao hơn chúng ta, v.v., và hệ quả là ông đã không hoạch định được một chiến lược phù hợp để đối phó với nó Ông đã ảo tưởng ở thi thơ của Khổng, Mạnh có thể cảm hóa được kẻ thù: “Khổng, Mạnh thi thư thoái lỗ thi”[72, tr 63] (Thi thư của ông Khổng, ông Mạnh là bài thơ làm cho giặc phải lui)[72, tr 64] Trên thực tế chúng ta thấy, sự phân chia nội bộ triều đình Tự Đức thành phái chủ chiến và chủ hòa, duy tân và thủ cựu trong quá trình đấu tranh chống Pháp đã phản ánh tư tưởng chính trị lạc hậu của

Tự Đức và đình thần, không quy tụ được sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, làm

lỡ mất các cơ hội thắng Pháp cũng đồng nghĩa với việc làm nước ta rơi vào ách nô lệ nhanh hơn

Nho giáo coi nông vi bản, thương vi mạt nên các nhà Nho đã lên án nghề buôn, xếp thương nhân xuống hàng tứ dân trong sĩ, nông, công, thương Quan niệm này đã ăn sâu vào con người Tự Đức, thể hiện ở chính sách trọng

nông ức thương, bế quan tỏa cảng của ông Nếu như nông nghiệp được ông

khuyến khích phát triển thì công thương nghiệp thường bị kiềm chế, và đặc biệt là ngoại thương không có được môi trường để phát triển Các chính sách

đó của Tự Đức, không những làm cho kinh tế trong nước thêm khủng hoảng, làm suy yếu tiềm lực kinh tế đất nước mà còn triệt tiêu mầm mống của kinh tế

Trang 32

hàng hóa, mất cơ hội phát triển đất nước, đồng thời nó còn vô tình trở thành cái cớ để thực dân Pháp tiến hành cuộc chiến thôn tính nước ta

Với quan niệm “xưa hơn nay”, các nhà Nho luôn coi xã hội thời Nghiêu Thuấn là xã hội lý tưởng mà họ hướng đến Vì vậy, họ luôn lấy xã hội

đó là khuôn thước cho thời đại, muốn đưa xã hội hiện tại quay trở về với xã hội lý tưởng đó Và dù là giải quyết bất cứ việc gì trong cuộc sống, họ cũng thường viện dẫn kinh sách để giải đáp, lấy việc xưa để giải quyết việc nay Vậy nên, những tư tưởng cải cách, những sáng kiến đổi mới đi ngược lại với những gì đã có trong kinh điển khó được Tự Đức chấp nhận Không những thế, nó còn làm ông có cái nhìn lệch lạc về văn minh phương Tây, về đạo Gia

tô, về bản chất kẻ thù khi ông vẫn sử dụng hệ quy chiếu Nho giáo để nhìn nhận, đánh giá

Chịu ảnh hưởng của tư tưởng trọng đạo khinh thường lợi, Tự Đức đã

coi thường văn minh, khoa học kỹ thuật phương Tây, thậm chí ông còn cho

nó là cái dâm xảo, chỉ làm tổn hại đến tam cương, ngũ thường của Nho giáo

Và ông lại càng cố gắng bảo vệ Nho giáo, muốn củng cố và tuyên truyền hệ

tư tưởng Nho giáo sâu rộng trong nhân dân

Tuy nhiên, ở Việt Nam có một đặc điểm khá nổi bật đó là sự dung thông Nho - Phật - Đạo Vì vậy, khi chịu ảnh hưởng sâu sắc của Nho giáo thì

Tự Đức cũng ít nhiều chịu ảnh hưởng của Phật giáo và Đạo giáo, mặc dù có

lúc ông đã tỏ thái độ bài xích chúng Cụ thể trong quan niệm về đạo của ông

đã phần nào chịu ảnh hưởng tư tưởng triết học của Lão Tử

Nói tóm lại, Nho giáo là tư tưởng chủ đạo chi phối tư tưởng chính trị -

xã hội của Tự Đức Tuy nhiên, ông chịu ảnh hưởng nhiều của tư tưởng duy tâm, thần bí trong Hán Nho, Tống Nho và những quan niệm thủ cựu của Nho giáo Vì vậy, việc ông đề cao và sử dụng hệ tư tưởng Nho giáo xét đến cùng

là vì phục vụ lợi ích của chế độ quân chủ

Trang 33

1.3.2 Nho giáo và vai trò của nó ở Việt Nam

Nho giáo du nhập vào Việt Nam từ thời Bắc thuộc, là công cụ nô dịch, thống trị, Hán hóa người Việt của Trung Hoa Vì vậy, qua hơn 1000 năm Bắc thuộc, Nho giáo vẫn chưa ảnh hưởng sâu rộng đến đa số nhân dân

Từ thế kỷ XI, sau khi nước ta giành độc lập, Nho giáo chính thức được giai cấp phong kiến Việt Nam, cụ thể là triều Lý chọn làm phương tiện để tổ chức, quản lý xã hội Trong cấu trúc Tam giáo đồng nguyên (hệ tư tưởng Nho

- Phật - Đạo), Phật giáo được nâng lên tầm quốc giáo và đóng vai trò chủ đạo trong quan hệ tam giáo đó

Thời Trần, do yêu cầu củng cố chế độ phong kiến, bộ máy nhà nước nên giáo dục - khoa cử được tổ chức thường xuyên để đào tạo tầng lớp quan lại cho bộ máy nhà nước Do vậy, Nho giáo có ảnh hưởng rộng rãi hơn đối với con người và xã hội phong kiến Việt Nam so với trước đó

Hồ Quý Ly sau khi thoán đoạt ngôi nhà Trần, đã tạo ra những điều kiện nhất định để độc tôn Nho học thông qua những cải cách trong giáo dục như định lại chế độ học và thi cử, tuyển quan lại chủ yếu bằng thi cử Nho học, v.v

Trong thời gian nước ta bị nhà Minh xâm lược (1407 - 1427), Nho giáo được nhà Minh du nhập đã trở thành công cụ thống trị và nô dịch nhân dân ta

Thế kỷ XV, Nho giáo và giáo dục - khoa cử Nho học được nhà Lê hết sức quan tâm Nhà Lê đã đưa ra nhiều biện pháp khuyến khích học, thi, hoàn thiện quy chế thi cử, tổ chức tuyển dụng quan lại chủ yếu bằng khoa cử, v.v., tạo ra những điều kiện thuận lợi cho sự phát triển Nho giáo về nhiều mặt, làm cho Nho giáo giữ địa vị độc tôn và phát triển cao nhất trong lịch sử Nho giáo tại Việt Nam, đặc biệt vào thời vua Lê Thánh Tông (1460 - 1497)

Từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XVIII, Nho giáo bộc lộ rõ sự bất lực của nó trước những vấn đề chính trị - xã hội Nó đã không giải đáp một cách có hiệu quả yêu cầu phát triển thực tiễn của xã hội Việt Nam Tuy nhiên, Nho giáo

Trang 34

vẫn được coi là hệ tư tưởng của triều đình phong kiến Đặc biệt, triều Tây Sơn được thành lập sau khi đập tan các tập đoàn phong kiến Đàng trong, Đàng ngoài, đánh thắng quân xâm lược Mãn Thanh, lại tiếp tục lấy Nho giáo làm hệ

do những biến động xã hội Cho nên, Nho giáo lại được tái độc tôn, tiếp tục chi phối đời sống chính trị - xã hội đất nước

Việc tái độc tôn Nho giáo đầu triều Nguyễn thể hiện ở những mặt chủ

yếu sau đây trong xã hội:

Nho giáo với tư cách là học thuyết chính trị - xã hội được các vua đầu triều Nguyễn sử dụng làm hệ tư tưởng chính trị, là công cụ để xây dựng, quản

lý và bảo vệ triều đại Vì vậy, Nho giáo đóng vai trò quan trọng trong việc hoạch định đường lối cai trị và quản lý xã hội, xây dựng và thực thi pháp luật, hình thành và phát triển nền giáo dục - khoa cử Nho học thời Nguyễn

Nho giáo được đề cao bằng việc các vua đầu triều Nguyễn cho mở rộng

hệ thống nhà trường và giáo dục - khoa cử Điều đó tạo ra hệ thống quan lại

có học thức Cũng như dưới triều Lê Thánh Tông, vua quan nhà Nguyễn phần lớn đều có trình độ Nho học, đặc biệt phải kể đến vua Minh Mệnh - một cây đại thụ của Nho học ở Việt Nam

Nho giáo được đề cao bằng hạn chế sự phát triển của đạo Phật, đạo Lão

và đặc biệt là việc cấm đạo Gia tô Khi Gia Long ở ngôi, thấy được hiểm họa

Trang 35

do tôn giáo này đem lại, ông đã hạn chế tầm ảnh hưởng của đạo Gia tô song chưa thực sự cấm đạo triệt để Chỉ đến thời Minh Mệnh, Thiệu Trị việc cấm

đạo mới trở nên gắt gao

Các vua đầu triều Nguyễn từ Gia Long đến Minh Mệnh, Thiệu Trị đều coi Nho giáo là học thuyết duy nhất và có hiệu quả nhất trong việc duy trì, bảo vệ địa vị thống trị và lợi ích lâu dài của vương triều Nguyễn Họ đề cao Hán Nho và Tống Nho trong các nguyên tắc đạo đức, chính trị, pháp luật theo

tinh thần tam cương, ngũ thường, thể hiện rõ nhất trong Luật Gia Long

Kết quả của việc độc tôn Nho giáo đầu triều Nguyễn mà chúng ta không thể phủ nhận là trải qua các đời vua Gia Long, Minh Mệnh, Thiệu Trị cho thấy, Nho giáo cũng đã có những đóng góp tích cực trong xây dựng đất nước Nó đã giúp ổn định trật tự xã hội, tạo điều kiện để xây dựng một quốc gia thống nhất trải dài từ Bắc vào Nam Và chúng ta không thể phủ nhận là đến thời Minh Mệnh, Nho giáo đã phát huy hết vai trò tích cực của nó trong việc quản lý xã hội và xây dựng đất nước Điều này có ảnh hưởng rất lớn đến

Tự Đức Với trọng trách nối nghiệp tổ tiên, Tự Đức muốn phát huy cơ nghiệp

mà hoàng khảo, hoàng tổ của ông đã gây dựng nên Vì vậy, ông tiếp tục truyền thống của cha ông, sử dụng Nho giáo làm tư tưởng chính trị - xã hội cho mình và làm bệ đỡ cho triều đại mình Cho nên, Tự Đức đã thi hành đường lối trị nước của Nho giáo, đề cao giáo dục - khoa cử Nho học, ra sức bài bác và ban hành chính sách cấm đạo Gia tô

Tuy nhiên, không phải vì vậy mà Tự Đức không nhận thấy hạn chế của Nho giáo Ông đã nhận ra một hạn chế lớn của Nho giáo là chỉ học những điều xưa cũ trong kinh điển và coi nó là mẫu mực, trong khi thế giới đang từng ngày thay đổi hiện đại Ông viết:

“Vũ trụ phương khai tân thế giới,

Sư nho đồ tập cựu văn tri”[72, tr 63]

Trang 36

(Vũ trụ đang mở ra thế giới mới,

Sư, nho, chỉ tập điều nghe biết cũ)[72, tr 64]

Dù ít nhiều nhận thấy hạn chế của Nho giáo nhưng Tự Đức vẫn cố bám giữ nó Sự lựa chọn sai lầm này, xét đến cùng là căn nguyên của mọi sai lầm tiếp theo trong tư tưởng chính trị - xã hội của Tự Đức Dưới sự dẫn dắt của một

hệ tư tưởng lạc hậu, Tự Đức và triều đại mình đã không giải quyết được những yêu cầu mới của lịch sử, để rồi phải gánh chịu thất bại lớn nhất là không bảo vệ được đất nước trước cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp

Tiểu kết chương 1

Do hoàn cảnh xuất thân, môi trường giáo dục và năng lực của Tự Đức

mà tư tưởng chính trị - xã hội Nho giáo đã thấm sâu trong con người ông ngay

từ thuở nhỏ Là nhà vua, ông đã kiên định sử dụng Nho giáo làm nền tảng tư tưởng của mình, đồng thời coi đó là chỗ dựa vững chắc cho sự nghiệp kinh bang tế thế Tuy nhiên, Nho giáo thời Tự Đức đã trở nên bất cập trước thời đại, khi thế giới đang chuyển mình vào quỹ đạo tư bản chủ nghĩa

Sự lạc hậu trong tư tưởng chính trị - xã hội Nho giáo của Tự Đức bộc

lộ rõ nét khi nó phải giải đáp những vấn đề của thời cuộc, đó là những vấn đề chiến hay hòa, duy tân hay thủ cựu, chính đạo hay tà đạo, v.v Trong bối cảnh nền kinh tế trong nước đang khủng hoảng sâu sắc, phong trào khởi nghĩa của nông dân lan rộng, phỉ Mãn Thanh ở phía Bắc, và đặc biệt là âm mưu, hành động xâm lược của thực dân Pháp đang được tiến hành ráo riết, triều đình nhà Nguyễn dưới sự cai trị của ông vẫn cố bám giữ tư tưởng Nho giáo lỗi thời, làm cho việc hoạch định và đề ra chính sách đối với đạo Gia tô cũng như công cuộc canh tân đất nước có nhiều sai lầm, dẫn đến sự thất bại về mọi mặt, trong đó để đất nước rơi vào tình trạng thuộc địa là thảm hại nhất

Trang 37

Chương 2 MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN TRONG TƯ TƯỞNG

CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI CỦA TỰ ĐỨC VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ TỚI

XÃ HỘI VIỆT NAM ĐƯƠNG THỜI 2.1 Quan niệm về đường lối trị nước

2.1.1 Quan niệm về đạo làm vua

Vua trong Nho giáo được quan niệm là thiên tử (con trời), vừa là nhà quản lý đất nước cao nhất, vừa là người cha của nhân dân, phải có bổn phận bảo vệ dân, giáo hóa dân và chịu trách nhiệm về cuộc sống của dân Với Tự Đức, “Trời giúp dân đặt ra vua, thầy để làm người trên, để cai trị”[51, tr 153];

“vua đối với dân cũng như trời đất đối với vạn vật, cha mẹ đối với các con,

che chở, nuôi dạy như nhau”[49, tr 186-187]

Với tư cách là con trời, vua phải kính trời Lòng thành kính ấy thể hiện

ở chỗ biết sửa chữa lỗi lầm khi trời giáng họa răn đe: “Trẫm nay chỉ biết hướng lên trời, chắp tay lên trán mà lậy tạ, và cố gắng sửa mình, mong trời mãi mãi quyến cố, để cho mưa gió thuận thường, được cùng với nhân dân hưởng phúc lành mà thôi”[71, tr 5]

Tin có trời, Tự Đức cũng tin vào số mệnh nhưng không phải vì thế mà chối bỏ trách nhiệm của con người Theo ông: “Nếu cứ đổ cho vận hội mà không nghĩ đến việc làm của người, thì có khác gì như bịt kín mắt mà biện bạch được thứ trắng thứ đen, tuy có trúng chăng nữa, cũng là họa may mà thôi

<…> muốn chuyển tai biến làm điềm lành, duy chỉ có biết cách dùng người

và biết cách an dân, là việc cần kíp hơn hết”[44, tr 17]

Với tư cách nhà quản lý đất nước cao nhất, vua cần làm gương cho thiên hạ, vì vậy với ông, người làm vua cần phải có đầy đủ các phẩm chất để thu phục nhân tâm: “người làm vua giữ phép lớn khuyên răn, để cai trị trăm quan chỉ cốt rất ngay thẳng, rất công bằng, không lấy luật pháp mà hại đến ơn

Trang 38

tình, không lấy ơn tình mà che lấp pháp luật”[49, tr 64]

Với tư cách là cha mẹ của dân, vua phải có tấm lòng yêu dân như con,

có trách nhiệm nuôi dạy dân Tự Đức khẳng định rõ trọng trách của mình:

“Duy từ khi nắm chính quyền đến nay, lúc nào trẫm cũng một niềm để dạ yêu dân, tuy già cũng không chút suy kém, là bởi tính trời như thế”[63, tr 196];

“trẫm từ khi lên ngôi đến nay, rất để lòng về việc nuôi dân”[49, tr 28]; “Trẫm

từ khi lên ngôi đến nay, thường lấy giáo hóa làm việc đầu”[49, tr 263]

Không chỉ quan tâm đến dân, Tự Đức còn hết lòng quan tâm đến quân sĩ: “Sai các quan ở quân thứ xét kỹ những tỳ tướng quân lính có người nào

ốm đau, thì cấp cho thuốc thang Tự đội trưởng trở xuống, người nào áo quần rách rưới, thì đều phát áo quần mới cho”[44, tr 471] Không chỉ thương quân lính nước mình, ông còn thương cả quân lính nước Thanh đã giúp nước ta dẹp yên biên giới, vì vậy “thường sai bọn tổng thống Vũ Trọng Bình khoản đãi rất hậu”[48, tr 30]

Tự Đức không chỉ yêu dân, quan tâm đến quân lính, mà còn quý trọng nhân tài: “Ta vốn một lòng yêu kẻ sĩ thương nhân tài”[44, tr 222] Điều này giúp chúng ta hiểu vì sao Tự Đức rất quan tâm đến khoa cử và việc tuyển chọn nhân tài Vì vậy, với ông, “đạo” của người làm vua thật khó:

“Quân đạo duy nan thượng thận chiên

Trù tư nhật nhật trọng dân thiện”

(Đạo làm vua rất khó, phải cẩn thận lắm thay!

Hàng ngày nghĩ ngợi đến sự sinh sống của dân)[72, tr 3]

Chỗ khác ông viết: “càng kính giữ đạo làm vua là khó, thường chăm chú cho dân trong nước được thịnh, gốc của nước được vững, làm việc trước hết đâu dám tự mình nhàn rỗi”[44, tr 17-18]

Qua đó cho thấy, với tư cách là người đứng đầu đất nước, ông đã xác định rõ trách nhiệm của người làm vua không phải là để vui chơi, hưởng lạc,

Trang 39

không phải là để ngồi trên dân chúng mà có quyền sinh, quyền sát tùy tiện,

mà trước hết phải nắm được “đạo” và “hành đạo” của người làm vua Đó là phải thận trọng trong mọi quyết sách, phải thường xuyên nghĩ đến việc “chăm lo” cho dân, làm sao để đất nước thái bình, nhân dân có được cuộc sống no

đủ Tuy sự biểu hiện của “đạo” rất cụ thể, giản đơn, song nắm được “đạo” và

“hành đạo” thật là khó

Có thể là người nhận rõ trách nhiệm của mình, cho nên “ngay lúc mới lên ngôi đã phải lấy hai chữ Tự Đức làm kỷ nguyên, thực là để tỏ hết chân thành, chỉ mong cố nối theo công đức tổ tiên mà thôi”[63, tr 90] Vì vậy, ông

tự đặt ra cho mình trách nhiệm là phải đem hết tâm lực để chăm lo chính sự khỏi sai lầm Ông làm việc rất miệt mài, cố gắng duyệt hết các tấu chương:

“Nhật tà ý án lũ huy hào,

Dạ tĩnh khiêu đăng do triển độc”[72, tr 29]

(Bóng chiều đã tà, còn tựa án phê phó

Đêm đã khuya vẫn khêu đèn đọc tấu chương)[72, tr 31]

Mặc dù tuổi già, sức yếu, song Tự Đức không cho phép bản thân trễ nải việc nước Ông viết: “nay tuổi đã gần già, sức yếu không được như xưa, tinh lực đã suy, xem xét nghĩ ngợi đều thấy mệt mỏi, song cũng không dám trễ nải, lúc nào cũng nghĩ hết lòng hết sức mới thôi”[63, tr 184] Về cung cách sinh hoạt, Tự Đức cũng là người tỏ ra rất thận trọng, không để sự bất cập, thái quá xẩy ra: “Ca nhạc cũng có, nhưng mỗi tháng chẳng qua 2, 3 lần <…> Ăn uống vốn khem ít, cho nên không theo lỗi hư văn bớt món ăn < > Đến như việc chơi bời ở ngoài chẳng qua đi bắn chim, đi tránh nắng ở quán mát, hoặc cũng có khi, nhưng không dám thái quá Việc thổ mộc xây dựng cũng có 1, 2

sở, đã hạ lệnh cho nắng nóng lắm thì cho nghỉ, không dám làm luôn mãi Việc tập cưỡi ngựa thì đã thôi đến 5, 6 năm rồi Ta nghĩ lại khi còn ít tuổi, mười phần vui chơi, nay sợ mệnh trời, sợ người ta nói, chỉ còn một, hai phần mà

Trang 40

thôi Ngoài ra không dám làm gì bậy để đến nỗi hại nhân dân, loạn chính sự

<…> Tính ta chỉ thích nhất là xem sách, bắn chim là không thể bỏ được thôi”[45, tr 114] Việc săn bắn được ông lý giải như một môn thể thao giải trí: “Trẫm sợ rằng nếu không nén được sự buồn rầu, thì tinh thần ủ rũ bỏ cả công việc cho nên thỉnh thoảng lại đi săn bắn, là mong giải nỗi buồn phiền, để được thư thái mà lo tính công việc”[71, tr 12]

Đối với quần thần, ông coi mối quan hệ vua tôi như thân thể, như cha con: “Vua tôi là nhất thể, trong ngoài cùng thông cảm nhau”[63, tr 145]; “vua tôi phải như cha con, việc nước phải như việc nhà, không nên có một mảy may nào không thành thực ở trong ấy”[63, tr 38] Cho nên, vua phải yêu thương chăm sóc bề tôi, tôi phải hết lòng trung với vua:

“Kẻ sĩ không bỏ mình không phải là trung nghĩa

Làm tôi không vì mình trước mà sau mới nghĩ đến triều đình”[63, tr 326]

Và lắng nghe ý kiến đóng góp của quần thần là việc không thể thiếu đối với một minh quân Ông cho rằng, “các bậc vua giỏi đời xưa, trị dân giữ nước, tất phải nhờ ở những nhà hiền sĩ đông đảo, khuyên bảo cố gắng, vua tôi cùng sửa chữa lẫn nhau, rồi sau chính sự mới sửa sang làm cho nước được thịnh trị”[45, tr 268]

Tình thương dân chúng, coi dân như người thân thiết của mình là tình cảm luôn được Tự Đức nhắc tới:

“Thị dân như thương ngã tâm thiết,

Đổ thử cát cư song lệ lưu”[72, tr 11]

(Coi dân như người ốm đau, lòng ta rất thiết tha,

Thấy cảnh xờ xạc mà chảy hai hàng nước mắt)[72, tr 13-14]

Với một lòng nhân đối với dân như vậy, khi đất nước bị đe dọa trước sự xâm lược của thực dân Pháp, ông tin ở dân, kêu gọi nhân dân đứng lên chống Pháp: “quân của Tây dương đã vào Đà Nẵng, lại đến Gia Định, Biên Hòa

Ngày đăng: 31/01/2016, 10:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w