Khi được học các kiến thức mới, việc phân hóa nội dung dạy học sẽ giúp giáo viên đánh giá, phân loại học sinh và học sinh có thể tự đánh giá bản thân ở trình độ nào để có định hướng đúng
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN THỊ HẢI YẾN
DẠY HỌC NỘI DUNG HÀM SỐ LỚP 10
THEO HƯỚNG PHÂN HÓA
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM TOÁN
HÀ NỘI – 2020
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN THỊ HẢI YẾN
DẠY HỌC NỘI DUNG HÀM SỐ LỚP 10
THEO HƯỚNG PHÂN HÓA
Chuyên ngành: LL&PP DẠY HỌC BỘ MÔN TOÁN
Mã số: 8.14.01.11 LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM TOÁN
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS TRẦN TRUNG
HÀ NỘI – 2020
Trang 3i
LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, tác giả xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu và các Thầy,
Cô giáo khoa Sư phạm của trường Đại học Giáo dục, Đại học Quốc Gia Hà Nội đã nhiệt tình giúp đỡ trong quá trình hoàn thiện luận văn
Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS TS Trần Trung, người thầy đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ và tạo điều kiện để tác giả hoàn thành luận văn này
Tác giả xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu cùng các thầy cô giáo và các
em học sinh trường trung học phổ thông Yên Viên đã tạo điều kiện giúp đỡ tác giả trong quá trình thực nghiệm sư phạm
Xin gửi lời tri ân tới gia đình, bạn bè và những người thân yêu đã luôn động viên, khích lệ và giúp đỡ tác giả trong quá trình học tập và nghiên cứu Xin cảm ơn những ý kiến đóng góp quý báu của Quý thầy cô và bạn bè đồng nghiệp
Nội, tháng 7 năm 2020
Tác giả
Nguyễn Thị Hải Yến
Trang 4ii
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT v
DANH MỤC CÁC BẢNG vi
DANH MỤC CÁC HÌNH VÀ BIỂU ĐỒ vii
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 2
4 Giả thuyết nghiên cứu 3
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
6 Phương pháp nghiên cứu 3
7 Cấu trúc luận văn 4
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 5
1.1 Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề 5
1.1.1 Lịch sử nghiên cứu trên thế giới 5
1.1.2 Lịch sử nghiên cứu ở Việt Nam 8
1.2 Dạy học phân hóa 10
1.2.1 Khái niệm 10
1.2.2 Tư tưởng chủ đạo dạy học phân hóa 12
1.2.3 Vai trò dạy học phân hóa trong giáo dục 13
1.3 Các cấp độ và hình thức dạy học phân hóa 15
1.3.1 Các cấp độ dạy học phân hóa 15
1.3.2 Các hình thức dạy học phân hóa 16
1.4 Quy trình dạy học phân hóa 21
1.4.1 Chuẩn bị nội dung dạy học 21
1.4.2 Tổ chức dạy học phân hóa trên lớp 25
Trang 5iii
1.4.3 Phân hóa trong kiểm tra, đánh giá 26
1.5 Câu hỏi và bài tập phân hóa 30
1.5.1 Nguyên tắc xây dựng bộ câu hỏi và bài tập phân hóa 30
1.5.2 Quy trình xây dựng bộ câu hỏi và bài tập phân hóa 31
1.6 Thực trạng dạy học phân hóa môn Toán ở trường THPT 33
1.6.1 Phân tích chương Hàm số lớp 10 33
1.6.2 Thực trạng dạy học phân hóa môn Toán ở trường THPT 34
Kết luận chương 1 38
CHƯƠNG 2: CÁC BIỆN PHÁP SƯ PHẠM DẠY HỌC PHÂN HÓA NỘI DUNG HÀM SỐ LỚP 10 39
2.1 Định hướng đề xuất các biện pháp 39
2.2 Các biện pháp sư phạm dạy học phân hóa nội dung hàm số lớp 10 40
2.2.1 Biện pháp 1: Tổ chức, chia nhóm đối tượng học sinh 40
2.2.2 Biện pháp 2: Xây dựng hệ thống câu hỏi và bài tập phân hóa nội dung hàm số lớp 10 45
2.2.3 Biện pháp 3: Phân hóa trong kiểm tra – đánh giá 56
Kết luận chương 2 62
CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 63
3.1 Mục đích thực nghiệm 63
3.2 Nội dung thực nghiệm 63
3.3 Mô tả thực nghiệm 63
3.3.1 Đối tượng thực nghiệm 63
3.3.2 Giáo viên thực nghiệm 64
3.3.3 Cách thức thực nghiệm 64
3.3.4 Thời gian tiến hành thực nghiệm 64
3.3.5 Phương pháp đánh giá thực nghiệm 65
3.4 Kết quả thực nghiệm 65
3.4.1 Khả năng của học sinh 65
Trang 6iv
3.4.2 Kết quả kiểm tra 66
Kết luận chương 3 69
KẾT LUẬN 70
TÀI LIỆU THAM KHẢO 71 PHỤ LỤC
Trang 7v
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
GD – ĐT Giáo dục và đào tạo
Trang 8vi
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Kết quả điều tra (Tính theo %) 35
Bảng 1.2 Tầm quan trọng của sự phân hóa khi dạy học môn Toán ở trường THPT hiện nay 35
Bảng 2.1 Ma trận đề kiểm tra dành cho học sinh trung bình – yếu 58
Bảng 2.2 Ma trận đề kiểm tra dành cho học sinh Khá – Giỏi 59
Bảng 3.1 Kết quả phân loại trình độ học sinh của 2 lớp trước thực nghiệm 64
Bảng 3.2 Kết quả bài kiểm tra 2 lớp sau thực nghiệm 66
Trang 9vii
DANH MỤC CÁC HÌNH VÀ BIỂU ĐỒ
Hình 1.1 Các phương pháp kiểm tra đánh giá 27Biểu đồ 3.1 Kết quả lớp 10D2 66Biểu đồ 3.2 Kết quả lớp 10D3 67
Trang 10đó là yêu cầu nhân lực ngày càng cao Việc đổi mới giáo dục là cần thiết, là mối quan tâm chung của toàn xã hội Giáo dục có phát triển thì mới có thể bồi dưỡng nhân lực chất lượng cao phù hợp với sự phát triển của khoa học, kĩ thuật trong thời đại công nghệ 4.0 hiện nay Giáo dục là tiền đề cho sự phát triển bền vững và lâu dài của một quốc gia
Phân hóa trong dạy học là nguyên tắc được thực hiện từ lâu ở mọi nền giáo dục Mỗi học sinh là một cá nhân không giống nhau, có năng lực, sở trường khác nhau với những động lực, điều kiện, hoàn cảnh học tập khác nhau Dạy học phân hóa giúp học sinh nhận biết và phát triển được thế mạnh của bản thân Mỗi ngành nghề có yêu cầu khác nhau về chuyên môn Vì vậy, dạy học phân hóa là cần thiết để đáp ứng yêu cầu phân công lao động và phân luồng học sinh cho giáo dục đại học, cao đẳng, cũng như các trường nghề chuyên sâu về một lĩnh vực hoặc ngành nghề chuyên biệt Đối với cấp trung học phổ thông, phân hóa trong giáo dục rất cần thiết vì đây là giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp Cấp trung học cơ sở, việc phân lớp dựa vào năng lực tổng thể của học sinh về tất cả các môn học còn ở cấp trung học phổ thông, học sinh chọn học ban tự nhiên hoặc ban xã hội, phù hợp với năng lực,
sở trường của bản thân
Trang 112
Học sinh trung học phổ thông trải qua ba năm học và năm học đầu tiên
là năm đánh dấu sự thay đổi cả về kiến thức và cách học Khi được học các kiến thức mới, việc phân hóa nội dung dạy học sẽ giúp giáo viên đánh giá, phân loại học sinh và học sinh có thể tự đánh giá bản thân ở trình độ nào để
có định hướng đúng đắn trong việc chọn ban và nghề nghiệp tương lai
Hàm số là nội dung quan trọng trong chương trình học của học sinh Học sinh đã có kiến thức ban đầu về hàm số từ lớp 7 Đến năm lớp 9, học sinh được học cách vẽ và các dạng bài cơ bản của hàm số Chương trình học lớp
10 mở rộng hơn so với lớp 9 về các dạng hàm số bậc hai và đa dạng về bài tập
từ dễ đến khó, là tiền đề cho chương hàm số lớp 12 và các kiến thức khác trong chương trình phổ thông
Ở các trường THPT hiện nay, việc dạy học phân hóa chưa được quan tâm đúng mức Trong các giờ dạy, đa số giáo viên tiến hành đồng loạt, áp dụng cùng dạng câu hỏi, bài tập cho mọi đối tượng học sinh Từ đó dẫn tới học sinh không phát huy được tối đa năng lực bản thân, chưa kích thích được học sinh tìm tòi, chủ động và sáng tạo trong việc học
Vì những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài “Dạy học nội dung hàm số lớp 10 theo hướng phân hóa” nhằm đề xuất quy trình dạy học phân hóa chủ
đề Hàm số lớp 10 và hệ thống câu hỏi, bài tập Hàm số phân hóa cho nhiều đối tượng học sinh
2 Mục đích nghiên cứu
Mục đích của luận văn là đề xuất các biện pháp dạy học phân hóa khi dạy học nội dung Hàm số ở lớp 10
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Quy trình dạy học phân hóa nội dung hàm số lớp 10
3.2 Khách thể nghiên cứu
Quá trình dạy học và nội dung môn Toán lớp 10 ở trường trung học phổ thông
Trang 123
4 Giả thuyết nghiên cứu
Nếu xây dựng được quy trình dạy học có áp dụng các biện pháp dạy học phân hóa khi dạy học Hàm số lớp 10 thì sẽ phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh và phù hợp với mọi đối tượng; từ đó nâng cao chất lượng dạy và học
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu các cơ sở lý luận về dạy học phân hóa, về câu hỏi, bài tập phân hóa cũng như quy trình dạy học phân hóa
- Nghiên cứu quy trình dạy học phân hóa môn Toán ở trường trung học phổ thông
- Đề xuất một số biện pháp DHPH nội dung Hàm số lớp 10
- Thực nghiệm sư phạm để kiểm nghiệm tính khả thi và hiệu quả của quy trình dạy học phân hóa và hệ thống câu hỏi, bài tập đã được xây dựng
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
Đọc và nghiên cứu các tài liệu viết về lý luận dạy học, lý luận dạy học bộ môn Toán; các phương pháp, quy trình dạy học và các tài liệu giáo trình, luận văn, luận án, các bài báo khoa học giáo dục về dạy học phân hóa và nội dung hàm số Từ đó, phân tích, tổng hợp các tài liệu một cách tổng thể, toàn diện và
chắt lọc để có cái nhìn khách quan, chính xác nhất về đề tài nghiên cứu
6.2 Phương pháp điều tra
Điều tra thực trạng quy trình, các hoạt động dạy học trên lớp và dạy học phân hóa bằng phiếu hỏi đối với cả giáo viên và học sinh Sử dụng phiếu trắc
nghiệm điều tra tình hình học nội dung hàm số của học sinh lớp 10
6.3 Phương pháp quan sát
Tiến hành thăm lớp, dự giờ, quan sát trực tiếp các hoạt động dạy của giáo viên toán Trao đổi chuyên đề, tìm hiểu và tham khảo ý kiến giáo viên dạy
Trang 134
giỏi, tâm huyết, nhiều kinh nghiệm về đề tài Hỏi ý kiến chuyên gia về giáo
dục, phân tích kết quả học tập của học sinh
6.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Tiến hành thực nghiệm sư phạm qua một số tiết dạy ở một trường THPT Soạn
và dạy thực nghiệm một số giáo án phân hóa về nội dung hàm số qua các tình huống, hoạt động dạy học cụ thể Kiểm tra lớp thực nghiệm và đối chứng So
sánh, phân tích, đánh giá sự tiến bộ của học sinh trước và sau thực nghiệm
6.5 Phương pháp thống kê toán học
Sử dụng phương pháp thống kê toán học để xử lý và đánh giá các số liệu thu thập được sau khi thực nghiệm, định lượng các kết quả thực nghiệm làm
cơ sở cho nghiên cứu
7 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn bao gồm ba chương:
Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn
Chương 2 Các biện pháp sư phạm dạy học phân hóa nội dung hàm số lớp
10
Chương 3 Thực nghiệm sư phạm
Trang 145
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Lịch sử nghiên cứu trên thế giới
Phân hóa trong giáo dục là một nguyên tắc đã được thực hiện từ lâu ở mọi nền giáo dục, mọi thời kỳ với những yêu cầu, mức độ và hình thức khác nhau Đây là định hướng giáo dục nhằm đảm bảo các đối tượng học sinh khác nhau về hoàn cảnh, đặc điểm tâm – sinh lý, khả năng, nhu cầu và hứng thú, sở thích cá nhân có cơ hội học tập với phương pháp dạy học phù hợp để có thể phát triển tối đa điều kiện và tiềm năng của bản thân
Từ những năm 80 của thế kỉ XX, trên thế giới thực hiện cải cách giáo dục lần thứ ba, tư tưởng giáo dục của các nước có sự thay đổi Giáo dục đại chúng dần thay thế cho giáo dục tinh hoa Các quốc gia quan tâm đến việc hình thành các phẩm chất và năng lực cho thế hệ trẻ và người lao động về ý thức trách nhiệm, tính tích cực chủ động, năng động sáng tạo, thích ứng nhanh với những sự đổi mới, phát huy cá tính, bản sắc của người học Chương trình cốt lõi thống nhất trong toàn quốc được thực hiện, trao quyền tự chủ cho địa phương; trường học, nhà giáo, học sinh, sinh viên quyết định vận dụng linh hoạt phần còn lại Giáo dục được đầu tư mạnh mẽ, thực hiện dạy học theo quan điểm dạy học phân hóa để nâng cao chất lượng, mang tính nhân văn
Trên thế giới, xu hướng chung dạy học phân hóa ở nhiều quốc gia là định hướng hoặc phân luồng cho các môn tự chọn Các nước cũng chú ý tới việc xác định và quy định môn học bắt buộc, môn học tích hợp từ một số môn Môn khoa học tự nhiên, khoa học xã hội có nội dung không hàn lâm, gắn chặt với thực tế cho học sinh sự hiểu biết rộng, có tầm nhìn sự vật, hiện tượng với nhiều phương diện tổng hợp Xu thế dạy học phân hóa kết hợp chặt chẽ với dạy học tích hợp giúp đảm bảo một nền giáo dục hài hòa, toàn diện, mới mẻ, chuyên sâu và hợp lí
Trang 156
Nhiều quốc gia đã áp dụng phân hóa trong giáo dục và đạt được nhiều thành tựu Tại Nga, hệ thống giáo dục chính quy bao gồm: Giáo dục tiền học đường (giáo dục mầm non), giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học và sau đại học Giáo dục phổ thông 11 năm, bao gồm ba giai đoạn: cấp tiểu học (lớp 1-4), cấp THCS (lớp 5-9) và THPT hoàn chỉnh (lớp 10-11) Giáo dục nghề nghiệp bao gồm: Hệ sơ cấp 3 năm (nhận học sinh học xong THCS) và Hệ trung cấp 3 năm (nhận học sinh học xong trung học hoàn chỉnh và học sinh học xong nghề hệ sơ cấp) Giáo dục đại học hệ 5 năm đào tạo chuyên gia với văn bằng tốt nghiệp Giáo dục sau đại học gồm: đào tạo thạc sĩ 2 năm, đào tạo phó Tiến sĩ khoa học 3 năm, học vị cao nhất là Tiến sĩ khoa học, thời gian làm Tiến sĩ khoa học là 2 năm Bên cạnh đó là hệ thống giáo dục bổ túc (gồm bổ túc văn hóa và nghề nghiệp) Ở THPT, các trường tại Nga phân ban theo 4 loại hình: Ban Khoa học tự nhiên, Ban Nhân văn – Ngoại ngữ, Ban Xã hội – Kinh tế, Ban Công nghệ
Có thể kể đến như Singapore, được mệnh danh là con rồng của Châu Á Tuy là một đảo quốc nhỏ bé nhưng Singapore luôn đặt giáo dục làm trọng tâm Hệ thống giáo dục của Singapore được phát triển dựa trên cơ sở: mỗi học sinh, sinh viên đều có những năng khiếu, sở trường và sở thích riêng biệt Giáo dục được áp dụng linh hoạt để học sinh có thể thể hiện hết tài năng của bản thân một cách tối đa, từ đó giúp mỗi cá nhân nhận ra bản sắc của chính mình, khám phá ưu thế bản thân
Một số nước có nhấn mạnh thêm một số yếu tố khác biệt Hàn Quốc chú
ý tới giáo dục những công dân toàn cầu, chú trọng tới giáo dục các giá trị truyền thống Malaysia, Hàn Quốc chú ý tới giáo dục đạo đức, giáo dục ý thức trách nhiệm đối với gia đình, với cộng đồng và với xã hội Malaysia có đề cập tới giáo dục niềm tin vào Chúa Ở các nước có nghiên cứu, chương trình được kết cấu theo các thành phần: Các lĩnh vực chung (bao gồm cả các môn không thi) là bắt buộc đối với mọi học sinh, các yếu tố cốt lõi bắt buộc; các môn tự
Trang 16tự nhiên hoặc môn tự nhiên tích hợp, các môn nghệ thuật (mỹ thuật, âm nhạc, nhảy, kịch) và tiếng nước ngoài (không phải tất cả các môn đều thi)
Các yếu tố chung quán triệt suốt các nội dung giáo dục gồm: Tính toán
và giao tiếp, kĩ năng về thông tin bao gồm cả công nghệ thông tin và truyền thông, giải quyết vấn đề, kĩ năng học tập, các kĩ năng cá nhân, kĩ năng xã hội
và làm việc theo nhóm, quan hệ công dân và nhận thức về trách nhiệm công dân, các giá trị văn hóa và xã hội, các kiến thức và kĩ năng gắn với việc làm
và tư duy sáng tạo
Dạy học phân hóa ở THPT theo hướng tự chọn là xu hướng chung ở tất
cả các nước Việc dạy học tự chọn cho phép tới THPT, học sinh chỉ học một
số môn cốt lõi nhất như ngôn ngữ quốc gia, toán, ngoại ngữ, còn lại là các môn, các chủ đề tự chọn Học sinh học sâu thêm các điều đã học trong lĩnh vực giáo dục bắt buộc và các môđun nâng cao ở các môn đặc thù Trong số các nước được nghiên cứu, chỉ có Nga và Phần Lan vẫn tổ chức dạy học phân ban ở THPT
Về mục tiêu giáo dục trung học phổ thông, nói chung, mục đích, mục tiêu giáo dục có thể được nhóm lại theo 5 lĩnh vực chính bao gồm: Phát triển
cá nhân (phát triển các xu hướng, năng khiếu của cá nhân); Kinh tế (Khả năng
Trang 178
đáp ứng nhu cầu làm việc, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế quốc gia, đặc biệt trong quan hệ với các nước Châu Âu và trong cạnh tranh quốc tế Ở New Zealand, cạnh tranh cùng với hợp tác là một trong những kĩ năng mong đợi ở học sinh được nhấn mạnh); Văn hóa và xã hội (Khả năng hội nhập, phát triển một xã hội lành mạnh, công bằng xã hội ý thức được về sự đa dạng văn hóa, ngôn ngữ của xã hội, ý thức về di sản đa văn hóa; đẩy mạnh giáo dục dân chủ
và giáo dục công dân); Kiến thức, kĩ năng, chuẩn mực (Phát triển các chuẩn mực, kích thích sự sáng tạo, nhấn mạnh toán học và các môn khoa học, công nghệ thông tin, chuẩn bị tới xã hội tri thức); Mở rộng việc học tập (Mở rộng việc học sau giáo dục bắt buộc, chuẩn bị cho học tập suốt đời, vì vậy năng lực học tập suốt đời được đề cập đến ở nhiều nước) Hầu hết các nước đều đặt giáo dục nghề - hướng nghiệp cho học sinh giai đoạn THPT
1.1.2 Lịch sử nghiên cứu ở Việt Nam
Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn chú trọng và quan tâm đến giáo dục đào tạo con người Trong tư tưởng giáo dục của Chủ tịch Hồ Chí Minh, mục tiêu của nền giáo dục mới và nhà trường mới là học để làm việc, làm người, làm cán bộ; học để phụng sự và phát triển đoàn thể, giai cấp, nhân dân, Tổ quốc và nhân loại
Dạy học phân hóa ở nước ta đã được thực hiện từ lâu nhưng mức độ vận dụng và thực hiện còn hạn chế cùng các giải pháp chưa phù hợp nên dạy học phân hóa chưa đem lại hiệu quả Sau cách mạng tháng 8 năm 1945, miền Bắc tiếp quản nền giáo dục, dựa trên nền giáo dục của Pháp Hệ giáo dục phổ thông sửa đổi thành hệ 11 năm với cấp tiểu học 4 năm, cấp trung học 7 năm, trung học bậc cao chia làm 3 ban Đến năm 1950, cải cách giáo dục lần thứ nhất xóa bỏ hệ phân ban, tiến hành hệ 10 năm với 3 cấp học
Năm 1979, Bộ Chính trị ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã ban hành Nghị quyết về cải cách giáo dục, bắt đầu từ giáo dục phổ thông, cùng với đó là tiến hành bồi dưỡng cán bộ giáo viên, theo hướng
Trang 189
cải cách giáo dục, từng bước cải cách sư phạm Công cuộc đổi mới toàn diện giáo dục ở Việt Nam bắt đầu từ Đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam tháng 12/1986 Chủ trương của ngành giáo dục trong thời kỳ này là đa dạng hóa các loại hình trường, lớp, các hình thức đào tạo; ban hành quy chế các trường, lớp dân lập, tư thục Các địa phương hình thành hệ thống trường chuyên lớp chọn bắt đầu từ một vài lớp phổ thông chuyên của các trường đại học Quan niệm cá biệt hóa, phân hóa đã dần thay thế quan niệm cũ mang tính bình quân trong giáo dục Năm 1992, Bộ Giáo dục và Đào tạo quyết định tổ chức thí điểm phân hóa bằng hình thức phân ban Năm học 2006 – 2007, cấp học trung học phổ thông có sự thay đổi, học sinh được phân ban ngay từ lớp
10, điều chỉnh thành 3 ban: Ban khoa học tự nhiên, ban khoa học xã hội và ban cơ bản
Hiện nay, chương trình giáo dục phổ thông mới là một chương trình được xây dựng theo hướng mở, đảm bảo định hướng thống nhất nội dung giáo dục cốt lõi, đồng thời trao quyền chủ động cho các địa phương lựa chọn, bổ sung một số nội dung giáo dục phù hợp với địa phương Đây là chương trình giáo dục tạo điều kiện cho học sinh được lựa chọn nội dung học tập và môn học phù hợp với nguyện vọng và sở trường của mình
Theo Bộ Giáo dục và Đào tạo, chương trình mới dự kiến sẽ được xây dựng theo hướng đẩy mạnh giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục đạo đức, kĩ năng sống, giáo dục pháp luật và giáo dục hướng nghiệp Dạy học tích hợp ở những lớp dưới, phân hóa mạnh ở những lớp trên, tạo ra nhiều sự lựa chọn về nội dung học tập cho học sinh Quá trình dạy học biến thành quá trình tự học của học sinh có hướng dẫn và hỗ trợ tối ưu của giáo viên Chương trình chú trọng giáo dục quốc phòng an ninh, tăng cường các hoạt động xã hội của học sinh để bảo tồn các truyền thống văn hóa xã hội, nhằm xây dựng nền học vấn phổ thông cơ bản, vững chắc và phát triển năng lực cá nhân của người học,
Trang 19a Việc tổ chức dạy học phân hóa ngoài theo nguyên tắc: Phân hóa sâu dần, đặc biệt phân hóa mạnh ở cuối cấp THPT
b Ở tiểu học và THCS, ngoài những môn học bắt buộc, học sinh sẽ được chọn thêm các chủ đề, hoạt động giáo dục khác phù hợp năng lực, sở thích, nhu cầu của mình
c Sau THCS, học sinh sẽ phân luồng: học ở trường THPT hoặc học ở các cơ sở giáo dục nghề nghiệp Ở THPT sẽ tổ chức dạy học phân hóa theo hướng tự chọn, có thể là:
- Lớp 10, tổ chức bước đầu định hướng nghề cho học sinh, học sinh sẽ học 7-10 môn bắt buộc; còn lại là các môn học và hoạt động giáo dục tự chọn nhằm giúp học sinh có nhận thức thấu đáo hơn các lĩnh vực kiến thức khác nhau, làm cơ sở cho việc định hướng nghề nghiệp sau này
- Thực hiện phân hóa mạnh và hướng nghiệp vào năm lớp 11 và lớp 12 Học sinh học ít môn, trong đó có một số môn bắt buộc và một số môn tự chọn Dự kiến có 3 môn bắt buộc (Tiếng Việt, Toán, Ngoại ngữ); đồng thời học sinh được chọn 3 môn/chủ đề trong danh mục các môn/chủ đề tự chọn như Vật lí, Hóa học, Sinh học, Lịch sử, Địa lí, Công nghệ, Khoa học về máy tính, Kinh doanh, Ngoại ngữ 2, Nghệ thuật, Hướng nghiệp,…
1.2 Dạy học phân hóa
1.2.1 Khái niệm
Phân hóa là hoạt động phân loại và chia tách các đối tượng, từ đó tổ chức các hoạt động vận dụng nội dung, phương pháp và hình thức phù hợp với từng đối tượng nhằm đạt hiệu quả cao
Trang 2011
Phân hóa là chia thành nhiều bộ phận có những đặc điểm khác hẳn nhau Phân hóa ở đây ta chỉ giới hạn trong việc chia theo năng lực và nhu cầu của người học, ta chia người học thành nhiều bộ phận khác nhau theo khả năng nhận thức để có cách dạy phù hợp với từng đối tượng
Dạy học phân hóa là nguyên tắc dạy học mà ở đó, giáo viên điều chỉnh quá trình, tiến độ, trình độ, phương pháp dạy học theo từng loại đối tượng học sinh, nhằm đảo bảo yêu cầu giáo dục phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý, nhịp
độ, khả năng, nhu cầu và hứng thú khác nhau của người học nhằm phát triển tối đa tiềm năng của mỗi học sinh
Theo Carol Ann Tomlinson: “Dạy học phân hóa là sắp xếp những gì diễn ra trên lớp để học sinh có nhiều cơ hội lựa chọn cho mình cách chiếm lĩnh tri thức, kĩ năng và thái độ diễn đạt những gì mà họ học được; nghĩa là dạy học phân hóa sẽ cung cấp cho học sinh những con đường khác nhau để lĩnh hội nội dung dạy học, thông qua đó học sinh đạt hiệu quả học tập cao hơn.”[22]
Có nhiều định nghĩa khác nhau về dạy học phân hóa nhưng tất cả đều thống nhất rằng dạy học phân hóa là một triết lí dạy học cho phép giáo viên thiết kế các chiến lược dạy học sao cho phù hợp với nhu cầu, năng lực và phong cách học khác nhau của học sinh trong lớp học để tạo cơ hội học tập tốt nhất cho mỗi học sinh
Bản chất của việc phân hóa trong dạy học là tạo ra những khác biệt nhất định trong nội dung và phương thức hoạt động (Bao gồm mục tiêu, phương pháp, phương tiện, môi trường, kết quả, thời gian) của chương trình giáo dục (tổng thể hoặc ở từng cấp học, môn học) bằng cách thiết kế và thực hiện chương trình giáo dục theo nhiều hướng khác nhau dựa vào năng lực, hứng thú hoặc nhu cầu học tập của người học và mục tiêu giáo dục của xã hội Đây là chiến lược dạy học giáo viên dạy tập trung vào một học sinh duy nhất hoặc một nhóm học sinh với số lượng ít thay vì dạy cả một lớp học lớn,
Trang 211.2.2 Tư tưởng chủ đạo dạy học phân hóa
Dạy học phân hóa là yêu cầu bắt buộc đối với các lớp học, cho phép tất
cả các học sinh có cơ hội phát huy tối đa khả năng với sự hỗ trợ hướng dẫn tốt nhất từ giáo viên Có nhiều quan điểm về dạy học phân hóa nhưng tư tưởng chủ đạo về dạy học phân hóa tương đối thống nhất Trong giáo trình Phương Pháp dạy học môn Toán của tác giả Nguyễn Bá Kim, tư tưởng chủ đạo được thể hiện thông qua những ý sau:
- Lấy trình độ phát triển chung của tất cả học sinh trong lớp làm nền tảng Giáo viên phải lấy trình độ phát triển chung của học sinh trong lớp làm nền tảng, từ đó dạy học hướng vào những yêu cầu thật cơ bản Nội dung và phương pháp dạy học trước hết cần phải phù hợp với trình độ phát triển và điều kiện chung này Ngoài việc đạt được yêu cầu của chương trình và phát triển toàn diện, mỗi học sinh cần được đào tạo để có thể phát huy sở trường, hứng thú, năng khiếu của mình
- Sử dụng những biện pháp phân hóa đưa diện học sinh yếu kém lên trình độ chung: Giáo viên cần sớm phát hiện ra những đối tượng yếu kém để trong quá trình giảng dạy có những biện pháp phù hợp, phải cố gắng làm sao
để những học sinh yếu kém đạt được những tiền đề cần thiết để có thể hòa vào học tập đồng loạt theo mặt bằng trình độ chung
Ví dụ: Câu hỏi và bài tập dành cho nhóm đối tượng học sinh yếu kém
là những câu hỏi ở mức độ cơ bản, nhận biết, ít đòi hỏi hỏi tư duy, mang tính dẫn dắt
Trang 2213
- Học sinh khá giỏi được dạy những nội dung bổ sung và có biện pháp phân hóa riêng để đạt được những yêu cầu nâng cao trên cơ sở đã đạt được những yêu cầu cơ bản [13]
Ví dụ: Đối với học sinh khá giỏi, giáo viên tổ chức các chuyên đề nâng
cao Trong giờ học, câu hỏi và bài tập có nhiều ý, có sự phân hóa và độ khó tăng dần; các ý cuối đòi hỏi tư duy, suy luận, tổng hợp nhiều kiến thức
1.2.3 Vai trò dạy học phân hóa trong giáo dục
Nhiều thế hệ học sinh được giảng dạy theo phương pháp truyền thống, trong đó, giáo viên dạy thông qua bài giảng, sau đó làm mẫu kỹ năng trên bảng hoặc máy chiếu Giảng xong, giáo viên sẽ cho học sinh thực hành, thường là làm bài trong sách giáo khoa hoặc tài liệu chuẩn Sau đó, giáo viên tiến hành chấm bài tập của học sinh và đánh giá kiến thức của họ bằng một bài kiểm tra giấy Thông tin phản hồi sẽ được cung cấp dưới dạng điểm số Đây là phương pháp dạy học thống nhất và đại trà, các môn học và kỹ năng được dạy theo một trật tự cụ thể, chặt chẽ, đánh giá học sinh đơn giản,
dễ dàng Tuy nhiên, chương trình giảng dạy không được linh hoạt, hệ thống chậm thay đổi, ít có khả năng bắt kịp nhu cầu của học sinh Việc dạy tập trung vào ghi nhớ thay vì hình thành kỹ năng tư duy ở cấp độ cao hơn
Thực tế, mỗi học sinh là một cá nhân không hoàn toàn giống nhau, có những sở thích, năng lực, sở trường khác nhau, với những động lực, điều kiện, hoàn cảnh học tập khác nhau Phong cách truyền thống này không đáp ứng được nhu cầu của nhóm người học đa dạng Vì vậy, dạy học theo hướng phân hóa là cần thiết
Dạy học phân hóa sử dụng nhiều phong cách giảng dạy để đảm bảo học sinh có thể tiếp cận việc học theo nhiều cách khác nhau nhưng cho ra kết quả tương đồng Phân hóa có thể thay đổi cách tổ chức lớp học, học sinh có thể được chia thành các nhóm dựa trên phương pháp học tập của bản thân để phát huy tối
Trang 2314
đa năng lực của từng đối tượng học sinh Dạy học phân hóa tốt khiến học sinh chủ động hơn trong việc học, hứng thú với bài học và bài tập được giao
Đây là cách dạy giúp giáo viên đánh giá đúng năng lực của học sinh để
có cách hỗ trợ hợp lí cho từng nhóm đối tượng, tạo cơ hội học tập công bằng cho tất cả các học sinh Dạy học phân hóa đáp ứng và gây được hứng thú cho mọi đối tượng học sinh, xóa bỏ mặc cảm tự ti của học sinh nhận thức thấp, kích thích, thách thức, gây hứng thú học tập cho các đối tượng học sinh khá giỏi phát huy hết khả năng, trí tuệ của mình, không gây cảm giác nhàm chán cho học sinh Từ đó, tất cả học sinh đều đạt được mục tiêu bài học và giáo viên có thể bao quát hết cả lớp, mọi học sinh đều tham gia hoạt động
Để đạt được những mục tiêu trên, nhà trường cần trang bị cho mọi học sinh những tri thức phổ thông nền tảng, cốt lõi, đồng thời có nhiệm vụ giúp mỗi học sinh phát triển tối đa tiềm năng cá nhân của mình
Giai đoạn THPT là giai đoạn học sinh bộc lộ rõ rệt sự khác biệt Nếu giáo viên nắm được sự khác biệt đó và thực hiện dạy học theo năng lực của học sinh thì có thể thu hẹp sự khác biệt về năng lực tiếp thu và vận dụng tri thức mới giữa các đối tượng Nếu từng học sinh có thể phát huy tình cảm, ý chí, nâng cao tính tích cực tham gia học tập thì chất lượng dạy học có sự cải thiện rõ rệt Tình cảm có thể chuyển hóa thành động cơ học tập, là động lực bên trong khuyến khích học sinh học tập
Phân hóa là để đáp ứng yêu cầu phân công lao động trong xã hội và phân luồng học sinh Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, yêu cầu
về trình độ nhân lực của thị trường lao động ngày càng cao buộc nhà trường phổ thông, nhất là bậc trung học phổ thông, cần đổi mới phương pháp dạy học, chú trọng phát triển năng lực học sinh để có thể cung cấp nguồn nhân lực cho thị trường lao động Dạy học phân hóa giúp phân loại học sinh phù hợp với giáo dục đại học, cao đẳng hoặc các trường nghề để đáp ứng được yêu cầu đào tạo chuyên sâu về một lĩnh vực khoa học hoặc ngành nghề chuyên biệt
Trang 2415
1.3 Các cấp độ và hình thức dạy học phân hóa
1.3.1 Các cấp độ dạy học phân hóa
Dạy học phân hóa được phân biệt giữa phân hóa vi mô (phân hóa trong)
và phân hóa vĩ mô (phân hóa ngoài)
1.3.1.1 Dạy học phân hóa ở cấp vi mô
Dạy học phân hóa ở cấp vi mô (phân hóa trong) là cách dạy học chú ý tới các đối tượng riêng biệt, cá nhân hóa người học trên lớp, phù hợp với từng đối tượng để tăng hiệu quả dạy học, kết quả phân hóa trong phụ thuộc chủ yếu vào năng lực và phương pháp của người dạy [10]
Phân hóa trong được coi trọng ở tất cả các cấp, lớp học, tất cả các môn học và các hoạt động giáo dục Việc thiết kế yêu cầu cần đạt chuẩn của chương trình và đặc biệt cách biên soạn sách giáo khoa cần chú ý đến các yêu cầu và mức độ khác nhau của cùng một đề tài Để thực hiện phân hóa trong có hiệu quả, cần đề cao phương pháp dạy học của giáo viên và cách kiểm tra, đánh giá kết quả học tập
Việc dạy học phân hóa trong xuất phát từ những quan điểm sau:
- Yêu cầu đối với học sinh có sự giống nhau về những đặc điểm cơ bản như yêu cầu của người lao động trong cùng một xã hội và có sự khác biệt về trình độ phát triển, về khuynh hướng, sở trường của từng cá thể
- Trong cùng một lớp học, học sinh vừa có sự giống nhau về đặc điểm tâm sinh lý, vừa có sự khác nhau về trình độ phát triển nhân cách, trong đó sự giống nhau là cơ bản Chính vì thế, ta mới có thể dạy học trong một lớp học thống nhất
- Quá trình dạy học có thể bị những tác động khác nhau từ những điểm khác nhau giữa các học sinh: Tác động tích cực, tác động ngăn trở hoặc tác động không ảnh hưởng gì tới quá trình dạy học
Trang 2516
- Từ yêu cầu giống nhau của xã hội và sự khác nhau về trình độ phát triển nhân cách, trí tuệ của từng người trong một tập thể đòi hỏi một quá trình dạy học thống nhất có sử dụng các biện pháp phân hóa nội tại
- Để đảm bảo dạy học phân hóa hiệu quả, điều kiện cần thiết là giáo viên phải nắm rõ năng lực, sở trường và sở thích của từng học sinh
- Dạy học phân hóa là cần thiết để được xây dựng thành một kế hoạch lâu dài, có hệ thống, có mục tiêu
1.3.1.2 Dạy học phân hóa ở cấp vĩ mô
Dạy học phân hóa ở cấp vĩ mô (phân hóa ngoài) là cách tổ chức dạy học theo các chương trình khác nhau cho các nhóm người học khác nhau nhằm đáp ứng được nhu cầu, sở thích và năng lực của từng nhóm người học Việc thiết kế chương trình dạy học và nội dung các môn học là yếu tố quyết định kết quả phân hóa ngoài [10]
Phân hóa vĩ mô thể hiện ở các môn học tự chọn, các chủ đề, chuyên đề học tập lựa chọn theo nguyện vọng và định hướng nghề nghiệp
Phân hóa trong phổ biến, được chú trọng và thực hiện ở tất cả các cấp học Phân hóa ngoài được thực hiện tăng dần cấp độ ở các cấp học của giáo dục phổ thông, đặc biệt là ở cấp học trung học phổ thông, giai đoạn hướng nghiệp
Phân hóa ngoài có nhiều hình thức tổ chức khác nhau, ví dụ như dạy học phân ban, dạy học tự chọn, dạy học phân ban kết hợp với dạy học tự chọn
1.3.2 Các hình thức dạy học phân hóa
1.3.2.1 Hình thức dạy học phân hóa vi mô
Phân hóa vi mô (phân hóa trong) được quán triệt ở tất cả các cấp, lớp học, tất cả các môn học, hoạt động giáo dục Để thực hiện hướng phân hóa này, việc thiết kế yêu cầu cần đạt của chương trình và cách biên soạn sách giáo khoa cần chú ý đến các yêu cầu và mức độ khác nhau của cùng một vấn đề/đề tài Ngoài ra để phân hóa trong có hiệu quả, cần đề cao phương pháp dạy học của giáo viên và cách kiểm tra, đánh giá kết quả học tập
Trang 2617
Dạy học phân hóa vi mô được thực hiện dưới nhiều hình thức
a Đối xử cá biệt ngay trong những pha dạy học đồng loạt
Trong giờ học, giáo viên sử dụng các phương pháp quan sát, vấn đáp, kiểm tra để phát hiện những sự khác biệt giữa các học sinh về khả năng tư duy, nhận thức và trình độ phát triển, từ đó lập kế hoạch sử dụng những biện pháp phân hóa như phân hóa trong từng nhiệm vụ, giao nhiệm vụ phù hợp với từng đối tượng, có sự gợi ý, giúp đỡ khác nhau với các đối tượng khác nhau, hình thức và mức độ kiểm tra đánh giá khác nhau, khuyến khích học sinh yếu kém khi làm những bài tập dễ hoặc khi học sinh xung phong xây dựng bài, tận dụng những khả năng riêng biệt của từng học sinh
b Tổ chức những pha phân hóa trên lớp
- Trong quá trình dạy học, thầy giáo có thể thực hiện những pha phân hóa tạm thời, tổ chức cho học sinh hoạt động một cách phân hóa, áp dụng khi trình độ học sinh có sự sai khác lớn, có nguy cơ yêu cầu quá cao hoặc quá thấp nếu cứ dạy học đồng loạt Giáo viên giao nhiệm vụ phân bậc cho các đối tượng học sinh, quan sát và điều khiển quá trình hoạt động của học sinh, tổ chức các hoạt động có sự tương tác giữa các đối tượng
c Phân hóa bài tập về nhà
Giáo viên cũng cần phân hóa bài tập về nhà cho học sinh Mỗi đối tượng học sinh có số lượng bài tập và độ khó khác nhau Những điều cần lưu ý:
- Số lượng bài tập cùng loại cần phù hợp với từng đối tượng học sinh để cùng đạt một yêu cầu chung
- Phân hóa về nội dung bài tập để phù hợp với trình độ của các đối tượng học sinh, không cao quá đối với học sinh yếu kém và không thấp quá đối với học sinh giỏi
- Phân hóa yêu cầu về mặt tính độc lập, các yếu tố dẫn dắt, câu hỏi gợi
ý của bài tập dành cho học sinh yếu kém nhiều hơn bài tập dành cho học sinh khá giỏi
Trang 2718
- Có những bài tập riêng cơ bản liên quan đến bài học sau dành riêng cho học sinh yếu kém
- Có những bài tập riêng nâng cao, rèn tư duy cho học sinh giỏi
1.3.2.2 Hình thức dạy học phân hóa vĩ mô
Theo Đỗ Ngọc Thống: “Có nhiều hình thức tổ chức dạy học phân hóa
vĩ mô (phân hóa ngoài) khác nhau nhưng chủ yếu là hai hình thức sau: Tổ chức dạy học phân hóa theo hướng phân ban và tổ chức dạy học phân hóa theo hướng tự chọn
a Tổ chức dạy học theo hướng phân ban: Mỗi ban bao gồm một nhóm các môn học phù hợp dựa trên yêu cầu của từng nhóm ngành, nghề xã hội Dựa trên năng lực, nguyện vọng bản thân và điều kiện của nhà trường, học sinh sẽ lựa chọn ban phù hợp
Nhà trường và giáo viên có thể tổ chức để học sinh tham gia các nhóm cùng trình độ giỏi – khá – trung bình – yếu kém hoặc các câu lạc bộ học tập theo năng khiếu môn học Ở quy mô quốc gia, dạy học theo các ban: tự nhiên,
xã hội và cơ bản là một hình thức phân hóa vĩ mô
b Tổ chức dạy học theo hướng tự chọn: Học sinh chỉ phải học một số môn học chính và các hoạt động bắt buộc chung Các môn học tự chọn hoặc các chủ đề giáo dục được học sinh đăng kí phù hợp với nguyện vọng, sở trường của bản thân Số lượng môn học và hoạt động giáo dục bắt buộc cũng như các môn, các chủ đề tự chọn thường gắn với đặc điểm và điều kiện môi trường kinh tế - xã hội cụ thể ở mỗi địa phương/quốc gia Để phân hóa sâu và rộng hơn, nhiều quốc gia đưa ra danh mục các môn học tự chọn hết sức phong phú, đa dạng Hiện nay, đa số các nước lựa chọn phương thức này.” [17]
Ví dụ: Ở Hàn Quốc, chương trình cơ bản chung của cả nước bao gồm
các môn học, các hoạt động tự chọn và các hoạt động ngoài giờ lên lớp (ngoài chương trình)
Trang 2819
- Có 10 chủ đề môn học dựa trên các lĩnh vực khác nhau: Tiếng Hàn, Giáo dục đạo đức, Nghiên cứu xã hội, Toán, Khoa học, Nghệ thuật ứng dụng (công nghệ, kinh tế gia đình), Thể dục, Âm nhạc, Nghệ thuật và Ngoại ngữ (tiếng Anh) Tuy nhiên, nội dung môn học cho các lớp 1 và 2 có sự khác biệt bằng việc chỉ học các môn tiếng Hàn, toán, kỉ luật cuộc sống, cuộc sống thông minh, cuộc sống dễ thương và chúng ta là lớp Một
- Các hoạt động tự chọn bao gồm các hoạt động tự chọn theo môn học và các hoạt động tự chọn sáng tạo
- Các hoạt động ngoài giờ lên lớp được phân ra thành hoạt động học sinh tự quản lý, hoạt động thích ứng, hoạt động tự phát triển, hoạt động dịch
vụ xã hội và hoạt động thi đấu thể dục thể thao
Chương trình tự chọn ở cấp trung học phổ thông bao gồm các môn học
và các hoạt động ngoài chương trình
- Các môn học được chia thành môn chung và môn chuyên sâu Môn chung bao gồm: Tiếng Hàn, Giáo dục đạo đức, nghiên cứu xã hội, Toán, Khoa học, Công nghệ và Kinh tế gia đình, Thể dục, Âm nhạc, Nghệ thuật,
Ngoại ngữ, chữ Hán, cổ điển Hy Lạp và tự chọn Các môn học chuyên sâu
bao gồm: các môn học nghiên cứu trong lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp, thương mại, nghề cá và vận tải biển, kinh tế gia đình và giáo dục nghề, khoa học, thể dục, nghệ thuật, ngoại ngữ và quan hệ quốc tế
- Chương trình cơ bản quốc gia nêu các môn học và các hoạt động, bao gồm: Tiếng Hàn, giáo dục đạo đức, Nghiên cứu xã hội, Toán, Khoa học, Thực hành nghệ thuật, Giáo dục thể chất, Âm nhạc, Nghệ thuật, Tiếng Anh, Hoạt động
tự chọn, Hoạt động ngoài giờ lên lớp Học sinh lớp 1 và lớp 2 chỉ học các môn sau: Tiếng Hàn, Sống có kỉ luật, Sống thông minh, Toán, Sống dễ chịu
Lớp 11 và 12 học các môn học tự chọn (Elective subject) với hai loại:
tự chọn cơ bản (general elective) và tự chọn chuyên sâu (intensive elective) Môn Tiếng Hàn: Tự chọn cơ bản là đời sống ngôn ngữ Hàn; tự chọn chuyên
Trang 2920
sâu là: nói, đọc hiểu viết luận, ngữ pháp và văn học Môn Toán, tự chọn cơ bản là thực hành toán, còn tự chọn chuyên sâu bao gồm: Toán I, Toán II, tích phân và vi phân, xác xuất và thống kê, toán rời rạc
Đối với Việt Nam, trong giai đoạn giáo dục cơ bản, nhiệm vụ trọng tâm là giáo dục toàn diện và tích hợp Bên cạnh đó, chương trình giáo dục phổ thông mới thiết kế một số môn học và hoạt động giáo dục theo các chủ đề khác nhau, tạo điều kiện để học sinh lựa chọn những học phần hoặc chủ đề phù hợp với sở thích
và năng lực bản thân cũng như khả năng tổ chức của nhà trường
Áp dụng trong giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp theo hướng: Học sinh học một số môn học bắt buộc (Toán, Ngữ văn, Ngoại ngữ; Giáo dục thể chất, Giáo dục quốc phòng an ninh, Hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp; nội dung giáo dục của địa phương) còn lại học sinh sẽ được tự chọn 5 môn trong 3 nhóm môn gồm: Khoa học xã hội (Lịch sử, Địa lý, Giáo dục công dân); Khoa học tự nhiên (Vật lý, Hóa học, Sinh học); Công nghệ và nghệ thuật (Công nghệ, Tin học, Nghệ thuật) Ở nhóm môn Công nghệ và nghệ thuật, nội dung các môn học cũng được biên soạn theo các học phần để học sinh lựa chọn cho phù hợp Mỗi học sinh phải chọn ít nhất một môn ở mỗi nhóm môn
Ngoài ra, chương trình trung học phổ thông của hầu hết các môn học còn có hệ thống các chuyên đề học tập nhằm phân hóa sâu, giúp học sinh tăng cường kiến thức và kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức giải quyết các vấn
đề của thực tiễn, đáp ứng yêu cầu hướng nghiệp Ở mỗi lớp cấp trung học phổ thông, học sinh được chọn 3 cụm chuyên đề của 3 môn học phù hợp với nguyện vọng của bản thân và điều kiện tổ chức của nhà trường với tổng số tiết chuyên đề một môn là 35 tiết/ năm học Với hệ thống chuyên đề này, học sinh
có cơ hội học sâu một số nội dung chuyên môn nâng cao, phù hợp với những ngành nghề theo đuổi trong tương lai Chương trình giáo dục phổ thông mới
Trang 3021
còn thực hiện phân hóa ở các nội dung địa phương và các môn học tự chọn là Tiếng dân tộc thiểu số và Ngoại ngữ được thực hiện ở tất cả các cấp học
1.4 Quy trình dạy học phân hóa
Muốn tổ chức dạy học phân hóa, trước hết, giáo viên phải tìm hiểu về học
sinh của lớp mình dạy ở trình độ nào, cân bằng mục tiêu học tập và nhu cầu của học sinh, xây dựng kế hoạch bài học với các hoạt động đa dạng, sử dụng các nhóm học tập linh hoạt, hợp tác và tiến hành đánh giá thường xuyên học sinh Theo đó, quy trình dạy học phân hóa được tiến hành theo các khâu sau
1.4.1 Chuẩn bị nội dung dạy học
Trong từng môn học, mỗi học sinh lại có một xuất phát điểm khác
nhau Sự đa dạng của học sinh sẽ gây khó khăn cho giáo viên trong việc tạo môi trường học tập thích hợp Giáo viên là người quyết định hiệu quả của tiết học Vì vậy, việc chuẩn bị nội dung dạy học cần được chú trọng, đặc biệt là
bộ câu hỏi bài tập và giáo án Khi chuẩn bị nội dung dạy học phân hóa, giáo viên trở thành một người tổ chức, sắp xếp các cơ hội học tập trong môi trường một lớp học
Về nội dung, giáo viên cần đi sâu vào giáo án hơn thông qua việc tổ chức, sắp xếp các khái niệm về giáo án và cấu trúc của kiến thức Điều này đòi hỏi giáo viên cần những tài liệu tương tự nhau có thể phù hợp với mọi trình độ
Về quá trình, dạy học phân hóa đòi hỏi giáo viên phải sử dụng nhiều kĩ thuật giảng dạy và nhiều tài liệu để thúc đẩy việc học của học sinh Kết quả đạt được khi dạy học phân hóa: nhận thức và khả năng thể hiện suy nghĩ, ý kiến của học sinh sẽ tiến bộ hơn
Giáo viên nên chuyên biệt hóa nội dung, quá trình và kết quả dựa trên đặc điểm của từng học sinh Các đặc điểm bao gồm trình độ, phong cách học
và sự hứng thú của học sinh Nếu phương pháp học phù hợp với các kĩ năng
và mức độ hiểu của học sinh thì việc học sẽ dễ tiến bộ hơn Giáo viên nên tạo
Trang 3122
một bảng phân công công việc để học sinh có thể hoàn thành theo đúng sở trường của các em Nếu chủ đề của bài học khiến học sinh cảm thấy hứng thú, các em sẽ thấy dễ dàng hơn trong việc tiếp nhận kiến thức
1.4.1.1 Bộ câu hỏi và bài tập phân hóa
Dạy học phân hóa là phương pháp dạy học có tính vừa sức với từng đối
tượng Nhiệm vụ giáo viên đưa ra là phù hợp với trình độ và có thể thực hiện được đối với các đối tượng học sinh Câu hỏi và bài tập là phần không thể thiếu trong quá trình học tập các môn học và đặc biệt là môn toán
Câu hỏi là một dạng cấu trúc ngôn ngữ diễn đạt một yêu cầu mà người
học cần giải quyết, trong đó bao hàm cả cái đã biết và cái chưa biết Câu hỏi
có nhiều loại: Câu hỏi tái hiện, câu hỏi gợi mở, câu hỏi củng cố kiến thức, câu hỏi đóng, câu hỏi diễn dịch, Mỗi loại câu hỏi được sử dụng có ý nghĩa khác nhau trong các tình huống dạy học khác nhau và giữ vị trí nhất định trong quá trình dạy học
Bài tập là một tình huống có vấn đề mà giáo viên đặt ra, đòi hỏi học
sinh phải giải quyết bằng cách biến đổi chúng
Câu hỏi và bài tập là thước đo mức độ phát triển tư duy của học sinh trong quá trình nhận thức Đối với môn toán, trả lời câu hỏi và làm bài tập còn
là rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo, rèn tư duy và trí thông minh Để giúp học sinh phát huy tối đa thì hệ thống câu hỏi, bài tập phải mang tính vừa sức với khả năng của học sinh để giúp học sinh phát huy tối đa năng lực giải quyết vấn đề Câu hỏi và bài tập phân hóa là loại câu hỏi và bài tập có hệ thống, mang tính khả thi để những học sinh khác nhau có thể tiến hành những hoạt động khác nhau phù hợp với trình độ khác nhau của học sinh, phát huy được hết khả năng hiện có của học sinh Qua việc trả lời các câu hỏi và các thao tác giải bài tập phân hóa, học sinh bộc lộ rõ năng lực, trình độ, điểm mạnh và điểm yếu về kiến thức, kĩ năng của bản thân
Trang 3223
Việc soạn và sử dụng được hệ thống câu hỏi và bài tập phân hóa tốt sẽ giúp giáo viên đạt hiệu quả cho từng tiết học và tạo ra thách thức về mặt trí tuệ cho học sinh, giúp học sinh đạt được nhận thức cao hơn
Khi xây dựng câu hỏi và bài tập kiểm tra, giáo viên phải thiết kế phù hợp
chuẩn kiến thức, kĩ năng và định hướng phát triển năng lực theo các mức sau:
- Mức 1: Nhận biết, nhận dạng được, nhắc lại được kiến thức, kĩ năng
Việc xây dựng câu hỏi, bài tập theo bốn mức độ trong Thông tư 22 phải phù hợp với đối tượng học sinh, thời gian học tập và lượng chủ đề kiến thức
để tiến hành kiểm tra đánh giá
Ví dụ: Câu hỏi, bài tập thể hiện 4 mức độ theo định hướng của Thông tư 22:
1 Mức 1: Khoanh vào chữ đặt trước câu trả lời đúng:
Một mô hình đồ chơi hình tam giác có độ dài đáy và chiều cao tương ứng lần lượt là 6cm và 10cm Diện tích của mô hình đó là:
(Học sinh thay đúng công thức tính diện tích của hình tam giác)
2 Mức 2: Khoanh vào chữ đặt trước câu trả lời đúng:
Tính diện tích của hình chữ nhật biết độ dài hai kích thước là 40dm và 8m
(Học sinh đổi hai kích thước về cùng một đơn vị đo, sau đó thay đúng vào công thức tính diện tích hình chữ nhật)
Trang 3324
3 Mức 3: Khoanh vào chữ đặt trước câu trả lời đúng:
Một thửa ruộng trồng nông sản hình chữ nhật có chiều rộng 60m, chiều
dài bằng 5
3 chiều rộng Người ta trồng khoai trên thửa ruộng đó và tính được rằng cứ 100m2
diện tích đất thì trồng được 30kg khoai Hỏi trên cả thửa ruộng
đó, người ta trồng được bao nhiêu tạ khoai?
A 18 tạ B 180 tạ C 1800 tạ D 30 tạ
(Học sinh giải quyết bài toán thực tế quen thuộc, học sinh phải tính được chiều dài của thửa ruộng, từ đó tính được diện tích của thửa ruộng và tìm số tạ khoai thu hoạch được)
4 Mức 4: Tổng độ dài hai đáy của một hình thang là 12cm Biết rằng nếu tăng độ dài đáy lớn lên 4cm thì diện tích tăng thêm 12cm2
Hỏi hình thang có diện tích ban đầu là bao nhiêu?
(Học sinh giải quyết vấn đề là muốn tính được diện tích hình thang khi
đã biết tổng độ dài hai đáy thì phải đi tìm chiều cao Từ đó liên hệ chiều cao của hình thang ABCD và chiều cao của hình tam giác BEC)
1.4.1.2 Giáo án phân hóa
Giáo án là kế hoạch và dàn ý giờ lên lớp của giáo viên bao gồm đề tài, mục tiêu, phương pháp, nội dung, thiết bị, những hoạt động cụ thể của giáo viên và học sinh, khâu kiểm tra đánh giá Giáo án được giáo viên chuẩn bị trước khi lên lớp và quyết định sự thành công của tiết học
Trang 3425
Giáo án là bản thiết kế cho tiến trình dạy một tiết học, là bản kế hoạch giáo viên lập ra, dự định sẽ thực hiện giảng dạy trên lớp trên một nhóm đối tượng học sinh hoặc nhiều đối tượng học sinh khác nhau Với bài học khác nhau, các đối tượng học sinh sẽ có những giáo án dạy học khác nhau Giáo viên cần soạn giáo án phân hóa cũng giống như câu hỏi và bài tập phân hóa, cần phải phù hợp với từng đối tượng học sinh Những điều cần lưu
ý khi soạn giáo án phân hóa: Xác định rõ mục tiêu dạy học, tiến hành các hoạt động phân hóa, sử dụng hệ thống câu hỏi và bài tập phân hóa và phân phối thời gian cho từng hoạt động một cách hợp lý
Khi giáo viên nắm được việc học của học sinh diễn ra như thế nào thì việc dạy học phân hóa càng trở nên cần thiết Việc học sinh hiểu rõ các bài học trên lớp đều dựa vào những kiến thức các em đã biết trước, cách học và thái độ của mình Một giáo án dạy học phân hóa sẽ chỉ rõ cách các bài học sẽ thử thách học sinh như thế nào nhưng mức độ sẽ không quá cao, vẫn duy trì phù hợp với khả năng của học sinh Quá trình học sẽ được đẩy mạnh bằng cả cảm xúc và hoạt động Rất nhiều phương pháp và kĩ thuật có thể áp dụng được trong giáo án dạy học phân hóa
1.4.2 Tổ chức dạy học phân hóa trên lớp
1.4.2.1 Phân hóa học sinh
Khi lên lớp, giáo viên phải tiến hành phân nhóm học sinh Có nhiều kiểu phân nhóm học sinh trong đó có hai kiểu phân nhóm được sử dụng nhiều
là phân nhóm theo khu vực và phân nhóm theo trình độ nhận thức
- Phân nhóm theo khu vực là hình thức dạy học theo nhóm nhỏ, mỗi nhóm có thể là một bàn, một tổ hoặc một dãy tùy thuộc vào mục đích của giáo viên, có thể duy trì theo từng hoạt động hoặc cả tiết học
- Phân nhóm theo trình độ nhận thức của học sinh là hình thức phân nhóm theo từng đối tượng học sinh, tuy nhiên hình thức này gặp khó khăn do
vị trí ngồi rời rạc của từng đối tượng
Trang 3526
Mỗi cách phân nhóm học sinh có ưu điểm và nhược điểm riêng Phân nhóm theo khu vực giúp học sinh hòa mình vào các hoạt động nhưng dễ khiến học sinh lực học yếu ỷ lại Phân hóa theo trình độ nhận thức giúp học sinh phát huy tối đa khả năng của bản thận, mang tính vừa sức Tùy theo từng hoạt động mà giáo viên có thể áp dụng cách phân nhóm khác nhau để giờ học đạt hiệu quả cao nhất
1.4.2.2 Tổ chức hoạt động phân hóa
Khi giảng dạy trên lớp, tùy vào bài học và mục tiêu, giáo viên tổ chức các pha dạy học đồng loạt gồm các phương pháp dạy học với sự vận dụng linh hoạt Cần xây dựng các hoạt động hỏi phân hóa để bài giảng phù hợp với nhận thức của tất cả các đối tượng học sinh Khi hoạt động, giáo viên cần hướng dẫn học sinh cách thức làm việc, giao lưu ý kiến, phân công nhiệm vụ,
có nhóm trưởng; cần thay đổi luân phiên vị trí để học sinh có cơ hội thể hiện
ở nhiều nhiệm vụ khác nhau
Giáo viên cũng cần đối xử cá biệt, khuyến khích học sinh yếu trả lời câu hỏi dễ, mang tính gợi mở, đặt học sinh khá giỏi vào những tình huống cần
tư duy, tìm tòi, phán đoán
1.4.3 Phân hóa trong kiểm tra, đánh giá
Kiểm tra, đánh giá là khâu quan trọng trong quá trình học tập của học
sinh, cung cấp thông tin phản hồi, giúp giáo viên có thể kịp thời điều chỉnh việc dạy và việc học của học sinh trong quá trình học Đây cũng là một cách dạy học góp phần củng cố, đào sâu, hệ thống hóa lại kiến thức, phù hợp với từng đối tượng học sinh Hiện nay, các phương pháp kiểm tra đánh giá được phân thành 3 nhóm: Quan sát, kiểm tra viết và vấn đáp Các phương pháp này được phân loại và mô tả trong hình dưới đây
Trang 36và giải quyết vấn đề trong một tình huống Qua việc quan sát các thao tác và
kỹ năng làm bài của học sinh, giáo viên có thể đánh giá được hứng thú, thái
độ học tập và phần nào kết quả học tập của học sinh
b Vấn đáp
Kiểm tra vấn đáp giúp hoàn thiện kiến thức cho học sinh khi học sinh nghe bạn trả lời thì có thể tự kiểm tra, bổ sung kiến thức của mình Đây là phương pháp kiểm tra kinh hoạt, mềm dẻo, linh động, giúp bồi dưỡng năng lực diễn đạt kiến thức bằng lời nói, giúp học sinh rèn khả năng phản ứng, phát triển ngôn ngữ, tập cho học sinh trình bày Đối với những câu hỏi tương đối
Câu hỏi nhiều lựa chọn Câu hỏi ghép đôi Câu hỏi đúng sai Câu điền khuyết Câu hỏi bằng hình vẽ
Tự luận
Trả lời tự do hoặc theo
cấu trúc Trả lời ngắn
Điền vào chỗ trống trong
một câu dài Giải bài tập Vấn đáp
Trang 37c Kiểm tra viết
Đây là hình thức kiểm tra được sử dụng nhiều và thường xuyên nhất, thường được sử dụng để kiểm tra – đánh giá khả năng phân tích, tổng hợp và mức độ hiểu biết của người học về vấn đề được hỏi và thông qua đó gián tiếp
có thể đo lường được các chuẩn mực và quan niệm Tùy theo từng yêu cầu cụ thể mà người giáo viên sẽ lựa chọn các phương pháp kiểm tra đánh giá sau cho phù hợp:
- Trắc nghiệm khách quan: Đề thi bao gồm nhiều câu hỏi, mỗi câu nêu
ra một vấn đề cùng với thông tin cần thiết, kèm theo đó là các phương án cho học sinh trả lời Với đề thi trắc nghiệm, nội dung kiến thức kiểm tra phải rộng, số lượng câu hỏi nhiều, đủ cơ sở để đánh giá trình độ của học sinh Đây
là phương pháp kiểm tra mà kết quả không phụ thuộc người chấm, phù hợp với các loại đối tượng có số lượng lớn Tuy nhiên, công cụ kiểm tra – đánh giá tốn thời gian và sức lực để xây dựng, chỉ có thể kiểm tra – đánh giá người học ở cấp trình độ thấp, có thể dẫn tới phân loại sai người học và không kiểm tra – đánh giá được khả năng trình bày, diễn đạt của người học
- Tự luận: Hình thức kiểm tra đánh giá được khả năng diễn đạt kiến thức của học sinh bằng ngôn ngữ viết (đánh giá khả năng trình bày chính xác,
có hệ thống, có chọn lọc); đánh giá được năng lực nhận thức: phân tích, tổng hợp, khát quát hóa, hệ thống hóa kiến thức,… Kiểm tra bằng tự luận giúp học sinh phát triển tư duy logic Đây là cách kiểm tra đánh giá được kiến thức sâu
Trang 3829
sắc và khả năng tự lực nghiên cứu của người học, công cụ đánh giá đơn giản, tuy nhiên, tốn thời gian chấm bài và kết quả phụ thuộc vào người chấm
Kiểm tra – Đánh giá có những yêu cầu nhất định:
- Phải căn cứ vào mục tiêu dạy học, phải kiểm tra – đánh giá những tri thức, kĩ năng, thái độ mà người học cần đạt được sau khi kết thúc quá trình học tập ứng với mỗi nội dung học tập
- Kết quả kiểm tra phải có tính hằng định đối với một trình độ lĩnh hội
- Việc kiểm tra – đánh giá phải phân loại chính xác kết quả học tập của từng đối tượng học sinh
Kiểm tra – Đánh giá được tiến hành theo chu trình 4 bước:
Bước 1: Xác định chuẩn kiểm tra – đánh giá (đánh giá cái gì? Ở mức
độ nào?)
Bước 2: Soạn thảo công cụ kiểm tra – đánh giá (bài thi, đáp án, thang
điểm) và tiến hành kiểm tra – đánh giá
Bước 3: Tập hợp và phân tích kết quả
Bước 4: Công bố kết quả
Kiểm tra viết, nhất là với môn toán, các đề kiểm tra thường gồm phần trắc nghiệm khách quan và phần tự luận Đề kiểm tra cần có tính phân hóa nên phải đáp ứng các yêu cầu sau:
- Câu hỏi và bài tập trong đề kiểm tra phải đáp ứng được yêu cầu của chương trình, nội dung dạy học, chuẩn kiến thức, kĩ năng, phù hợp với trình
Trang 3930
1.5 Câu hỏi và bài tập phân hóa
1.5.1 Nguyên tắc xây dựng bộ câu hỏi và bài tập phân hóa
Câu hỏi và bài tập phân hóa được xây dựng trên cơ sở xây dựng câu hỏi, bài tập nói chung:
- Bám sát mục tiêu dạy học: Khi xây dựng câu hỏi cần bám sát mục tiêu
dạy học của bài Các yêu cầu cần đạt được trong mục tiêu dạy học là nội dung kiến thức, kĩ năng, thái độ Xác định mục tiêu bài học là trả lời câu hỏi: Sau khi học xong bài thì học sinh cần nắm được các kiến thức nào, có kĩ năng gì hoặc hình thành thái độ gì, với mức độ đạt được thì như thế nào
- Đảm bảo phát huy tính tích cực của học sinh: Để phát huy tính tích
cực của học sinh thì câu hỏi, bài tập dùng để dạy bài mới phải đảm bảo vừa sức, tiếp nối những kiến thức đã học, có liên hệ với kiến thức của bài học sau
để kích thích tính tò mò học hỏi của học sinh
- Đảm bảo tính chính xác của nội dung: Câu hỏi là một cách mã hóa nội
dung bài học nên chúng cần được xây dựng đảm bảo tính chính xác, khoa học
- Đảm bảo nguyên tắc hệ thống: Kiến thức trong chương trình học được
biên soạn một cách có hệ thống để học sinh dễ dàng hơn trong việc tự nghiên cứu sách giáo khoa, tự tìm tòi kiến thức, trật tự các câu hỏi được sử dụng cần
có tính logic cao, liên hệ chặt chẽ với nội dung
- Đảm bảo tính thực tiễn: “Học đi đôi với hành”, “Lí luận gắn liền với
thực tiễn” là mục tiêu của giáo dục hiện nay Khi thiết kế, xây dựng hệ thống câu hỏi, cần có những câu gắn liền với các hiện tượng, sự kiện tự nhiên, thực
tế mà học sinh có thể nhìn thấy được sẽ kích thích được hứng thú học tập của học sinh đồng thời có thể giúp các em tự tin hơn trong cuộc sống hàng ngày
Và đặc biệt, hệ thống câu hỏi và bài tập phân hóa phải:
- Dựa theo mức độ nhận thức: Câu hỏi, bài tập phải có đủ 4 cấp độ Nhận biết, Thông hiểu, Vận dụng và Vận dụng cao Với mỗi cấp độ, kiến thức phải phù hợp với tư duy, nhận thức của học sinh
Trang 4031
- Dựa vào trình độ học lực của học sinh: Hệ thống câu hỏi, bài tập phải đầy đủ, bao quát kiến thức và phù hợp với nhiều đối tượng học sinh Mỗi đối tượng học sinh sẽ có hệ thống câu hỏi, bài tập phù hợp với trình độ bản thân, vừa luyện tập, vừa từng bước nâng cao khả năng của mình
- Dựa vào phong cách học tập của học sinh: Mỗi học sinh là một cá thể khác biệt, mỗi người có một phong cách khác nhau
Để soạn được câu hỏi và bài tập phân hóa nhằm phát triển năng lực của học sinh, phù hợp với từng đối tượng thì giáo viên cần:
- Xây dựng một hệ thống các câu hỏi và bài tập phân hóa càng nhiều, mức độ phân hóa càng đa dạng càng tốt Dựa vào hệ thống câu hỏi đó, giáo viên lựa chọn ra câu hỏi và bài tập phù hợp với từng đối tượng học sinh để đưa vào giáo án
- Đối với học sinh yếu kém, tăng số lượng câu hỏi và bài tập yêu cầu tái hiện, còn đối với học sinh khá giỏi thì tăng các câu hỏi và bài tập yêu cầu tư duy, suy luận
1.5.2 Quy trình xây dựng bộ câu hỏi và bài tập phân hóa
1.5.2.1 Phân tích nội dung dạy học
Nội dung chương trình môn học ban hành bởi Bộ Giáo dục và Đào tạo quyết định nội dung dạy học Giáo viên phân tích nội dung sách giáo khoa để xác định đơn vị kiến thức đưa vào bài học, từ đó xây dựng hoạt động cũng như hệ thống câu hỏi, bài tập phù hợp Nội dung được sử dụng cần dựa trên trình độ, mức độ nhận thức của học sinh Giáo viên dựa trên nội dung trọng tâm để xây dựng hệ thống câu hỏi và bài tập phân hóa đầy đủ, chính xác