- Trong tác phẩm văn học, tư tưởng nhân đạo là tình cảm, thái độ của chủ thể nhà vănđối với cuộc sống con người được miêu tả trong tác phẩm.. Giá trị nhân đạo của tácphẩm văn học thể hiệ
Trang 1Kế hoạch dạy học bồi dưỡng HSG môn Ngữ văn 10
CHUYÊN ĐỀ VĂN HỌC TRUNG ĐẠI VIỆT NAM
A.MỤC TIÊU CẦN ĐẠT:
- Nội dung, biểu hiện của Chủ nghĩa nhân đạo trong văn học trung đại
- Luyện đề thi HSG về giá trị nhân đạo trong tác phẩm VHTĐ
B NỘI DUNG CHÍNH
I Vài nét về bối cảnh lịch sử, xã hội Việt Nam từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX
Lịch sử Việt Nam từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX gắn với sự ra đời, phát triển và suyvong của chế độ phong kiến Việt Nam
Dân tộc giành được quyền độc lập tự chủ vào cuối thế kỉ X, lập nhiều kì tích trongcác cuộc kháng chiến chống xâm lược ( Chống quân Tống thời nhà Lý, chống quânMông- Nguyên thời Trần, chống quân Minh thời Lê) Chế độ phong kiến Việt Namnhìn chung đang ở thời kì phát triển đi lên
Bước sang thế kỉ XVI, chế độ phong kiến Việt Nam đã có những biểu hiện khủnghoảng dẫn đến nội chiến và đất nước bị chia cắt
Giai đoạn từ thế kỉ XVIII đến nửa đầu thế kỉ XIX, đất nước có nhiều biến động dữdội.Chế độ phong kiến đi từ khủng hoảng đến suy thoái Bão táp phong trào nôngdân khởi nghĩa nổ ra mà đỉnh cao là phong trào nông dân Tây Sơn của người anhhùng áo vải Nguyễn Huệ đã cùng một lúc lật đổ các tập đoàn phong kiến, đánh tancác cuộc xâm lược của quân Xiêm ở phía Nam, quân Thanh ở phía Bắc
Phong trào Tây Sơn suy yếu, triều Nguyễn khôi phục chế độ phong kiến chuyên chế
và đất nước nằm trước hiểm họa xâm lược của thực dân Pháp
Giai đoạn nửa cuối thế kỉ XIX, thực dân Pháp tiến hành xâm lược Việt Nam Xã hộiViệt Nam chuyển dần từ xã hội phong kiến sang xã hội thực dân nửa phong kiến
“ Văn học là tấm gương phản chiếu lịch sử” Trước hiện thực đời sống xã hội nhưvậy, nhiều nhà văn, nhà thơ cảm thông số phận con người, họ đã đứng trên lậptrường nhân sinh để giải quyết các vấn đề xã hội Đó là thái độ phê phán cái xấu, cáiác; bênh vực, cảm thông với những bất hạnh, đau khổ của con người…
Những nét trên của hoàn cảnh lịch sử, xã hội và văn học đã làm nền cho cảm hứngnhân đạo của văn học trung đại
II Những nét khái quát về cảm hứng nhân đạo trong văn học trung đại việt Nam
1 Khái niệm giá trị nhân đạo
- Nhân đạo là đạo lí hướng tới con người, vì con người, là tình yêu thương giữangười với người
- Nhà văn chân chính là những nhà nhân đạo chủ nghĩa, phất cao ngọn cờ đấu tranhgiải phóng con người và bênh vực quyền sống cho con người
Trang 2- Trong tác phẩm văn học, tư tưởng nhân đạo là tình cảm, thái độ của chủ thể nhà vănđối với cuộc sống con người được miêu tả trong tác phẩm Giá trị nhân đạo của tácphẩm văn học thể hiện cụ thể ở : lòng xót thương những con người bất hạnh; phêphán những thế lực hung ác áp bức, chà đạp con người; trân trọng những phẩm chất
và khát vọng tốt đẹp của con người; đòi quyền sống, quyền hạnh phúc cho conngười…
- Cảm hứng nhân đạo cùng với cảm hứng yêu nước là hai sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn
bộ nền văn học Việt Nam
2 Cội nguồn và những biểu hiện của cảm hứng nhân đạo trong văn học trung đại Việt Nam
* Văn học trung đại Việt Nam phát triển trong sự tác động mạnh mẽ của truyền thống
dân tộc nên chủ nghĩa nhân đạo trong văn học trung đại Việt Nam vừa bắt nguồn từtruyền thống nhân văn của người Việt Nam từ cội nguồn văn học dân gian biểu hiện
qua lối sống “ thương người như thể thương thân” trong ca dao, tục ngữ Việt
Nam Đặc biệt chủ nghĩa nhân đạo trong văn học trung đại Việt Nam chính là sự kếthừa và phát huy giá trị nhân văn trong kho tàng truyện cổ tích Việt Nam Đó là tìnhyêu thương giữa con người với con người đặc biệt là những con người bất hạnh trongcác truyện cổ tích như “ Sọ Dừa”, “Thạch Sanh”, “ Chử Đồng Tử”…
Đồng thời, chủ nghĩa nhân đạo trong văn học trung đại Việt Nam còn chịu ảnh hưởng
tư tưởng nhân văn tích cực vốn có của Phật giáo ( sự từ bi, bác ái), Nho giáo( là họcthuyết nhân nghĩa, tư tưởng thân dân), Đạo giáo( là sống thuận theo tự nhiên, hòahợp với tự nhiên)
* Chủ nghĩa nhân đạo trong văn học trung đại rất phong phú , đa dạng:
- Trước hết, yêu nước là một phương diện quan trọng của cảm hứng nhân đạo: khiđất nước bị giặc ngoại xâm giày xéo, nhân dân bị lâm vào cảnh khốn cùng thì yêunước gắn liền với tấm lòng thương dân
-Tấm lòng cảm thông, xót thương của nhà văn trước nỗi thống khổ của con người
- Thái độ lên án, tố cáo những thế lực tàn ác chà đạp lên vận mệnh con người
- Trân trọng ngợi ca, thể hiện niềm tin vào vẻ đẹp của con người
- Đề cao khát vọng của con người về quyền sống, quyền hạnh phúc, quyền tự do,khát vọng về công lí, chính nghĩa
- Đề cao những quan hệ đạo đức, đạo lí tốt đẹp giữa con người với con người
- Đưa ra những giải pháp giúp con người thoát khỏi những bi kịch, bế tắc
Có thể thấy những biểu hiện của chủ nghĩa nhân đạo nói trên qua các tác phẩm
văn học Phật giáo thời Lí ( “ Cáo tật thị chúng”- của thiền sư Mãn Giác, “ Ngôn
hoài”- thiền sư Không Lộ), qua các sáng tác của Nguyễn Trãi, sáng tác của Nguyễn
Bỉnh Khiêm , sáng tác của Nguyễn Dữ Cảm hứng nhân đạo đặc biệt nổi bật ở các tácphẩm thuộc giai đoạn văn học từ thế kỉ XVIII đến nửa cuối thế kỉ XIX như:
Trang 3Chinh phụ ngâm khúc- Đặng Trần Côn- Đoàn Thị Điểm dịch, Cung oán ngâm khúc- Nguyễn Gia Thiều, Thơ Hồ Xuân Hương, Truyện Kiều của Nguyễn Du, Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu…
III Biểu hiện của cảm hứng nhân đạo qua một số tác phẩm văn học trung đại
1 Đồng cảm, xót thương với số phận bi kịch của con người (nhất là người phụ nữ)
*.Với “ Truyện Kiều” của Nguyễn Du
Tác giả Mộng Liên Đường bình luận “ Lời văn tả ra hình như máu chảy ở đầu ngọn
bút, nước mắt thấm ở trên tờ giấy, khiếnai đọc cũng phải thấm thía, ngậm ngùi, đau đớn đứt ruột…” Thật vậy, “ Truyện Kiều” là tiếng nói tha thiết bảo vệ quyền sống
con người Trong vô số nạn nhân của xã hội cũ, Nguyễn Du đặc biệt trân trọng, xótthương cho số phận bất hạnh của người phụ nữ tài sắc mà bất hạnh Tấm lòng củaông trước hết dành cho Đạm Tiên- một người con gái tài sắc:
Nổi danh tài sắc một thì
Xôn xao ngoài cửa hiếm gì yến anh
Nhưng đau đớn thay, cuộc đời nàng lại là cuộc đời của một ca nhi ê chề, đau đớn:
Sống làm vợ khắp người ta
Khéo thay thác xuống làm ma không chồng!
Khi mất, nấm mồ của nàng chỉ là nấm mồ vô chủ, hoang lạnh không hương khói,không người viếng thăm ngay trong ngày lễ tảo mộ
Sè sè nấm đất bên đường
Dầu dầu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh.
Đặc biệt nhân vật Thúy Kiều- nhân vật mà Nguyễn Du dành nhiều tình yêu thương.Khóc thương cho Thúy Kiều, Nguyễn Du khóc cho những nối đau lớn của con ngườikhi tình yêu tan vỡ, tình cốt nhục lìa tan, nhân phẩm bị chà đạp, thân xác bị đọa đày.Nguyễn Du như hóa thân vào nàng Kiều trong từng trang viết để cùng đau với nỗiđau của nhân vật trong kiếp đoạn trường lưu lạc:
Tai họa ập đến với gia đình, Kiều phải hi sinh chữ “tình” để làm tròn chữ “hiếu”.Nhưng chỉ có Nguyễn Du mới hiểu được nỗi đau đớn của Kiểu khi phải trao duyêncho Thúy Vân, nhờ em trả nghĩa cho chàng Kim
Ôi Kim Lang hỡi Kim Lang!
Thôi thôi! Thiếp đã phụ chàng từ đây!
Còn gì đau xót hơn khi mối tình đầu Kim- Kiều vừa chớm nở đã ly tan Lời thề vớiKim Trọng vừa trao thì Kiều phải bán mình để cứu gia đình Khóc cho tình cốt nhụclìa tan, nhà thơ đồng cảm với cảnh kẻ đi người ở trong ngày chia ly gia đình:
Đau lòng kẻ ở người đi,
Lệ rơi thấm đá, tơ chia rũ tằm
Trang 4Từ đây,tài sắc vẹn toàn, tấm lòng thủy chung, hiếu thảo của Kiều phải chịu sự chàđạp , xúc phạm ghê gớm.Tài sắc của nàng bị đem ra mua bán, cò kè mặc cả như mónhàng giữa chợ:
Đắn đo cân sắc, cân tài,
Ép cung cầm nghuyệt thử bài quạt thơ.
Rồi từ một tiểu thư đài các, Kiều trở thành một kĩ nữ lầu xanh, bị tước đoạt quyềnlàm người, quyền sống, quyền hạnh phúc
Khi tỉnh rượu, lúc tàn canh,
Giật mình, mình lại thương mình xót xa.
Cuộc gặp gỡ với Thúc Sinh đã không đem lại kết quả như ý Kiều đã bị Hoạn
Thư-vợ cả của Thúc Sinh hành hạ trong cơn ngứa ghẻ hờn ghen và rơi vào cảnh trớ trêu:
Cùng trong một tiếng tơ đồng,
Người ngoài cười nụ, người trong khóc thầm!
Đau đớn cùng cực, Kiều tìm cách thoát khỏi nhà Hoạn Thư , định nương nhờ cửaphật nhưng lại rơi vào tay Bạc Bà, Bạc Hạnh và bị bán vào lầu xanh lần thứ hai Ởđây, Kiều đã gặp Từ Hải- người anh hùng “ Đầu đội trời, chân đạp đất” tưởng đờiKiều sẽ rực sáng nhưng nàng lại mắc lừa Hồ Tôn Hiến và vô tình giết chết Từ Hải đểrồi phải chịu cảnh “ Nửa đám ma chồng, nửa tiệc quan” Hồ Tôn Hiến đã bắt nànghầu đàn, hầu rượu trong tiệc mừng công của hắn rồi hắn lại ép gả nàng cho viên thổquan.Tủi nhục, bế tắc, Kiều đã nhảy xuống sông Tiền Đường tự vẫn Nguyễn Dukhông cầm được nỗi xót thương vô hạn:
Thương thay cũng một kiếp người,
Hại thay, mang lấy sắc tài làm chi!
Bằng trái tim tràn đầy yêu thương, Nguyễn Du đã xót thương cho kiếp đoạn trườngcủa những người phụ nữ tài hoa bạc mệnh
Đau đớn thay phận đàn bà,
Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung.
Đó là sự thương cảm cũng là sự xót đau của nhà thơ cho số phận con người trước sựbất công của xã hội
* Trong “ Chinh phụ ngâm khúc”- của Đặng Trần Côn- Đoàn Thị Điểm dịch
Người phụ nữ trong tác phẩm là nạn nhân của chiến tranh phong kiến phi nghĩa Có
thể nói tác phẩm “ Chinh phụ ngâm khúc” là tiếng kêu khắc khoải của người vợ trẻ
có chồng bị cuốn vào cuộc chiến tranh phi nghĩa Người chồng ra trận đối đầu với cái
chết Người vợ ở nhà thì buồng cũ chiếu chăn, sống cảnh đơn độc, vò võ mòn mỏi
chờ mong , lo âu phấp phỏng: lo cho chồng nơi chiến địa, lo cho tuổi xuân của mìnhlặng lẽ trôi qua:
“ Thiếp rầu thiếp, lại rầu chàng chẳng quên”.
Nỗi cô đơn gặm nhấm dần tuổi trẻ, người chinh phụ không khỏi lo lắng cho sự tàn tạcủa mình:
Trang 5“ Gái tơ mấy chốc xảy ra nạ dòng”.
Nàng khao khát gặp lại chồng, dù chỉ một lần thôi, song , chiến tranh đẩy họ ra xanhau, mỗi người một phương biền biệt
“ Thiếp trong cánh cửa, chàng ngoài chân mây”
Nỗi sầu chia li nặng nề tưởng như phủ lên màu biếc của trời mây, trải vào màu xanhcủa ngàn núi.Họ chia li về hình hài thể xác, nhưng tình thương và nỗi nhớ, sự gắn bóthì không chia li, rời cắt Họ cố dõi theo nhau, tìm nhau để mãi mãi thấy nhau Vậy
mà càng cố gắng, họ càng tuyệt vọng:
“ Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai,”
Từ “sầu” trong câu thơ như đúc kết lại tất cả những cung bậc tình cảm.Nỗi buồn libiệt đã nhân lên, dâng trào, trở thành một khối sầu thương, trĩu nặng trong tâm hồnngười chinh phụ Nỗi sầu chia li giày vò, người chinh phụ chỉ còn biết tìm chút hạnhphúc trong mộng mị:
Duy còn hồn mộng được gần
Đêm đêm tìm đến giang tân tìm người…
Còn chiến tranh, người phụ nữ còn phải chịu nhiều đau khổ
2 Lên án, tố cáo những thế lực chà đạp lên thân phận con người.
các tác giả văn học trung đại đã lên án, tố cáo xã hội phong kiến bất công đã tước điquyền sống, chà đạp lên con người
Trước hết, đó là cuộc chiến tranh phong kiến phi nghĩa đã làm bao gia đình rơi vàocảnh li tán: mẹ mất con, vợ lìa chồng:
* Trong “ Chinh phụ ngâm khúc” của Đặng Trần Côn – Đoàn Thị Điểm dịch.
Chiến tranh phong kiến chính là tội ác đẩy đôi vợ chồng trẻ vào cuộc chia ly ai oán.Người chồng ra trận đối mặt với cái chết, người vợ ở nhà sống trong nỗi sầu thươngkhắc khoải: lo cho chồng nơi chiến địa, lo cho tuổi xuân của mình lặng lẽ trôi qua.Nỗi sầu chia ly của người chinh phụ lúc tiễn chồng ra trận như nhuốm cả vào mâytrời, núi non cảnh vật Cuộc sống của người chinh phụ trong tác phẩm chính là lời tốcáo đanh thép chiến tranh phi nghĩa đã chia lìa hạnh phúc lứa đôi của con người.Tácphẩm trở thành bản cáo trạng kết án chiến tranh phong kiến phi nghĩa chà đạp lênquyền sống, quyền hạnh phúc của con người “ Chinh phụ ngâm khúc” không trựctiếp miêu tả chiến tranh với toàn bộ sự khốc liệt gian khổ của nó Tác giả chỉ gợi lại
cả một thời loạn lạc trong một câu mở đầu khúc ngâm “ Thuở trời đất nổi cơn gió
bụi” Hình ảnh chiến trường trong tác phẩm cũng chỉ là hình ảnh tưởng tượng của
người chinh phụ.Toàn bộ khúc ngâm là tâm trạng người chinh phụ.Trong những ngàychia li dằng dặc, tâm trạng ấy diễn biến phức tạp, là một chuỗi những lưu luyến, sầunhớ, chờ đợi, lo lắng.Thế nhưng, người đọc vẫn thấy rõ sự phi lí, tàn nhẫn của chiếntranh.Chiến tranh đối lập với hạnh phúc, phá hoại hạnh phúc Bởi vậy, toàn bộ khúcngâm trở thành bản cáo trạng lên án chiến tranh phong kiến, đòi quyền hạnh phúccho con người Nguyện vọng sum họp, hạnh phúc lứa đôi của người chinh phụ thống
Trang 6nhất với nguyện vọng của đông đảo nhân dân đang phản đối và chán ghét nội chiếnphong kiến Điều đó làm nên một phần quan trọng giá trị của tác phẩm.
3 Ngợi ca, trân trọng vẻ đẹp của con người.
Có thể nói đây là cảm hứng lớn trong văn học trung đại.Bằng tấm lòng nhân ái, cáctác giả đã phát hiện và ngợi ca những vẻ đẹp của con người đặc biệt là người phụ nữ
Truyện Kiều của Nguyễn Du là tác phẩm tôn vinh những vẻ đẹp nhân bản của con
người, thể hiện niềm trân trọng, ngợi ca, ngưỡng mộ của nhà thơ với vẻ đẹp hình thể,tài năng và tâm hồn của con người Dưới ngòi bút nhân đạo của Nguyễn Du hình ảnh
người phụ nữ, văn nhân, võ tướng trong “ Truyện Kiều” hiện lên thật đáng trân trọng.
Trước hết là bức chân dung của Thúy Vân và Thúy Kiều, Nguyễn Du đã dùng bútpháp ước lệ trong văn học cổ để khắc họa vẻ đẹp toàn bích toàn mĩ của hai kiều.Thúy Vân được miêu tả với một vẻ đẹp tươi tắn, trẻ trung của một cô gái đang độtrăng tròn:
Vân xem trang trọng khác vời.
Khuôn trăng đày đặn, nét ngài nở nang.
Hoa cười ngọc thốt đoan trang,
Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da.
Vẻ đẹp của Thúy Vân là vẻ đẹp phúc hậu, cao sang quý phái, vẻ đẹp khiến người takính nể, chấp nhận một cách êm đềm và tạo hóa cũng nâng niu, nhường nhịn
Với Thúy Kiều- nhân vật chính, Nguyễn Du đã dành nhiều tình cảm cho nhân vật.Nguyễn Du miêu tả Thúy Vân trước là muốn dùng Vân làm nền cho vẻ đẹp củaThúy Kiều tỏa sáng Vẻ đẹp của Thúy Kiều là sự kết hợp của sắc- tài- tình- mệnh
Về nhan sắc, Nguyễn Du chỉ tập trung miêu tả vẻ đẹp của đôi mắt là cửa sổ tâm hồn,thể hiện phần tinh anh của tâm hồn và trí tuệ, sự mặn mà của tình cảm:
Làn thu thủy, nét xuân sơn,
Hoa ghen thua thắm liễu hớn kém xanh.
Gợi tả vẻ đẹp của giai nhân, tác giả sử dụng những hình tượng nghệ thuật ước lệ
“thu thủy” (làn nước mùa thu), “xuân sơn” (dáng núi mùa xuân) Hình ảnh ẩn dụ ấy
thể hiện sự sống động của đôi mắt sáng long lanh, linh hoạt, và đôi lông mày thanh
tú trên gương mặt trẻ trung Nét vẽ thi nhân thiên về gợi và chủ yếu nói vè chiều sâu
và sự lan tỏa của vẻ đẹp chứ không mang tính chất liệt kê, đã tạo một ấn tượng sâuđậm về vẻ đẹp của một giai nhân tuyệt thế Đó là vẻ đẹp rực rỡ, đằm thắm, hấp dẫn,duyên dáng của người con gái khiến tạo hóa phải ganh ghét, đố kị.Vẻ đẹp của Kiềunhư có một sức mạnh kì diệu làm khuynh đảo nhân tâm thiên hạ
Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh.
Một hai nghiêng nước nghiêng thành
Sắc đành đòi một tài đành họa hai.
Về tài năng,nếu ở Thúy Vân, ta chỉ thấy tác giả gợi tả nhan sắc thì ở Kiều ,Nguyễn Du dành tới hai phần miêu tả tài năng và tâm hồn kiều là một cô gái đa tài,
Trang 7đủ cả cầm, kì, thi, họa Tài năng của nàng đạt đến mức lí tưởng theo quan niệm thẩm
mĩ phong kiến tài nào cũng thành nghề riêng, đạt đến bậc thầy Đặc biệt, tài đàn củaKiều là sở trường, là năng khiếu vượt trội hơn người:
Thông minh vốn sẵn tính trời,
Pha nghề thi họa đủ mùi ca ngâm.
Cung thương làu bậc ngũ âm,
Nghề riêng ăn đứt hồ cầm một chương.
Không chỉ có sắc đẹp “nghiêng nước nghiêng thành”, tài năng bẩm sinh hơn người,Kiều còn có một tâm hồn, một nhân cách đáng trân trọng Trước hết, bản đàn “ Bạcmệnh” do Kiều sáng tác chính là sự ghi lại tiếng lòng của một trái tim đa sầu đa cảm Trong quan hệ với Kim Trọng, Kiều luôn thể hiện mình là một người yêu chungthủy Trong suốt mười năm năm lưu lạc với bao biến cố, thăng trầm lớn lao nhưngmối tình với Kim Trọng vẫn là tình yêu đầu tiên, duy nhất và mãi mãi của nàng Bởivậy, trong cảnh ngộ ở lầu Ngưng Bích, nàng đã quên đi nỗi đau của bản thân để nhớ
về Kim Trọng trong sự mặc cảm bản thân vì nàng cho rằng mình là kẻ đã phụ tìnhchàng Kim:
Tưởng người dưới nguyệt chén đồng,
Tin sương luống những rày trông mai chờ.
Bên trời góc bể bơ vơ,
Tấm son gột rửa bao giờ cho phai.
Trong quan hệ gia đình, nàng luôn là người con hiếu thảo: Trong khi gia đình gặpgia biến, bị thằng bán tơ vu oan rồi lâm vào cảnh cha và em trai bị bắt trói, tài sản bị
“ sạch sành sanh vét”, Kiều đã tự nguyện hi sinh bản thân mình để cứu gia đình.Nàng đã hi sinh mối tình đầu vừa chớm nở với Kim Trọng để làm tròn chữ Hiếu
Lựa chọn ấy cũng là bởi nàng luôn nghĩ “ Làm con trước phải đền ơn sinh thành”.
Đến khi bị giam lỏng ở lầu Ngưng Bích, tương lai mù mịt, cuộc sống trước mắt là địangục trần gian vậy mà nàng đã quên đi nỗi đau của mình để dành tất cả tình thươngnhớ thắm thiết về cha mẹ Nhớ về cha mẹ, nàng đau đớn xót xa khi đạo làm con chưavẹn toàn chữ Hiếu Nàng xót xa khi cha mẹ già yếu mà nàng không được tự taysớmhôm chăm sóc Nàng nghẹn lòng khi tưởng tượng sự đổi thay của quê nhà mà sự thayđổi lớn nhất là cha mẹ ngày một già yếu:
Xót người tựa cửa hôm mai,
Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ.
Sân Lai cách mấy nắng mưa,
Có khi gốc Tử đã vừa người ôm.
Trong cảnh ngộ ở lầu Ngưng Bích, kiều là người đáng thương nhất nhưng nàng đãquên đi cảnh ngộ của bản thân để nghĩ về Kim Trọng, nghĩ về cha mẹ Thật vô cùngxúc động trước tấm lòng thủy chung, hiếu thảo, vị tha đáng trọng của người con gái
họ Vương
Trang 8Trong quan hệ xã hội, Kiều cũng là người vô cùng trọng ơn nghĩa và nhânhậu.Chúng ta hẳn còn nhớ, khi được Từ Hải giúp đỡ, Kiều đã trả ơn những người đãgiúp đỡ mình và người đàu tiên được nàng trả ơn là Thúc Sinh.
Cho gươm mời đến Thúc Lang,
Mặt như tràm đổ mình dường rẽ run.
Gặp lại người xưa trong hoàn cảnh khác hẳn, nhất là thấy điệu bộ sợ hãi của ThúcSinh, Kiều vừa xúc động và không khỏi cảm thương.Nàng nhắc lại quá khứ, nhữngngày tháng hạnh phúc êm đềm nhưng ngắn ngủi của hai người với tấm lòng trântrọng Nàng khẳng định tình xưa nghĩa cũ nặng tựa nghìn ngọn núi Nàng tỏ lòng biết
ơn chân thành, sâu sắc đối với Thúc Sinh và chàng đã cứu nàng ra khỏi lầu xanh, đãcho nàng được hưởng những ngày tháng êm ấm dưới mái ấm gia đình Không chỉvậy, nàng còn thấu hiểu hoàn cảnh của Thúc Sinh và nàng biết thủ phạm gây đau khổcho nàng không phải là Thúc Sinh:
Sâm Thương chẳng vẹn chữ tòng,
Tại ai, há dám phụ lòng cố nhân?
Kiều sai ban thưởng cho Thúc Sinh “ Gấm trăm cuốn, bạc nghìn cân”, nhưng nàng
vẫn nghĩ bao nhiêu gấm vóc lụa là cũng không xứng với nghĩa nặng tình thâm vàchưa thể trả hết ơn nghĩa mà chàng Thúc đã dành cho nàng trong buổi đoạn trườngđầy éo le đau khổ
Còn với Hoạn Thư- người đã gây cho Kiều bao nhiêu đau khổ, nhục nhã Trong mànbáo ân báo oán, bao nhiêu oán giận và quyết tâm trả thù nhưng khi nghe Hoạn Thưbào chữa thì Thúy Kiều lại tha bổng ngay:
Đã lòng tri quá thì nên,
Truyền quân lệnh xuống, trướng tiền tha ngay.
Việc Kiều tha bổng cho Hoạn Thư không phải do tài ăn nói của mụ mà xuất phát từtấm lòng nhân hậu của người con gái họ Vương Kiều vốn có bản tính của con ngườinhân hậu, độ lượng, cũng là một con người thấu tình đạt lý, thông minh, sáng suốt.Bởi vậy, trong hoàn cảnh này tấm lòng vị tha của nàng thật đáng trân trọng.Đây làquan niệm sống nhân nghĩa đã trở thành truyền thống của dân tộc ta.Phải có tấm longnhân đạo sâu sắc, Nguyễn Du mới có sự thấu hiểu, đồng cảm sâu sắc và ngợi ca nàngKiều như vậy
Trong “ Truyện Kiều” Kim Trọng cũng để lại ấn tượng đẹp đẽ với người đọc Kim
Trọng cũng là nhân vật được Nguyễn Du dành nhiều ưu ái và gửi gắm lý tưởng thẩmmĩ.Bởi vậy khi xây dựng nhân vật Kim Trọng, Nguyễn Du đã dành sự ngợi ca mộtbậc văn nhân tài tài tử hội tụ cả tinh hoa của thời đại Kim Trọng xuất hiện trong buổichiều khi chị em Thúy Kiều du xuân trở về với dáng vẻ khoan thai mà đĩnh đạc :
Lỏng buông tay khấu bước lần dặm băng
Nho nhã mà phóng khoáng: “ Đề huề lưng túi gió trăng,
Sau chân theo một vài thằng con con
Trang 9Sự xuất hiện của chàng như xua đi âm khí nặng nề bên nấm mồ vô chủ, làm khônggian như bừng sáng:
Tuyết in sắc ngựa câu giòn,
Cỏ pha màu áo nhuộm non da trời.
Ta có cảm giác Nguyễn Du vẽ bức hình Kim Trọng không phải bằng màu sắc màbằng ánh sáng Ánh sáng trong suốt và tinh khiết, lấp lánh sắc màu khi vầng dươngdọi chiếu Bức chân dung Kim Trọng tỏa hào quang khi vầng dương tình yêu tronglòng Kiều tỏa sáng
Không chỉ đẹp với vẻ ngoài, bức chân dung Kim Trọng còn thể hiện tính cách Cái
cốt cách của một chàng trai: “ Phong tư tài mạo tót vời,
Vào trong phong nhã ra ngoài hào hoa”
Đó là vẻ đẹp hào hoa, phong nhã, lịch sự của một con người xuất thân trong một giađình trâm anh thế phiệt.Có thể nói, Nguyễn Du đã dành cho Kim Trọng những tìnhcảm ưu ái nhất cũng như ông đã dành cho Thúy Kiều.Họ là cặp nhân vật “tài tử giainhân” mà ông gửi gắm nhiều tình cảm.Kim Trọng là người có tình yêu sâu sắc vàtrọng tình nghĩa.Khi biết được hoàn cảnh phải bán mình chuộc cha của Thúy Kiều,chàng vô cùng đau đớn, xót xa Và dù đã kết duyên với Thúy Vân theo nguyện ướccủa Kiều, nhưng không lúc nào Kim Trọng nguôi nhớ người xưa Đến khi đỗ đạt làmquan rồi chàng vẫn dò la tin tức của Kiều và đi tìm nàng khắp nơi Đáng quý hơn nữa
là tấm lòng nhân ái của nàng, khi gặp lại Thúy Kiều sau mười năm năm lưu lạc, khinghe Kiều thổ lộ:
Thiếp từ ngộ biến đến giờ,
Ong qua, bướm lại đã thừa xấu xa.
Chàng Kim đã nói: “ Hoa tàn mà lại thêm tươi,
Trăng tàn mà lại hơn mười rằm xưa.
Đó là cái nhìn đày sự hiểu biết, cảm thông và đày nhân văn của Kim Trọng bởi chànghiểu với Thúy Kiều nàng đã lấy hiếu làm trinh.Đó cũng là cái nhìn đầy tiến bộ củaNguyễn Du vượt ra khỏi quan niệm hẹp hòi của chế độ phong kiến
Trong Truyện Kiều nếu Kim Trọng mang vẻ đẹp của một bậc văn nhân tài tử thì
nhân vật Từ Hải hiện lên với vẻ đẹp của một bậc anh xuất chúng, tướng mạo uy nghi:
Râu hùm hàm én mày ngài,
Vai năm tấc rộng, thân mười thước cao.
Có tài năng xuất chúng “ Côn quyền hơn sức, lược thao gồm tài.”
Bằng tấm lòng hào hiệp, trọng nghĩa khinh tài Từ Hải đã chuộc Kiều ra khỏi lầuxanh và giúp nàng báo ân báo oán làm bớt đi phần nào tủi cực ê chề trong mười nămnăm lưu lạc Từ Hải là hình ảnh tượng trưng cho khát vọng tự do Chàng tựa như ánhsao băng lướt qua màn đêm giông bão tối tăm của cuộc đời Kiều
Trang 10Như vậy, bằng ngòi bút tài hoa và tấm lòng nhân đạo sâu sắc, Nguyễn Du đã ngợi ca
vẻ đẹp của Thúy Vân, Thúy Kiều, Kim Trọng, Từ Hải Đó là biểu hiện của cảm hứngnhân văn trong “ Truyện Kiều”
4 Đồng tình với những ước mơ, khát vọng chân chính của con người.
Trong “ Chinh phụ ngâm khúc” của Đặng Trần Côn và Đoàn Thị Điểm:
Tâm trạng sầu bi, nỗi buồn chờ mong khắc khoải của người chinh phụ có chồng ratrận đã phủ lên màu biếc của trời, tỏa vào màu xanh của ngàn núi.Đó là khát vọnghạnh phúc lứa đôi của người phụ nữ đã được các tác giả cảm thông, đồng tình vàbênh vực
d Trong “ Truyện Kiều” của Nguyễn Du
Có thể nói tác phẩm là bài ca về tình yêu tự do và công lý Quyền sống, quyền tự do
và mưu cầu hạnh phúc là những quyền lợi chính đáng của con người.Nhưng xã hộiphong kiến lúc này không những không đáp ứng những điều ấy mà trái lại còn chàđạp lên quyền sống của con người Nguyễn Du- một nhà nhân đạo chủ nghĩa đã lêntiếng đòi quyền sống, quyền hạnh phúc cho con người Viết Truyện Kiều, Nguyễn
Du đã thể hiện ước mơ của mình về một tình yêu tự do, thủy chung trong sáng và sựcông bằng xã hội
Mối tình Kim – Kiều là bài ca tuyệt đẹp về tình yêu trai gái, nó vượt qua vòng cươngtỏa khắt khe của lễ giáo phong kiến Ngay từ phút đầu gặp gỡ trái tim Kim- Kiều đãrung động xốn xang:
Người đâu gặp gỡ làm chi,
Trăm năm biết có duyên gì hay không?
Kim Trọng cũng là một chàng trai đắm say và táo bạo Sau buổi gặp gỡ với ThúyKiều, chàng đã tìm mọi cách để được gặp Kiều, thuê trọ cạnh nhà Kiều, chờ đợi hàngtháng để được gặp Kiều Nhân câu chuyện cành thoa, chàng đã chủ động bày tỏ tìnhyêu với Thúy Kiều và Kiều đã nhận lời Kim Trọng rồi cả hai cùng thề nguyền đínhước gắn bó trọn đời với nhau:
Đã nguyền hai chữ đồng tâm,
Trăm năm thề chẳng ôm cầm thuyền ai.
Kiều đã tự tình với Kim Trọng trọn một ngày nhân cơ hội cha mẹ và hai em đi vắng
trời tối mới sực tỉnh, nàng vội vã về nhà nhưng cha mẹ và hai em chưa về nên lại “
Xăm xăm băng lối vườn khuya một mình” để trò chuyện thề nguyền cùng Kim
Trọng Bước chân xăm xăm của Thúy Kiều đến nay chúng ta còn thấy ngơ ngác cho
sự táo bạo Tình yêu Kim- Kiều là mối tình vượt khỏi khuôn khổ lễ giáo phong kiếnđồng thời cũng là mối tình thủy chung bất diệt
Cùng với hạnh phúc lứa đôi là khát vọng công lí, khát vọng tự do trong Truyện Kiều Nhân vật Từ Hải trong tác phẩm là hiện thân của công bằng chính nghĩa và
khát vọng công lí , là nhân vật mà Nguyễn Du gửi gắm khát vọng về tự do, công