Trẻ em là mầm non tương lai của đất nước, vì thế chăm sóc và giáo dục trẻ em để trở thành những chủ nhân tương lai của đất nước là mục tiêu trọng tâm của giáo dục nước ta. Theo công ước về quyền trẻ em: “Tất cả mọi trẻ em sinh ra đều có quyền bình đẳng, có quyền được tự do vui chơi và có quyền được học hành”. Tuy nhiên, không phải mọi trẻ em sinh ra đều bình thường, một số trẻ không may có những khiếm khuyết khiến cho cuộc sống hằng ngày của các em gặp nhiều khó khăn. Những đứa trẻ này gọi chung là trẻ khuyết tật. Trẻ khuyết tật cũng là một nhóm trẻ trong xã hội, do đó trẻ khuyết tật cũng cần được quan tâm, chăm sóc và đối xử công bằng. Chính vì thế, giáo dục hòa nhập (GDHN) ra đời là giải pháp hữu hiệu và cũng là mô hình giáo dục mang tính nhân văn nhất giúp cho trẻ khuyết tật có cơ hội được hòa nhập với cộng đồng. Ở Việt Nam có hơn 7 triệu người khuyết tật, trong đó có 3 triệu trẻ em khuyết tật. Nằm trong số đó thì tỉ lệ trẻ chậm phát triển trí tuệ (CPTTT) chiếm đông nhất (ước tính 27%). Đồng thời đây cũng là dạng trẻ gặp nhiều khó khăn nhất về nhận thức, về hành vi thích ứng, khả năng hòa nhập trong xã hội. Nhiều công trình nghiên cứu đã chỉ ra rằng, trẻ khuyết tật nói chung và trẻ CPTTT nói riêng cũng có nhu cầu và năng lực học tập như trẻ bình thường khác. Tuy nhiên quá trình giáo dục của các em kéo dài hơn và quá trình phát triển cũng dừng lại sớm hơn. Đồng thời, mức độ chậm mỗi trẻ là không đồng đều do nhiều nguyên nhân khác nhau tạo ra nhu cầu và khả năng cần dược đáp ứng rất khác biệt ở mỗi trẻ. Do đó, không thể giáo dục trẻ CPTTT như những trẻ bình thường mà cần có kế hoạch giáo dục cá nhân (KHGDCN) riêng cho mỗi trẻ. Trong giáo dục trẻ CPTTT, việc xây dựng KHGDCN có một tầm quan trọng đặc biệt. KHGDCN là điều kiện cơ bản của công tác giáo dục hòa nhập, là sự cụ thể hóa các hoạt động của nhà trường đối với từng trẻ. Lập KHGDCN là phương tiên giáo dục đặc biệt giúp trẻ khuyết tật có cơ hội sống độc lập và đạt được vị trí nhất định trong xã hội, đồng thời KHGDCN còn giúp giáo viên giảng dạy hòa nhập được dễ dàng, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục hòa nhập ở trường tiểu học. Giáo viên là người hiểu rõ nhất những khả năng, nhu cầu cũng như những diễn biến sức khỏe, trạng thái tâm lí hằng ngày của trẻ. Giáo viên chính là người trực tiếp tổ chức, thực hiện các hoạt động giáo dục và dạy học tại lớp học mình phụ trách nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục đã đề ra đối với trẻ khuyết tật. Có thể nói rằng, KHGDCN có được thực hiện thành công hay không phụ thuộc phần lớn vào vai trò của người giáo viên.Vì thế, nhiệm vụ của giáo viên trong quá trình dạy hòa nhập cho học sinh CPTTT là phải xây dựng và thực hiện KHGDCN cho học sinh CPTTT. Giáo viên phải xây dựng một chương trình riêng phù hợp với mục tiêu chung của giáo dục học sinh CPTTT (giáo dục dựa trên nhu cầu, khả năng riêng, môi trường sống, triển vọng tương lai của học sinh). Trong những năm gần đây, giáo dục trẻ khuyết tật đã đạt được những thành tựu đáng ghi nhận: số lượng trẻ được huy động ra các lớp hoà nhập ngày càng đông; đội ngũ giáo viên được đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn về GDHN ngày càng tăng cả về số lượng và chất lượng; nhận thức, thái độ của cộng đồng về trẻ CPTTT và GDHN cho trẻ CPTTT có sự thay đổi rõ rệt. Tuy nhiên, hiệu quả quá trình GDHN chưa cao do nhiều nguyên nhân khác nhau: về cơ sở vật chất, về đội ngũ giáo viên, về chính sách quản lí… và phần lớn là do giáo viên trực tiếp giảng dạy hòa nhập chưa có nhiều kinh nghiệm, hầu hết là những giáo viên bình thường và họ chỉ được tham gia những buổi tập huấn ngắn về giáo dục trẻ khuyết tật. Các giáo viên này chưa được cung cấp kiến thức và kĩ năng phù hợp để có thể xây dựng được một bản KHGDCN đáp ứng nhu cầu và khả năng của trẻ, đó là những bản KHGDCN sơ sài, còn tồn tại nhiều bất cập và hạn chế. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để xây dựng được bản KHGDCN phù hợp và có tính khả thi cao, đáp ứng được nhu cầu của trẻ. Từ đó góp phần nâng cao chất lượng giáo dục hòa nhập ở tiểu học. Với những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài: “Thực trạng xây dựng kế hoạch giáo dục cá nhân cho học sinh chậm phát triển trí tuệ ở trường tiểu học Lê Thị Hồng Gấm, Thành phố Tam Kỳ, Tỉnh Quảng Nam”.
Trang 1A PHẦN MỞ ĐẦU
I/ Lý do chọn đề tài
Chúng ta đang sống những năm đầu của thế kỉ XXI, những năm thực hiện chiến lược vì quyền lợi và tương lai tốt đẹp cho mọi người Để đạt được mục tiêu đó không chỉ đòi hỏi sự tham gia của nền giáo dục mà cần có dự chung tay hỗ trợ của tất cả các thành viên trong cộng đồng
Trẻ em nói chung và trẻ khuyết tật nói riêng đều là tương lai của đất nước Điều này đã được khẳng định trong điều 23 Công ước Liên Hợp Quốc về quyền lợi của trẻ em: “ Trẻ em khuyết tật có quyền được chăm sóc đặc biệt, được hưởng quyền giáo dục bình đẳng, được đào tạo để có điều kiện hòa nhập vào xã hội, phát triển nhân cách về cả mặt thể chất lẫn tinh thần nhằm giúp trẻ tham gia tích cực vào cộng đồng”
Giáo dục tiểu học là cấp học cơ bản và là nền tảng của hệ thống giáo dục quốc dân, góp phần hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài của nhân cách, phát triển toàn diện, hài hòa về đạo đức, trí tuệ, thể chất thẩm mỹ làm bàn đạp để đưa các em học tiếp lên cao hơn
Nói đến trẻ em, không phải trẻ nào cũng lành lặn và phát triển tốt, các trẻ khác nhau đều có những thuận lợi và khó khăn trong quá trình phát triển của mình, trong đó có trẻ chậm phát triển trí tuệ Ngay khi chập chững bước vào lớp Một, trẻ gặp rất nhiều khó khăn trong quá trình học tập: Nghe, nói, đọc viết …, ngoài những bất lợi về kiến thức thì các em còn gặp khó khăn trong nhiều vấn đề về kỹ năng, đặc biệt là kỹ năng tự phục vụ bản thân
Trang 2Dạy cho trẻ chậm phát triển trí tuệ ở lớp Một kỹ năng tự phục vụ được xem làm một nhiệm vụ vô cùng quan trọng và mang lại khá nhiều lợi ích, giúp cho trẻ sớm có ý thức, thích nghi với cuộc sống trong gia đình, xã hội, làm chủ được bản thân, hướng đến một mục đích sống lành mạnh hơn Chính vì vậy để phát triển được kỹ năng này, không phải chỉ có giáo viên giảng dạy mà còn đòi hỏi sự phối hợp từ nhiều phía khác nhau, nhưng mục tiêu cuối cùng hướng đến vẫn là giúp cho trẻ chậm phát triển trí tuệ hòa nhập và sống thật có ích cho xã hội Như vậy, làm thế nào để trẻ chậm phát triển trí tuệ có thể phát triển được kỹ năng tự phục vụ bản thân? Đó là một câu hỏi đang cần sự giải đáp Xuất phát từ những lí do trên tôi
quyết định chọn đề tài: “Một số biện pháp hình thành kỹ năng tự phục vụ cho trẻ chậm phát triển trí tuệ ở lớp 1 trường Tiểu học Lê Độ, xã Bình Tú, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam”.
2/ Mục đích nghiên cứu
Đề ra một số biện pháp nhằm góp phần nâng cao chất lượng hình thành kĩ năng tự phục vụ cho trẻ CPTTT, giúp trẻ tự lập trong các hoạt động tự phục vụ bản thân
3/ Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lí luận của việc hình thành kĩ năng tự phục vụ cho trẻ CPTTT ở lớp 1 trường Tiểu học Lê Độ, xã Bình Tú, huyện Thăng Bình, tỉnh
Quảng Nam
Phân tích thực trạng của việc hình thành kĩ năng tự phục vụ bản thân cho trẻ CPTTT ở lớp 1 trường Tiểu học Lê Độ, xã Bình Tú, huyện Thăng Bình, tỉnh
Quảng Nam
Trang 3Đề xuất một số biện pháp hình thành kĩ năng tự phục vụ cho trẻ CPTTT ở lớp 1
4/ Đối tượng nghiên cứu
Một số biện pháp hình thành kĩ năng tự phục vụ bản thân cho trẻ CPTTT ở lớp 1
5/ Phạm vi nghiên cứu
Trẻ CPTTT ở lớp 1 trường Tiểu học Lê Độ, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam
Kĩ năng tự phục vụ
6/Phương pháp nghiên cứu
Phân tích, tổng hợp các kiến thức có liên quan từ sách, báo, tài liệu
Phương pháp quan sát, điều tra
Trang 4II/ NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1 Một số khái niệm có liên quan
1.1.1 Kĩ năng tự phục vụ
Kỹ năng tự phục vụ là năng lực hay khả năng chuyên biệt của một cá nhân
về một hoặc nhiều khía cạnh nào đó được sử dụng để giải quyết tình huống hay công việc phục vụ cho cuộc sống của chính bản thân mình
Đối với lứa tuổi mẫu giáo, tiểu học thì kỹ năng tự phục vụ được hướng dẫn thông qua các việc làm như: Sắp xếp giày dép đúng quy định khi vào phòng học, treo khăn lau mặt đúng nơi quy định, tự xúc ăn,…
1.1.2 Trẻ CPTTT
1.1.2.1 Khái niệm
CPTTT là một khiếm khuyết của sự phát triển não bộ.Trẻ có hoạt động trí tuệ dưới mức trung bình, hạn chế về kỹ năng thích ứng và khuyết tật xuất hiện trước 18 tuổi
Phân loại trẻ CPTTT thường dựa vào chỉ số thông minh IQ Người có chỉ số thông minh từ 75 – 100 là người phát triển bình thường Chỉ số thông minh IQ dưới 75 là người CPTTT, nếu chỉ số IQ 60 – 74 có thể theo học được các lớp hòa nhập trong trường phổ thông Chỉ số thông minh IQ 40 – 60 mức độ chậm vừa có thể tham gia học tại các trường chuyên biệt dành cho trẻ CPTTT Trẻ có chỉ số thông minh IQ dưới 40 mức độ CPTTT nặng có thể học các kỹ năng tự phục vụ bản thân
1.1.2.2 Một số đặc điểm của trẻ CPTTT
* Đặc điểm về tri giác
Trang 5- Tốc độ tri giác chậm chạp, khối lượng hạn chế, khó khăn trong việc phân biệt sự vật hiện tượng Sự khó khăn này được thể hiện rất rõ trong việc phân biệt màu sắc, những nét tạo nên sự giống nhau và khác nhau của sự vật hiện tượng,…
- Thiếu tích cực trng quá trình nhận thức, khi quan sát đối tượng, trẻ thường quan sát qua loa, không quan sát chi tiết, không hiểu rõ nội dung và thường chỉ quan sát trong thời gian ngắn, sau đó lại chuyển sang một hoạt động khác
- Tri giác xúc giác kém, đặc biệt là cảm giác về nhiệt độ: Phản ứng chậm với sự tác động thậm chí là trực tiếp của các tác nhân về nhiệt độ, điều này đồng nghĩa với việc trẻ dễ bị tổn thương do tác động của nhiệt độ gây nên
- cảm giác về vận động cơ thể hạn chế, vận động vụng về chậm chạm, thiếu sự phối hợp giữa các cơ quan (cơ thể, tay, mắt,…)dẫn đến trẻ thường có nhiều động tác thừa Điều này gây khó khăn cho sự định hướng môi trường xung quanh của trẻ
- Phản ứng lời nói, âm thanh chậm cũng là một đặc điểm quan trọng của trẻ chậm phát triển trí tuệ Trẻ dường như “nghe mà như không nghe thấy, nhìn mà như không nhìn thấy”, điều này đã gây cản trở lớn trong học đọc, học nói cũng như trong lĩnh vực hoạt động nhận thức nói chung
* Tư duy:
- Nhiều nhà khoa học cũng như các công trình nghiên cứu khẳng định, tư duy chỉ dừng lại ở tư duy hành động cụ thể, tư duy trực quan cụ thể, tư duy logic kém, không thể đạt đến trình độ của tư duy trừu tượng
- Tính liên tục của tư duy hạn chế
Trang 6- Tư duy thiếu tính phê phán, nhận xét Trong các hoạt động hay thực hiện nhiệm
vụ, trẻ thường khó xác định được đúng hay sai nên không điều khiển được hành vi của mình
* Trí nhớ:
- Chậm nhớ, nhanh quên Đây là đặc điểm trí nhớ nổi bật của trẻ chậm phát triển tri tuệ, trẻ khó nhớ được các thông tin mang tính trừu tượng, khi cần hồi tưởng thì trẻ nhớ không chính xác, thậm chí có thể quên trong thời gian rất ngắn
- Trẻ ghi nhớ máy móc tốt hơn là ghi nhớ ý nghĩa Ví dụ: Khi cho trẻ quan sát con chim, trẻ chú ý đến một đặc điểm là chim bay được, sau đó trẻ quan sát những con vật biết bay khác thì trẻ vẫn cho rằng đó là con chim
- Trẻ chỉ ghi nhớ dấu hiện bên ngoài, ghi nhớ ý nghĩa hay logic đều cực kỳ khó khăn đối với trẻ
* Đặc điểm hành vi:
- Hành vi trẻ chậm phát triển trí tuệ được các nhà khoa học biết đến như là một thách thức lớn không chỉ cho người giáo viên trực tiếp dạy học cho đối tượng này trong lớp học mà còn cho cả các nhà khoa học, nhà nghiên cứu Trong tổng số trẻ chậm phát triển trí tuệ thì có tới 40% trẻ có những biểu hiện hành vi lệch chuẩn (hành vi bất thường) Đặc điểm hành vi của trẻ chậm phát triển trí tuệ được thể hiện trên 3 cấp độ: tự ý thức, tự nhận thức và tự ý thức về mặt xã hội và các kĩ năng xã hội
* Đặc điểm ngôn ngữ:
Việc nghiên cứu tình trạng ngôn ngữ và giao tiếp của trẻ em CPTTT đã được nhiều nhà khoa học đề cập tới như L.S Vugotsky, A.G Spikin, D.B Elkonin, S.L
Trang 7Rubinstein…đều đã có một nhận xét chung: trẻ em CPTTT không chỉ kém về mặt nhận thức mà thường kéo theo sự khiếm khuyết về khả năng ngôn ngữ Các trẻ CPTTT do bị tổn thất trung tâm ( TW thần kinh) kéo theo sự ảnh hưởng nghiêm trọng đến tri giác nghe, hiện tượng co giật hay bị liệt cứng làm tổn thất đến cơ quan vận động ngôn ngữ sẽ nảy sinh các khuyết tật về ngôn ngữ và giao tiếp (như nói khó, không nói được, nói ngọng, nói lắp…)
* Về các mối quan hệ xã hội
- Khó thiết lập mối quan hệ với người khác
- Khó chơi, hợp tác với bạn bè
- Nhiều trẻ có biể hiện, hành vi bất thường
* Về kĩ năng tự phục vụ
Thiếu hoặc yếu một số kĩ năng đơn giản: ăn uống, vệ sinh cá nhân, mặc quần áo, sửa soạn và giữ gìn đồ dùng học tập: sách vở, bút, thước,…
1.2 Các kĩ năng tự phục vụ bản thân cho trẻ CPTTT ở lớp 1
Lớp 1 là giai đoạn mà trẻ được chuyển tiếp từ mầm non lên tiểu học, một thời kỳ có thể nói vô cùng quan trọng và khó khăn đối với mọi trẻ, trong đó có trẻ chậm phát triển trí tuệ.Ở mầm non, trẻ sinh hoạt hay bất cứ việc gì đều nhờ vào cô giáo, tuy nhiên khi bước vào môi trường Tiểu học, được học ngoại trú thì việc dạy cho trẻ khả năng tự phục vụ bản thân là vô cùng cần thiết Chương trình dạy kĩ năng tự phục vụ không chỉ được các nước trên thế giới quan tâm mà ở Việt Nam cũng rất quan tâm đến nội dung này và đã được lên kế hoạch dạy cụ thể trong chương trình dạy trẻ CPTTT ở các trường chuyên biệt
Các kỹ năng sống hàng ngày là những kỹ năng thực tế mà một đứa trẻ khuyết tật cần có để có thể sống tự lập hoặc có một cuộc sống bình thường hơn
Trang 8Các kỹ năng cơ bản được bao gồm như:
- Trong ăn uống: Cách dùng đũa, thìa, muỗng, cất cốc đúng chỗ sau khi uống
- Trong sinh họat cá nhân: Tắm rửa, rửa mặt, chải đầu, đánh răng, tự đi vệ sinh mà không cần người lớn giúp, rửa tay trước khi ăn và sau khi đi vệ sinh, biết treo, sắp xếp quần áo ngăn nắp khi đi học về, sắp xếp gối, mền sau khi ngủ,…
- Trong học tập, vui chơi: Chuẩn bị sách vở, dụng cụ học tập, áo quần khi đi học (tự mặc), trang trí góc học tập cho gọn gàng, sạch sẽ,…
- Trong sinh hoạt xã hội: Vức rác vào thùng, nhặt của rơi trả lại người mất, giúp đỡ bạn bè khi gặp khó khăn,…
* Một số kỹ năng phức tạp hơn như:
- Đi chợ, ví dụ như ra chợ mua rau,
- Tự đi lại bằng phương tiện giao thông công cộng, như là đi xe buýt sang làng khác,
- Tham gia các hoạt động xã hội, như là sinh nhật, đám cưới, đám ma,
- Làm một số việc nhà hữu ích, như là cho gà, cho cá ăn hay phơi quần áo,
- Xử lý những tình huống khẩn cấp, ví dụ như phải biết làm gì khi ai đó bị tai nạn, biết lúc nào thì nên gọi 115
- Các hoạt động đơn giản có liên quan đến công việc/việc làm, như là pha trà
và cà-phê, giúp gia đình mở cửa hàng, hay chuẩn bị bữa ăn,
1.3 Tầm quan trọng của hình thành kĩ năng tự phục vụ cho trẻ CPTTT ở lớp1
Trang 9Tự phục vụ bản thân là một trong những kỹ năng quan trọng thúc đẩy trẻ hoàn thiện mình một cách tốt nhất Đây còn là cơ hội vàng giúp trẻ nhanh chóng khôn lớn và trưởng thành trong cuộc sống Thiếu kỹ năng tự phục vụ sẽ dẫn đến hệ lụy trẻ lười biếng, thụ động và khó khăn khi tham gia vào các hoạt động của tập thể Vì thế, muốn trẻ nên người, chúng ta cần rèn kỹ năng tự phục vụ cho trẻ ngay từ những bậc học nhỏ nhất
Kỹ năng tự phục vụ cho trẻ chậm phát triển trí tuệ là một yếu tố quan trọng có thể giúp trẻ tăng cường tính độc lập và cảm giác về sự thành công Dạy cho trẻ biết các
kỹ năng tự phục vụ, trẻ ý thức được sự cần thiết của việc tự phục vụ bản thân, biết
tự chăm sóc bản thân, tăng cường tính độc lập, trẻ sống có trách nhiệm hơn đối với chính mình, dạy trẻ biết quan sát và làm theo hướng dẫn của người lớn trong các công việc nhỏ hàng ngày… Với những hạn chế do khuyết tật, sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến các hoạt động thể chất và tinh thần Vì vậy, các em có những nhu cầu cấp bách đòi hỏi phải hỗ trợ, kích thích nhu cầu cũng như mong muốn, nỗ lực để đáp ứng của chính bản thân trẻ, giúp các em có thể tham gia hoạt động và hòa nhập với
xã hội dễ dàng
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CỦA VIỆC HÌNH THÀNH KĨ NĂNG
TỰ PHỤC VỤ CHO TRẺ CPTTT Ở LỚP 1 TRƯỜNG TIỂU HỌC LÊ ĐỘ, HUYỆN THĂNG BÌNH, TỈNH QUẢNG NAM
2.1 Vài nét về trường Tiểu học Lê Độ, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam
Trường Tiểu học Lê Độ nằm trên địa bàn xã Bình Tú, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam Đội ngũ giáo viên nhà trường gồm 20 người, trong đó bao gồm cả
Trang 10giáo viên bộ môn Số lượng học sinh gồm 500 em, tuy nhiên học sinh chậm phát triển trí tuệ khá nhiều, khoảng 10 em, điều này gây nhiều khó khăn và cản trở cho việc giảng dạy của cán bộ, giáo viên nhà trường
Nhìn chung cơ sở vật chất và trang thiết bị giảng dạy của nhà trường đã có nhiều cải tiến và đổi mới hơn thời gian trước đó, có một phòng Tin học dành cho học sinh, một thư viện phục vụ việc đọc sách và học nhóm cho học sinh Khu vệ sinh của nhà trường được xây dựng đúng quy cách, trường có tường rào, cổng chính, cổng phụ phục vụ an ninh học đường và đảm bảo an toàn tối đa nhất cho mọi học sinh Ngoài ra nhà trường còn có công trình nước sạch phục vụ học sinh và cán bộ, giáo viên nhà trường
Học sinh khuyết tật ở đây đa số là trẻ chậm phát triển trí tuệ, có một số trẻ khiếm thính nhưng ở mức độ nhẹ, được phân bố ở các khối lớp, các em gặp rất nhiều khó khăn trong học tập và rèn luyện Chính vì thế, đòi hỏi sự chung tay giúp đỡ không chỉ của giáo viên mà còn cả gia đình và xã hội
2.2 Thực trạng của việc hình thành kĩ năng tự phục vụ bản thân cho trẻ CPTTT
ở lớp 1 trường Tiểu học Lê Độ
Về thực trạng việc hình thành kỹ năng tự phục vụ bản thân cho trẻ chậm phát triển trí tuệ thì chưa được nhà trường chú trọng Đa số học tại trường là học sinh trong
xã, các em được học gần nhà nên việc ở bán trú không được triển khai nên học sinh bình thường hay chậm phát triển trí tuệ ít được trang bị các kỹ năng tự phục vụ
Giáo viên dạy hầu hết do không được đào tạo chuyên sâu về lĩnh vực giáo
dục trẻ khuyết tật cho nên về mặt lí luận nhìn chung còn hạn chế Chưa xác định
được cơ sở cốt lõi để làm điểm tựa chính khi xây dựng chương trình; chưa có cơ quan có thẩm quyền biên soạn chương trình, quản lí, giám sát việc thực hiện
chương trình nên việc sử dụng chương trình còn tuỳ tiện, thiếu tính thống nhất,
Trang 11việc học hỏi, chia sẻ kinh nghiệm với các trường còn hạn chế Do không được tiếp cận với chương trình giáo dục, thiếu kiến thức, kĩ năng chăm sóc, giáo dục trẻ khuyết tật cho nên sự hỗ trợ của phụ huynh trong việc chăm sóc, giáo dục trẻ rất hạn chế; giáo viên tiêu tốn rất nhiều thời gian vào biên soạn chương trình nên không còn nhiều thời gian cho việc thiết kế bài dạy, tìm kiếm và làm đồ dùng dạy học, hình thành kỉ năng cho các em, vì vậy chất lượng giảng dạy chưa đạt hiệu quả cao
2.4 Gia đình và địa phương
Xã Bình Tú là một xã thuộc diện khó khăn của huyện Thăng Bình, việc tập huấn hay tiếp cận được các chương trình giáo dục của địa phương còn rất yếu, chưa có chính sách, tổ chức hay cá nhân nào có đủ trình độ và khả năng để hướng trẻ đến một môi trường hòa nhập mới, chính vì vậy việc giải quyết vấn đề này đang đặt ra một cách bức thiết
Về phía gia đình: Nhìn chung ở hầu hết các gia đình có trẻ khuyết tật (chậm phát triển trí tuệ) chưa được tiếp cận với chương trình giáo dục của con em mình Chính
vì vậy, vai trò của phụ huynh trong việc chăm sóc, giáo dục trẻ khuyết tật còn tồn tại nhiều hạn chế: Không có thời gian chăm sóc con em mình, không quan tâm bỏ
bê con cái, ảnh hưởng của thời bao cấp về trẻ khuyết tật vẫn còn ăn sâu trong tư tưởng một số gia đình
Có thể nói phụ huynh là lực lượng hỗ trợ giáo dục quan trọng bậc nhất nhưng chưa được phát huy.Bởi vì chỉ có phụ huynh có nhiều thời gian gần gũi trẻ, hiểu tâm sinh lí trẻ nhất nhưng do thiếu kiến thức, kĩ năng và không biết nội dung, tiến trình dạy trẻ cho nên sự hỗ trợ của phụ huynh trong việc chăm sóc, giáo dục trẻ rất hạn chế Do đó vấn đề này đang cần có một giải pháp thật sự có hiệu quả