HÃY GIAO TIẾP KẾ HOẠCH GIÁO DỤC CÁ NHÂN SỔ TAY CỦA NGƯỜI LÀM VIỆC VỚI TRẺ CÓ KHÓ KHĂN VỀ GIAO TIẾP 3... Trong phần này, chúng ta sẽ xem xét việc lập kế hoạch giáo dục cá nhân để giúp
Trang 1HÃY GIAO TIẾP
KẾ HOẠCH GIÁO DỤC CÁ NHÂN
SỔ TAY CỦA NGƯỜI LÀM VIỆC VỚI TRẺ CÓ KHÓ KHĂN VỀ GIAO TIẾP
3
Trang 2Trong phần trước, chúng ta xem xét việc đánh giá trẻ có khó khăn về giao tiếp
Trong phần này, chúng ta sẽ xem xét việc lập kế hoạch giáo dục cá nhân để giúp
trẻ có khó khăn về giao tiếp
Sau khi học xong phần này, chúng ta có thể:
• Giải thích nội dung bảng đánh giá trẻ
• Hiểu rõ mục tiêu ngắn hạn và mục tiêu dài hạn khi làm việc với trẻ có
khó khăn về giao tiếp
• Biết một số hoạt động giao tiếp và chọn ra những hoạt động thích hợp
để dạy trẻ
• Sử dụng các hoạt động này vào việc lập kế hoạch giáo dục cá nhân cho
trẻ
***
Dịch từ “Let’s Communicate – Section 3 – GOAL PLANNING
A handbook for people working with children with communication difficulties
Người dịch: Trần Minh Tân Trung Tâm Hỗ Trợ Phát Triển Giáo Dục Hịa Nhập Cho Người Khuyết Tật, Tp HCM
Trang 4KẾ HOẠCH GIÁO DỤC CÁ NHÂN
Trong phần trước, chúng ta đã xem xét việc đánh giá trẻ có khó khăn về giao tiếp Bây giờ, chúng ta hãy xem xét việc lập kế hoạch giáo dục cá nhân (GDCN) để giúp trẻ vượt qua các khó khăn đó Việc lập kế hoạch giáo dục cá nhân hoàn tất sau khi chúng ta điền đầy đủ thông tin vào trang 4 của bảng đánh giá (xem trang 3)
Lập kế hoạch
giáo dục cá nhân
là sao?
Sau khi đánh giá trẻ, chúng ta cần suy nghĩ xem trẻ cần học những kỹ năng nào Đây chính là các mục tiêu của trẻ Sau đó, chúng
ta cần suy nghĩ xem những hoạt động nào
giúp trẻ học được những kỹ năng mới đó và
ai sẽ thực hiện các hoạt động này Đây chính
là việc lập kế hoạch giáo dục cá nhân
Tại sao chúng
ta phải lập kế hoạch giáo dục cá nhân?
Việc lập kế hoạch giáo dục cá nhân buộc chúng ta phải hiểu đúng nhu cầu của trẻ và biết chính xác cách thỏa mãn các nhu cầu đó Một kế hoạch giáo dục cá nhân
đưa ra các trọng điểm và hướng giải quyết – không có nó, chúng ta không thể đo lường được sự tiến bộ của trẻ hay không biết được chúng ta đang ở chỗ nào trên đường đi tới mục tiêu Một kế hoạch giáo dục cá nhân đạt yêu cầu chắc chắn sẽ giúp trẻ tiến bộ – điều này sẽ động viên mọi người rất nhiều
Khi nào chúng ta nên lập kế hoạch giáo dục cá nhân?
Sau mỗi lần đánh giá khả năng giao tiếp của trẻ chúng ta nên lập kế hoạch giáo dục cá nhân Chúng ta cần cập nhật kết quả đánh giá trẻ theo thời gian, song song đó, chúng ta cũng cần cập nhật kế hoạch giáo dục cá nhân của trẻ Việc đánh giá và việc lập kế hoạch giáo dục cá nhân phải luôn luôn đi đôi với nhau
Hãy chỉ cho tôi cách lập kế hoạch giáo dục cá nhân!
Việc đầu tiên chúng ta cần làm là đánh giá đúng khả năng và nhu cầu của trẻ Từ đó, chúng ta sẽ bắt đầu đề ra mục tiêu của trẻ và lập kế hoạch giáo dục cá nhân – nghĩa là lựa chọn và sắp xếp các hoạt động thích hợp để giúp trẻ đạt được những mục tiêu đó
Trang 5Kế hoạch
giáo dục cá nhân
Mục tiêu dài hạn:
Mục tiêu
ngắn hạn Phương pháp
thực hiện
Người thực hiện
1
2
3
4
Ngày hẹn lần sau:
Giáo viên phụ trách:
………
Ngày: ………
Từng bước lập kế hoạch giáo dục cá nhân
1 Lấy bảng đánh giá ra
2 Xem xét từng kỹ năng giao tiếp của trẻ và chú ý đến những lĩnh vực trẻ gặp khó khăn (các nhu cầu của trẻ)
3 Đây chính là những lĩnh vực khó khăn cần được tiếp tục vượt qua Mục tiêu dài hạn của chúng ta là nhằm khắc phục những khó khăn này
4 Viết những khó khăn này vào trang 4 của bảng đánh giá, dưới tiêu đề “MỤC TIÊU DÀI HẠN” Xem trang 22 của tập tài liệu này
5 Quyết định xem kỹ năng giao tiếp nào trong mục tiêu dài hạn cần được dạy trước Xem trang 4 của tập tài liệu này
6 Hãy đề ra 3 hay 4 kỹ năng có thể giúp trẻ phát triển kỹ năng giao tiếp ở mục tiêu dài hạn Đây chính là các mục tiêu ngắn hạn Hãy viết chúng vào bảng đánh giá, trong cột “MỤC TIÊU NGẮN HẠN”
7 Bây giờ, hãy chọn các hoạt động có tác dụng phát huy từng kỹ năng trong 3 hay 4 kỹ năng trên (Xem các trang về các hoạt động - từ trang 5 trở đi của tập tài liệu này) Viết chi tiết các hoạt động chúng ta đã chọn vào cột “CÁCH THỰC HIỆN”
8 Trong cột “NGƯỜI THỰC HIỆN”, chúng ta ghi tên người sẽ trực tiếp tiến hành các hoạt động với trẻ
9 Điền các chi tiết vào cuối bản kế hoạch giáo dục cá nhân: tên giáo viên phụ trách, ngày đánh giá, ngày hẹn phụ huynh lần sau
10 Đây là kế hoạch giáo dục cá nhân chúng ta lập ra cho trẻ Hãy cùng phụ huynh xem xét lại trước khi hướng dẫn họ thực hiện tại nhà
Trang 6Cũng như ngôi nhà được xây dựng bằng những viên gạch đặt liền nhau; kỹ năng giao tiếp của trẻ được xây dựng bằng những kỹ năng nối tiếp nhau
Chúng ta có thể xem kỹ năng chú ý như là nền móng của ngôi nhà Đó là kỹ năng quan
trọng nhất Không có kỹ năng này, trẻ sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong việc học các kỹ năng khác cần cho việc giao tiếp
Chúng ta có thể xem kỹ năng lắng nghe, kỹ năng bắt chước, kỹ năng luân phiên và kỹ năng vui chơi như những viên gạch xây nên ngôi nhà Các kỹ năng này giúp trẻ có được kiến thức (hiểu biết) và biết sử dụng cử chỉ, điệu bộ - có thể coi như mái nhà Chúng ta có thể coi lời nói như lớp sơn của ngôi nhà Lời nói làm cho ngôi nhà
giao tiếp được trọn vẹn
Khi chúng ta xem xét các lĩnh vực khó khăn mà một đứa trẻ gặp phải, chúng ta cần nhớ đến thứ tự các bước xây dựng một ngôi nhà: Trước tiên là nền móng, kế đó là
tường (xây bằng các viên gạch), rồi đến mái và cuối cùng là sơn Đây cũng là thứ tự để
xây dựng các kỹ năng giao tiếp, là thứ tự mà chúng ta phải theo khi dạy kỹ năng giao tiếp cho trẻ
Điều quan trọng phải nhớ là tất cả các kỹ năng giao tiếp phát triển dần dần theo thời gian, bắt đầu từ khi trẻ mới ra đời, và phụ thuộc vào nhau Không một kỹ năng nào có thể phát triển độc lập Sự phát triển của một kỹ năng có thể dẫn đến sự tiến bộ của các kỹ năng khác
Vì vậy, khi xây dựng tất cả các kỹ năng này, chúng ta đã mở đường cho việc giao tiếp xuất hiện
Trang 7Sơ lược về các trang giới thiệu các hoạt động :
• Trang 6 – 19 giới thiệu các hoạt động có thể được dùng để phát triển các kỹ năng giao tiếp như:
• Chúng ta hãy nhớ là những trang này chỉ đưa ra những gợi ý – chúng ta và phụ huynh cũng có thể đưa ra thật nhiều hoạt động khác có tác dụng tương tự
Trang 8• Đây là khả năng tập trung vào người hay vật chung quanh
• Trẻ cần có khả năng chú ý tốt mới học được kỹ năng mới
• Khả năng chú ý phát triển ngay từ khi trẻ mới chào đời, khi lần đầu tiên trẻ nhìn gương mặt của mẹ
• Sau đó, trẻ dành nhiều thời gian để tập trung vào những hoạt động đơn lẻ và hướng sự chú ý vào người lớn
• Giai đoạn 1 và giai đoạn 2 tập trung vào việc khuyến khích trẻ tỏ ra quan tâm nhiều hơn đến con người và môi trường xung quanh
• Giai đoạn 3 - 5 tập trung vào việc khuyến khích trẻ quan tâm đến những việc đang diễn ra quanh trẻ và chú ý lâu hơn vào các hoạt động phức tạp hơn
Giai đoạn 1: 0-6 tháng
Ẵm trẻ Trò chuyện
và cười với trẻ để trẻ
nhìn chúng ta
Trò chuyện và hát cho trẻ nghe
Treo đồ vật vừa tầm để trẻû
có thể nhìn thấy và đưa
tay chạm vào
Chơi trò cút-hà với trẻ
Giai đoạn 2: 6-12 tháng
Chỉ cho trẻ xem một người đang đi đến
(hay đi qua) Khuyến khích trẻ nhìn chúng ta Nói
về việc ta đang làm cho trẻ nghe
Lăn trái banh qua
lại trước mặt trẻ
Trang 9Giai đoạn 3: 12-18 tháng
Hướng sự chú ý
của trẻ vào tiếng
động và âm
thanh xung
quanh
Chơi các trò chơi có kết hợp âm thanh với hành động
Chơi trò chơi giả vờ
sử dụng các đồ vật
thường dùng trong
sinh hoạt hàng ngày
Giấu đồ vật rồi bảo trẻ tìm
Giai đoạn 4: 18 tháng – 3 tuổi
hay lon sữa, lon bia, v.v
Múa hát các bài đơn giản Bảo trẻ lấy đồ vật và đem đến cho chúng ta
Giai đoạn 5: 3-5 tuổi
Kể chuyện cho trẻ nghe Giấu đồ vật cho
trẻ tìm
Gõ nhịp cho trẻ
Trang 10• Đây là khả năng chăm chú nghe âm thanh và lời nói
• Trẻ cần có khả năng lắng nghe nếu muốn học và hiểu ngôn ngữ lời nói
• Khả năng lắng nghe bắt đầu phát triển ngay từ khi trẻ mới chào đời - khi trẻ nghe âm thanh và có phản ứng với âm thanh đó
• Hai giai đoạn “lắng nghe” đầu tiên tập trung vào việc khuyến khích trẻ lắng nghe tất cả các âm thanh và giọng nói
• Giai đoạn 3 - 5 nhằm khuyến khích trẻ lắng nghe chăm chú hơn để hiểu được âm thanh và lời nói
Giai đoạn 1: 0-6 tháng
Ẵm trẻ và nói chuyện
Chơi với trẻ khi
tắm cho trẻ (biến
việc tắm thành trò
vui)
Trò chuyện với trẻ và hát cho trẻ nghe
Giai đoạn 2: 6-12 tháng
Lắc trống hay lục lạc Khuyến khích
trẻ lắng nghe nhiều loại âm thanh khác nhau
Chơi các trò chơi có
cử động các ngón tay
theo nhịp điệu, bài
hát
Nói chuyện về các đồ vật
Trang 11Giai đoạn 3: 12-18 tháng
Yêu cầu trẻ lấy
những vật trẻ biết rõ Nêu tên các bộ phận của cơ thể để trẻ sờ
vào
Tạo ra nhiều tiếng
động khác nhau khi
chơi
Cho trẻ lựa chọn
Giai đoạn 4: 18 tháng – 3 tuổi
Vừa làm vừa nói cho trẻ
biết việc chúng ta đang
làm
Xây tháp và phá đổ tháp
điệu đơn giản
Giai đoạn 5: 3-5 tuổi
Khuyến khích trẻ chăm chú lắng nghe các
Tạo ra các tiếng
động lớn và nhỏ
cho trẻ bắt
chước
Chơi bán hàng
Trang 12• Đây là khả năng của trẻ biết chờ đến phiên khi chơi với người khác và biết bắt chước người khác (lặp lại các động tác, âm thanh, lời nói, v.v của người khác)
• Trẻ cần có kỹ năng luân phiên để giao tiếp với người khác Trẻ cần có kỹ năng bắt chước để học những kỹ năng mới
• Kỹ năng luân phiên và bắt chước bắt đầu phát triển khi trẻ hãy còn nhỏ, khi trẻ và mẹ lần lượt bắt chước những hành động và âm thanh của nhau
• Hai giai đoạn đầu của kỹ năng “luân phiên và bắt chước” tập trung vào việc phát triển kỹ năng bắt chước và luân phiên thông qua việc tiếp xúc trực tiếp với người khác trong các trò chơi
• Các giai đoạn sau tập trung vào việc cho trẻ tham gia vào những hoạt động phức tạp hơn, đòi hỏi sự hiểu biết và hợp tác nhiều hơn
Giai đoạn 1: 0-6 tháng
Bắt chước tất cả các hành
vi, cử chỉ của trẻ – mỉm
cười, cười thành tiếng,
nhăn mặt, nhíu mày, v.v
Trò chuyện với trẻ và bắt chước âm thanh của trẻ
Thọc léc (cù) cho trẻ
Giai đoạn 2: 6-12 tháng
Biến việc mặc và cởi quần
áo thành trò chơi vui vẻ Chơi cút hà
Chơi các trò chơi với
ngón tay và bàn tay
(vuốt nổ, tùm nụm tùm
nịu, ướp lá khoai chẳng
Luân phiên chọc cười nhau
Trang 13Giai đoạn 3: 12-18 tháng
Giúp trẻ bắt chước
Chơi trò vỗ tay theo
Giai đoạn 4: 18 tháng – 3 tuổi
Luân phiên với trẻ Vẫy tay chào tạm
biệt
khi trẻ cố gắng bắt chước lời nói
Giai đoạn 5: 3-5 tuổi
Hãy để trẻ giúp chúng ta Chơi banh với những
Trang 14• Đây là kỹ năng giúp trẻ học một cách thích thú, có sáng tạo và tưởng tượng trên cơ sở con người và đồ vật xung quanh trẻ
• Trẻ cần biết vui chơi vì thông qua vui chơi trẻ học được tất cả các kỹ năng còn lại cần thiết cho việc giao tiếp
• Kỹ năng vui chơi bắt đầu phát triển ngay sau khi trẻ ra đời, khi trẻ thích thú tạo ra và lắng nghe âm thanh, chăm chú nhìn và đưa tay chạm vào mặt người thân
• Dần dần, trẻ có khả năng chơi các trò chơi phức tạp đòi hỏi phải tuân theo luật chơi
• Giai đoạn 1 và giai đoạn 2 tập trung vào việc dạy cho trẻ các trò chơi đơn giản (với một bạn chơi và đồ chơi đơn giản)
• Các giai đoạn sau sẽ xem xét các trò chơi phức tạp hơn và đòi hỏi nhiều trí tưởng tượng hơn
Giai đoạn 1: 0-6 tháng
Chơi với trẻ – thọc léc
và thổi nhẹ nhẹ lên
người trẻ
Để trẻ sờ mặt
Treo đồ vật cho trẻ nhìn và chạm vào Chơi cút hà
Giai đoạn 2: 6-12 tháng
Chơi trò chơi với các
ngón tay
Chơi trò chơi với cơ thể của trẻ – đu đưa trẻ, tung trẻ lên, thọc léc trẻ
Đưa đồ vật cho trẻ
cầm Trò chuyện
với trẻ về đồ vật
đó
Để trẻ sờ nhiều đồ chơi khác nhau
Trang 15Cột dây vào đồ chơi
cho trẻ kéo Làm đồ chơi biến mất rồi cho
xuất hiện trở lại
Gõ lên nồi và
nhau
Giai đoạn 4: 18 tháng – 3 tuổi
Cùng nhau xây
tháp bằng lon đồ
hộp, lon bia và các
khối gỗ
Làm con rối bằng ngón tay
Chơi cát hoặc
bùn (hoặc đất
sét) với các hộp
gỗ, hộp giấy
Chơi nước
Giai đoạn 5: 3-5 tuổi
Giấu đồ vật trong bao,
cho trẻ sờ và đoán xem
đó là cái gì
Làm một đường đua có nhiều vật chướng ngại
Nặn các con
giống bằng
bùn (hoặc đất
sét)
Làm hộp thư
Trang 16• Đây là khả năng giúp trẻ hiểu biết con người, ngôn ngữ và môi trường xung quanh
• Trẻ cần có khả năng hiểu từ ngữ, cử chỉ – điệu bộ và môi trường xung quanh để tham gia giao tiếp
• Khả năng hiểu biết bắt đầu phát triển ngay từ khi trẻ mới chào đời - khi trẻ bắt đầu hiểu những gì trẻ nghe và thấy
• Rồi nó phát triển thành khả năng hiểu lời nói của người lớn và các môi trường phức tạp
• Giai đoạn 1, 2 và 3 tập trung vào việc khuyến khích việc hiểu biết các điều đơn giản trong sinh hoạt hàng ngày
• Giai đoạn 4 và 5 xét đến việc hiểu biết các từ và các câu đơn giản
Giai đoạn 1: 0-6 tháng
Ẵm trẻ và nói chuyện với
trẻ
Cho trẻ nghe các âm thanh đời thường
Treo lá cây, lon đồ hộp,
v.v cho trẻ thấy và sờ
Trò chuyện với trẻ khi tắm và mặc quần áo cho trẻ
Giai đoạn 2: 6-12 tháng
Trang 17Giai đoạn 3: 12-18 tháng
Giúp trẻ chơi trò
Giai đoạn 4 và 5: 18 tháng – 5 tuổi
Trẻ cần hiểu biết nhiều loại từ Ở
đây xin nêu vài thí dụ
Chọn vài từ ở mỗi cột bên phải;
dạy trẻ hiểu ý nghĩa của chúng
Thường xuyên sử dụng chúng
trong các trò chơi và trong sinh
hoạt hàng ngày Chọn những từ
diễn tả nhu cầu và điều trẻ quan
tâm Dần dần, bổ sung từ mới vào
các cột Đừng hối thúc trẻ Đừng
ép trẻ nói
Từ chỉ người Từ chỉ vật Từ giao tiếp xã
hội
Từ chỉ hành động
Từ chỉ tính chất
Mẹ
Ba Tên của trẻ Oâng Bà Cô, Dì Con (= tôi) Bạn
Sữa Nước
Ly Dĩa Banh Đầu Bàn tay Chân
Xe buýt Bàn Chó
Chào Cám ơn Không Vâng Con muốn
Ở đâu?
Ở đây
Ở đó Cái gì?
Aên Giặt Ngủ Ngồi Uống
Đi Đến Lấy Sờ
Đi bộ Chạy
Lớn Nhỏ Tốt Xấu Cứng Mềm Đẹp Ngọt Sần sùi Láng mịn Chậm
Cách ta nói với trẻ sẽ ảnh hưởng tới
việc tiếp thu của trẻ, nghĩa là ảnh
hưởng tới sự hiểu biết của trẻ Do
đó, chúng ta phải:
• Nói rõ ràng
• Dùng câu đơn giản
• Dùng các từ thông dụng
• Nói về những gì có liên quan
đến trẻ và những gì trẻ nhìn
thấy được
Trang 18• Đây là khả năng sử dụng cử động của
cơ thể, nét mặt và dấu hiệu để biểu lộ tình cảm, ý muốn, v.v
• Trẻ cần biết cách dùng cử chỉ, điệu bộ để bày tỏ bản thân
• Khả năng này phát triển ngay từ khi trẻ mới chào đời - khi trẻ khóc, vặn vẹo thân mình và người mẹ đáp lại bằng cách cho trẻ bú hoặc thay tã cho trẻ
• Nó phát triển thành kỹ năng sử dụng nhiều cử chỉ, điệu bộ tinh tế hơn cùng với lời nói để giao tiếp có hiệu quả
• Ba giai đoạn đầu tập trung vào việc khuyến khích trẻ sử dụng các cử chỉ, điệu bộ đơn giản trong cuộc sống hàng ngày
• Giai đoạn 4 và 5 xem xét việc sử dụng các cử chỉ, điệu bộ đặc biệt hơn trong giao tiếp
Giai đoạn 1: 0-6 tháng
Làm “mặt hề” để trẻ
Nhìn vào mắt trẻ khi nói với trẻ Chỉ cho trẻ xem những
vật ngộ nghĩnh, thú vị
Giai đoạn 2: 6-12 tháng
Giúp trẻ với tay tới
đồ vật Đưa cho trẻ đồ vật trẻ muốn với tay lấy
Nói chuyện về đồ vật
trẻ nhìn thấy Chỉ tay
vào đồ vật đó
Chơi trò chơi với các ngón tay
Trang 19Giai đoạn 3: 12-18 tháng
Vẫy tay chào
Để trẻ chỉ tay
vào đồ vật
trẻ muốn có
Đưa đồ vật cho trẻ và nói cho trẻ nghe về đồ vật đó
Giai đoạn 4 và 5: 18 tháng – 5 tuổi
Trong đời sống hàng ngày, chúng ta dùng cử chỉ điệu bộ kết hợp với lời nói một cách rất tự nhiên Khi trẻ dùng cử chỉ, điệu bộ, chúng ta hãy đáp ứng lại ngay và khen ngợi trẻ Điều quan trọng là những người tiếp xúc với trẻ phải biết ý nghĩa của các cử chỉ điệu bộ mà trẻ sử dụng và cố gắng cùng trẻ sử dụng chúng
Dưới đây xin nêu vài cử chỉ điệu bộ chúng ta có thể sử dụng: