1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Nghiên cứu công cụ lao động

22 312 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 34,84 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với sự phát triển vượt bậc của công cụ hiện nay, ta có thể xác định được nhiệm vụ, cách thức, định hướng trong cuộc cách mạng KHKT hiện nay và áp dụng thành tựu KH-KT vào sản xuất.. Cách

Trang 1

Việc nghiên cứu vai trò của công cụ lao động qua các thời kỳ là việc rất quan trọng nó giúp cho chúng ta hiểu được rõ hơn về công cụ lao động và vai trò của nó đồng thời nó giúp chúng ta có một cái nhìn xuyên suốt lịch sử từ thời kỳ đồ

đá đến nay về sự phát triển của công cụ lao động của con người Nghiên cứu công

cụ lao động sẽ giúp ta hiểu được ảnh hưởng, tác động của nó đến đời sống con người Với sự phát triển vượt bậc của công cụ hiện nay, ta có thể xác định được nhiệm vụ, cách thức, định hướng trong cuộc cách mạng KHKT hiện nay và áp dụng thành tựu KH-KT vào sản xuất.

1 KHÁI QUÁT VỀ CÔNG CỤ

1.1 Một số khái niệm

Công cụ là gì

Công cụ lao động là bộ phận quan trọng nhất của tư liệu lao động, là yếu tốđộng, cách mạng nhất, yếu tố luôn thay đổi theo xu hướng tiến bộ cách mạng, yếu

tố độc nhất, cách mạng nhất, là vật nối trung gian giữa người và tư liệu lao động,

nó tác dụng trực tiếp vào đối tượng lao động, quy định trực tiếp năng suất laođộng, trình độ công cụ lao động, là cơ sở để phân biệt sự khác nhau giữa các thờiđại kinh tế

Thí dụ: hòn đá, cái gậy là công cụ của người nguyên thuỷ; cái cày, cái cuốc là công

cụ lao động của người nông đân trong nền sản xuất nhỏ, lạc hậu; máy móc, cơ khí,máy tự động là công cụ lao động trong nền sản xuất hiện đại

Theo định nghĩa Anghen:

“Công cụ lao động là khí quan của bộ óc người, là tri thức được vật thể hóa có tácdụng nối dài bàn tay và nhân lên sức mạnh trí tuệ cho con người”

Cách mạng khoa học công nghệ

Trang 2

Cách mạng khoa học công nghệ là đem khoa học vào công nghệ để hiện đạihóa , cơ khí hóa vào dây chuyền sản xuất , biến đổi từ công nghệ lạc hậu chỉ thuầntúy thủ công tay chân thành công nghệ tiên tiến trang bị cơ khí thay cho sức ngườiCách mạng khoa học kỹ thuật

Cách mạng khoa học kỹ thuật là một khái niệm nói về những phát triểnmang tính vượt bậc và bước ngoặt của khoa học và kỹ thuật diễn ra từ giữa thế

kỷ 20, hoặc sau khi Thế chiến thứ hai (1939-45) kết thúc Trên thực tế, "Cáchmạng khoa học - kỹ thuật" là một khái niệm mới ra đời trong thế kỷ 20 và nội dungcủa khái niệm này có nhiều điều chưa được thống nhất trong giới học giả nóichung

1.3 Tại sao phải có công cụ lao động

Để duy trì sự tồn tại và phát triển của mình, ngay từ khi xuất hiện, con ngườiphải lao động, phải sản xuất của cải vật chất Do bản thân sức lao động có hạn, conngười phải tìm mọi cách không ngừng cải tiến, hoàn thiện và sáng tạo nhữngphương tiện sản xuất như công cụ, máy móc, vật liệu,… mà thường gọi là kỹ thuật

Đó vừa là một đòi hỏi bức thiết của cuộc sống vừa là sự xác định bản chất và đặcđiểm của xã hội loài người

Kĩ thuật càng tiến bộ thì sản xuất càng phát triển và sinh hoạt của con ngườingày càng nâng cao Cũng do đó, con người buộc phải không ngừng mở rộng hiểubiết của mình về thiên nhiên và vận dụng quy luật của thiên nhiên vào cuộc sống

Đó là nguồn gốc và động lực thúc đẩy con người tìm ra lửa, sáng chế ra công cụbằng đá rồi bằng kim loại (đồng, sắt) và đến thế kỉ XVIII - phát minh ra động cơhơi nước, cuộc cách mạng lần thứ nhất này đã cho phép loài người chuyển từ côngtrường thủ công sang nhà máy công xưởng, từ lao động thủ công sang lao động sảnxuất bằng máy móc Những thành tựu này đã dẫn tới bước ngoặt về sự phát triển

Trang 3

lực lượng sản xuất chưa từng thấy trong lịch sử Bước ngoặt này vĩ đại này đã mởđầu cho nền sản xuất hiện đại.

Bước sang nền sản xuất hiện đại, do nhu cầu sinh hoạt của con người ngàycàng nâng cao, phức tạp, những yêu cầu về kĩ thuật và sản xuất lại càng được đặt ramột cách gay gắt và bức thiết hơn bao giờ hết, nhất là trong tình hình bùng nổ dân

số thế giới và các nguồn tài nguyên thiên nhiên đang bị cạn kiệt, đặc biệt từ sauchiến tranh thế giới thứ II

Trước hết, việc không ngừng cải tiến CCSX là một đòi hỏi bức thiết trongthực tiễn cuộc sống Bởi sức lực và khả năng lao động của con người có hạn, họkhông thể đáp ứng và điều khiển trực tiếp những công cụ đòi hỏi cao về thể lực,tốc độ, độ chính xác và tính liên tục,… Do đó, con người buộc phải tìm tòi, phátminh ra những công cụ lao động mới có thể khắc phục được những khuyết điểmcủa mình

Thứ hai, do những đòi hỏi của cuộc sống con người ngày càng cao, nhất làtrong bối cảnh dân số thế giới ngày càng tăng mà nguồn tài nguyên thiên nhiênngày càng vơi cạn thì việc tìm tòi, sáng chế ra những công cụ sản xuất mới, có kĩthuật – năng suất cao, những nguồn năng lượng mới, những vật liệu mới để thaythế được đặt ra một cách bức thiết, đòi hỏi cách mạng khoa học phải giải quyết

Con người phải đặc biệt quan tâm đến vấn đề năng lượng và vật liệu mới.Năng lượng trong thiên nhiên không phải vô tận mà nhu cầu về năng lượng trongđời sống và sản xuất lại tăng rất nhanh Vật liệu là đối tượng lao động của conngười, các vật liệu tự nhiên ngày càng vơi cạn một cách nghiêm trọng trong khidân số ngày càng tăng Hơn nữa, nguyên vật liệu tự nhiên không thể đáp ứng đượcnhững đòi hỏi về chất lượng cao như chịu nhiệt, áp suất cao, khả năng chống chịucao,… Như vậy, những vật liệu mới, nhất là những vật liệu tổng hợp, đang giữ vị

Trang 4

trí rất quan trọng trong đời sống hằng ngày cũng như trong tất cả các ngành côngnghiệp Việc tìm tòi, sáng tạo những vật liệu mới đang đặt ra một cách bức thiếttrước con người.

Thứ ba, những thành tựu KHKT cuối TK XIX, đầu TK XX cũng tạo tiền để

và thúc đẩy sự bùng nổ cách mạng KHKT hiện đại Trong các lĩnh vực khác nhưhóa học, vật lý, sinh học, các khoa học về Trái Đất, hải dương học, khí tượnghọc… đều đạt được những thành tựu lớn

Thứ tư, cuộc sống con người trên Trái Đất gắn bó chặt chẽ với những hiệntượng thiên nhiên, như bão, gió, lụt, động đất,… Để lợi dụng những thuận lợi, khắcphục hạn chế những tác hại của thiên nhiên đối với sản xuất và đời sống, con ngườibuộc phải nghiên cứu tìm hiểu những khoảng không vũ trụ, những hành tinh khác

và những hiện tượng của thiên nhiên

Thứ năm, để phục vụ cho việc tiến hành chiến tranh thế giới thứ II, hai bêntham chiến đều phải đi sâu vào nghiên cứu KHKT để giải quyết tính cơ động của

bộ đội, các phương tiện thông tin, liên lạc và chỉ huy, sản xuất ra những vũ khí cótính năng tàn phá và sát thương lớn,…

Cuối cùng, từ năm 1973 cuộc khủng hoảng dầu mỏ nghiêm trọng nổ ra,nhưng thực chất là khởi đầu cho cuộc khủng hoảng chung đối với cả thế giới trênnhiều mặt chính trị, kinh tế, tài chính, cơ cấu,… Chỉ có thành tựu của KHKT mớiđưa các quốc gia thoát khỏi khủng hoảng và tiếp tục phát triển

2 SỰ BIẾN ĐỔI CỦA CÔNG CỤ SẢN XUẤT

2.1 Các cuộc cách mạng công cụ

Xã hội nguyên thủy là hình thái xã hội đầu tiên trong lịch sử nhân loại Nóđược bắt đầu từ con người thoát khỏi thế giới động vật, bước vào xã hội loài người

Trang 5

cho đến khi chế độ thị tộc phụ hệ tan rã, giai cấp và nhà nước xuất hiện Đây làthời kì xa xưa nhất và kéo dài nhất trong lịch sử nhân loại.

Giai đoạn đầu tiên trong lịch sử phát triển của nhân loại Đây là loại hìnhkinh tế xã hội sơ khai, trong giai đoạn quá độ từ vượn người sang người tinh khônHômô Sapiens

Lúc đầu vượn người cũng giống con vật đi tìm thức ăn theo bản năng Vềsau, nhu cầu tìm kiếm thức ăn lớn, họ không thể dự trữ nhiều , nên người vượn cổcần phải nghĩ đến việc lao động để kiếm sống bằng cách săn bắt và hái lượm Thời

kì này, người vượn đã biết chế tạo “công cụ” đầu tiên bằng đá, cành cây… Để cóđược những mảnh đá nhọn, sắc để đào bới cũ, rễ cây, đập ném muông thú khi sănbắt và hái lượm, họ đã biết dung những đá to nặng, ghè vào nhau Các góc mãnh

vỡ sẽ có cạnh sắc và nhọn, vừa tay cầm Ngoài ra họ còn biết tách từ các hạch đátạo ra những dao, rìu đá mỏng và sắc, để xé thịt rừng, chặt cây

Với công cụ đá thô sơ nên con người chỉ có thể bằng việc săn bắn hái lượm

Có nghĩa là họ hoàn toàn phụ thuộc vào tự nhiên, sống nhờ vào việc tìm kiếm thức

ăn có sẵn trong tự nhiên chưa có sản xuất Vì thế họ không thể sống đơn lẻ mà phảitập hợp thành bầy đàn để có sức mạnh để chống với thú dữ để tự vệ, cùng kiếm ănsăn bắt thú rừng Họ sống trong hang động, mài đá, lấy lá che thân

Vì thế muốn tồn tại, con người phải chung sức lao động, cùng làm cùnghưởng Do đó , quan hệ giữa con người là bình đẳng, không có giai cấp và nhànước

Cuộc cách mạng đá mới

Thời kì “ đá cũ” những hòn đá tự nhiên người nguyên thủy chế tạo thànhnhững công cụ đơn giản, hết sức thô kệch,với những hình thù nhất định ghè,đẽomột mặt,một đầu cho sắc,nhọn,có thể cầm tay để chặt,cắt đập,đâm như

Trang 6

rìu,chùng ,lao…những công cụ thô sơ bằng đá đơn giản tạo ra năng suất thấp,thiếulương thực nên người nguyên thủy đã nhận thức và chế tạo ra những công cụ với

kĩ thuật cao

Thời kì “cách mạng đá mới ra đời” ở thời kì này phát triển và đa năng hơn.Con người có óc sáng tạo, họ bắt đầu biết khai thác từ thiên nhiên cái cần thiết chocuộc sống của mình, chứ không chỉ thu lượm những cái có sẵn trong thiên nhiên.Tạo ra nhiều công cụ lao động phong phú hơn và người ta cũng bắt đầu làm sạchnhững tấm da thú để che thân cho ấm và cho “có văn hoá” Ngoài ra, người ta đãbiết dùng đồ trang sức, như vòng cổ bằng vỏ ốc và chuỗi hạt xương (bằng cáchđem khoan lỗ rồi lấy dây xâu lại), vòng tay, vòng cổ chân, hoa tai bằng đá màu.Người ta còn có sự tiến bộ rõ rệt hơn về công cụ đã chế tác ra nhiều công cụ laođộng bằng đá phong phú hơn và xuất hiện công cụ bằng đồng

Như thế, từng bước, con người không ngừng sáng tạo, kiếm được thức ănnhiều hơn, sống tốt hơn và vui hơn

Vào thời đá mới, có sự tiến bộ rõ rệt trong việc chế tác công cụ đồ đá, công

cụ đá nhờ chế tác mới đã trở nên đa năng và phong phú Người nguyên thủy khôngchỉ biết ghè đẽo, đâp, tướt mà còn biết khoan cưa mài đá Với sự kết hợp khéo léogiữa đá, xương thú, gỗ đã làm công cụ tăng lên Các hạch đá được tước, ghè sẽđược mài sắc các cạnh, mài nhọn, đục lỗ tra cán để tạo nên cuốc, xẻng, rìu,… công

cụ đá trở nên đa dạng, đa năng dễ đào bới và sức lao động được tiết kiệm hơn.Năng suất lao động được tăng lên, diện tích trồng trọt dần dần được mở rộng, công

cụ tinh xảo hơn đã làm cho việc săn bắn có hiệu quả Các con thú chưa ăn “đểdành” ngày càng nhiều dẫn đến chăn nuôi mở rộng, trở thành nghề để sinh sống

Nhờ đó trồng trọt và nuôi ngày càng phát triển, thay thế dần việc hái lượm

và săn bắn con người dân tách khỏi sự phụ thuộc vào thiên nhiên hơn Ngoài ra,

Trang 7

người ta đã biết dùng đồ trang sức, như vòng cổ bằng vỏ ốc và chuỗi hạt xương(bằng cách đem khoan lỗ rồi lấy dây xâu lại), vòng tay, vòng cổ chân, hoa tai bằng

đá màu

- Biết tạo ra công cụ lao động (đồ đá), nên loài người đã chuyển từ phương thức

"săn bắt, hái lượm" sang "chăn nuôi, trồng trọt", tức là chuyển từ kinh tế hái lượmsang kinh tế sản xuất Nhờ vậy, con người có thể chủ động tạo ra nguồn thức ăncho mình mà không phải phụ thuộc quá nhiều vào may rủi

- Biết ghè đá vào nhau để tạo ra lửa, loài người dần dần thoát khỏi cảnh sống môngmuội, biết dùng lửa để nấu chín thức ăn, để tự vệ, để sưởi ấm

- Xuất hiện kĩ thuật mài, khoan và cưa đá Với sự xuất hiện kĩ thuật mài đá thì công

cụ lao động đã được chế tạo hoàn thiện, đúng theo hình dáng mong muốn và loạihình ngày càng phong phú, đa dạng, trong đó quan trọng nhất là chiếc rìu mài vàcuốc

- Đã tìm ra công cụ bằng đồng và kim khí

Thời đại kim khí:

Suốt thời đồ đá, con người từ chỗ sống bấp bênh tiến tới đủ sống Vào buổiđầu của thời đại kim khí, con người sản xuất không những đủ sống ở mức còn thấpcủa hàng nghìn năm trước, mà còn tạo ra được một lượng sản phẩm thừa thườngxuyên

Từ chỗ dùng những công cụ bằng đá, bằng xương, tre, gỗ, người ta bắt đầubiết chế tạo đồ dùng và công cụ bằng đồng Cư dân Tây Á và Ai Cập biết sử dụngđồng sớm nhất, thoạt tiên là đồng đỏ vào khoảng 5500 năm trước đây Cách ngàynay khoảng 4000 năm, nhiều cư dân trên Trái Đất đã biết dùng đồng thau Khoảng

Trang 8

3000 năm trước đây, cư dân ở Tây Á và Nam Âu là những người đầu tiên biết đúc

và sử dụng đồ sắt

Công cụ kim khí đã mở ra một thời đại mới mà tác dụng và năng suất laođộng của nó vượt xa thời đại đồ đá Đặc biệt là công cụ bằng sắt thì không có mộtcông cụ đá nào có thể so sánh được Nhờ có đồ kim khí, nhất là sắt, người ta có thếkhai phá những vùng đất đai mà trước kia chưa khai phá nổi, có thể cày sâu cuốcbẫm, có thể xẻ gỗ đón" thuyền đi biển, xẻ đá làm lâu đài và bản thân việc đúc sắtcũng là một ngành sản xuất quan trọng bậc nhất Bên cạnh chế tạo ra các công cụsản xuất bằng sắt, họ còn dùng sắt để chế tạo ra các loại vũ khí, sử dụng trongchiến tranh so với thời đồ đồng thì đồ đồng không thể thay thế các dụng cụ sảnxuất bằng đá, nhưng bước vào thời đại kim khí, những dụng cụ bằng kim khí đặtbiệt là sắt đã xóa bỏ, thay thế hoàn các công cụ bằng đá, và phát triển mạnh mẽ, vàphổ biến nhất

Đây thực sự là một cuộc cách mạng trong sản xuất Lần đầu tiên trên chặngđường dài của lịch sử loài người, con người có thể làm ra một lượng sản phẩmthừa

Cuộc CMCN lần 1

Cuộc cách mạng công nghiệp hay cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật lần thứnhất thực chất là một cuộc cách mạng về kỹ thuật, nó được bắt đầu ở nước Anhvào cuối thế kỷ 18 đầu thế kỷ 19 Tiêu chí của cuộc cách mạng lần này là máy mócthay thế công cụ thủ công Cuộc cách mạng này trước hết diễn ra ở ngành côngnghiệp nhẹ, mở đầu với sự cơ giới hóa ngành dệt may Điển hình là năm 1733 mộtngười thợ dệt tên Giôn-cây đã phát minh ra thoi bay giúp tang năng suất dệt vải lêngấp nhiều lần Năm 1767 một người thợ mộc tên là Giêm-Hacgrivo đã phát minh

ra được một máy kéo sợi đặt tên là Gienny Năm 1785, linh mục Edmund

Trang 9

Cartwright cho ra đời một phát minh quan trọng trong ngành dệt là máy dệt vải.Máy này đã tăng năng suất dệt lên tới 40 lần.

Năm 1784, James Watt phụ tá thí nghiệm của một trường đại học đã phátminh ra máy hơi nước Nhờ phát minh này, nhà máy dệt có thể đặt bất cứ nơi nàothay vì phải đặt gần các dòng sông như trước Phát minh này được coi là mốc mởđầu quá trình cơ giới hoá Máy hơi nước dần được sử dụng rộng rãi ngay cả trongcác ngành công nghiệp nặng như để chạy máy bơm nước hầm lò, máy vận chuyểnbằng cáp treo, quạt gió Máy hơi nước còn tạo ra một cách mạng trong giao thongvận tải Trong thời gian này, ngành luyện kim cũng có những bước tiến lớn Năm

1784, Henry Cort đã tìm ra cách luyện sắt “puddling” Mặc dù phương pháp củaHenry Cort đã luyện được sắt có chất lượng hơn nhưng vẫn chưa đáp ứng được yêucầu về độ bền của máy móc Năm 1885, Henry Bessemer đã phát minh ra lò cao cókhả năng luyện gang lỏng thành thép, khắc phục được những nhược điểm của chiếcmáy trước đó

Bước tiến của ngành giao thông vận tải đánh dấu bằng sự ra đời của chiếcđầu máy xe lửa đầu tiên chạy bằng hơi nước vào năm 1804 Đến năm 1829, vậntốc xe lửa đã lên tới 14 dặm/giờ Thành công này đã làm bùng nổ hệ thống đườngsắt ở Châu Âu và Mỹ Năm 1807, Robert Fulton đã chế ra tàu thủy chạy bằng hơinước thay thế cho những mái chèo hay những cánh buồm

Cuộc cách mạng công nghiệp lần một là một cách mạng công nghiệp đã tạo

ra những công cụ lý tưởng để bọn chủ tư bản bóc lột người lao động một cách kiệtcùng nhất, đó chính là máy móc Người công nhân phải làm việc 12-16 tiếng mỗingày, và họ đã trở thành nô lệ của máy móc cũng là của bọn tư bản Tuy vậy takhông thể phủ nhận sự kỳ diệu của nó Nó là một cột mốc chói lọi trong lịch sửtiến hóa văn mình của loài người, mang lại những tiến bộ phi thường, những thành

Trang 10

tựu to lớn và những thay đổi lớn trong cuộc sống con người, nâng cao năng suấtlao động, nâng cao mức sống và chất lượng cuộc sống

Cuộc CMCN lần 2 (CMKHKT lần 1)

Cuộc cách mạng công nghiệp thứ hai lại được khởi xướng từ cuối thế kỷ 19,kéo dài đến đầu thế kỷ 20 Một trong những đặc điểm đáng lưu ý trong nền đạicông nghiệp là dây chuyền sản xuất hàng loạt - áp dụng nguyên lý quản trị củaF.W.Taylor (đề xuất năm 1909, ứng dụng vào thực tiễn năm 1913 - hãng Ford đitiên phong)

Các nhà khoa học đã có những phát minh lớn về những công cụ sản xuấtmới: máy tính, máy tự động và hệ thống máy tự động, người máy, hệ điều khiển tựđộng Các nhà sáng chế thời kỳ này cũng nghiên cứu, tạo ra những vật liệu mớinhư chất polymer với độ bền và sức chịu nhiệt cao, được sử dụng rộng rãi trongđời sống, và trong các ngành công nghiệp

Trong thời gian này, những nguồn năng lượng mới hết sức phong phú và vôtận như năng lượng nguyên tử, năng lượng mặt trời, năng lượng gió, năng lượngthủy triều… cũng được tìm ra để thay thế cho nguồn năng lượng cũ Những tiến bộthần kì trong giao thông vận tải và thông tin liên lạc như máy bay siêu âm khổng

lồ, tàu hỏa tốc độ cao và những phương tiện thông tin liên lạc, phát sóng vô tuyếnqua hệ thống vệ tinh nhân tạo, những thành tựu kỳ diệu trong lĩnh vực chinh phục

vũ trụ như phóng thành công vệ tinh nhân tạo đầu tiên của trái đất, bay vào vũ trụ

và đặt chân lên mặt trăng là những thành tựu đi vào lịch sử của cuộc cách mạngcông nghiệp lần hai này

Bên cạnh đó, cuộc cách mạng xanh trong nông nghiệp với những tiến bộnhảy vọt trong cơ khí hóa, thủy lợi hóa, phương pháp lai tạo giống, chống sâubệnh… giúp nhiều nước có thể khắc phục nạn thiếu lương thực, đói ăn kéo dài

Trang 11

Cuộc CMCN lần 3 CMKHKT lần 2

Mặc dù còn nhiều tranh cãi, những cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 3được cho là bắt đầu từ khoảng năm 1969 khi nhiều cơ sở hạ tầng điện tử, số hóa vàmáy tính được phát triển mạnh Vào thập niên 1960, chất bán dẫn và các siêu máytính được xây dựng, đến thập niên 70-80 thì máy tính cá nhân ra đời và Internet bắtđầu được biết đến nhiều trong thập niên 90

Cho đến cuối thế kỷ 20, Internet và hàng tỷ thiết bị công nghệ cao cùngnhiều phát minh mới đã được sử dụng rộng rãi trong xã hội, qua đó hoàn thiện quátrình cách mạng công nghiệp lần thứ 3

Thời điểm: Cuối thế kỷ XIX - Nửa đầu thế kỷ XX

Phạm vi: Châu Âu, Bắc Mỹ, Đông Á

Trung tâm: Tây Âu, Hoa Kỳ, Liên Xô, Nhật Bản.

Các lĩnh vực: Chế tạo máy, giao thông – liên lạc, vật liệu, năng lượng…

Khi hệ thống kỹ thuật dựa vào máy hơi nước, than đá và sắt thép truyềnthống đã tận dụng hết công suất của mình, nền công nghiệp muốn nhảy vọt thì phảicần đến một hệ thống kỹ thuật mới hiệu quả hơn, thôi thúc các ngành khoa học –

kỹ thuật sáng tạo nên những thành tựu thật xứng đáng trước các yêu cầu cháy bỏng

từ công cuộc phát triển chung của xã hội loài người – yêu cầu công nghiệp hoá,xây dựng hình mẫu xã hội công nghiệp phát triển

Cái gì cần sáng tạo đã được sáng tạo: Năm 1862, Jean Leneir chế được xechạy bằng động cơ đốt trong; năm 1869, G.T.Grammer chế ra máy phát điện mộtchiều dyamo, sau đó là máy phát điện xoay chiều (1877); A.G.Bell phát minh ramáy điện thoại (1876), sau đó G.Marconi đã phát triển để liên lạc bằng sóng điện

từ giữa hai bờ biển Manche (1897); năm 1878 – 1879, J.Suan và T.Edison phát

Ngày đăng: 23/01/2018, 12:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w