Cảm xúc lãng mạn trong thơ được hiểu là sự thăng hoa của tâm hồn người nghệ sĩ, thể hiện những cảm xúc sôi trào, mãnh liệt.. Chứng minh Luận điểm 1: Bài “Nhớ rừng” thể hiện những cảm xúc
Trang 1ề 1: Phân tích cảm xúc lãng mạn trong bài thơ Nhớ rừng
* Gợi ý
a Giải thích:
- Lãng mạn: nghĩa đen vốn là “những con sóng tràn bờ” Cảm xúc lãng mạn trong thơ được hiểu là sự thăng hoa của tâm hồn người nghệ sĩ, thể hiện những cảm xúc sôi trào, mãnh liệt
- Điểm nổi bật của tâm hồn lãng mạn là giàu mộng tưởng, khát vọng và cảm xúc Người nghệ sĩ lãng mạn Việt Nam trước cách mạng tháng Tám 1945 cảm thấy cô đơn, tù túng trong xã hội bấy giờ nhưng bất lực, họ chỉ còn biết tìm cách thoát li thực tại ấy bằng chìm đắm vào trong đời sống nội tâm tràn đầy cảm xúc Tâm hồn lãng mạn ưa thích sự độc đáo, phi thường, ghét khuôn khổ, gò bó và sự tầm
thường Nó có hứng thú giãi bầy những cảm xúc thiết tha mãnh liệt, nhất là nỗi buồn đau
b Phân tích, chứng minh
- Bài thơ “Nhớ rừng” là bài thơ hay của Thế Lữ, cũng là bài thơ hay của phong trào Thơ mới Cảm xúc lãng mạn trong bài thơ “Nhớ rừng” được thể hiện khá rõ ở những khía cạnh sau:
+ Hướng về thế giới mộng tưởng lớn lao, phi thường tráng lệ bằng một cảm giác trào dâng mãnh liệt Thế giới ấy hoàn toàn đối lập với thực tại tầm thường, giả dối Trong bài thơ, thế giới mộng tưởng chính là cảnh đại ngàn hùng vĩ và kèm theo đó
là cảnh oai hùng của chúa sơn lâm (Phân tích đoạn: “Ta sống mãi trong tình
thương nỗi nhớ … Than ôi! Thời oanh liệt nay còn đâu”)
+ Diễn tả thấm thía nỗi đau trong tinh thần bi tráng, tức là nỗi uất ức xót xa của hồn thiêng khi sa cơ lỡ vận (Phân tích đoạn: “Gậm một khối căm hờn trong cũi sắt
… Với cặp báo chuồng bên vô tư lự; đoạn “Nay ta ôm niềm uất hận ngàn thâu … Của chốn ngàn năm cao cả âm u”)
c Đánh giá chung: về nghệ thuật và nội dung đồng thời khẳng định giá trị của
cảm xúc lãng mạn trong bài thơ
Đề 2: Nhận xét về đoạn tứ bình trong bài thơ Nhớ rừng, có ý kiến cho rằng:
“Đây là đoạn tuyệt bút Cả bốn bức tứ bình đều là những chân dung tự họa khác nhau của con hổ nhưng đã khái quát trọn vẹn
về cái “thời oanh liệt” của chúa sơn lâm”
Phân tích đoạn thơ tứ bình trong bài Nhớ rừng để làm rõ điều đó.
* Gợi ý
a Khái quát
- Đoạn thơ hay, cấu trúc tứ bình: bốn cảnh, cảnh nào cũng có núi rừng hùng vĩ làm nền để hình ảnh hổ được nổi bật Bức chân dung tự họa khác nhau: chân dung
hổ trong bốn cảnh ở bốn thời điểm được vẽ lại bằng kỉ niệm, bằng hồi ức của chính
Trang 2nú Thời oanh liệt: thời tự do, tung hoành, thống trị đại ngàn của chỳa tể rừng xanh
- Đoạn thơ thứ ba, nằm trong chuỗi hồi ức về quỏ khứ oai hựng, mỗi cảnh gồm hai cõu thơ, cõu trước tả cảnh rừng, cõu sau là chõn dung của hổ trờn nền thiờn nhiờn kỡ vĩ
b Phõn tớch, chứng minh:
- Cảnh đờm trăng đẹp, thơ mộng, huyền ảo Hổ như một thi sĩ lóng mạn thưởng thức cỏi đẹp bờn dũng suối
- Cảnh ngày mưa ào ạt, dữ dội Hổ vừa như bậc quõn vương uy nghi, bỡnh tĩnh, ung dung trước mọi sự biến động, vừa giống một nhà hiền triết thâm trầm lặng ngắm đất trời thay đổi sau ma bão
- Cảnh bỡnh minh tươi đẹp, rực rỡ Hổ như một đế vương hưởng lạc thỳ, say giấc nồng giữa khỳc ca của muụn loài
- Cảnh hoàng hụn đỏ rực màu mỏu Hổ như một bạo chỳa rừng già tàn bạo, đang giành lấy quyền lực làm chủ bóng tối, làm chủ vũ trụ
=> Bộ tranh tứ bỡnh đẹp tỏi hiện quỏ khứ huy hoàng, tự do với cảnh nỳi rừng hoang
sơ, thơ mộng, kỡ vĩ, hổ hiện lờn với tư thế lẫm liệt kiờu hựng, đầy uy lực
c Tổng hợp, đỏnh giỏ:
- Khẳng định ý kiến ở đề bài là chớnh xỏc Đoạn tứ bỡnh là đoạn truyệt bỳt, hay nhất của bài thơ, là bức chõn dung tự họa của nhõn vật trữ tỡnh trong bốn thời điểm
đó khỏi quỏt được một thời quỏ khứ oanh liệt, tự do, huy hoàng của chỳa tể rừng xanh
- Đoạn thơ mượn lời tõm sự của con hổ để diễn tả kớn đỏo tõm trạng và khỏt vọng của con người: Tõm trạng của nhà thơ lóng mạn, thõn tự hóm nhưng tõm hồn vẫn nhớ thời hoàng kim của tự do, do đú bất hoà sõu sắc với thực tại tầm thường Đú cũng là tõm trạng của người dõn Việt Nam mất nước, nhớ tiếc khụn nguụi một
“thời oanh liệt” của lịch sử dõn tộc
- Đoạn thơ gúp phần khơi sõu cảm hứng chủ đạo của toàn bài: mượn lời con hổ bị nhốt ở vườn bỏch thỳ để diễn tả niềm khao khỏt tự do mónh liệt và tõm sự yờu nước của con người trong những ngày mất nước
Đề 3: Nhà phờ bỡnh văn học Hoài Thanh cú nhận xột về thơ Thế Lữ: “Đọc đụi bài,
nhất là bài “Nhớ rừng”, ta tưởng chừng thấy những chữ bị xụ đẩy, bị dằn vặt bởi một sức mạnh phi thường Thế Lữ như một viờn tướng điều khiển đội quõn Việt
ngữ bằng những mệnh lệnh khụng thể cưỡng được” (Thi nhõn Việt Nam)
Em hiểu ý kiến trờn như thế nào? Hóy chứng minh?
* Gợi ý:
a Giải thớch
- Khi núi “tưởng chừng thấy những chữ bị xụ đẩy, bị dằn vặt bởi một sức mạnh phi thường” là Hoài Thanh muốn khẳng định mạch cảm xỳc sụi trào mónh liệt, chi
Trang 3phối mạnh mẽ việc sử dụng câu chữ trong bài thơ của Thế Lữ Đây chính là một trong những đặc điểm tiêu biểu của bút pháp lãng mạn và cũng là yếu tố quan trọng tạo nên sức lôi cuốn mạnh mẽ của bài “Nhớ rừng”
- “Đội quân Việt ngữ” có thể bao gồm nhiều yếu tố như: từ ngữ (ở đây là những từ ngữ diễn tả mạnh mẽ, đầy gợi cảm, giàu chất tạo hình như khi đặc tả cảnh sơn lâm hùng vĩ, gây cho người đọc ấn tượng đậm nét về vẻ đẹp vừa phi thường tráng lệ, vừa thơ mộng), các cấu trúc ngữ pháp, nhịp điệu và nhạc điệu phong phú, giàu sức biểu cảm
- Khi nói “Thế Lữ như một viên tướng điều khiển đội quân Việt ngữ bằng những mệnh lệnh không thể cưỡng được” tức là nhà phê bình khẳng định tài năng của tác giả trong việc sử dụng ngôn ngữ (tiếng Việt) một cách chủ động, linh hoạt, phong phú, chính xác và đặc biệt hiệu quả để có thể diễn đạt tốt nhất nội dung bài thơ -> Ý kiến của Hoài Thanh khẳng định sức hấp dẫn của thơ Thế Lữ, đặc biệt là bài
“Nhớ rừng” được tạo nên bởi những nội dung cảm xúc phong phú mãnh liệt và hình thức ngôn ngữ nghệ thuật điêu luyện
b Chứng minh
Luận điểm 1: Bài “Nhớ rừng” thể hiện những cảm xúc mãnh liệt của con hổ khi bị
nhốt trong vườn bách thú
- Nỗi chán ghét thực tại tù túng, giả dối
- Nỗi nhớ rừng, nhớ tiếc quá khứ oai hùng
- Niềm khao khát cuộc sống tự do
-> Đó cũng là tâm trạng chung của những người dân mất nước trong xã hội đương thời; tâm trạng của những thi sĩ lãng mạn muốn giải phóng cảm xúc và đổi mới thơ
ca …
Luận điểm 2: Bài thơ “Nhớ rừng” thể hiện tài năng sử dụng đội quân Việt ngữ của
Thế Lữ
- Từ ngữ, hình ảnh chọn lọc, giàu chất tạo hình
- Các biện pháp tu từ, đặc biệt là phép nhân hoá được sử dụng rộng rãi
- Cấu trúc ngữ pháp, nhịp điệu và nhạc điệu phong phú, giàu sức biểu cảm (âm điệu dồi dào, cách ngắt nhịp linh hoạt - có câu nhịp rất ngắn, có câu lại trải dài phù hợp với cảm xúc)
Đề 4: Có ý kiến cho rằng: Thơ ca bắt rễ từ lòng người, nở hoa nơi từ ngữ.
Ông đồ của Vũ Đình Liên phải chăng là một bài thơ như thế?
* Gợi ý
1 Giải thích nhận định
- Thơ ca bắt rễ từ lòng người: thơ ca được khởi nguồn từ tư tưởng, tình cảm và thể hiện tư tưởng, tình cảm của người nghệ sĩ
- Nở hoa nơi từ ngữ: từ ngữ hiểu rộng là ngôn từ nghệ thuật, là giá trị nghệ thuật
Nở hoa nơi từ ngữ: ngôn ngữ phải đẹp, phải có tính thẩm mĩ cao
Trang 4-> KĐ đặc trưng cơ bản của thơ ca: bắt nguồn từ tình cảm, diễn tả tình cảm; ngôn ngữ mang vẻ đẹp riêng (ngôn từ, nhịp điệu, hình ảnh)
2 Phân tích Ông đồ theo định hướng làm nổi bật hai khía cạnh của vấn đề như đã nêu.
a Khái quát
- Hoàn cảnh sáng tác
- Vẻ đẹp của bài thơ: Là nét độc đáo, đặc sắc về nội dung, nghệ thuật và sự kết hợp hài hòa giữa nội dung và nghệ thuật của bài thơ
b Cảm nhận về vẻ đẹp của bài thơ
- Vẻ đẹp về nội dung tư tưởng, tình cảm cảm xúc:
+ Hình ảnh ông đồ thời hoàng kim:
+ Hình ảnh ông đồ thời tàn (mạt vận):
+ Tình thương và nỗi niềm hoài cổ của thi nhân:
- Vẻ đẹp về nghệ thuật:
+ Bài thơ dựng được một hình tượng đặc sắc: ông đồ- một lớp người- một nền văn hóa tồn tại cả một thiên niên kỉ, góp phần làm nên diện mạo văn hóa một thời kì + Hình tượng ấy được diễn đạt bằng một hình thức giản dị, trong sáng, thể thơ ngũ ngôn quen thuộc, kiệm lời mà cảm xúc, dư ba; qua giọng thơ nhỏ nhẹ, điểm đạm, lắng sâu, qua phép đăng đối cổ kính của nghệ thuật phương đông đã dựng lên hình tượng ông đồ qua hai thời kì: hoàng kim và mạt vận để lại dấu ấn đầy thương cảm trong lòng người đọc Mỗi đoạn thơ tách riêng dường như không có gì đặc biệt nhưng gắn liền mạch lại, bài thơ là cả bức tranh thế thái nhân tình
+ Nói đến hình tượng khách thể trữ tình (ông đồ) không thể không nói đến hình tượng chủ thể trữ tình (nhà thơ) Khổ cuối nhà thơ bộc lộ rõ nhất hình tượng tâm
trạng: Lòng thương người và nỗi niềm hoài cổ Ông khóc cho cái di tích tiều tụy
đã bị bỏ rơi, gạt ra ngoài lề xã hội Khóc thương và tiếc nuối cho nền Nho học đã
có thời kì rực rỡ và nay trở thành dĩ vãng
c Tổng hợp, đánh giá
- Vẻ đẹp của bài thơ là sự kết hợp hài hòa giữa nội dung và nghệ thuật
-> Sự kết hợp hài hòa giữa nội dung và nghệ thuật đã tạo nên vẻ đẹp hoàn thiện cho bài thơ, khẳng định giá trị sâu sắc và sức sống lâu bền của tác phẩm trong lòng người đọc Sự đan cài và thống nhất hai vẻ đẹp nội dung và nghệ thuật đã để lại dấu ấn khó phai trong lòng người đọc về hình ảnh ông đồ
- Vũ Đình Liên còn gửi lại bức thông điệp cho hậu thế: Hãy bảo vệ những giá trị tinh thần truyền thống đã làm rạng rỡ nền văn hiến dân tộc cả một thời kì dài – thiên niên kỉ
- Liên hệ, suy ngẫm bản thân từ bài thơ
Đề 5: Sức hấp dẫn của bài thơ “Ông đồ”(Vũ Đình Liên)
Trang 5* Gợi ý
1 Mở bài:
- Dẫn đề: Học sinh có thể dẫn bằng nhiều cách khác nhau
-> giới thiệu tác giả Vũ Đình Liên và bài thơ “Ông đồ”
- Nêu luận điểm: Sức hấp dẫn của bài thơ “Ông đồ”
2 Thân bài:
a Khái quát:
- Giải thích: Sức hấp dẫn: là sự lôi cuốn, cuốn hút một cách tự nhiên Đối với một tác phẩm VH, sức hấp dẫn được thể hiện ở cả hai phương diện: Nội dung và Nghệ thuật
- Hoàn cảnh sáng tác: Bài thơ ra đời trong thời kì 30-45, là một trong những bài thơ tiêu biểu trong phong trào Thơ mới, khi nền Nho học đang dần lụi tàn, chữ Nho dần mất địa vị độc tôn
b Chứng minh:
LĐ1: Sức hấp dẫn của bài thơ được thể hiện ở giá trị nội dung đặc sắc:
* Xây dựng thành công hình ảnh ông đồ qua hai thời kì đối lập nhau
- Khi chữ Nho còn được trọng dụng:
+ Sự xuất hiện của ông đồ: cùng với “hoa đào nở”-> báo hiệu Tết đến, xuân về-> làm cho bức tranh xuân trở nên ý vị, mang bản sắc truyền thống của người Việt với thú chơi tao nhã: viết câu đối Tết
+ Sự tài hoa của ông đồ: Qua nét chữ: So sánh nét chữ/ phượng múa, rồng bay (nét chữ mềm mại, sinh động, có hồn…); qua thái độ của mọi người: bao nhiêu người thuê viết…tấm tắc khen (tỏ thái độ ngưỡng mộ, thán phục)
Đây là thời kì vàng son của ông đồ: tài hoa, được yêu quí, trân trọng
- Khi chữ Nho thất thế:
+ Sự xuất hiện của ông đồ: vẫn trong không gian cũ (vẫn ngồi đấy, nơi có “người qua đường”), vẫn với thời gian lặp lại (đào lại nở)
+ Thái độ của mọi người: thay đổi (không ai hay…mỗi năm mỗi vắng - người thuê viết đâu -> dửng dưng, thờ ơ…
+ Hình ảnh ông đồ: “vẫn ngồi đấy”-> im lặng, bất động gợi nỗi đau khổ, cay đắng
vì bị gạt ra ngoài lề XH
+ Các sự vật: Giấy- buồn, nghiên - sầu, mực đọng->NT nhân hóa: các đồ vật như cảm thông, thấu hiểu nỗi sầu trong lòng ông đồ
+ Cảnh vật: Lá vàng rơi trên giấy/ …mưa bụi bay.->NT tả cảnh ngụ tình gợi tả cảnh tàn lụi, ảm đạm->nỗi buồn của ông đồ như tràn ra thấm vào cả cảnh vật
Là thời kì tàn lụi của ông đồ: ông trở nên lạc lõng, xa lạ, trở thành hình ảnh của quá khứ
* Bài thơ bộ lộ “lòng thương người và nỗi niềm hoài cổ” của tác giả
+ Lòng thương người:
Trang 6- Tác giả trăn trở, day dứt ngay từ khi chứng kiến cảnh ông đồ “bán chữ” để mưu sinh (dù đang trong thời hoàng kim nhưng cuộc sống của ông đồ đã có dấu hiệu của sự sa sút)
- Tác giả thấu hiểu, thương cảm, xót xa trước số phận đau khổ của ông đồ (qua cách gọi: ông đồ- ông đồ già- ông đồ xưa - những người muôn năm cũ -> ông đồ đang mờ dần, chìm dần…)
+ Niềm hoài cổ: Từ hình ảnh “ông đồ” qua từng thời kì, tác giả bộc lộ sự tiếc nuối cho những nét đẹp VH DT đang dần bị quên lãng: “Những người muôn năm
cũ…”-> câu hỏi bộc lộ cảm xúc: tiếc thương ông đồ, cho cả nền Nho học đã trở nên lỗi thời; ngậm ngùi cho những nét đẹp VHDT đang dần bị thiếu vắng (thú chơi câu đối tết, lối viết Thư pháp…) khi “bút sắt” thay thế “bút lông”
=> Lòng yêu nước thầm kín của tác giả
LĐ2: Sức hấp dẫn của bài thơ được thể hiện ở giá trị nghệ thuật độc đáo:
- Chọn thể thơ 5 chữ: lời ít mà ý tứ sâu sa, lắng đọng
- Hình ảnh thơ: lặp lại (hoa đào- ông đồ) -> tạo cấu trúc đầu cuối tương ứng
- Ngôn ngữ thơ: mộc mạc, giản dị
- Sử dụng các biện pháp NT: quen thuộc nhưng vẫn thể hiện tài hoa, tinh tế (NT tả cảnh ngụ tình, đối lập…)
- Đan xen các yếu tố: Tự sự- Miêu tả- Biểu cảm-> giàu sức lay động
c Đánh giá, nâng cao, mở rộng vấn đề:
- “Ông đồ” là bài thơ tiêu biểu cho phong cách sáng tác của nhà thơ Vũ Đình Liên đồng thời cũng là một trong những bài xuất sắc nhất trong phong trào Thơ Mới
- Qua đó, tác giả bộc lộ lòng yêu nước thầm kín: trân trọng những giá trị VH tinh thần tốt đẹp của DT ta
3 Kết bài:
- Khẳng định ý nghĩa của bài thơ trong thời kì hội nhập ngày nay: nhắc nhở mỗi chúng ta biết trân quí và giữ gìn bản sắc VH dân tộc, biết tự hào với những giá trị tinh thần truyền thống, thiêng liêng
- Liên hệ bản thân
Đề 6: Có ý kiến cho rằng: “Lòng thương người và tình hoài cổ” tạo nên sự thành công và dấu ấn riêng về thơ Vũ Đình Liên Em hãy phân tích bài thơ “Ông đồ” để
làm rõ vấn đề trên
1 Mở bài:
- Vũ Đình Liên – một trí thức Tây học, một tác giả nổi tiếng của phong trào Thơ mới 1932-1945 nhưng thơ ông thoát khỏi hai trục cảm xúc chính thời bấy giờ
là tình yêu và thiên nhiên
- Theo dòng thời gian bất tận, mọi thứ sẽ lui vào dĩ vãng mịt mờ, để lại cho con người bao nỗi niềm tiếc nuối nhất là khi những vẻ đẹp tài hoa một thời chỉ còn
là vang bóng Cũng bắt nguồn từ cảm hứng ấy, bài thơ “Ông Đồ” thể hiện một
Trang 7hoài niệm day dứt, thương cảm cho một giá trị tinh thần sắp tàn lụi Bài thơ là tấm gương phản chiếu cho hồn thơ giàu lòng thương người và nỗi niềm hoài cổ của Vũ Đình Liên
- Trích đề
2 Thân bài:
- “Ông đồ” của Vũ Đình Liên là một chứng tích cho một vẻ đẹp không bao
giờ trở lại Là hình ảnh đã ăn sâu vào tiềm thức mọi người và vì thế chưa mất đi hoàn toàn, nhất là đối với những con người có tâm trạng hoài niệm cho vẻ đẹp quá khứ như Vũ Đình Liên Khi mà chữ nghĩa Thánh hiền cao quý không còn vị trí, phải ra tận vỉa hè, đường phố, đã trở thành một món hàng… con người ta mới thảng thốt, giật mình, xót xa cho ánh hào quang rực rỡ một thời Tâm sự ấy đã được thể hiện trong bài thơ tạo nên sự giao thoa đồng cảm giữa nhân vật trữ tình và chủ thể trữ tình
- Bài thơ “chứa đựng cả một hệ vấn đề: bi kịch của sự gặp gỡ Đông và Tây,
sự suy vong và tàn phai của một thời đại, sự biến mất vĩnh viễn của một lớp người”.
- “Ông đồ”- một trong những bài thơ nổi tiếng của Vũ Đình Liên là sự thăng hoa của hai nguồn cảm hứng “Lòng thương người và tình hoài cổ”
* “Tình hoài cổ” khiến thơ ông có cái bâng khuâng tiếc nuối những truyền
thống văn hoá mờ nhạt dần, những bi kịch “biết tìm đâu” “cảnh xưa rực rỡ trăm màu”:
- Mỗi dịp tết đến xuân về, người Việt xưa thường có thói quen xin chữ để gửi gắm những mong ước, khát vọng cho năm mới Đó là chữ nho, thứ chữ tượng hình giàu ý nghĩa Học, hiểu được chữ nho đã khó, viết được cho thật đẹp lại càng khó hơn Người có hoa tay, viết chữ mà tưởng như vẽ bức tranh Hình ảnh ấy đã in sâu vào tâm trí, thường trực trong miền cảm xúc của nhà thơ Nó trở thành mạch
sống, linh hồn tạo nên nét riêng về phong cách nghệ thuật in dấu nơi “Ông đồ”.
- Đầu thế kỉ XX, tình hình đất nước Việt Nam có sự biến động sâu sắc trên
mọi lĩnh vực Tình trạng “Âu học chưa vin được ngọn ngành mà Hán học đã đứt
cả cội rễ” rồi khoa thi cuối cùng của triều đình phong kiến đã làm tiêu tan bao
giấc mộng vinh quy bái tổ của các đệ tử cửa Khổng sân Trình Để tìm kế sinh nhai,
họ chỉ còn một cách duy nhất là đi bán chữ như hoàn cảnh của ông đồ trong bài thơ Dẫu việc đánh đổi chữ thánh hiền để lấy miếng cơm manh áo chỉ là việc cùng bất đắc dĩ, chẳng phải vui sướng, danh giá gì nhưng cái tấm tắc ngợi khen của người đời cũng an ủi được phần nào nỗi niềm của những kẻ sinh bất phùng thời
- Cùng với sự thay đổi của đời sống tinh thần, văn chương nghệ thuật cũng
có sự chuyển biến, lột xác để hoà vào không khí mới của xã hội Vũ Đình Liên là một trí thức Tây học nhưng lại cứ mãi nhớ, nhớ đến quay quắc một nét đẹp văn hoá của một thời cùng với một lớp người dần vùi lấp sâu trong miền kí ức mọi người
Trang 8- Âm hưởng chủ đạo của bài thơ là thâm trầm, sâu lắng và xuyên suốt toàn
thi phẩm là hình ảnh của hoa đào, ông đồ đủ để thấy “tình hoài cổ” thấm sâu nơi
kì cùng của cảm xúc, thăng hoa qua từng dòng thơ Người đọc cảm thấy như đang cùng nhà thơ quay ngược về quá khứ, như được sống trong không khí ngày xuân với hoa đào và câu đối đỏ
* Lòng thương người chính là cái tâm và sự thổn thức của nhà thơ trước
những tàn phai rơi rụng của một nét văn hoá truyền thống, cái khiến câu chữ như
động cựa bởi nỗi xót xa trước cảnh “thân tàn ma dại”
- Lòng thương người thể hiện trước hết ở sự ca ngợi, đề cao ông đồ và tục viết câu đối ngày xuân
Bao nhiêu người thuê viết Tấm tắc ngợi khen tài Hoa tay thảo những nét Như phượng múa rồng bay
+ Dẫu chỉ chiếm một góc nhỏ thôi “Trên phố đông người qua” nhưng trong
bức tranh thơ này, ông đồ lại trở thành tâm điểm Điềm đạm và lặng lẽ, ông đồ hoà nhập vào sự náo nức, rộn ràng của cuộc đời bằng chính cái tài mà ông có Câu thơ của Vũ Đình Liên như cũng muốn bay lên với niềm hân hoan trong thời kì hoàng kim của ông đồ
- Lòng thương người thể hiện ở tâm trạng buồn, tiếc thương, đồng cảm trước cảnh cô quạnh, tiều tuỵ, bị lãng quên của ông đồ
Nhưng mỗi năm mỗi vắng Người thuê viết nay đâu?
Giấy đỏ buồn không thắm, Mực đọng trong nghiên sầu
+ Từ “mỗi” lặp lại trong câu thơ diễn tả bước đi của thời gian Nếu như trước đây: “Mỗi năm hoa đào nở” lại đưa đến cho ông đồ già “bao nhiêu người thuê viết” thì giờ đây “mỗi năm” lại “mỗi vắng” Nhịp đi của thời gian bao hàm
cả sự mài mòn, suy thoái Thanh “sắc” kết hợp với âm “ắng” khép lại câu thứ nhất như một sự hẫng hụt, chênh chao, như đôi mắt nhìn lên đầy băn khoăn Để rồi một cách tự nhiên, câu thứ hai phải bật ra thành câu hỏi: Những người thuê ông đồ viết chữ khi xưa nay đâu cả rồi? Câu hỏi buông ra không bao giờ có lời đáp nên cứ chạp chờn, cứ ám ảnh mãi
+ Nỗi buồn của con người khiến các vật vô tri vô giác cũng như buồn lây Mực sầu tủi đọng lại trong nghiên, giấy điều phôi pha buồn không muốn thắm Biện pháp nhân hoá góp phần nhấn mạnh tâm trạng buồn đau đến tê tái của nhân vật trữ tình
Ông đồ vẫn ngồi đấy Qua đường không ai hay
Trang 9+ “Vẫn ngồi đấy” nghĩa là ông vẫn đến theo tín hiệu của hoa đào, vẫn “bày mực tàu giấy đỏ” trên con phố đông người lại qua sắm tết Ông chờ đợi cái súm
sít, tấm tắc của người đời nhưng đáp lại chỉ là sự thờ ơ đến đáng sợ Từ ngữ phủ
định “không ai” thể hiện rõ nét cái lạnh lùng, thờ ơ, vô cảm đến đáng sợ của
người đời Họ cứ đi lại, vui vẻ nói cười mà không có chút ý thức nào về sự tồn tại của ông đồ Ông đã bị họ lẵng quên, bị đẩy ra bên lề cuộc sống Tình cảnh của ông
đồ có khác gì những ông cống, ông nghề trong thơ Tú Xương:
Nào có ra gì cái chữ Nho, Ông nghè, ông cống cũng nằm co
- Lòng thương người thể hiện bằng tiếng “gọi hồn” tha thiết của tác giả:
“Những người muôn năm cũ Hồn ở đâu bây giờ?” Không có từ ngữ nào miêu tả
về nỗi đau nhưng người đọc cũng cảm nhận được âm vang tiếng nấc, hình ảnh giọt nước mắt rơi ướt tâm hồn thi nhân
+ Nhà thơ gọi để bày tỏ sự tiếc nhớ và gọi để thức tỉnh hãy giữ lấy những giá trị truyền thống ngàn đời mà cha ông đã bao công bồi đắp Ở đây ta thấy được cái tâm của một trí thức đang đau cùng đất nước
- Bài thơ được xây dựng trên mạch cảm xúc tâm trạng của nhân vật trữ tình
mà âm hưởng chủ đạo là nỗi buồn, xót xa day dứt khôn nguôi Càng về cuối bài thơ nỗi đau càng được khắc hoạ sâu và rõ hơn giúp chúng ta thấu hiểu được cái tình của thi nhân
- Học sinh có thể liên hiện mở rộng nội dung vấn đề với các tác phẩm khác
để làm rõ hơn nội dung vấn đề
3 Kết bài:
- Sử dụng thể thơ ngũ ngôn và ngôn ngữ gợi cảm, giàu sức tạo hình, Vũ Đình Liên đã làm cho tác phẩm của mình có dáng dấp một câu chuyện, kể về cuộc đời một ông đồ từ lúc còn được người đời trân trọng, cảm phục tới khi bị lãng
quên Qua hình tượng ông đồ, tác giả đã bày tỏ thật xuất sắc “lòng thương người”
và “tình hoài cổ” của mình.
Đề 7: Nguồn gốc cốt yếu của văn chương là lòng thương người và rộng ra thương
cả muôn vật, muôn loài… (Hoài Thanh, Ý nghĩa văn chương, SGK Ngữ văn 7, T2,
NXB Giáo dục Việt Nam, 2011, Tr.60)
Em hiểu ý kiến trên như thế nào? Qua bài thơ Ông đồ của Vũ Đình Liên hãy
làm sáng tỏ ý kiến trên
* Gợi ý
1 Giải thích:
- Hoài Thanh đã đưa ra vấn đề quan trọng, được coi là nguồn gốc cốt yếu của văn
chương: lòng thương người mà rộng ra thương cả muôn vật, muôn loài.
Trang 10+ Văn chương: chỉ các tác phẩm thơ văn Đối tượng phản ánh của tác phẩm văn chương là con người và vạn vật Nhà văn sáng tác tác phẩm, một mặt phản ánh hiện thực, mặt khác bày tỏ tình cảm với con người và vạn vật Tác phẩm là tiếng nói của tâm hồn, cảm xúc của người sáng tác, được hình thành, nảy nở từ tình cảm của tác giả đối với cuộc sống, con người, quan trọng nhất là tình thương
+ Tình thương người, thương cả muôn vật, muôn loài: là lòng nhân ái – một tình cảm rộng lớn, cao cả, mang tầm nhân loại Tình cảm ấy không chỉ là cội nguồn của văn chương mà còn là thước đo giá trị của tác phẩm văn chương chân chính Đó chính là giá trị nhân đạo, là những ý nghĩa nhân văn sâu sắc mà nhà văn gửi gắm trong tác phẩm
+ Nói đến giá trị nhân đạo, đến ý nghĩa nhân văn là nói đến vấn đề con người, vấn
đề nhân sinh đặt ra trong tác phẩm Ở đó, con người luôn được đặt ở vị trí hàng đầu, trong mối quan tâm thường trực của các nhà văn
- Ý kiến của Hoài Thanh là một nhận định về giá trị tư tưởng của tác phẩm văn
chương, khẳng định nguồn gốc cốt yếu của các tác phẩm văn chương chính là giá trị nhân đạo.
+ Biểu hiện của giá trị nhân đạo trong tác phẩm rất đa dạng song thường tập trung vào những mặt cụ thể sau: lòng thương yêu, sự cảm thông, xót xa trước những hoàn cảnh, những số phận bất hạnh; lên án, tố cáo các thế lực tàn bạo chà đạp lên quyền sống của con người; ngợi ca, đề cao những vẻ đẹp, phẩm giá cao quý; trân trọng, nâng niu khát vọng sống, khát vọng tình yêu và hạnh phúc của con người
- Bài thơ ông đồ thể hiện giá trị nhân đạo: ca ngợi, trân trọng tài năng và thể hiện tấm lòng thương cảm của tác giả đối với ông đồ
2 Phân tích, chứng minh để làm sáng tỏ ý kiến: Khi triển khai cần đảm bảo
những ý chính sau:
+ Ca ngợi, trân trọng tài năng của ông đồ - lớp người đã từng có những đóng góp
và giữ gìn nét đẹp văn hóa của dân tộc…
+ Thương cảm trước tình cảnh đáng thương của ông khi chữ Nho suy tàn
+ Nhắc nhở ý thức giữ gìn những nét đẹp truyền thống, bản sắc văn hóa dân tộc nhất là trong hoàn cảnh thời thế thay đổi…
Đề 8: Cảm nhận đoạn thơ sau:
Dân chài lưới làn da ngăm rám nắng
Cả thân hình nồng thở vị xa xăm Chiếc thuyền im bến mỏi trở về nằm Nghe chất muối thấm dần trong thớ vỏ.
(Tế Hanh – Quê hương)
* Gợi ý