1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Nghiên cứu trường hợp lao động di cư nam xuyên biên giới việt trung động năng, trải nghiệm, và các vấn đề sức khoẻ

130 117 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 130
Dung lượng 1,44 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đó là hàng loạt những khó khăn về mặt quản lý nhà nước và hơn cả là những nguy cơ và rủi ro mà những người di cư trái phép gặp phải trên đường đi và tại nơi đến như trở thành nạn nhân củ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NÔI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

………

NGUYỄN SONG

NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP LAO ĐỘNG DI CƯ NAM XUYÊN

BIÊN GIỚI VIỆT – TRUNG:

ĐỘNG NĂNG, TRẢI NGHIỆM VÀ CÁC VẤN ĐỀ SỨC KHỎE

LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Nhân học

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

………

NGUYỄN SONG

NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP LAO ĐỘNG DI CƯ NAM

XUYÊN BIÊN GIỚI VIỆT - TRUNG:

ĐỘNG NĂNG, TRẢI NGHIỆM VÀ CÁC VẤN ĐỀ SỨC KHỎE

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Nhân Học

Mã số: 60310302

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thị Thu Hương

Hà Nội – 2017

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình nghiên cứu, chấp bút và hoàn thiện luận văn này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ, động viên khích lệ vô cùng quý báu từ rất nhiều cá nhân và tổ chức khác nhau

Trước hết tôi muốn bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc nhất tới tiến sĩ Nguyễn Thị Thu Hương, giảng viên Khoa Nhân học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội với tư cách là người hướng dẫn khoa học của tôi Tiến sĩ Hương đã tận tâm chỉ bảo từng bước giúp tôi định hình ý tưởng nghiên cứu, triển khai điền dã thực địa cũng như trong suốt quá trình phân tích, xử lý tài liệu và hoàn thiện luận văn này

Cuốn luận văn là thành quả suốt hai năm tôi trau dồi học tập dưới mái nhà Khoa Nhân Học, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Với ý nghĩa đó, tôi muốn nhân dịp này gửi lời tri ân tới tất cả các Thầy Cô hiện đang công tác cũng như các nhà nghiên cứu tham gia thỉnh giảng tại Khoa đã trao truyền cho tôi bao kiến thức quý báu và những

kỹ năng nghiên cứu quan trọng trong những tháng năm tôi đèn sách ở đây

Xin được cảm ơn các cán bộ, chiến sĩ công an và chuyên viên các phòng ban thuộc chính quyền các cấp trên địa bàn tỉnh Phú Thọ đã nhiệt tình hỗ trợ và tạo điều kiện cho tôi thu thập các số liệu thống kê cần thiết để phục vụ cho nghiên cứu này Tôi thực sự cảm kích trước sự chân tình, tin cậy và sẻ chia mà bà con tại các địa bàn nghiên cứu dành cho tôi

Cuối cùng nhưng không kém phần quan trọng, tôi muốn cảm ơn các thành viên trong gia đình mình đã luôn sát cánh động viên và hỗ trợ tôi về mọi mặt trên suốt chặng đường học tập vừa qua

Xin trân trọng cảm ơn

Hà Nội, tháng 6 năm 2017

Học viên Nguyễn Song

Trang 4

LỜI CAM KẾT

Tôi cam đoan rằng đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nghiên cứu trình bày trong luận văn thạc sĩ này là do tôi tự thu thập trong quá trình điền dã tại các địa phương Các số liệu thể hiện trong luận văn là trung thực Mọi trích dẫn và tham khảo từ nguồn tài liệu liên quan đều được chú thích đầy đủ Cá nhân tôi chịu trách nhiệm hoàn toàn về nội dung trình bày, cũng như bất kỳ sai sót nếu có, trong luận văn

Hà Nội, tháng 6 năm 2017

Học viên Nguyễn Song

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU……….……… 1

1 Lý do lựa chọn đề tài…….……….……… 1

2 Mục đích nghiên cứu… ……… 5

3 Phương pháp nghiên cứu… ……….………7

3.1 Mẫu nghiên cứu và phương pháp chọn mẫu… ……… ……….7

3.2 Các phương pháp nghiên cứu……….8

3.3 Những hạn chế về mặt nghiên cứu……… 12

4 Bố cục của luận văn……….……… 14

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 15

1.1 Tổng quan tài liệu nghiên cứu……… ……….………15

1.1.1 Nghiên cứu di cư nội địa……….………15

1.1.2 Nghiên cứu di cư quốc tế ………25

1.2 Hệ thống các thuật ngữ, khái niệm nghiên cứu ……….………… …… 30

1.2.1 Di cư……….30

1.2.2 Hồi hương…….……….……… 32

1.2.3 Tái hòa nhập…….……….……… 33

1.3 Khung lý thuyết nghiên cứu…….……….……… 33

1.3.1 Tiếp cận giới trong nghiên cứu di cư……… …33

1.3.2 Lý thuyết thị trường lao động kép……… 34

1.3.3 Lý thuyết vốn xã hội……… 36

CHƯƠNG 2: BỐI CẢNH LAO ĐỘNG DI CƯ NAM XUYÊN BIÊN GIỚI VIỆT - TRUNG……… 38

2.1 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu……….……… 38

2.1.1 Điều kiện tự nhiên……… …….……… 38

2.1.2 Cơ cấu dân số và lao động…… …….……… 38

2.1.3 Điều kiện kinh tế và các loại hình sinh kế ……… 40

Trang 6

2.2 Động năng di cư lao động xuyên biên giới Việt – Trung ……….….42

2.2.1 Các yếu tố gắn với kinh tế……….……… 42

2.2.2 Gia đình, thân tộc, và vốn xã hội……….… ……….47

2.2.3 Quan niệm văn hóa và ngầm định mang tính giới …….…… ……… 53

Tiểu kết chương 2……….……… 59

CHƯƠNG 3: NHỮNG TRẢI NGHIỆM CỦA LAO ĐỘNG DI CƯ NAM XUYÊN BIÊN GIỚI VIỆT - TRUNG……… 60

3.1 Lộ trình di cư, rủi ro và nguy cơ ……….……… 60

3.2 Trải nghiệm của lao động di cư nam nơi đất khách……… 64

3.2.1 Cơ hội việc làm và quyền lợi người lao động…….………… 64

3.2.2 Cuộc sống nơi đất khách và kết nối xã hội… 74

3.2.3 Tiền gửi và cách thực hành gửi tiền về quê nhà……… ….81

3.3 Sức khỏe, bệnh tật và các hành vi nguy cơ……….85

Tiểu kết chương 3………….……… 94

CHƯƠNG 4: HỒI HƯƠNG VÀ QUÁ TRÌNH TÁI HÒA NHẬP CỦA LAO ĐỘNG DI CƯ NAM ….……….……… 96

4.1 Nguyên nhân hồi hương …….………96

4.2 Trải nghiệm hậu di cư……… ………100

Tiểu kết chương 4…….……… ……… 106

KẾT LUẬN VÀ NGỤ Ý CHÍNH SÁCH….………… ……….108

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO……… ……… 115

Trang 7

DANH MỤC THUẬT NGỮ, KHÁI NIỆM VIẾT TẮT

CGFED Trung tâm Nghiên cứu Giới, Gia đình và Môi trường trong phát

triển

UNESCO Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ, HỘP VÀ HÌNH VẼ

Bảng 2.1: Tình hình dân số và lao động xã Chiến Thắng qua 3 năm 2013-2015 38

Bảng 2.2 Tình hình sử dụng đất của xã qua 3 năm (2013 - 2015) 39

Bảng 2.3 Tình hình di cư nước ngoài lao động của người dân xã Chiến Thắng từ năm 2009-2015 42

Bảng 2.4 Chi phí xuất cư và trở về 43

Bảng 3.1 Các công việc mà những lao động di cư nam trái phép đã làm 65

Bảng 3.2 Tỉ lệ một số bệnh thường gặp ở những lao động di cư nam 85

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do lựa chọn đề tài

Di cư là một hiện tượng xã hội mang tính tự nhiên của con người Có thể nói, chừng nào con người còn tồn tại, thì vẫn còn những lí do để di cư Di cư xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau: vì lý do kinh tế để cải thiện thu nhập cho gia đình, hay đơn giản chỉ là muốn thay đổi môi trường sống, hay di cư bằng con đường hôn nhân v.v… Là một hiện tượng xã hội, do vậy di cư một mặt mang lại những ý nghĩa tích cực nhưng bên cạnh đó di cư cũng gây ra những hệ quả mang tính tiêu cực

Di cư thường được coi như là một chiến lược sinh kế, một quá trình trao đổi xã hội (Đặng Nguyên Anh, 2012) Trong đó những quyết định di cư như là những lựa chọn duy lý mang tính chiến lược của cá nhân người di cư cũng như hộ gia đình nhằm có được sự an toàn về kinh tế Di cư giúp giảm nghèo và phát triển tại địa phương (Dang, 2008) Thông qua nguồn tiền gửi về từ người di cư góp phần rút ngắn khoảng cách giàu nghèo, nguồn tiền đó được sử dụng để tái đầu tư cho việc giáo dục con cái hoặc được

sử dụng làm nguồn vốn nhằm đa dạng hoá sinh kế gia đình

Di cư được xem là một chiến lược sống của các hộ gia đình để đối phó với những rủi ro cũng như để tận dụng những cơ hội thu nhập bằng cách phân phối lao động gia đình ở nhiều không gian khác nhau nhằm tối đa hóa thu nhập gia đình và giảm thiểu những rủi ro Do vậy, tiền hay hàng gửi về nhà cần được nhìn nhận như một phần không thể tách rời trong chiến lược sinh kế của gia đình (Lê Bạch Dương và Nguyễn Thanh Liêm, 2011)

Di cư là một vấn đề xã hội có tầm ảnh hưởng rộng lớn bởi lẽ các dòng di cư luôn diễn ra trong những bối cảnh không gian và thời gian khác nhau, từ qui mô nhỏ hẹp nội vùng, nội địa cho đến di cư quốc tế Di cư là một hiện tượng xã hội gắn với những trải nghiệm văn hoá, xã hội, sự khác biệt giữa nơi đi và nơi đến Nó không chỉ có những tác động đến cộng đồng gốc-nơi mà những người xuất cư đi mà nó còn có những ảnh

Trang 10

hưởng to lớn đến cả những cộng đồng nơi mà những người di cư đến Bởi vậy, di cư mang lại cả những tác động tích cực cũng như tiêu cực trên mọi lĩnh vực từ kinh tế, chính trị, xã hội đến văn hóa Như vậy ta thấy được tầm quan trọng của việc nghiên cứu về vấn đề di cư

Dựa trên những tài liệu nghiên cứu về di cư cho thấy có rất nhiều những cách phân loại di cư tùy theo hướng tiếp cận Theo không gian di chuyển thì có di cư nội vùng, nội địa (internal migration) hay di cư xuyên biên giới (cross-border migration), di cư quốc tế (international migration) Phân loại theo thời gian di chuyển có di cư con lắc (circular migration), di cư mùa vụ (seasonal migration) Tiếp cận dựa trên cơ sở hoạch định chính sách có thể chia thành di cư có tổ chức, kế hoạch (planed migration) hay di

cư tự do (freedom migration/ spontaneous migration) Ý thức được tầm quan trọng của

di cư, cho tới nay đã có rất nhiều nghiên cứu về vấn đề này dưới những lăng kính và góc nhìn khác nhau Một số công trình nghiên cứu tập trung chủ yếu vào việc xác định nguyên nhân di cư, các đặc trưng cơ bản của người di cư, hay việc làm và thu nhập của

họ như các nghiên cứu của (Tống Văn Đường, 1995; Đỗ Văn Hoà, 1998; Vũ Thị Hồng

và các tác giả, 2003; Đặng Nguyên Anh, 2005; Pattrick Gubry et all, 2004) Một số nghiên cứu lại đề cập tới mối quan hệ giữa di dân với các vấn đề xã hội khác như mối quan hệ giữa di dân với mức sinh và KHHGD (Viện kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh, 1992); di cư và sức khoẻ tại Việt Nam (Viện Xã hội học, 1998; CGFED, 2008); một số nghiên cứu có lồng ghép, xem xét di cư dưới góc nhìn giới (Đặng Nguyên Anh, 2008; Lan Anh Hoàng, 2008; CGFED, 2009)

Kết quả của các công trình nghiên cứu đã phần nào giúp chúng ta hình dung được diện mạo của bức tranh di cư ở Việt Nam Trong bối cảnh công nghiệp hóa và hiện đại hóa, khi mà hàng loạt các đô thị và khu công nghiệp được mọc lên sẽ là nơi thu hút rất nhiều lao động di cư tới Tuy nhiên, trong nhiều nghiên cứu, tính tích cực của di cư về

cơ bản vẫn chưa có được cái nhìn thấu đáo, đặc biệt là khi đặt dưới góc nhìn của việc quản lý và làm chính sách như các nghiên cứu (Nguyễn Đức Bình, 2010; Đinh Quang

Trang 11

Hà, 2014) Bởi di dân tự do thường được cho là nguyên nhân tạo ra những áp lực lớn lên các vấn đề kinh tế, xã hội và văn hóa như tạo ra những áp lực về việc làm, chỗ ở, giao thông, y tế, giáo dục và các an sinh xã hội khác tại nơi đến

Bên cạnh đó, di cư lao động diễn ra sự dịch chuyển lao động và chuyên gia từ nơi thừa sang nơi thiếu Có hai xu hướng đối lập nhau trong việc dịch chuyển lao động giữa các nước phát triển và đang phát triển: các nước phát triển thường xuất khẩu lao động có trình độ và chuyên môn kỹ thuật cao, còn các nước đang phát triển thì xuất khẩu nguồn lao động dư thừa, có trình độ tay nghề thấp nhằm giải quyết việc làm và cải thiện đời sống thu nhập (Phạm Thị Thanh Bình, 2008), điều này xảy ra tương tự ở Việt Nam Theo báo cáo điều tra lao động việc làm quý 2 năm 2014, tính đến thời điểm 1/7/2014, lực lượng lao động của cả nước bao gồm 52,8 triệu người có việc làm, nhưng có tới 0,9 triệu người thất nghiệp và 1,2 triệu người thiếu việc làm1 Đã từ lâu di

cư tự do trở thành một vấn đề lớn, khi mà những người di cư từ nông thôn ào ạt đổ ra các đô thị tìm kiếm các cơ hội việc làm Đến nay, việc di cư với khoảng cách xa không còn quá khó khăn như trước thì các luồng di cư tự do bao gồm cả di cư có giấy phép và không có giấy phép xuyên biên giới ngày càng diễn ra mạnh mẽ Di cư lao động xuyên biên giới không có giấy phép diễn ra nhiều giữa các quốc gia láng giềng có chung đường biên giới do sự thuận tiện hơn trong việc đi lại, và những người di cư trái phép ít phải trải qua các hàng rào kiểm soát mang tính pháp lý của việc di cư Do sức ép về việc làm, mỗi năm Việt Nam cần đáp ứng nhu cầu việc làm cho khoảng hơn một triệu lao động và với tỉ lệ thất nghiệp cũng như thiếu việc làm ngày càng gia tăng như hiện nay thì việc di cư xuyên biên giới tìm việc làm sẽ không thể tránh khỏi

Di cư lao động vừa là động lực thúc đẩy lại vừa là kết quả của sự phát triển kinh tế

xã hội của mỗi quốc gia Tuy nhiên, di cư lao động đã và đang đặt ra rất nhiều vấn đề đòi hỏi các tổ chức xã hội cần quan tâm giải quyết tiêu biểu như các vấn đề liên quan đến vốn xã hội, thực hành tiền gửi, các vấn đề liên quan đến giới như tính dục, hành vi

1 Báo cáo điều tra lao động việc làm quý II năm 2014 của Bộ kế hoạch và đầu tư và Tổng cục thống kê, 2014

Trang 12

tình dục, tình dục đồng giới và các vấn đề về sức khỏe, bệnh tật và sự lan truyền bệnh tật thông qua các dòng di cư Hiện nay, di cư được xác định là một trong những vấn đề toàn cầu, và di cư xuyên biên giới đang trở thành xu hướng quan trọng của nhiều quốc gia Sự dịch chuyển của công dân một nước trong phạm vi lãnh thổ hoặc qua biên giới quốc gia là một trong những chủ đề quan trọng về mặt chính sách, đặc biệt trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế Người Việt Nam nhập cư trái phép vẫn là vấn

đề nổi trội trong quan hệ giữa Việt Nam và nhiều nước hữu quan trong nhiều năm qua Các tài liệu liên quan đến di cư xuyên biên giới trong khu vực sông Mekong cho thấy rằng một phần lớn lao động nhập cư đang làm việc tại đây không có giấy tờ (ILO, 2001; Harima, 2003; Caouette, 2008) Tình hình cũng xảy ra tương tự trong số những người lao động di cư Việt Nam tại Trung Quốc Các dòng di cư lao động bất hợp pháp xuyên biên giới đang đặt ra rất nhiều những vấn đề không chỉ từ quốc gia nơi có người xuất cư đi mà còn ở cả những quốc gia nơi có những người nhập cư đến Đó là hàng loạt những khó khăn về mặt quản lý nhà nước và hơn cả là những nguy cơ và rủi ro mà những người di cư trái phép gặp phải trên đường đi và tại nơi đến như trở thành nạn nhân của những mạng lưới buôn người, bị bóc lột lao động, bị xâm hại tình dục, bị phân biệt đối xử và bị hạn chế mọi hoạt động trong đời sống cũng như trong công việc,

và các vấn đề liên quan đến sức khỏe, bệnh tật vv…

Ở Việt Nam đã có những nghiên cứu của các học giả trong và ngoài nước tìm hiểu hiểu về những nguyên nhân và tác động của lao động di cư xuyên biên giới, trong đó tập trung vào các nhóm yếu thế như phụ nữ và trẻ em như (Daniele và Trần Giang Linh, 2011; UNESCO & MPI-MMG, 2013; Benton, 2014) Hàng loạt các vấn đề đã được khai thác như hôn nhân xuyên biên giới, nạn buôn bán phụ nữ và trẻ em, hay vấn

đề xâm hại tình dục nữ (Hugo, Nguyen Thi Hong Xoan, 2007; UN, 2012; Duong Bach

Le, Thanh Dam Truong, and Thu Hong Khuat, 2014 ) Nhìn chung những nghiên cứu

về di cư trong nước nói chung và di cư quốc tế nói riêng đã đạt được nhiều thành tựu to lớn Tuy nhiên, các nghiên cứu về tình hình di cư của Việt Nam ra nước ngoài mới chỉ

Trang 13

tập trung nhiều vào nghiên cứu những vấn đề lớn mang tính vĩ mô như thực trạng, những thách thức của di cư xuyên biên giới, các số liệu thống kê thường chỉ tập trung vào đối tượng di cư có giấy phép theo kế hoạch hay các chương trình, dự án có sự hợp tác về mặt nhà nước giữa hai bên Những nghiên cứu cụ thể tìm hiểu về những người lao động di cư không phép chưa nhiều, chính điều này đã tạo nên những khó khăn trong việc kiểm soát dòng di cư này

Xuất phát từ những lý do trên, tôi quyết định thực hiện đề tài: “nghiên cứu trường hợp lao động di cư nam xuyên biên giới Việt-Trung: động năng, trải nghiệm và các vấn

đề sức khỏe” Nghiên cứu này sẽ góp phần bổ sung thêm nguồn tài liệu tìm hiểu về di

cư trái phép xuyên biên giới Thông qua việc tập trung vào nghiên cứu nhóm di cư nam với những động năng, trải nghiệm và các vấn đề mà người di cư gặp phải trên hành trình di cư cũng như những vấn đề hậu di cư Kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp thêm góc nhìn về vấn đề di cư trái phép xuyên biên giới qua đó góp phần quan trọng vào việc định hướng chính sách và tìm ra những mô hình trợ giúp nhằm hạn chế loại hình di cư tiềm ẩn nhiều rủi ro này cho những người di cư

2 Mục đích nghiên cứu

Trong nghiên cứu này, tôi tập trung tìm hiểu nhóm di cư nam từ Việt Nam sang Trung Quốc lao động không có giấy tờ hợp pháp và vì những lí do khác nhau mà phải quay trở về Việt Nam Đề tài này được tiến hành nghiên cứu tập trung tại một xã thuộc một huyện miền núi tỉnh Phú Thọ Ngoài thời gian dành cho việc thâm nhập địa bàn nghiên cứu và xây dựng mối quan hệ với đối tượng nghiên cứu từ trước, quá trình thu thập dữ liệu chính thức được tiến hành trong thời gian từ tháng 10 năm 2015 đến tháng

12 năm 2016 Địa bàn nghiên cứu được chọn là nơi có nhiều nam di cư sang Trung Quốc để kiếm việc làm và hầu hết trong số họ đều là di cư lao động không giấy tờ và đi theo mạng lưới quen biết hoặc qua các bên môi giới Theo thống kê của công an tỉnh Phú Thọ, tính từ năm 2011 đến tháng 6-2016 trên toàn tỉnh có 1.114 người xuất cảnh trái phép sang Trung Quốc lao động “chui” không phép

Trang 14

Thông qua nhóm lao động di cư nam trở về từ Trung Quốc tôi muốn làm sáng tỏ toàn bộ quá trình di cư của nhóm nam di cư từ Việt Nam sang Trung quốc kể từ khi họ quyết định di cư cho đến khi họ quyết định quay trở về Bên cạnh đó, tôi cũng tìm hiểu những vấn đề về sức khỏe của người di cư

 Thứ nhất, thông qua quá trình thu thập thông tin tôi muốn phác họa được bức tranh cuộc sống của nhóm di cư nam trước khi di cư để thấy được những nguyên nhân ảnh hưởng đến quyết định di cư của họ hay những động năng nào góp phần vào việc thúc đẩy và đưa ra quyết định di cư

 Thứ hai, đề tài nghiên cứu tập trung tìm hiểu những nguy cơ, rủi ro và những khó khăn mà người di cư gặp phải trên đường đi và tại nơi đến Đặc biệt, tôi muốn tìm hiểu những trải nghiệm về cuộc sống của nhóm di cư này tại nơi đến

cụ thể như: Những trải nghiệm liên quan đến cuộc sống và công việc tại nơi đến, việc thực hành và kết nối xã hội; phân tích việc thực hành gửi tiền về cho gia đình ở Việt Nam; tính nam cũng như các hành vi tình dục và các loại hình quan hệ tình dục tại nơi đến vv…Và đồng thời tôi cũng tìm hiểu những nguyên nhân khiến họ phải quay trở về nước

 Thứ ba, bằng việc chọn địa bàn nghiên cứu là nơi xuất cư (sending location) tôi cũng có điều kiện thu thập thông tin và phân tích những ảnh hưởng của di cư đến cuộc sống gia đình của nhóm di cư này sau quá trình di cư Cụ thể, tôi tập trung đi sâu tìm hiểu các vấn đề liên quan đến bệnh tật trong di cư: đó là những nguy cơ và sự lây nhiễm bệnh tật, hay các khuôn mẫu bệnh tật trong di cư

Để hoàn thành những mục tiêu nghiên cứu, quá trình thu thập, xử lý và phân tích dữ liệu đi trả lời cho các câu hỏi nghiên cứu sau:

1 Nguyên nhân dẫn đến việc đưa ra quyết định di cư?

2 Những trải nghiệm di cư và cuộc sống lao động của nhóm di cư Nam diễn ra như thế nào?

Trang 15

3 Nguyên nhân hồi hương, quá trình hòa nhập và những tác động của di cư đến các vấn đề sức khỏe của người di cư?

Xuất phát từ những câu hỏi nghiên cứu trong phạm vi đề tài nghiên cứu và trên cơ

sở vận dụng những lý thuyết khoa học, cần làm sáng tỏ những giả thuyết nghiên cứu sau:

1 Di cư lao động xuyên biên giới không có giấy phép tiềm ẩn rất nhiều những nguy cơ và rủi ro mà người di cư phải đối mặt

2 Quá trình kết nối xã hội và sự hòa nhập cuộc sống tại nơi ở mới của người di cư gặp rất nhiều khó khăn và hạn chế do tính không hợp pháp của việc di cư

3 Di cư là nguyên nhân gây ra các loại bệnh tật mới ở người di cư đồng thời gây

ra những trở ngại cho việc tái hòa nhập lại cuộc sống ở cộng đồng gốc

Các giả thuyết nghiên cứu trên đây lần lượt được kiểm chứng thông qua việc vận dụng các khung lý thuyết tiếp cận vào việc thu thập tìm kiếm thông tin từ thực địa Bên cạnh đó, trong quá trình tìm hiểu về nguyên nhân di cư cho thấy được sự chọn lọc của

di cư Cụ thể giúp lí giải được nguyên nhân vì sao tỉ lệ nam giới lại có xu hướng di cư bất hợp pháp xuyên biên giới nhiều hơn nữ giới Ngiên cứu cũng góp phần trả lời cho câu hỏi rằng tại sao nhóm nam di cư lại không lựa chọn những hình thức di cư an toàn hơn đó là đi theo các hợp đồng lao động mà lại lựa chọn cách di chuyển bất hợp pháp

mà ở đó chứa đựng rất nhiều những nguy cơ hay những rủi ro tiềm tàng mà họ sẽ gặp phải trên đường đi và trong suốt cả thời gian sinh sống và làm việc tại nơi đến

3 Phương pháp nghiên cứu

3.1 Mẫu nghiên cứu và phương pháp chọn mẫu

Việc chọn mẫu được tiến hành theo phương pháp chọn mẫu phi xác suất kết hợp với chọn mẫu có chủ đích Vận dụng cách lấy mẫu phi xác suất cụ thể là cách lấy mẫu dắt dây hay mẫu phát triển mầm (snowball smapling) là phù hợp cho nghiên cứu bởi lẽ hiện tượng di cư trái phép sang Trung Quốc làm việc thường diễn ra trong một mạng lưới quen biết của những người di cư (từ các quan hệ họ hàng, đến quan hệ làng xóm)

Trang 16

Mặc dù những người di cư ý thức được những khó khăn và rủi ro của việc di cư xuyên biên giới nhưng dựa vào mối quan hệ quen biết họ vẫn chấp nhận việc di cư, đây cũng

là một trong những lí do dẫn đến quyết định di cư của họ Bằng cách thiết lập được mối quan hệ với những đối tượng nam di cư này tôi có thể tiến hành và xác định lấy mẫu phục vụ cho nghiên cứu của mình

Qua cách lấy mẫu phát triển mầm, nghiên cứu tìm ra 60 trường hợp lao động di cư nam để tiến hành phỏng vấn, lập bảng hỏi và tìm hiểu thông tin nhằm trả lời cho câu hỏi nghiên cứu về động năng di cư, trải nghiệm trong di cư và hậu di cư Bảng hỏi điều tra được thiết kế nhằm tìm hiểu và thống kê các thông số về độ tuổi, giới tính, trình độ học vấn, các loại hình công việc chính tại nơi đến, về tiền lương hay các khoản chi tiêu cho sinh hoạt phí, cũng như các số liệu thống kê về các loại bệnh phổ biến và tỉ lệ mắc bệnh của nam di cư vv… Từ kết quả của việc điều tra bằng bảng hỏi và phỏng vấn 60 lao động di cư nam, qua những câu chuyện di cư của họ, nghiên cứu xác định 15 trường hợp điển hình để phục vụ cho nghiên cứu sâu Để đảm bảo có đủ thời gian cho việc thu thập cũng như xử lý thông tin tại thực địa thì việc lựa chọn 15 nam di cư phục

vụ cho nghiên cứu sâu là hợp lý và khả thi Vì nghiên cứu tìm hiểu cả những trải nghiệm về cuộc sống lao động của nhóm nam di cư tại nơi đến và quá trình trở về của

họ, đồng thời cũng tìm hiểu về những tác động của di cư đến sức khỏe và cuộc sống gia đình của họ sau di cư nên nghiên cứu cũng được mở rộng để tìm hiểu cuộc sống hộ gia đình của nhóm di cư đã được lựa chọn trong mẫu nghiên cứu

3.2 Các phương pháp nghiên cứu

Dữ liệu được thu thập và phân tích dựa trên hai nguồn chính là tài liệu thứ cấp và tài liệu nguyên gốc thu được từ điều tra ở thực địa

 Phương pháp phân tích tài liệu thứ cấp: tiến hành thu thập, phân tích các tài

liệu, báo cáo về vấn đề lao động, việc làm và các công trình nghiên cứu có liên quan tới đề tài được công bố bao gồm các nghiên cứu về tình hình cư nội địa cũng như di cư quốc tế được lưu trữ ở các thư viện nhà nước và địa phương

Trang 17

Đặc biệt là những thống kê liên quan tình hình di cư xuyên biên giới không có giấy phép, cũng như các nghiên cứu về cuộc sống, những trải nghiệm và những ảnh hưởng của di cư lao động không phép đến người di cư và gia đình tại nơi đi Các dữ liệu sơ cấp được thu thập tại địa bàn thông qua những phương pháp cụ thể Công trình nghiên cứu cũng vận dụng cả phương pháp nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng trong nhân học Tuy nhiên, nghiên cứu này ưu tiên sử dụng phương pháp định tính, đây là phương pháp chủ đạo và quan trọng nhất trong quá trình thu thập

dữ liệu Nghiên cứu định lượng được sử dụng để thống kê các dữ liệu liên quan đến đặc điểm nhân khẩu học của người di cư như: tuổi, giới tính, tình trạng hôn nhân, trình

độ học vấn, số thành viên trong hộ gia đình, và các dữ liệu liên quan chi phí di cư, các khoản chi phí sinh hoạt tại nơi đến và thống kê tiền lương và tiền gửi về cho gia đình ở quê nhà Một số các phương pháp cụ thể của nghiên cứu định tính được sử dụng cho nghiên cứu như:

 Quan sát tham dự: Việc quan sát tham dự được tiến hành xuyên suốt trong quá

trình thu thập thông tin tại thực địa kể từ khi tiến hành thâm nhập địa bàn nghiên cứu cho đến khi kết thúc quá trình nghiên cứu và trở về Mục tiêu là quan sát các hành vi, sinh hoạt, các sự kiện liên quan đến đời sống gia đình của nhóm di

cư trong điều kiện tự nhiên nhất, và cố gắng giảm đến mức tối đa mức độ nhạy cảm của người bị quan sát đồng thời cố gắng tạo sự gần gũi giữa nhóm được quan sát với nhà nghiên cứu Sau khi thiết lập được mối quan hệ thân thiết với đối tượng nghiên cứu song song với việc tìm hiểu về cuộc sống gia đình, sự hòa nhập của những nam di cư sau khi trở về, nghiên cứu tiến hành tìm hiểu về những trải nghiệm của nhóm nam di cư tại nơi đến thông qua các cuộc phỏng vấn sâu kết hợp với việc phỏng vấn phi cấu trúc với những câu hỏi mở nhằm tạo

sự thoải mái cho người được hỏi Để có thể thực hiện việc quan sát một cách thuận lợi, trong thời gian nghiên cứu chính ở thực địa cũng như trong những lần quay trở lại địa bàn sau này, nhà nghiên cứu đã ở trong nhà của những lao động

Trang 18

di cư nam Nhờ vậy mà những quan sát hằng ngày về cuộc sống hậu di cư của

họ trở nên chân xác hơn, cũng như việc khai thác thông tin về những câu chuyện

di cư của họ được dễ dàng hơn Điểm thuận lợi cho nhà nghiên cứu khi thực hiện đề tài nghiên cứu này là tìm hiểu nhóm di cư nam và việc nhà nghiên cứu

có cùng giới tính với đối tượng nghiên cứu cũng khiến cho quá trình khai thác thông tin có phần thuận lợi hơn Thông qua những buổi trò chuyện kín đáo, hoặc các buổi nói chuyện bên mâm cỗ, hoặc mời những lao động di cư nam đi ăn nhậu tôi có thể tìm hiểu được những câu chuyện về những trải nghiệm mang tính nhạy cảm của họ mà không phải lúc nào họ cũng sẵn lòng chia sẻ nếu như những câu chuyện đó được kể trong một bối cảnh khác

 Phỏng vấn: Bao gồm chủ yếu là Phỏng vấn sâu và phỏng vấn phi cấu trúc trên

cả hai cấp độ phỏng vấn nhóm tập trung và phỏng vấn cá nhân

- Phỏng vấn nhóm tập trung:

Việc phỏng vấn nhóm tập trung được thực hiện ngay sau khi thiết lập được mối quan hệ với nhóm đối tượng nghiên cứu và trước khi tiến hành các cuộc phỏng vấn sâu Việc phỏng vấn nhóm tập trung giúp tiết kiệm được thời gian, quan trọng hơn là giúp có được cái nhìn sơ bộ, từ đó giúp cho việc định hình kế hoạch nghiên cứu và việc thu thập dữ liệu ở các giai đoạn tiếp theo, đồng thời bổ sung thêm những giả thuyết về những yếu tố có thể tác động đến đối tượng và nội dung nghiên cứu, cũng giúp soi sáng thêm những thông tin định lượng hay định tính đã thu thập được từ trước đó Bên cạnh

đó những phát hiện từ việc phỏng vấn nhóm giúp định hướng cho việc soạn các câu hỏi mấu chốt cho bảng hỏi

Tổng số cuộc phỏng vấn nhóm tập trung tiến hành là hai cuộc phỏng vấn tương ứng với hai nhóm nam, mỗi nhóm gồm tám người đồng nhất theo nhóm tuổi Cụ thể có một nhóm ở độ tuổi từ 18-30 tuổi và một nhóm ở độ tuổi 31-50 tuổi Họ đều là những lao động di cư nam sang lao động không phép và có thời gian làm việc tối thiểu là một năm ở Trung Quốc Các nhóm tập trung thảo luận về các chủ đề liên quan như: những

Trang 19

thuận lợi và khó khăn của người di cư khi hòa nhập ở môi trường mới, việc sử dụng các dịch vụ xã hội tại nơi đến, các hình thức tìm việc làm, mạng lưới xã hội của người

di cư tại nơi đến vv… Trong quá trình thảo luận nhóm tập trung các thành viên trong nhóm được khuyến khích cùng thảo luận theo từng chủ đề theo sự dẫn dắt của nhà nghiên cứu Các cuộc thảo luận nhóm được ghi âm toàn bộ, bên cạnh đó mỗi nhóm cũng có một thư kí làm nghiệm vụ quan sát và ghi chép Mục đích của việc ghi âm và ghi chép được tiến hành song song vì việc ghi chép có quan sát giúp mô tả chính xác hơn về bối cảnh của cuộc phỏng vấn nhóm, khung cảnh xung quanh, mô tả được những phản ứng của người trong cuộc như: thái độ, cử chỉ, hành động mà nếu chỉ dùng máy ghi âm thì không thể khai thác hết được Việc ghi âm và ghi chép được thực hiện một cách công khai nên trước khi các cuộc phỏng vấn nhóm tập trung diễn ra, tất cả các thành viên trong nhóm đều được thông báo trước về việc ghi âm và buổi thảo luận chỉ bắt đầu khi có sự đồng ý từ những lao động di cư nam trong nhóm Có như vậy, buổi thảo luận mới có thể diễn ra tự nhiên, và thời gian cho mỗi cuộc phỏng vấn sâu cá nhân dao động từ 90 phút đến 120 phút

- Phỏng vấn cá nhân:

Ngoài việc phỏng vấn 60 lao động di cư nam, nghiên cứu tập trung tiến hành phỏng vấn và nghiên cứu sâu với 15 trường hợp nhằm mục đích tìm hiểu về những động năng, trải nghiệm cuộc sống lao động và các vấn đề sức khỏe trong quá trình di

cư lao động ở Trung Quốc Trên cơ sở đó mở rộng phỏng vấn các thành viên trong gia đình của nhóm di cư để tìm hiểu cuộc sống gia đình trước và sau di cư thông qua đó cho thấy được nguyên nhân di cư và tác động của di cư đến cuộc sống gia đình họ Số lượng các cuộc phỏng vấn và thời gian phỏng vấn sẽ được xác định phụ thuộc vào nhóm các vấn đề tìm hiểu cũng như chất lượng và hiệu quả của việc thu thập thông tin sau mỗi cuộc phỏng vấn ở lần đầu, và cuộc phỏng vấn lần sau sẽ phụ thuộc vào kết quả của cuộc phỏng vấn trước đó Nội dung các câu hỏi phỏng vấn xoay quanh các vấn đề như nguyên nhân di cư; những nguy cơ, rủi ro và những khó khăn mà người di cư gặp

Trang 20

phải trên đường đi và tại nơi đến; những trải nghiệm về cuộc sống của nhóm di cư này tại nơi đến; nguyên nhân khiến những nam di cư phải quay trở về nước; và những ảnh hưởng của di cư đến cuộc sống gia đình của nhóm di cư này sau quá trình di cư, các vấn đề sức khỏe trong di cư Một trong những khó khăn trong quá trình thực hiện nghiên cứu đó là đề tài nghiên cứu liên quan đến vấn đề di cư xuyên biên giới không có giấy phép nên việc để cho đối tượng nghiên cứu sẵn sàng chia sẻ thông tin cần phải có thời gian tiếp cận và thiết lập mối quan hệ với đối tượng nghiên cứu và trong quá trình phỏng vấn cần sử dụng kết hợp các mô hình phỏng vấn như phi cấu trúc và bán cấu trúc hay phỏng vấn thân mật một cách linh hoạt để thu được những thông tin chân xác nhất có thể Thông qua các cuộc phỏng vấn giúp thu thập được những câu chuyện đời sống liên quan tới những trải nghiệm cụ thể của những nam di cư từ đó giúp soi sáng những vấn đề nghiên cứu

Bên cạnh việc phỏng vấn những lao động di cư nam và các thành viên trong gia đình họ, nghiên cứu cũng tiến hành các cuộc phỏng vấn người dân địa phương, cán bộ, chiến sĩ công an và chuyên viên các phòng ban thuộc chính quyền các cấp trên địa bàn tỉnh Phú Thọ Qua đó, nhằm phân tích được cách nhìn của cộng đồng, làng xóm cũng như các cấp chính quyền về vị thế, vai trò của những lao động di cư nam không phép

Vì tính nhạy cảm của đề tài nghiên cứu và để đảm bảo tính an toàn cho các thông tín viên, trong quá trình diễn giải tài liệu tôi sẽ không công khai những thông tin

cá nhân cụ thể của thông tín viên như: họ tên thật, số điện thoại, địa chỉ, và ngày sinh Trong một số trích dẫn dữ liệu của luận văn, để thuận tiện cho việc diễn giải tài liệu, tất

cả tên của các thông tin viên đều được mã hóa hoặc sử dụng tên giả Đồng thời để thuận tiện cho việc phân tích, địa bàn nghiên cứu sẽ được sử dụng bằng một tên gọi mới là địa bàn xã Chiến Thắng huyện Bình Minh

3.3 Những hạn chế về mặt nghiên cứu:

Xem xét lại toàn bộ quy trình nghiên cứu từ thiết kế đề cương, điền dã thực địa đến giai đoạn trình bày kết quả nghiên cứu Không thể phủ nhận rằng nghiên cứu còn

Trang 21

những hạn chế nhất định về mặt phương pháp Đồng thời trong quá trình phân tích và diễn giải tài liệu cũng không tránh khỏi sự ảnh hưởng bởi những kinh nghiệm cá nhân mang tính chủ quan từ phía nhà nghiên cứu Do vậy mà một số sự kiện hoặc những chi tiết có ý nghĩa có thể bị bỏ qua trong một số trường hợp Ví dụ trước quá trình đi sâu nghiên cứu, với quan điểm của cá nhân tôi luôn nghĩ rằng di cư lao động xuyên biên giới không phép là một hiện tượng và hành vi để lại nhiều hệ luỵ tiêu cực Điều này có thể dẫn đến xu hướng tập trung vào tính tiêu cực trong những trải nghiệm của những lao động di cư nam hơn là đặt mình vào vị trí của người được nghiên cứu để nói lên những trải nghiệm thực tế và mang tính tính cực của họ

Quá trình thu thập thông tin cũng bộc lộ những hạn chế do xuất phát từ bản chất nhạy cảm và phức tạp của vấn đề nghiên cứu: nghiên cứu di cư không phép, hay những trải nghiệm nhạy cảm của người được nghiên cứu Những lao động di cư nam

có thể không sẵn sàng nói chuyện về các chủ đề nhạy cảm hoặc kinh nghiệm cá nhân trước mặt mọi người Sự hiện diện của những người khác trong các cuộc phỏng vấn như vợ con của những lao động di cư nam, hoặc việc phỏng vấn diễn ra tại một địa điểm không thích hợp có thể có khiến cho việc chia sẻ thông tin của người được nghiên cứu bị lái theo chiều hướng khác mà dẫn tới việc thông tin bị bóp méo

Một trong những khó khăn khác có thể dẫn đến những hạn chế của nghiên cứu liên quan đến việc lựa chọn mẫu nghiên cứu Những người được chọn tham gia nghiên cứu có thể sẽ không mang tính đại diện và khái quát cho vấn đề được tìm hiểu Thêm vào đó, việc nhà nghiên cứu không có điều kiện tiến hành nghiên cứu và điền dã thực địa tại nước di cư đến (Trung Quốc), mà chỉ tập trung vào điểm xuất cư (nước nơi có người di cư đi) Những trải nghiệm về cuộc sống, lao động nơi đất khách đều do những lao động di cư nam tái hiện lại qua những câu chuyện kể Những thông tin đó, chỉ có thể được kiểm chứng thông qua việc kiểm tra chéo bằng việc so sánh kết quả từ các cuộc phỏng vấn khác với nội dung tương tự mà bản thân nhà nghiên cứu không có

cơ hội được trực tiếp quan sát tham dự

Trang 22

Cuối cùng, việc không biết tiếng Trung cũng là điều hạn chế khiến nhà nghiên cứu gặp khó khăn trong việc xử lý và trình bày những tài liệu và thông tin liên quan đến trải nghiệm của lao động di cư nam tại nơi đến Có nhiều trường hợp lao động di

cư nam trong các cuộc phỏng vấn sâu, thường sử dụng kết hợp những từ ngữ tiếng Trung với tiếng Việt để nói về những trải nghiệm của bản thân Sự khó khăn trong việc chuyển ngữ khiến cho việc phân tích trải nghiệm của những lao động di cư nam kém phần thuyết phục hơn, đặc biệt là những trải nghiệm liên quan đến văn hoá, việc

sử dụng ngôn ngữ và kết nối xã hội tại nơi đến

4 Bố cục của luận văn

Bên cạnh phần mở đầu và phần kết luận, luận văn có cấu trúc bao gồm bốn chương nội dung chính sau:

Chương 1: Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của đề tài

Chương 2: Bối cảnh lao động di cư nam xuyên biến giới Việt-Trung

Chương 3: Những trải nghiệm của lao động di cư nam xuyên biến giới Trung

Việt-Chương 4: Hồi hương và quá trình tái hoà nhập của lao động di cư nam

Trang 23

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

1.1 Tổng quan tài liệu nghiên cứu

1.1.1 Nghiên cứu di cư nội địa

Nghiên cứu di cư ở Việt Nam hiện nay rất đa dạng Trên thực tế những nghiên cứu

về di cư ở nước ta chỉ được triển khai mạnh mẽ nhất trong khoảng hơn hai thập kỉ trở lại đây Xuất phát từ những thay đổi của nhà nước về đường lối đổi mới đất nước được khởi phát từ năm 1986 Theo thời gian, cùng với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nhiều trung tâm với ngày càng nhiều các khu đô thị, khu công nghiệp và khu chế xuất mọc lên Như một hệ quả tất yếu, các luồng di cư ồ ạt từ mọi nơi đổ về những khu trung tâm đô thị để tìm kiếm những cơ hội, trước hết là cơ hội việc làm Vấn đề di cư trở thành một vấn đề nóng bỏng bởi những tác động lớn của nó đến mọi mặt từ vấn đề kinh tế, chính trị cho đến các vấn đề về xã hội và văn hóa Điều này đặc biệt ảnh hưởng đến công việc quản lý xã hội và hoạch định chính sách Trên cơ sở đó nhiều những nghiên cứu về di cư được tiến hành, bao gồm cả những nghiên cứu trên bình diện quốc gia và những nghiên cứu của các tổ chức, các nhóm và những cá nhân Trong đó, nhiều công trình nghiên cứu nói trên đã có kết quả công bố và xuất bản dưới dạng sách, bài viết đăng trên các tạp chí chuyên ngành hoặc dưới dạng những báo cáo tổng kết đề tài, hay các báo cáo trình bày tại hội thảo vv… Mỗi công trình với những mục tiêu nghiên cứu khác nhau, nhưng nhìn chung các nghiên cứu nhằm tìm ra lời giải cho bài toán trong việc hoạch định chính sách nhằm kiểm soát có hiệu quả vấn đề di cư nhằm hướng tới mục tiêu thực hiện tốt các vấn đề an sinh xã hội Bên cạnh đó, hầu hết các nghiên cứu trước đây đều nhất trí về tính cơ học của di cư và coi di cư như một hiện tượng tự nhiên Các nghiên cứu còn có sự đồng nhất rằng chính quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã góp phần thúc đẩy các luồng di cư tự do nông thôn-đô thị

Có thể kể ra các công trình nghiên cứu qui mô cấp nhà nước với những kết quả đầy

ý nghĩa về di cư như: Các tài liệu công bố về kết quả Điều tra di cư Việt Nam năm

Trang 24

2004; Các cuộc Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 1999 và 2009; Điều tra mức sống dân cư; Điều tra biến động dân số, kế hoạch hóa gia đình hằng năm

Trong các công trình nghiên cứu qui mô quốc gia kể trên, thì hai cuộc Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 1999 và 2009 là hai nghiên cứu với qui mô rộng lớn nhất Tuy không tập trung vào vấn đề chính là di cư, nhưng hai cuộc điều tra này đã cung cấp những thông tin tổng quan và cập nhật nhất mang tính đại diện về nhân khẩu học về

các dòng di dân trong nước Kết quả Tổng điều tra dân số, nhà ở Việt Nam năm 2009

cho thấy rằng: Số dân di cư giữa các tỉnh có xu hướng ngày càng tăng với mức tăng từ hai triệu người năm 1989 lên 3,4 triệu người tới thời điểm nghiên cứu năm 2009; có sự khác biệt giữa các dòng di cư giữa các vùng và các tỉnh thành trong cả nước, Đồng Bằng Sông Hồng và Đông Nam Bộ là những vùng có tỉ lệ người nhập cư lớn và số lượng tăng nhanh; Bắc Trung Bộ, vùng Nam Trung Bộ và Đồng Bằng Sông Cửu Long

là những khu vực có số lượng người xuất cư cao và cũng tăng nhanh Trong các vùng

đó thì các thành phố lớn: Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Bình Dương vv… là những địa phương có số dân nhập cư nhiều; Bên cạnh đó kết quả điều tra còn cho thấy sự khác biệt ở góc độ giới liên quan đến vấn đề di cư, đó là hiện tượng “nữ hóa di cư”- nghĩa là hiện tượng nữ di cư ngày càng phổ biến; Một phát hiện có ý nghĩa khác trong kết quả điều tra đó là độ tuổi di cư đa số là những người trẻ và tập trung ở nhóm từ 15-

29 tuổi

“Điều tra di cư Việt Nam năm 2004” (Tổng cục thống kê, 2005) là cuộc điều tra

đầu tiên về di dân mang tầm quốc gia Cuộc điều tra được tiến hành chọn mẫu trên 11 tỉnh thành đại diện cho năm khu vực trên toàn quốc Mục đích của điều tra là tìm hiểu những nguyên nhân dẫn đến quyết định di dân; Những ảnh hưởng của di dân tới sự phát triển kinh tế-xã hội của các vùng cũng như toàn quốc; Kết quả di cư tới đời sống người di cư và gia đình; cũng như đưa ra những so sánh về tình trạng giữa người di cư

và người không di cư tại nơi đến Kết quả điều tra được dùng làm cơ sở hoạch định chính sách trong việc quản lý di cư và cải thiện các chính sách giúp đỡ nhằm cải thiện

Trang 25

điều kiện sống và giúp người nhập cư dễ hòa nhập tại nơi đến

Điều tra mức sống dân cư của Việt Nam năm 1992 và năm 1998 và các điều tra mức sống hộ gia đình ở việt Nam với hai năm một lần từ năm 2002 đến 2010 cũng là những nguồn tài liệu quan trọng góp thêm cái nhìn vào bức tranh di cư ở Việt Nam Đó

là việc tập trung phân tích các nguồn tiền người di cư gửi về gia đình, hiệu quả của việc sử dụng các nguồn tiền gửi về ở cộng đồng nơi những người đi Các điều tra cho thấy tác động của vấn đề di cư theo thời gian và cũng cung cấp phần nào những thông tin về loại hình di cư mùa vụ

Các công trình nghiên cứu với những đề tài và dự án của những tổ chức, các nhóm

và những cá nhân về di cư mới thực sự đa dạng, được thực hiện bởi các nhà khoa học thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau và những đơn vị sự nghiệp trong nước cũng như được các tổ chức phi chính phủ tài trợ Điểm yếu của những nghiên cứu này là về qui mô nội dung nghiên cứu thường nhỏ và địa bàn nghiên cứu thường hẹp nên tính đại diện và khái quát không cao Tuy nhiên, đó lại là những nghiên cứu sâu, bám sát từng vấn đề

cụ thể nên mỗi nghiên cứu đó sẽ như một lát cắt cho một bức tranh toàn diện về di cư

Có thể phân loại các nghiên cứu về di cư ở Việt Nam trong những năm qua dựa trên các hướng tiếp cận và những chủ đề nghiên cứu khác nhau Với mỗi chủ đề và góc tiếp cận khác nhau các nhà nghiên cứu, học giả đã vận dụng những mô hình lý thuyết khác nhau trong quá trình lý giải và phân tích Điều này đã củng cố và làm phong phú thêm

hệ thống những lý thuyết nghiên cứu về di cư nói riêng và trong nghiên cứu khoa học

xã hội nói chung

Trước hết phải kể đến các nghiên cứu về di dân tiếp cận dựa trên việc phân tích các đặc điểm nhân khẩu học của người di cư Về độ tuổi, giới tính, tình trạng hôn nhân, trình độ học vấn của người di cư Các tiếp cận này phải kể đến các cuộc nghiên cứu như: Điều tra di cư Việt Nam, những thống kê về mức sống người dân của Tổng cục thống kê, điều tra dân số và nhà ở Các tài lệu nghiên cứu chỉ ra rằng độ tuổi các nhóm

di cư là khá trẻ và có xu hướng ngày càng trẻ hóa Kết quả điều tra di cư Việt Nam

Trang 26

năm 2004 cho thấy hơn 33,5% phụ nữ di cư trong độ tuổi từ 20-24 tuổi so với 20% trong nhóm độ tuổi từ 25-29 tuổi So sánh về cấu trúc độ tuổi di cư trong hai cuộc tổng điều tra dân số năm 1999 và 2009 cũng thấy sự trẻ hóa trong di cư Các thống kê cũng chỉ ra rằng nhóm người chưa kết hôn có xu hướng di cư nhiều hơn nhóm người đã lập gia đình; Về trình độ học vấn của người di cư là tương đối thấp Theo kết quả tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, có 58% phụ nữ di cư mới học hết trung học cơ sở, có 2,3% nam và 3% nữ là không biết chữ Những nghiên cứu này cung cấp những nét chung cơ bản về đặc điểm nhân khẩu học của người di cư

Dưới góc độ của việc quản lý và hoạch định chính sách, nhiều nghiên cứu về di cư được tiến hành Mục tiêu của những nghiên cứu này là hướng tới tìm ra những biện pháp nhằm quản lý và kiểm soát các hoạt động di cư, đảm bảo trật tự xã hội cũng như các vấn đề an sinh Di cư nông thôn-đô thị là đề tài được chú ý nhiều nhất bởi lẽ luôn tạo ra những khó khăn về mặt quản lý, đặc biệt là ở các đô thị lớn Các nghiên cứu thường chỉ ra các nguyên nhân của di cư; Những tác động của di cư, thường là những ảnh hưởng tiêu cực tại nơi đến; cũng như việc phân tích quá trình thích nghi của người

di cư vv Về cơ bản những nghiên cứu dạng này có xu hướng đồng ý cần có những biện pháp thắt chặt quản lý nhằm ngăn cản các làn sóng di cư vào đô thị, coi người di

cư là tác nhân chủ yếu gây ra những bất ổn xã hội tại nơi đến Hàng loạt các công trình tiêu biểu phải kể đến như:

Nghiên cứu về di dân theo mùa vụ (Lê Đăng Giảng, 1995) là đề tài chỉ ra nguyên nhân của di cư theo mùa vụ là để tìm kiếm việc làm, tăng thêm nguồn thu nhập, đảm bảo cuộc sống Đối tượng của di cư theo mùa vụ là những người nông dân, và nhịp điệu di cư diễn ra theo mùa vụ, tức vào những lúc nông nhàn và không bận việc, những người nông dân lại di cư tìm việc làm Việc di cư theo mùa vụ như vậy đã đề lại rất nhiều những hậu quả xã hội Tác giả chỉ ra những ảnh hưởng tiêu cực của di dân theo mùa vụ nông thôn-đô thị là tạo ra những sức ép về mặt quản lý, gây ra những xáo trộn

xã hội tại nơi đến; hay gây ra những tệ nạn xã hội như trộm cắp, mại dâm; sự ách tắc

Trang 27

giao thông, sức ép về việc làm

Nghiên cứu của Đinh Quang Hà (Đinh Quang Hà, 2015) cho thấy di dân tự do tạo

áp lực lớn về việc làm, chỗ ở, giao thông đô thị, an sinh xã hội vv làm gia tăng tính phức tạp, khó kiểm soát công dân đang làm ăn, sinh sống trên địa bàn Hà Nội, hạn chế đến hiệu lực quản lý nhân khẩu, quản lý xã hội của hệ thống chính trị cơ sở; góp phần gia tăng tội phạm, hành vi tệ nạn xã hội, và làm nhiễu loạn giao thông đô thị Tác giả cũng chỉ ra hành vi vi phạm trật tự xã hội của người di cư gây ra bởi hai nguyên nhân chính đó là: sự quản lý nhân khẩu lỏng lẻo tại nơi đến và mục tiêu tăng thu nhập bằng mọi giá của người di cư khiến họ luôn tìm cách di cư tìm việc làm khi có thể Tác giả cũng dự báo rằng di dân tự do nông thôn-đô thị ở Hà Nội sẽ tiếp tục gia tăng cả về số lượng và cường độ Bằng việc áp dụng các khung lý thuyết xã hội học vào việc phân tích những nguyên nhân gây ra hành vi vi phạm trật tự xã hội của những người di cư tới Hà Nội: Lý thuyết về sai lệch chuẩn mực xã hội, lý thuyết về xung đột xã hội và mạng lưới xã hội đã cho thấy được những yếu tố chi phối đến mức độ, tính chất hành

vi vi phạm trật tự của nhóm xã hội này

Đề tài di dân tự do đến Hà Nội-thực trạng và giải pháp quản lý (Hoàng Văn Chức,

2004) thể hiện những quan niệm về di dân, những ảnh hưởng của di dân đến phát triển kinh tế-xã hội, những khó khăn và đề ra những kinh nghiệm quản lý nhà nước về di dân Bằng việc phân tích thực trạng di dân tự do vào Hà Nội và thực trạng việc quản lý

di dân tự do ở Hà Nội tác giả đưa ra những đề xuất nhằm nâng cao hệu quả quản lý di dân tự do vào Hà Nội

Nghiên cứu di cư được nhìn từ góc độ giới, sức khỏe đã được triển khai mạnh mẽ

và thu được nhiều kết quả Những nghiên cứu về di dân gắn với vấn đề giới thường đề cập tới nguyên nhân, hậu quả của phụ nữ di cư; Các vấn đề sức khỏe, đời sống tình dục; cũng như những khoảng trống trong tiếp cận về quyền và chính sách; những khó khăn, thách thức, và những hiểm họa từ di cư đối với phụ nữ

Đáng chú ý là đề tài nghiên cứu Giới và tiền chuyển về của lao động di cư (TCTK,

Trang 28

UN, MDGIF, 2012) Với lượng mẫu nghiên cứu lên tới 600 lao động di cư ra Hà Nội

tham gia trả lời phỏng vấn bằng bảng hỏi và 152 lao động di cư tham gia trả lời phỏng vấn sâu thông qua 42 cuộc phỏng vấn sâu và 12 thảo luận nhóm tập trung, giúp nghiên cứu có thêm nhiều thông tin chiều sâu hữu ích Quá trình thực hiện diễn ra từ tháng tư đến tháng năm năm 2010 tại ba phường thuộc ba quận nội thành Hà Nội Mục đích của nghiên cứu là hướng vào tìm hiểu khác biệt giới trong khả năng gửi tiền, khác biệt giới trong thu nhập và quản lý nguồn tiền tiết kiệm của LĐDC, khác biệt giới trong việc tiếp cận và sử dụng các dịch vụ chuyển tiền, mối quan hệ giới trong việc quản lý và sử dụng nguồn tiền chuyển về tại hộ gia đình nơi đi Kết luận của nghiên cứu chỉ ra rằng: Người lao động từ nông thôn ra thành phố gồm cả nam và nữ đều phải đối mặt với những trở ngại khác nhau trong quá trình cư trú và làm việc, điều này làm ảnh hưởng đến mức độ và khả năng gửi tiền của họ về cho gia đình Số lượng nữ làm công việc lao động giản đơn nhiều gấp đôi nam; nghiên cứu còn cho thấy đa số nam và nữ đều phụ thuộc nhiều vào mạng lưới các mối quan hệ xã hội, đối với họ đây là một nguồn hỗ trợ hữu ích trong giữa vô vàn khó khăn của cuộc sống thành thị, cung cấp cho họ thông tin việc làm Nhiệm vụ hỗ trợ tài chính cho gia đình khiến mỗi người lao động phải chịu những áp lực khác nhau: nhóm đã kết hôn phải chịu áp lực nhiều hơn nhóm chưa kết hôn; người lao động xuất thân từ gia đình nghèo bị áp lực hơn những gia đình khác;

nữ giới cảm thấy phải chịu áp lực kiếm tiền cao hơn nam; Cả nam và nữ đều chấp nhận điều kiện sống khó khăn để hạn chế chi tiêu Diện tích ở chật chội, không có tủ hoặc két riêng khiến việc tự cất giữ tiền của họ nhìn chung là không an toàn; Tình trạng hôn nhân của LĐDC là yếu tố quyết định chính tới việc lựa chọn thành viên quản lý và sử dụng nguồn tiền chuyển về tại hộ gia đình nông thôn Hầu hết những trường hợp chưa kết hôn, cả nam và nữ thường gửi tiền cho cha mẹ quản lý Một số đề xuất được đưa ra trong nghiên cứu đó là: cần tạo cơ hội cho người lao động nhằm tối đa hóa lợi ích của việc di cư; cung cấp thông tin cho người lao động; cần có những biện pháp để tăng cường tiếp cận các dịch vụ giữ tiền và chuyển tiền của người di cư; và sử dụng bền

Trang 29

vững nguồn tiền chuyển về

Dựa trên quan điểm giới và phát triển (Hà Thị Phương Tiến, Hà Quang Ngọc, 2000), các tác giả tập trung phân tích những vấn đề liên quan đến lao động nữ di cư tự

do từ nông thôn ra thành thị Công trình chỉ ra những nguyên nhân, phân tích những mặt thuận lợi và khó khăn của quá trình phát triển kinh tế-xã hội cũng như môi trường

đã tác động như thế nào tới quá trình phụ nữ di cư; bên cạnh đó nhóm tác giả cũng mô

tả thực trạng việc làm và cuộc sống của lao động nữ di cư tự do Cũng như phân tích những nguyên nhân, những tác động nhiều mặt của hiện tượng di tự do của những lao động nữ đối với sự phát triển của kinh tế-xã hội của các thành phố nói riêng và của cả nước nói chung Trên cơ sở đó tìm kiếm và đề xuất những giải pháp nhằm giải quyết những vấn đề di cư nói chung và của lao động nữ nói riêng góp phần tạo bình đẳng giới trong việc làm, điều kiện lao động, thu nhập và thúc đẩy những tiến bộ Với thời gian nghiên cứu được tiến hành trong một năm, bằng những nghiên cứu định tính, nhóm tác giả tiến hành phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm ở các cộng đồng cả nơi có người đi và nơi đông người di cư đến Công trình đã phỏng vấn sâu 60 đối tượng là phụ nữ di cư ở

độ tuổi từ 18-55 tuổi và 30 đối tượng nam giới di cư tự do ở ba thành phố lớn: Hà Nội,

Đà Nẵng, và thành phố Hồ Chí Minh Công trình cũng khảo sát đời sống kinh tế-xã hội tại ba xã khác nhau được lựa chọn ở ba tỉnh thành: Hà Nam, Long An, và thành phố Đà Nẵng Đồng thời nghiên cứu 30 hộ gia đình để xem xét những lí do của sự ra đi, những thay đổi của những gia đình có phụ nữ đi làm ăn xa Đặc biệt xem xét mức độ tăng, giảm về vị trí và vai trò của phụ nữ trong gia đình và cộng đồng khi họ ra thành phố làm việc Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng: lao động nữ di cư tự do từ các vùng nông thôn vào thành phố đang tham gia vào công cuộc đổi mới, ghóp phần vào quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, cũng như đóng ghóp sức mình vào thành tựu kinh tế-xã hội của đất nước Tuy nhiên, lao động nữ đang gặp phải rất nhiều những khó khăn, trở ngại trong cuộc sống Đó chính là sự bất cập trong quyền lợi và nghĩa vụ, giữa năng lực và yêu cầu, giữa khả năng cống hiến và điều kiện sức khỏe, giữa đóng góp và

Trang 30

hưởng thụ Kết quả của nghiên cứu cũng chỉ rõ việc phụ nữ di cư cũng ảnh hưởng rất lớn tới các thành viên gia đình nơi xuất cư: việc người phụ nữ di cư đi, đã để lại sau đó

là sự thiếu vắng vai trò của người vợ, người mẹ, người con trong gia đình ở quê, những vấn đề về đời sống gia đình, vai trò và trách nhiệm nuôi dạy con cái Nó không chỉ là vấn đề riêng của phụ nữ, mà còn là vấn đề của cả gia đình và xã hội Bên cạnh đó, nhóm tác giả còn dự báo tương lai rằng: di cư tự do ra thành thị ở Việt Nam nói chung

và cả di cư lao động nữ nói riêng sẽ càng diễn ra thêm mạnh mẽ Đó cũng là những cảnh báo nhằm có hướng đi tích cực trong chính sách để giải quyết tốt những yêu cầu thực tế về vấn đề di cư Có thể nói trong rất nhiều nghiên cứu về di cư thì đây là một trong nhóm nghiên cứu có cái nhìn tích cực về di cư tự do nông thôn đô thị Thêm vào

đó nghiên cứu này cũng góp thêm cách tiếp cận về di cư trên góc độ giới

Công trình nghiên cứu với đề tài Từ nông thôn ra thành phố (Lê Bạch Dương &

Nguyễn Thanh Liêm, 2011) đã tiến hành điều tra về ảnh hưởng của di cư nông thành thị tại các địa phương đi và địa phương đến Mục tiêu chính của dự án nghiên cứu này là nhằm cung cấp các bằng chứng thực nghiệm về tác động của di cư để có thể giúp thay đổi quan điểm phổ biến của nhà nước và xã hội từ hướng tiêu cực sang tích cực, tức là thay đổi và nhìn nhận một cách đúng đắn những ý nghĩa tích cực mà di cư mang lại cho sự phát triển Một trong những nội dung nghiên cứu quan trọng là tìm hiểu về tác động của di cư đối với cả nơi đến và nơi đi Để tìm hiểu về những tác động của di cư, câu hỏi nghiên cứu chính được đưa ra là lợi ích của những khoản tiền/hàng

thôn-mà lao động di cư gửi về nhà Do vậy, nghiên cứu này khảo sát phản ứng của các hộ gia đình đối với cơ hội di cư và những lợi ích của việc di cư ra thành phố đối với các

hộ gia đình và cộng đồng Mối quan hệ giữa di cư và phát triển có thể được nhìn nhận thông qua đánh giá tác động của di cư đến phúc lợi gia đình của người di cư và sự phát triển cộng đồng nói chung Nghiên cứu này cũng tìm hiểu ảnh hưởng phi kinh tế của di

cư, ví dụ như tác động về mặt tâm lý hay xã hội đối với những người khác trong gia đình ở quê nhà Chẳng hạn như việc các lao động chính và còn trẻ đi di cư có thể tạo ra

Trang 31

gánh nặng về công việc nhà cho người già và trẻ em Di cư của nữ giới có thể ảnh hưởng đến sự chăm sóc đối với người già và trẻ em vốn là trách nhiệm chính của phụ

nữ trong gia đình Nghiên cứu tiến hành so sánh cơ cấu nghề nghiệp của người di cư so với người không di cư để tìm hiểu lao động di cư đã được thu hút vào thị trường lao động như thế nào? Cũng như những vấn đề liên đới trong tác động của di cư bao gồm

“dòng chảy” của tiền giữa nơi đi và nơi đến thông qua di cư, nhận thức của người di cư

và dân thành phố về các tác động kinh tế xã hội của di cư cũng như thái độ của hai nhóm dân cư này đối với việc nên hay không nên có di cư Nghiên cứu này cố gắng thu thập các bằng chứng tại cộng đồng nghiên cứu nhằm bắc bỏ những quan điểm nhìn di

cư mang tính tiêu cực Đó là những quan điểm về mối quan hệ giữa di cư và “tệ nạn xã hội”; quan điểm coi người di cư là gánh nặng lên hạ tầng cơ sở ở đô thị và di cư làm tăng tệ nạn xã hội ở thành phố Dữ liệu nghiên cứu cứu được thu thập thông qua việc điều tra chọn mẫu tại bốn tỉnh thành: Thái Bình (miền Bắc) và Tiền Giang (miền Nam)

là hai tỉnh có nhiều người di cư ra thành phố; cùng hai thành phố: Hà Nội và thành phố

Hồ Chí Minh là hai địa phương đông người nhập cư nhất trong cả nước Vì nghiên cứu được tiến hành ở cả nơi đến và nơi đi của người di cư nên việc chọn mẫu và phỏng vấn

ở hai nơi đi và đến là khác nhau Ở mỗi tỉnh tại địa phương nơi đi, nhóm nghiên cứu chọn ra hai huyện; trong mỗi huyện chọn ba xã; trong mỗi xã ba thôn và việc lựa chọn các huyện, xã và thôn được căn cứ theo xác suất tỷ lệ thuận với dân số Các hộ gia đình trong nghiên cứu được xây dựng và phân thành hai nhóm: nhóm các thành viên của hộ gia đình có người di cư nông thôn-đô thị và nhóm các thành viên của hộ gia đình không có người di cư nông thôn-đô thị Số mẫu được lựa chọn là 1.400 thành viên được chọn ngẫu nhiên từ những hộ gia đình có người di cư (khoảng 800 hộ) và 900 thành viên được chọn ngẫu nhiên từ các hộ không có người di cư (khoảng 600 hộ) Tại thành phố-tức nơi những người di cư đến, nghiên cứu sử dụng phương pháp chọn mẫu xác suất và được tiến hành trong nhiều giai đoạn đối với người di cư và người không di

cư (dân địa phương) Tại mỗi thành phố, việc chọn mẫu ngẫu nhiên được thực hiện tại

Trang 32

một quận ở khu vực phố cổ và một quận ở khu vực mới phát triển Trong mỗi quận, ba phường nhiều dân nhập cư được lựa chọn Đối tượng được chọn phỏng vấn từ nhóm người di cư và người không di cư thuộc những người có độ tuổi từ 15 đến 50 Bảng hỏi cũng được sử dụng trong nghiên cứu Bảng hỏi điều tra gồm các câu hỏi đánh giá tác động của di cư đến phúc lợi của gia đình Bảng hỏi được xây dựng để thu thập các dữ liệu định lượng từ người di cư và không di cư Hai nhóm đều được hỏi các câu hỏi tương tự về các đặc điểm nhân khẩu và xã hội của họ, nghề nghiệp, điều kiện việc làm, tiền lương và phúc lợi lao động, cũng như đào tạo nghề nghiệp và thăng chức Hay như các câu hỏi nhằm tìm hiểu về mức độ sử dụng dịch vụ công cộng của người di cư so với người không di cư Do đó, các câu hỏi về khả năng tiếp cận (cho phép/không cho phép; điều kiện để tiếp cận) và sự sử dụng dịch vụ công cộng (sử dụng/không sử dụng; trong/ngoài thành phố; nhà nước/tư nhân; miễn phí/mất phí; chi phí cao/chi phí thấp) như là chăm sóc sức khỏe, giáo dục, nhà đất, và các tiện ích (điện, nước, điện thoại, vv…) đều được hỏi ở cả hai nhóm được lựa chọn từ mẫu Những kết luận quan trọng của nghiên cứu này chỉ ra rằng: Người di cư tại thành phố có liên kết và ràng buộc chặt chẽ với người thân ở quê Những người di cư, đặc biệt những người di cư tạm thời tự nhận thấy những đóng góp của họ đến gia đình ở quê nhà là rất tích cực; Những người

di cư tạm thời thường trẻ tuổi và có sức khỏe tốt hơn nhưng họ phải đối mặt với nhiều

áp lực hơn, có đời sống kinh tế kém hơn, khi ốm đau, họ thường tự uống thuốc bởi họ

ít có khả năng sở hữu bảo hiểm y tế hơn, ít tìm đến các trung tâm khám chữa bệnh hơn,

so với người di cư lâu dài, và cơ hội đó càng không thể so sánh được với những người không di cư Bên cạnh đó nghiên cứu cũng cho thấy, người di cư tạm thời thường làm việc cho khu vực tư nhân, tham gia các công việc tạm thời, theo vụ mùa, nguy hiểm và độc hại với giờ làm việc dài hơn và khả năng bị tai nạn lao động cao hơn; tuy nhiên, họ

có thu nhập thấp hơn và ít tiền tiết kiệm hơn Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, có những mối lo ngại, đặc biệt ở người không di cư, về tác động tiêu cực của việc di cư đến cơ sở

hạ tầng, sử dụng chất gây nghiện, mại dâm, trộm cắp và an ninh trật tự ở thành phố

Trang 33

Cuối cùng nghiên cứu kết luận, những tác động thấy được của việc di cư từ nông thôn lên thành thị là tích cực hơn nhiều so với tiêu cực Đồng thời, nhóm nghiên cứu cũng

dự báo việc di cư từ nông thôn lên thành phố sẽ tiếp tục gia tăng trong tương lai do đa

số người di cư đều hài lòng với quyết định di cư của mình và phần lớn trong số họ cũng có dự định ở lại thành phố

Ngoài ra còn rất nhiều các nghiên cứu di cư khác, cho thấy những khía cạnh khác

nhau của di cư Báo cáo kết quả chủ yếu điều tra di dân tự do vào đô thị Hà Nội của

trung tâm dân số và nguồn lao động cũng cung cấp những thông tin cơ bản về tình hình

di cư ở Việt Nam; các quá trình di dân và làm Việc ở Hà Nội; Ảnh hưởng của di dân; vấn đề di dân tạm thời; tình hình đăng kí cư trú và hòa nhập với cuộc sống mới ở đô thị Các nghiên cứu về di cư ở Việt Nam đã có những phân tích khá rõ nét về bức tranh

di cư trong nước Tuy nhiên di cư là một vấn đề phức tạp cần có cái nhìn đa diện, đa chiều kích Di cư cần được phân tích và đặt trong mối quan hệ qua lại giữa cộng đồng gốc với cộng đồng nơi đến mà thông qua điểm nhìn tập trung là người di cư

1.1.2 Nghiên cứu di cư quốc tế

Nghiên cứu về người Việt Nam di cư ra nước ngoài đã được nhiều tổ chức quốc tế như: Tổ chức Di cư quốc tế (IOM), Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), Chương trình Phát triển Liên hiệp quốc (UNDP), Ngân hàng Thế giới (WB), Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), vv… và các cơ quan bộ, ngành của Việt Nam cùng các nhà khoa học nghiên cứu độc lập trong và ngoài nước nghiên cứu với các mục tiêu khác nhau

Trong đó “Báo cáo tổng quan về tình hình di cư của công dân Việt Nam ra nước ngoài” (IOM, EU, Cục lãnh sự-Bộ ngoại giao Việt Nam, 2001) là một trong số những

nghiên cứu qui mô và toàn diện nhất từ trước đến nay về thực trạng người Việt Nam di

cư ra ngoài Báo cáo đã tổng quan, xem xét và đánh giá bức tranh di cư của công dân Việt Nam trong bối cảnh hội nhập và phát triển của Việt Nam từ thời kỳ đổi mới đến nay Báo cáo đã chỉ ra nhiều vấn đề của các nhóm di cư và đặc trưng nổi bật của các dòng di cư quốc tế, từ đó đưa ra các đánh giá và khuyến nghị đối với công tác quản lý

Trang 34

di cư của Việt Nam Liên quan đến vấn đề di cư lao động trái phép, báo cáo đã đề cập đến những hạn chế trong công tác quản lý di cư vẫn còn nhiều khoảng trống trong hệ thống pháp luật và chính sách, trong hợp tác song phương, khu vực và quốc tế khiến cho việc di cư diễn ra không an toàn; các hệ lụy của di cư trái phép như buôn bán người, bóc lột lao động, nô lệ tình dục cũng như đề cập tới việc trở về cùng với sự tái

hòa nhập của công dân Việt Nam sau hành trình di cư lao động

Bộ LĐ-TB&XH cũng tiến hành nhiều nghiên cứu về vấn đề người Việt Nam di cư

ra nước ngoài Tiêu biểu trong năm 2006 có hai nghiên cứu với tiêu đề Xác định nội dung cơ bản của Luật Xuất khẩu lao động, và Vấn đề bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của lao động Việt Nam đang làm việc tại nước ngoài: thực trạng và giải pháp Hai

nghiên cứu chỉ ra những bất cập trong cơ chế, chính sách về xuất khẩu lao động, và đặc biệt đã cho thấy thực trạng lao động Việt Nam làm việc tại nước ngoài còn phải đối mặt với nhiều khó khăn, việc bảo vệ quyền lợi chính đáng của người lao động nhiều hạn chế Trên cơ sở đó nghiên cứu đã đưa ra một số đề xuất đối với các cơ quan quản

lý nhà nước nhằm hoàn thiện Luật Xuất khẩu lao động đồng thời có những gợi ý đối với các doanh nghiệp xuất khẩu lao động và bản thân người lao động để có thể bảo vệ quyền lợi tối đa của người lao động khi đi làm việc ở nước ngoài

Bên cạnh những nghiên cứu của các bộ kể trên, một số Viện chuyên môn của Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam thực hiện các đề tài nghiên cứu về người Việt Nam di cư ra

nước ngoài như: đề tài Di chuyển lao động quốc tế: những vấn đề nổi bật, xu hướng cơ bản, tác động chủ yếu (Viện Chính trị và Kinh tế thế giới, 2010) Nghiên cứu đã chỉ ra

những tác động tiêu cực của xuất khẩu lao động như mất cân bằng giới, rạn nứt gia đình và cộng đồng, còn bản thân người lao động phải đối mặt với những khó khăn trong quá trình hòa nhập tại môi trường mới như sự khác biệt về văn hóa, bị kì thị và

phân biệt đối xử Cùng với đó là nghiên cứu Xuất khẩu lao động ở Việt Nam: một số vấn đề thực tiễn và chính sách (Viện Xã hội học, 2003) Nghiên cứu chỉ ra những bất

cập trong việc quản lý nguồn lao động xuất khẩu, hệ thống chính sách và cơ chế quản

Trang 35

lý người lao động xuất khẩu chưa hoàn thiện và còn lỏng lẻo dẫn đến việc chỉ nắm được số lao động đi mà chưa kiểm soát được số lao động về nước trước thời hạn cũng như số lao động đã hoàn thành hợp đồng

Đóng góp vào những nghiên cứu về người Việt Nam di cư ra nước ngoài còn có những nghiên cứu được thực hiện dưới sự tài trợ của các tổ chức quốc tế Như tổ chức

Health Bridge của Canada đã tiến hành khảo sát Thực trạng hoạt động xuất khẩu lao động tại Thái Bình thực hiện năm 2006 Kết quả nghiên cứu cho thấy những bất cập

trong hoạt động quản lý xuất khẩu lao động tại địa phương đồng thời nêu lên thực trạng khó khăn mà người di cư lao động nước ngoài phải đối mặt Năm 2008, tổ chức Health Bridge Canada tiếp tục phối hợp với Trung tâm Nghiên cứu Phụ nữ thuộc Hội LHPN

Việt Nam tiến hành một nghiên cứu sâu về Tác động của xuất khẩu lao động đến cuộc sống gia đình tại tỉnh Thái Bình Nghiên cứu đã cho thấy được cả những tác động tích

cực lẫn tiêu cực của di cư xuất khẩu lao động Một mặt việc xuất khẩu lao động giúp cải thiện kinh tế hộ gia đình Tuy nhiên có những trường hợp người xuất khẩu lao động phải gánh chịu những rủi ro như bị phá vỡ hợp đồng lao động, không tìm được công việc như ý muốn khiến gia đình phải rơi vào cảnh nợ nần Không chỉ vậy, người di cư

đi xuất khẩu lao động khi trở về phải đối mặt với những khó khăn trong việc tái hòa nhập với cộng đồng, đôi khi phải đối mặt với nguy cơ hôn nhân đổ vỡ do việc nghi nghờ, ghen tuông và thiếu tin tưởng nhau trong mối quan hệ vợ chồng Đó chỉ là một trong số hàng loạt những áp lực mà người di cư xuất khẩu lao động phải đối mặt

Nhằm Kêu gọi các nước chống lại nạn buôn người, hằng năm Bộ Ngoại giao Hoa

Kỳ đều công bố Báo cáo Tình hình buôn bán người của các quốc gia trên thế giới trong

đó có Việt Nam Theo như các báo cáo thì hiện tại Việt Nam đang xếp hạng ở danh

Trang 36

sách 2 2 Điều này cho thấy người Việt Nam di cư ra nước ngoài phải đối mặt với rất nhiều những rủi ro, cạm bẫy dễ trở thành nạn nhân của mạng lưới buôn người, bị bóc lột lao động, hay trở thành nô lệ tình dục Các báo cáo về tình hình buôn bán người cũng đưa ra những khuyến nghị đối với chính phủ nhằm ngăn chặn nạn buôn bán người, trong đó có các mô hình trợ giúp nạn nhân bị mua bán cùng với những hình thức hỗ trợ tái hòa nhập trở lại cộng đồng

Bên cạnh những nghiên cứu của các cơ quan, bộ ngành còn có những đề tài với

những nghiên cứu cụ thể của các cá nhân đăng trên các tạp chí như nghiên cứu Những nguyên nhân cơ bản và những điều kiện thúc đẩy di cư quốc tế (Nghiêm Tuấn Hùng,

2012) Tác giả đã phân ra những nguyên nhân của di cư quốc tế bao gồm: các nguyên nhân liên quan đến kinh tế, nguyên nhân xung đột và chiến tranh, di cư để đoàn tụ gia đình, di cư vì vấn đề môi trường và các nguyên nhân liên quan đến sắc tộc và văn hóa, ngoài ra còn có các điều kiện mới góp phần thúc đẩy di cư quốc tế và vấn đề tội phạm đưa người di cư trái phép như ảnh hưởng của quá trình toàn cầu hóa dẫn đến thị trường lao động được mở rộng, chính sách thu hút lao động nước ngoài của các nước phát triển, sự phát triển của công nghệ truyền thông và giao thông vận tải Tác giả Vũ Ngọc

Bình , trong bài viết Vấn đề luật, chính sách và thực tiễn của phụ nữ đi lao động ngoài nước nhìn từ góc độ quyền và giới trong cuốn sách Giới và di dân – Tầm nhìn châu Á

(Nhà xuất bản ĐHQG TP.HCM) nhìn nhận vấn đề di cư quốc tế dựa trên góc độ giới

và quyền con người đã nêu ra thực trạng và động cơ di chuyển của phụ nữ đi lao động nước ngoài, những tác động của lao động nước ngoài đến nước có người xuất cư đi và nước có người nhập cư đến, quan trọng hơn là trải nghiệm cuộc sống của người lao

2 Theo xếp hạng dựa trên nỗ lực của chính phủ trong việc xoá bỏ nạn buôn người trong các báo cáo thường niên

về nạn buôn người do Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ chia ra thành 3 bậc:

- Danh sách 1: là những nước mà chính phủ đã đáp ứng được đầy đủ các tiêu chuẩn tối thiểu của Đạo luật Bảo vệ Nạn nhân của nạn buôn người được ban hành năm 2000.

- Danh sách 2: là các chính phủ không đáp ứng đầy đủ những tiêu chuẩn tối thiểu đó nhưng đã có những

nỗ lực lớn nhằm đáp ứng các tiêu chuẩn của đạo luật.

- Danh sách 3: là các chính phủ không đáp ứng được các tiêu chuẩn tối thiểu và cũng không có những nỗ lực đáng ghi nhận

Trang 37

động di cư nước ngoài, những thách thức đối với phụ nữ khi đi lao động ở nước ngoài, vấn đề bảo vệ quyền của người lao động di cư và các chuẩn mực quốc tế, văn kiện pháp lý cùng cơ chế bảo vệ phụ nữ di cư lao động ở nước ngoài

Đề tài Quản lý nhà nước về di chuyển lao động Việt Nam ra làm việc ở nước ngoài

(Lê Hồng Huyên , 2011) đã chỉ ra Thực trạng quản lý nhà nước về di chuyển lao động Việt Nam ra làm việc ở nước ngoài từ đó đư ra định hướng và giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về di chuyển lao động Việt Nam ra làm việc ở nước ngoài đồng thời cần tăng cường vai trò giám sát và hỗ trợ của các tổ chức chính trị-xã hội đối với người lao động trước khi ra nước ngoài làm việc và sau khi về nước

Đề tài người Việt Nam di cư trái phép sang Anh hồi hương và nhu cầu về dịch vụ

hỗ trợ tái hòa nhập cộng đồng (Nguyễn Minh Hoàng, 2015) được tiến hành nhằm bổ

sung những thiếu hụt thông tin xung quanh vấn đề tái hòa nhập của người di cư trái phép tại cộng đồng, cũng như tạo được những định hướng trợ giúp cho những người di

cư trái phép hồi hương Nghiên cứu đã chỉ ra thực trạng người Việt Nam di cư trái phép sang Anh lao động và hệ quả của nó đang ở mức rất báo động Nghiên cứu cho thấy những rủi ro trên hành trình di chuyển, khó khăn trong cuộc sống ở Anh cùng với những áp lực sau khi hồi hương mà người di cư gặp phải Họ phải sống chui lủi bất hợp pháp, trong những điều kiện hết sức tạm bợ và thiếu thốn, có người bị cưỡng hiếp, cướp bóc, quản thúc, hoặc thậm chí bị bỏ đói, không tìm được việc làm hoặc việc làm

mà thu nhập thấp Khi hồi hương về Việt Nam với hai bàn tay trắng hoặc mang về với

số tiền không nhiều như kỳ vọng những người hồi hương phải đối mặt với nợ nần, xứt

mẻ tình cảm gia đình dẫn đến li hôn, bị cộng đồng dị nghị, dèm pha vv… Đồng thời nghiên cứu còn cho thấy những chính sách và các mô hình hỗ trợ người di cư hồi hương ở Việt Nam còn chưa thực sự hiệu quả

Bên cạnh những nghiên cứu của các cơ quan quản lý, và các tổ chức nghiên cứu nhằm can thiệp, hỗ trợ cùng với sự phong phú của các nghiên cứu độc lập đến từ các học giả, nhà nghiên cứu trong và ngoài nước thì vấn đề người Việt Nam di cư ra nước

Trang 38

ngoài, đặc biệt là người di cư trái phép được các cơ quan truyền thông thực hiện các

điều tra và đề cập rất nhiều Điều đó cho thấy được tính cấp thiết của việc nghiên cứu loại hình di cư này

1.2 Hệ thống các thuật ngữ, khái niệm nghiên cứu

Hệ thống các khái niệm được sử dụng trong nghiên cứu này được tổ chức di cư

quốc tế (IOM) biên soạn, phát hành năm 2011 với tài liệu mang tên Giải thích thuật ngữ về di cư và đã được sử dụng rộng rãi

1.2.1 Di cư

Di cư (migration) là sự di chuyển của một người hoặc một nhóm người, kể cả

qua một biên giới quốc tế hay trong một quốc gia Là một sự di chuyển dân số, bao gồm bất kể loại di chuyển nào của con người, bất kể độ dài, thành phần hay nguyên nhân; nó bao gồm di cư của người tị nạn, người lánh nạn, người di cư kinh tế và những người di chuyển vì các mục đích khác, trong đó có đoàn tụ gia đình

Di cư quốc tế (international migration) là sự di chuyển của những người rời

nước gốc hoặc nước cư trú thường xuyên để tạo lập cuộc sống mới tại nước khác, kể cả tạm thời hoặc lâu dài Vì thế họ phải vượt qua một biên giới quốc tế

Di cư lao động (labour migration) là sự di chuyển người từ quốc gia này sang

quốc gia khác, hoặc trong phạm vi quốc gia cư trú của họ, với mục đích làm việc Phần lớn các quốc gia đều quy định vấn đề di cư lao động trong luật di cư Ngoài ra, một số quốc gia còn đóng vai trò tích cực trong việc điều tiết di cư lao động ra nước ngoài và tìm kiếm cơ hội việc làm cho công dân họ ở nước ngoài

Di cư qua biên giới (cross-border migration) là một quá trình di chuyển của con

người qua biên giới quốc tế

Di cư trái phép (regular migration) là sự di chuyển không phù hợp với các quy

định của nước gốc, nước quá cảnh và nước tiếp nhận Từ góc nhìn của nước tiếp nhận,

đó là việc nhập cảnh, lưu trú hoặc làm việc tại một quốc gia mà không có giấy phép cần thiết hoặc giấy tờ yêu cầu theo các quy định nhập cư Từ góc nhìn của nước gốc, di

Trang 39

cư trái phép có thể được nhìn nhận trong trường hợp một người vượt biên mà không có

hộ chiếu hoặc giấy tờ đi lại hợp lệ hoặc không thực hiện đầy đủ các yêu cầu đầy đủ về thủ tục hành chính để ra khỏi đất nước

Di cư lén lút (clandestine migration) là khái niệm chỉ việc di cư bí mật hoặc che

đậy vi phạm các yêu cầu về nhập cư Việc này xảy ra khi một người không phải công dân nước tiếp nhận vi phạm các quy định về nhập cảnh vào nước đó; hoặc sau khi vào một nước một cách hợp pháp nhưng ở lại quá hạn vi phạm các quy định về nhập cư Thuật ngữ chung “di cư trái phép” thường được sử dụng

Người di cư (migrant): Vẫn chưa có một định nghĩa chung nào được chấp nhận

trên cấp độ quốc tế về “người di cư” Thuật ngữ “người di cư” thường được hiểu bao hàm mọi trường hợp di cư do cá nhân tự quyết định vì lý do tiện ích cá nhân mà không

có sự tác động của nhân tố bắt buộc bên ngoài Nó cũng được áp dụng đối với những người, và thành viên gia đình, di chuyển tới một nước hoặc một vùng lãnh thổ khác để cải thiện điều kiện xã hội và vật chất của họ và mở ra tương lai cho họ và gia đình Trong khi đó, LHQ định nghĩa người di cư là cá nhân đã cư trú tại một nước hơn một năm, bất kể người đó có di cư tự nguyện hay không, hay theo cách được phép hay trái phép Với một định nghĩa như vậy, những người đi lại với thời gian ngắn hơn như khách du lịch, thương nhân không được coi là người di cư Tuy nhiên cách sử dụng chung bao gồm cả những nhóm nhất định chỉ những người di cư ngắn hạn, như người lao động nông nghiệp theo thời vụ, những người đi lại trong thời gian ngắn để trồng trọt và thu hoạch sản phẩm nông nghiệp

Người di cư trái phép hay người di cư bất hợp pháp (irregular migrant) là người

do nhập cảnh bất hợp pháp, vi phạm một điều kiện nhập cảnh, hoặc hết hạn thị thực, không có quy chế hợp pháp ở nước quá cảnh hoặc nước chủ nhà Định nghĩa này bao gồm cả những người nhập cảnh bất hợp pháp vào một quốc gia quá cảnh hay nước chủ nhà nhưng ở lại quá thời hạn cho phép hoặc làm việc không được phép Thuật ngữ “trái

Trang 40

phép” được sử dụng nhiều hơn “bất hợp pháp” vì bất hợp pháp mang một ý nghĩa phạm tội và được xem như bác bỏ quyền của người di cư

Người di cư đủ giấy tờ (documented migrant): Một người di cư nhập cảnh hợp

pháp vào một quốc gia và ở lại quốc gia này phù hợp với các tiêu chuẩn tiếp nhận đối với người đó

Lao động theo hợp đồng (contractual labour) là lao động cung cấp cho một mục

đích cụ thể trong khoảng thời gian được ấn định qua một hợp đồng

1.2.2 Hồi hương

Hồi hương (Repatriation): là quyền cá nhân của người tị nạn, tù nhân chiến

tranh hoặc người bị giam giữ dân sự được hồi hương về nước mà họ mang quốc tịch theo các điều kiện cụ thể được quy định trong nhiều văn kiện quốc tế như: Công ước Geveva năm 1949 và Nghị định thư năm 1997, Quy tắc về luật pháp và tập quán chiến tranh trên bộ, Phụ trương Công ước La Hay IV năm 1907, và các văn kiện về quyền con người cũng như luật pháp và tập quán quốc tế Việc lựa chọn hồi hương là quyền dành riêng cho cá nhân và không phải là quyền của bên giam giữ Trong luật quốc tế về xung đột vũ trang, việc hồi hương đồng thời đòi hỏi nghĩa vụ của bên giam giữ phải thả những người thích hợp (quân nhân và dân thường) và trách nhiệm của quốc gia gốc trong việc nhận lại công dân mình sau khi chiến tranh chấm dứt Ngay cả khi luật, điều ước không chứa đựng một nguyên tắc chung về vấn đề này, ngày nay, việc hồi hương

tù nhân chiến tranh và người bị giam giữ dân sự là vấn đề được các bên liên quan mặc

nhiên thừa nhận Hồi hương cũng là thuật ngữ được áp dụng với các đặc phái viên

ngoại giao, quan chức quốc tế trong bối cảnh có khủng hoảng quốc tế, đồng thời cũng

áp dụng với người xa xứ và người di cư

Sự trở về (return): Với nghĩa chung nhất, là hành động hay quá trình quay trở lại

điểm xuất phát Sự trở về có thể diễn ra trong phạm vi biên giới lãnh thổ của một quốc gia, ví như việc trở về của những người lánh nạn trong nước và những người lính xuất ngũ; hoặc giữa nước chủ nhà (nước quá cảnh hoặc nước đến) và nước gốc trong trường

Ngày đăng: 29/10/2017, 17:22

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w