1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

ẢNH HƢỞNG CỦA CHỦ NGHĨA TƢỢNG TRƢNG ĐỐI VỚI THƠ MỚI (QUA THƠ XUÂN DIỆU, HUY CẬN, BÍCH KHÊ) LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Lý luận văn học

128 29 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 128
Dung lượng 0,93 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ta có thể kể ở đây một số trang như: http://van.hoctainha.vn/ có bài Ảnh hưởng của chủ nghĩa tượng trưng trong Thơ mới; trang http://thotanhinhthuc.org/ có bài của Hoàng Ngọc Hiến về Bau

Trang 1

1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 3

3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS TS Trần Khánh Thành

Các kết luận nghiên cứu được trình bày trong luận văn này trung thực và không trùng lặp với các đề tài khác

Tôi xin chịu tránh nhiệm về nghiên cứu của mình

Học viên

Vũ Thị Loan

Trang 4

4

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên, tôi xin chân thành cảm ơn toàn thể các thầy, cô giáo trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn đã nhiệt tình chỉ bảo, giúp đỡ tôi trong suốt 2 năm học qua

Qua đây, tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc của mình tới người thầy mà tôi

vô cùng kính trọng – thầy Trần Khánh Thành - trong suốt thời gian qua đã động viên, chỉ dẫn, tiếp cho tôi thêm niềm say mê khoa học

Tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè đã luôn bên cạnh cổ vũ, tạo điều kiện giúp đỡ cho tôi có thể học tập và hoàn thành luận văn tốt nghiệp này

Mặc dù có nhiều cố gắng, song luận văn không tránh khỏi những thiếu sót Rất mong sự đóng góp của quý thầy cô để đề tài của tôi được hoàn thiện hơn

Xin chân thành cảm ơn!

Người thực hiện

Vũ Thị Loan

Trang 5

5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU Error! Bookmark not defined

1 Lí do chọn đề tài Error! Bookmark not defined

2 Lịch sử vấn đề Error! Bookmark not defined

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu Error! Bookmark not defined

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Error! Bookmark not defined

5 Phương pháp nghiên cứu Error! Bookmark not defined

6 Cấu trúc luận văn Error! Bookmark not defined

CHƯƠNG 1 KHÁI LƯỢC VỀ CHỦ NGHĨA TƯỢNG TRƯNG VÀ PHONG TRÀO THƠ MỚI Error! Bookmark not defined

1.1 Sự ra đời của chủ nghĩa tượng trưng Error! Bookmark not defined

1.2 Nguyên tắc sáng tạo và đặc điểm cơ bản của chủ nghĩa tượng trưng 9

1.3 Thơ mới và tiếp nhận của chủ nghĩa tượng trưng trong Thơ mới Error!

Bookmark not defined

1.3.1 Sự ra đời và ý nghĩa của phong trào Thơ Mới Error! Bookmark not

defined

1.3.2 Sự tiếp nhận của chủ nghĩa tượng trưng trong Thơ mới Error! Bookmark

not defined

CHƯƠNG 2 TÍNH TƯƠNG GIAO VÀ HỆ THỐNG BIỂU TƯỢNG

TRONG THƠ MỚI Error! Bookmark not defined

2.1 Tính tương giao trong Thơ mới Error! Bookmark not defined 2.1.1 Sự tương giao giữa các giác quan Error! Bookmark not defined 2.1.2 Sự tương giao giữa vạn vật Error! Bookmark not defined

Trang 6

6

2.1.3 Sự tương giao giữa con người và vũ trụ, vạn vật Error! Bookmark not

defined

2.1.4 Sự tương giao giữa màu sắc và ánh sáng Error! Bookmark not defined 2.2 Hệ thống biểu tượng và sức ám gợi trong Thơ mới Error! Bookmark not

defined

CHƯƠNG 3 NGÔN TỪ VÀ NHẠC TÍNH TRONG THƠ MỚI 74

3.1 Ngôn từ trong Thơ mới 74

3.1.1 Xu hướng chọn hệ thống từ vựng Error! Bookmark not defined 3.1.1.1 Từ láy Error! Bookmark not defined 3.1.1.2 Từ gợi ấn tượng về sự tương giao cảm giác 81

3.1.2 Các biện pháp tu từ 84

3.1.2.1 Ẩn dụ 84

3.1.2.2 Một số biện pháp tu từ khác 88

3.2 Nhạc tính trong Thơ mới 89

3.2.1 Vần và thanh điệu 91

3.2.2 Nhịp điệu Error! Bookmark not defined 3.2.3 Một số biểu hiện khác của tính nhạc 101

KẾT LUẬN 110 TÀI LIỆU THAM KHẢO Error! Bookmark not defined

Trang 7

đã thực sự tạo nên “Một Thời đại trong thi ca” (Hoài Thanh) Không phải dĩ nhiên mà một phong trào thơ chỉ diễn ra trong thời gian ngắn ngủi như Thơ mới, nhưng lại chứng kiến những biến đổi cũng như sự sung sức nhất trong thơ ca Việt Nam với nhiều tên tuổi kiệt xuất, nổi tiếng sớm như Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử, Bích Khê, Nguyễn Bính Tất cả như được thời đại sắp đặt và sứ mệnh mà lịch sử trao cho thi ca giai đoạn trước cách mạng đó là vai trò cách tân mạnh mẽ Loại bỏ những

“cặn bã của một lối thơ đến lúc tàn” (Hoài Thanh), Thơ mới đã mạnh mẽ cách tân và thực sự tạo ra một hiệu ứng sâu rộng cả trong tư tưởng, nghệ thuật cũng như nhiều lĩnh vực khác trong xã hội Có thể nói, Thơ mới (1932 – 1945) đã thổi một luồng mới lạ, làm xôn xao và đánh thức cả một nền thơ đang “triền miên trong cõi chết” (Lưu Trọng Lư)

Tuy nhiên, nhìn nhận một cách khách quan dưới góc độ nghiên cứu loại hình học và lý thuyết văn học so sánh, nhiều nhà nghiên cứu sau này đều thừa nhận rằng bản thân phong trào Thơ mới không tự dưng xuất hiện, mà đó là sự ảnh hưởng của những tác động khách quan đến tiến trình văn học Cụ thể, đó là một hiện tượng văn học nảy sinh trong những điều kiện lịch sử, xã hội và thẩm mỹ tương đồng của các nền văn hóa khác nhau trong khu vực Trên phương diện lịch sử, văn hóa, sự ra đời của những tư

Trang 8

8

tưởng, trào lưu mới trong Thơ mới là kết quả của quá trình tiếp xúc, giao lưu và ảnh hưởng của văn hóa phương Tây để đổi mới, cách tân Bản thân những tác giả của Thơ mới lúc bấy giờ cũng đã thừa nhận ảnh hưởng của thơ ca Pháp, đặc biệt là chủ nghĩa tượng trưng Nhà phê bình Hoài Thanh cũng chỉ ra “sự ám ảnh” của Baudelaire - một trong những nhà thơ nổi tiếng nhất của trường phái chủ nghĩa tượng trưng (Pháp) đối với nhiều tài năng của Thơ mới Xuân Diệu đã học được của Baudelaire “một nghệ thuật tinh vi” Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên “đều chịu rất nặng ảnh hưởng Baudelaire”

Chế Lan Viên phải thừa nhận: “Tôi yêu Baudelaire từ bé, yêu tác giả Ác Hoa (Fleurs

du Mal) từ buổi hoa niên cho đến bây giờ ” (Tuyển tập Chế Lan Viên, NXB Văn học,

1990, tr 192) Huy Cận chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ cả Baudelaire và Edgar Allan Poe (1809-1849) - nhà thơ Mỹ, người được coi là “mở đầu cho chủ nghĩa tượng trưng”, đặc biệt là thủ pháp tương phản và cách sử dụng âm thanh, nhạc điệu trong thơ

Như vậy, nghiên cứu Thơ mới sẽ không thể thấu đáo, nếu như không không được gắn với nghiên cứu ảnh hưởng chủ nghĩa tượng trưng, đặc biệt chủ yếu là chủ nghĩa tượng trưng trong văn học Pháp thế kỉ XIX Sự đánh giá thấu đáo ảnh hưởng của Chủ nghĩa tượng trưng đối với Thơ mới không chỉ góp phần làm sáng tỏ hơn những giá trị mới có tính chất cách tân cho thơ hiện đại, mà còn góp phần làm sâu sắc hơn vai trò

và tầm ảnh hưởng của những tác giả đỉnh cao của Thơ mới

Trong phạm vi của luận văn, chúng tôi xin tập trung vào ảnh hưởng của chủ nghĩa tượng trưng đối với Thơ mới, khảo sát qua thơ của ba tác giả: Xuân Diệu, Huy Cận, Bích Khê

2 Lịch sử vấn đề

Nhìn một cách tổng thể, kể từ khi Thơ mới ra đời từ năm 1932 đến nay, đã có hàng nghìn công trình nghiên cứu, sách, tạp chí đề cập đến các vấn đề liên quan đến phong trào Thơ mới, tác giả, tác phẩm trong phong trào Thơ mới Bên cạnh đó là một số ít các công trình đề cập đến chủ nghĩa tượng trưng và ảnh hưởng của nó tới Việt Nam Nhìn một cách tổng thể hai vấn đề này, chúng ta có thể chia lịch sử vấn đề nghiên cứu của

Trang 9

cập tới Thơ mới và yêu cầu đối với Thơ mới (có trích dẫn một số bài thơ tiêu biểu)

Tiếp đó, ta không thể không nhắc tới cuốn Thi nhân Việt Nam 1932 – 1941 của tác

giả Hoài Thanh, Hoài Chân, in lần đầu tiên năm 1942 tại nhà in Nguyễn Đức Phiên và cho đến nay đã được tái bản nhiều lần Đây là một hợp tuyển thơ đầu tiên của thời

nhận lại những tên tuổi nhà thơ và những bài thơ chọn lọc, có giá trị của các nhà thơ đó trong khoảng 1932-1941 Cuốn sách bình luận theo phương pháp chủ quan, được nhiều nhà văn đánh giá rất cao về giọng bình và trình độ cảm nhận của tác giả

Ngoài ra, thời kì này còn có một số tập thơ được in với nhan đề chỉ rõ đó là Thơ mới của một số tác giả

2.2 Từ sau năm 1945 đến năm 1986

Trong khoảng thời gian 1946 đến năm 1954, đất nước ta phải trải qua cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược nên Thơ mới và những tìm hiểu về Thơ mới (được coi là ủy mị, làm nhụt tinh thần chiến đấu của người lính nên không còn phù hợp với thực tế lúc bấy giờ) được gác lại một bên, dành chỗ cho thơ ca động viên cách mạng

Từ sau khi hiệp định Giơnevơ được kí kết năm 1954, miền Nam vẫn tiếp tục cuộc chiến tranh chống đế quốc Mĩ, trong khi đó miền Bắc đã được giải phóng (vẫn còn chiến tranh phá hoại bằng máy bay của Mĩ đưa từ miền Nam ra) và hướng xây dựng

Trang 10

10

theo mô hình chủ nghĩa xã hội Thế nhưng, việc khắc phục hậu quả chiến tranh là một điều không hề đơn giản Chính vì thế mà phong trào Thơ mới những năm đầu sau khi miền Bắc được giải phong cũng chưa được quan tâm Mãi tới năm 1966, nhà nghiên

cứu Phan Cự Đệ mới đưa ra công trình Phong trào Thơ mới do NXB Khoa học xã hội

phát hành Công trình này đề cập tới vấn đề lịch sử phong trào Thơ mới lãng mạn 1932 – 1945, những quan điểm mỹ học, yếu tố tích cực, giá trị nghệ thuật và những hạn chế suy đồi của phong trào Thơ mới với bề dày của sự nghiên cứu có phần chuyên sâu hơn với các công trình nghiên cứu về Thơ mới trước đó Và tới năm 1982, cuốn sách được tái bản lần 2 có sửa đổi và bổ sung Năm 1975 , đất nước được thống nhất, Bắc Nam sum họp một nhà, cùng khắc phục hậu quả chiến tranh và xây dựng đất nước trên mọi lĩnh vực nhưng nghiên cứu Thơ mới cũng chưa được các nhà nghiên cứu quan tâm nên

ít có công trình nào về vấn đề này được ra đời

2.3 Từ sau năm 1986 đến nay

Sau thời kì đổi mới, Thơ mới được quan tâm nghiên cứu nhiều hơn nhưng chỉ được

đánh dấu sự trở lại từ năm 1989 với sự ra đời của công trình Tổng tập văn học Việt Nam do Hà Minh Đức chủ biên Tiếp đó là hàng loạt các công trình như: Con mắt thơ: phê bình phong cách Thơ mới (Đỗ Lai Thúy) năm 1994; Nhìn lại một cuộc cách mạng thi ca: 60 năm phong trào Thơ mới (Huy Cận, Hà Minh Đức chủ biên) năm 1992; Cùng năm này, tác giả Hà Minh Đức cũng xuất bản cuốn Một thời đại trong thi ca (về phong trào thơ Mới 1932 – 1945),

Từ năm 1998 tới nay, Thơ mới lại được coi là một địa hạt màu mỡ để các nhà

nghiên cứu tìm hiểu, cày xới, để cho ra đời những công trình có tính khoa học cao

Tiêu biểu là một số công trình như: Tinh hoa Thơ mới: thẩm bình và suy ngẫm (nhiều tác giả); Thơ mới 1932 – 1945: tác giả và tác phẩm (nhiều tác giả); Thơ mới lãng mạn – những lời bình (Vũ Thanh Việt biên soạn); Giọng điệu trong thơ trữ tình: qua một số nhà thơ tiêu biểu của phong trào Thơ mới (Nguyễn Đăng Điệp); Đặc trưng từ vực Thơ mới 1932 – 1945 (Vũ Thị Ân) v v

Trang 11

11

Ngoài ra, còn rất nhiều luận án Tiến sĩ, các công trình nghiên cứu cũng tập trung vào Thơ mới hoặc những đặc điểm nghệ thuật của các tác giả cụ thể trong Thơ mới nhưng do khuôn khổ bài viết có hạn, chúng tôi xin phép không đề cập ở đây

Đặc biệt, trên internet có một số trang web đã đề cập tới vấn đề chủ nghĩa tượng trưng và Thơ mới Ta có thể kể ở đây một số trang như: http://van.hoctainha.vn/ có bài

Ảnh hưởng của chủ nghĩa tượng trưng trong Thơ mới; trang http://thotanhinhthuc.org/

có bài của Hoàng Ngọc Hiến về Baudelaire – Chủ nghĩa tượng trưng và Thơ mới;

trang http://phongdiep.net/ có bài Thơ Bích Khê và chủ nghĩa tượng trưng của Mai Bá

Ấn; trang http://bichkhe.org/ có bài của Trần Thế Nhân về Nhìn nhận yếu tố tượng trưng, siêu thực trong Thơ mới; trang http://khoavanhoc-ngonngu.edu.vn/ có bài Vấn

đề tiếp nhận các yếu tố nghệ thuật của thơ tượng trưng phương Tây trong Thơ mới Việt Nam 1932 – 1945 .v v

Ngoài những công trình trên, đề cập tới chủ nghĩa tượng trưng, ta có thể kể tới công

trình Lịch sử văn học Pháp thế kỉ XIX (Lê Hồng Sâm chủ biên) của NXB Ngoại văn,

in năm 1990 hay mới đây công trình này được tái bản, có sửa chữa và bổ sung do

Phùng Văn Tửu và Lê Hồng Sâm chủ biên với nhan đề Lịch sử văn học Pháp thế kỉ XVIII và thế kỉ XIX của NXB Đại học Quốc gia Hà Nội in năm 2005

Qua việc điểm qua các công trình, các bài nghiên cứu về Thơ mới và chủ nghĩa tượng trưng, chúng tôi thấy rằng có không ít công trình nghiên cứu về vấn đề này Tuy nhiên, hầu như những công trình đó còn mang tính chất giới thiệu điểm qua về ảnh hưởng của chủ nghĩa tượng trưng tới Thơ mới hoặc khai thác vấn đề trên một khía cạch riêng lẻ của một tác giả trong Thơ mới hay nói chung về chủ nghĩa tượng trưng; mà chưa có cái nhìn một cách hệ thống về ảnh hưởng của chủ nghĩa tượng trưng đối với Thơ mới Chính vì thế, trong công trình này, chúng tôi cố gắng đưa ra một cách nghiên cứu tương đối có tính hệ thống về ảnh hưởng của chủ nghĩa tượng trưng đối với Thơ mới và trong khuôn khổ giới hạn của luận văn, chúng tôi tiến hành khảo sát sự ảnh

Trang 12

12

hưởng ấy trên thơ của ba tác giả tiêu biểu liên quan đến đề tài: Xuân Diệu, Huy Cận và Bích Khê trên cơ sở tiếp thu có lựa chọn những công trình trước đó

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Đề tài của chúng tôi triển khai với mục đích tìm hiểu một cách hệ thống sự ảnh hưởng của chủ nghĩa tượng trưng đối với Thơ mới, để từ đó đưa ra nhiệm vụ phần nào phác họa được một cái nhìn khái quát về ảnh hưởng của một trào lưu, chủ nghĩa về thơ của phương Tây tới Việt Nam và sự tiếp nhận sáng tạo trào lưu, chủ nghĩa này của các nhà Thơ mới 1932 – 1945

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Trong luận văn của mình, chúng tôi muốn xác lập một đối tượng nghiên cứu thật

cụ thể và phù hợp với khả năng của bản thân Vì thế chúng tôi hướng tới đối tượng nghiên cứu là sự ảnh hưởng của chủ nghĩa tượng trưng (chủ yếu là chủ nghĩa tượng trưng Pháp) đối với Thơ mới, qua khảo sát thơ của ba nhà thơ Xuân Diệu, Huy Cận và Bích Khê

Với đối tượng nghiên cứu như trên, chúng tôi tiến hành khảo sát phạm vi nghiên

cứu là những tuyển tập thơ của ba tác giả nói trên Một là cuốn Tuyển tập Xuân Diệu: thơ (tập 1), NXB Văn học năm 1983 Hai là cuốn Huy Cận toàn tập: thơ (tập 1), NXB Văn học năm 2011 Ba là cuốn Thơ Bích Khê, NXB Đồng Nai năm 2007 Ngoài ta,

chúng tôi còn tham khảo một số tư liệu khác

5 Phương pháp nghiên cứu

Để tiến hành thực hiện luận văn, chúng tôi đã lựa chọn nhưng phương pháp nghiên cứu sau đây:

Phương pháp so sánh: phân tích, tổng hợp, những tài liệu đã có về chủ nghĩa tượng trưng, phong trào thơ mới để tìm ra những điểm giống nhau giữa chủ nghĩa tượng trưng ở Pháp và những hình thức nghệ thuật được biểu hiện trong thơ của ba nhà thơ Xuân Diệu, Huy Cận, Bích Khê để rút ra được mức độ ảnh hưởng

Trang 13

13

Phương pháp tiếp cận thi pháp học: nghiên cứu về mặt hình thức và ý nghĩa tổng thể để khẳng định thi pháp trào lưu, thi pháp tác giả

6 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn có cấu trúc như sau: Chương 1: Khái lược về chủ nghĩa tượng trưng và phong trào Thơ mới

Chương 2: Tính tương giao và hệ thống biểu tượng trong Thơ mới

Chương 3: Ngôn từ và nhạc tính trong Thơ mới

CHƯƠNG 1 KHÁI LƯỢC VỀ CHỦ NGHĨA TƯỢNG TRƯNG

VÀ PHONG TRÀO THƠ MỚI 1.1 Sự ra đời của chủ nghĩa tượng trưng

Soi chiếu lịch sử văn học Pháp, ta có thể thấy sự ra đời của chủ nghĩa tượng trưng bắt nguồn từ nửa kỉ cuối thế kỉ XIX, khi mà cuộc khủng hoảng của văn hóa nhân văn phương Tây dẫn đến sự chống lại Chủ nghĩa tự nhiên và các nguyên tắc Thực chứng luận của nhóm Thi Sơn

Chủ nghĩa tượng trưng Pháp xuất hiện những năm 50 của thế kỉ XIX và phát triển mạnh vào cuối thế kỉ XIX Đây được coi là thế kỉ của những bão tố chính trị, những đảo lộn chưa từng thấy trong lịch sử của đất nước, của các tầng lớp và của mỗi

cá nhân Xét về sự tác động của bối cảnh lịch sử thì chủ nghĩa tượng trưng ra đời một phần cũng là do những nhà thơ có sự bất mãn sâu xa với xã hội Pháp với nền chuyên chế Napoleon III, sự bành trướng của đế quốc chủ nghĩa…Thêm vào đó, các học thuyết

xã hội mà các nhà tư tưởng đưa ra về bảo thủ hay tiền tiến, hoài niệm hay quá khứ ngưỡng vọng tương lai (trước những đảo lộn xã hội làm tan rã nhiều trật tự vốn có), đã tạo nên những chuyển biến khá mạnh mẽ trong đời sống tinh thần của những nghệ sĩ sống trong thế kỉ ấy

Nếu như trước đây, chủ nghĩa lãng mạn và chủ nghĩa hiện thực ra đời đã để lại dấu ấn vô cùng quan trọng trong lịch sử văn học Pháp thì khi xã hội thay đổi, những

Trang 14

14

hình thái nghệ thuật ấy đã lần lượt nhường chỗ cho chủ nghĩa tự nhiên với yêu cầu mô

tả cuộc sống bằng những phương pháp của khoa học tự nhiên

Chủ nghĩa tự nhiên (Naturalism) ra đời và tồn tại những năm 1870 – 1880 với

những đại biểu như Edmond, Goncourt, Zola Họ yêu cầu miêu tả cuộc sống bằng phương pháp của khoa học tự nhiên, chú trọng tư liệu về con người và hiện tượng đời sống, đặc biệt là đời sống sinh lí và những hoạt động vật chất của con người Họ coi trọng quan sát, săn tìm tư liệu hơn là dùng trí tưởng tượng

Thế nhưng, chủ nghĩa tự nhiên sau giai đoạn phồn vinh mà đỉnh điểm là năm

1880, trường phái Tự nhiên chủ nghĩa lại đi vào rạn nứt và tan rã Năm 1884, Ngược chiều của J.K Huysmans (với đự dịnh khảo sát đến cùng một nhân vật mắc bệnh thần

kinh dẫn tới miêu tả những ám ảnh, mộng mị, đạt “hiệu quả hư ảo, phi thực tế) đã khiến chủ nghĩa tự nhiên hoàn toàn bị đảo ngược Đỉnh điểm là tới tháng 8 năm 1887, nhiều nhà văn đã từng hâm mộ Zola đã tập hợp và viết bản Tuyên ngôn nổi tiếng để

kịch liệt lên án tiểu thuyết Đất của ông Đó là kết quả tất yếu của sự chán ngán muốn

tìm một hình thái nghệ thuật khác của những nghệ sĩ đương thời bấy giờ

Chính vì ý thức muốn tìm một hình thái nghệ thuật mới thay thế cho hình thái nghệ thuật của chủ nghĩa tự nhiên không còn phù hợp, một số nhà thơ trẻ đã tập hợp

những vần thơ mới trong Tuyển tập Thi Sơn với 3 tập thơ được xuất bản lần lượt những

năm 1866, 1869, 1876 và lập nên nhóm Thi Sơn Họ nổi lên như một sự phản ứng trực tiếp với chủ nghĩa lãng mạn và chủ nghĩa hiện thực, cũng như sự thờ ơ với thơ của độc giả Với việc lập ra nhóm này, các nhà thơ muốn đoạt lại thơ ca và làm cho nó hồi sinh bằng những năng lượng mới

Nhóm Thi sơn theo chủ trương nghệ thuật vị nghệ thuật, và trong thơ cần có nhạc của Gautier, quan tâm đến việc luyện âm và chữ, đưa nhục cảm vào thơ của Banville Họ không tin ở cảm hứng mà tin vào lao động ngôn ngữ; kết hợp với tưởng tượng nhà thơ bộc lộ những đam mê trần trụi của mình Họ từ chối “cái tôi” trữ tình lãng mạn, trở về gần hơn với sự hoàn hảo của thi ca cổ điển, với những câu thơ hay,

Trang 15

là những người suy đồi, và từ đó họ dần tự tách ra khỏi phái Thi Sơn, trở thành những tập hợp nhỏ trên thi đàn Các nhà thơ suy đồi đã phản bác lại việc phái Thi Sơn chủ trương xu hướng vô ngã của thơ cũng như văn chương hiện thực và tự nhiên chỉ chú trọng tính xác thực bề mặt và loại bỏ yếu tố chủ thể ra khỏi sáng tạo văn học Có thể nói rằng, trên danh nghĩa là thơ suy đồi và những người suy đồi, nhưng thực chất đó là định hướng một nguồn thơ mới – thơ tượng trưng – mà nó sẽ có tên gọi chính thức từ

1886 Và trong thực tế, trong thời kì gọi là suy đồi cũng đã xuất hiện rải rác trên các tạp chí và các báo những từ như “tượng trưng”, “những người tượng trưng” [59]

Trước bối cảnh một trường phái mới có thể thành hình, Jean Moréas, gửi một bức

thư để đăng trên báo Le Figaro, ngày 18/9/1886, dưới cái tựa (do toà soạn chọn) Một bản tuyên ngôn văn chương, trong lá thư đó, ông đề nghị chữ Symbolisme (Trường

phái Tượng trưng) là thích hợp nhất để chỉ trường phái này

Theo ông, gọi những nhà thơ mới là những nhà thơ tượng trưng (symbolistes) phù hợp hơn so với cách gọi Những nhà thơ suy đồi (decadents), vì thế hệ các nhà thơ trẻ luôn ý thức tìm kiếm những biểu tượng vĩnh cửu Với bài báo này, Moréas chính là người có công chỉ ra bước đi cụ thể đầu tiên, ở đó chủ nghĩa tượng trưng sẽ thế chỗ cho thơ suy đồi, và đó sẽ là một khái niệm phổ biến về một phong cách thơ đầy tính cách mạng [59]

Trang 16

16

Bài của Moréas được coi là bản “Tuyên ngôn Tượng trưng” Nhưng bản “tuyên ngôn” này cũng không có gì mới, tác giả chỉ định vị chỗ đứng của trào lưu Tượng trưng trong dòng chảy của thi ca, và đề cao vai trò của những người “khai sáng” như Baudelaire, Banville, Mallarmé, Verlaine mà không nói gì đến việc định nghĩa khái niệm Tượng trưng

1.2 Nguyên tắc sáng tạo và đặc điểm cơ bản của chủ nghĩa tƣợng trƣng

Chủ nghĩa tượng trưng không có lý thuyết rõ như chủ nghĩa lãng mạn hay chủ

nghĩa cổ điển Chủ nghĩa lãng mạn có bài Tựa Cromwell của Hugo, chủ nghĩa cổ điển

có cuốn Nghệ thuật thơ của Boileau, còn chủ nghĩa tượng trưng tuy có ra tuyên ngôn

nhưng tuyên ngôn không nêu rõ nguyên tắc mỹ học của trường phái này Có một số tài

liệu đáng chú ý: Lời nói đầu của Mallarmé viết cho đầu cuốn Luận về ngôn từ của

René Ghil, Tuyên ngôn của chủ nghĩa tượng trưng của Jean Moréas Từ những tài liệu

đó, có thể thấy mấy yêu cầu chính của phái tượng trưng:

Một là những người tượng trưng chủ nghĩa cho rằng giữa vũ trụ và con người có những mối tương quan bí ẩn Những tương quan này được biểu hiện qua những dấu hiệu, những cảm niệm mơ hồ Sứ mệnh của nhà thơ là tập hợp những mớ cảm niệm ấy

và cột nó lại để nói lên cái “Ý niệm nguyên sơ” Như vậy, những người tượng trưng chủ nghĩa gán cho thơ một nhiệm vụ có tính chất thần bí: khải thị chân lý…

Hai là vận dụng cho được cái hay của các nguyên âm, phụ âm, vận dụng âm điệu thế nào để cho một từ thành một tượng trưng hay như Mallarmé nói: “một từ đầy đủ, mới mẻ, xa lạ với ngôn ngữ và nghe như thần chú”

Ba là những người tượng trưng chủ nghĩa phải chú trọng cải cách câu thơ Pháp,

đề cao câu thơ tự do

Những yêu cầu đó được những người tượng trưng chủ nghĩa nêu ra hoặc bằng

sáng tác thơ hoặc bằng lời lẽ có tính chất lý luận Verlaine viết trong Nghệ thuật thơ

(1884) có đoạn nói đến cách biểu hiện thơ của ông Verlaine thích cái lơ lửng không rõ ràng, thích sắc thái hơn màu sắc, vì sắc thái có khả năng biến màu sắc này sang màu

Trang 17

âm tiết ít nhiều không quan trọng

Chủ nghĩa tượng trưng quan niệm nghệ thuật không phản ánh thế giới thực tại, thế giới của của hiện tượng mà là một thế giới siêu tưởng, một thế giới mơ hồ của sự tương hợp giữa ánh sáng, màu sắc, âm thanh, mùi hương và nhạc điệu Chủ thể tiếp nhận thơ tượng trưng cùng một lúc có thể cảm ứng tổng hòa thế giới âm thanh, màu sắc, mùi hương bằng tất cả các giác quan tương ứng Các nhà tượng trưng xem thế giới hữu hình chỉ là hình ảnh, là cái bóng, là biểu trưng cho một thế giới mà ta không thấy được

Họ quan niệm chính cái không nhìn thấy đó mới là bản thể của thế giới

Nhà thơ tượng trưng nhận thức thế giới bằng trực giác, chỉ có trực giác mới giúp

họ nắm bắt được cái vô hình, mới ứng cảm được thế giới đích thực mà ta không nhìn thấy Họ cho rằng nghệ thuật nếu muốn phản ánh thế giới thì phải tìm ra những “hiện thực ẩn dấu” và thể hiện nó bằng các biểu trưng thẩm mĩ Nhà thơ cùng một lúc vừa phân thân, vừa tụ hội các năng lực cảm biến thế giới bên trong và thế giới trực giác, trong ấn tượng, tượng trưng để làm nên những thứ vô nghĩa lý nhưng hợp lý [62]

Sự đoạn tuyệt của nghệ sĩ với xã hội, với quần chúng mà nhóm Thi sơn chủ trương, thì ở các nhà Tượng trưng càng được biểu hiện gay gắt hơn Mối liên hệ giữa người sáng tác và công chúng bị cắt đứt Thơ của Mallarmé, Verlaine, Chales Cros, tiểu thuyết của Huysmans, kịch của Maeterlinck đã đưa nghệ thuật ra khỏi con đường

có phần đơn điệu và chật hẹp của sự miêu tả, mở ra cho trí tưởng tượng sáng tạo nhiều không gian mới mẻ, nhưng lại khiến sự giao tiếp với độc giả trở nên khó khăn Chủ trương “chẳng miêu tả cái gì và chẳng gọi tên cái gì” – như Anatole France tóm tắt một cách châm biếm tuyên ngôn của Moréas – mà chỉ tổng hợp bằng ngôn từ những dấu hiệu nhìn thấy được, tìm đường trong những “cánh rừng biểu tượng” như Baudelaire đã

Trang 18

18

làm, là việc gay go ngay với các tác giả tượng trưng chủ nghĩa, đòi hỏi chẳng những cảm hứng mà cả một vốn tri thức bách khoa Hiếm ai có được vừa sự uyên bác vừa sự kiên trì khắc kỉ của Mallarmé Một số người nhờ lục lọi các pho lịch sử tôn giáo, các công trình nghiên cứu về thời Trung cổ, các sách của những nhà thần bí học, đã thành những thi sĩ giỏi làm ảo thuật với kho sưu tập các ẩn dụ, tỉ dụ, chứ không phải các nhà thơ sáng tạo những biểu trưng thực sự

Có thể nói, chủ nghĩa tượng trưng dựa trên cái nhìn chủ quan tuyệt đối về thế giới Thơ ca không có nhiệm vụ miêu tả cái thế giới gọi là “thực tại” mà ngược lại, lập nên một “thực tại” khác, thực hơn Sự sáng tạo thơ ca là thực tại tối cao, đem lại ý nghĩa cho cuộc sống vốn chỉ là ảo tưởng và hư không

Nếu như thơ lãng mạn chủ yếu biểu hiện bằng hình tượng, hình ảnh tương phản; thơ hiện thực coi trọng tính khách quan của sự thể hiện; thì thơ tượng trưng biểu hiện

mối quan hệ giữa con người và sự vật trong mối tương hợp

Mỹ học tượng trưng cũng quan niệm giữa vũ trụ và con người có một mối tương quan bí ẩn Mối tương giao, tương hợp này diễn ra trên nhiều mặt Có sự tương giao về

ý niệm: hư - thực, có sự tương giao về cảm giác: ánh sáng- bóng tối, có sự tương giao

về không gian: ngang - dọc, có sự tương giao về màu sắc: đen - trắng, có sự tương giao

về màu vị: trong - ngọt Giữa vũ trụ và con người có sự tương ứng huyền bí (Baudelaire)

Những nguyên tắc của trường phái tượng trưng do Jean Moreas (1856-1910), gốc Hy Lạp đề xướng trong bài tuyên ngôn của trường phái Tượng trưng (1886) trên tờ Figaro Ông nêu lên tính cách biểu trưng nghệ thuật cho các vật tự nó và các ý niệm

nằm ngoài giới hạn của sự tri giác cảm tính Trong cuốn Manifeste du Symbolisme năm

1886 ông viết: Điều cốt yếu mà Chủ nghĩa Tượng trưng đem lại là không bao giờ ám chỉ điều gì như một khái niệm tuyệt đối” Ông còn cho rằng thế giới hữu hình chỉ là phản ánh của thế giới tâm linh và nhà thơ là người giải minh các dấu hiệu

Trang 19

19

Từ những quan niệm trên, có thể nhận thấy Jean Moreas đã thể hiện ước muốn

về một nghệ thuật mới mẻ và một lý tưởng đòi hỏi khắt khe Đây cũng là cơ sở cho các nhà thơ tượng trưng đi đến thống nhất một số nguyên tắc cho thơ tượng trưng như sau: Thứ nhất, tính cách biểu trưng cho các vật tự nó và các ý niệm nằm ngoài giới hạn của

sự tri giác cảm tính

Thứ hai, phải vươn tới bản chất lý tưởng siêu thời gian của thế giới, cái vẻ đẹp siêu nghiệm

Thứ ba, bác bỏ lý tưởng thẩm mỹ: nghệ thuật vị nghệ thuật

Thứ tư, phản ứng lại phái Thi Sơn

Thứ năm, gợi ra những sắc thái tế nhị của cảm giác và tâm hồn

Thứ sáu, mơ ước đạt được cái thực tại tiên thiên ở bên ngoài những hiện tượng biểu kiến của cuộc đời, vũ trụ [61]

Khám phá và diễn đạt sự bí ẩn sâu xa của thế giới là mục đích và bản chất của

thơ tượng trưng Các nhà thơ không hài lòng với lối thơ mô tả sự vật một cách hời hợt bên ngoài, mà cho rằng thế giới xung quanh chúng ta luôn chứa đựng những điều bí ẩn

kì diệu, thơ có khả năng và quyền lực để chiếm lĩnh và biểu hiện nó Như một người tiên phong, Baudelaire thể hiện mình là người ý thức được sớm và đầy đủ về bản tính của thơ để định hướng cho một thời đại với những sáng tạo mới Mặc dù nhận thấy những hạt nhân hợp lí ở chủ nghĩa lãng mạn và Thi sơn, nhưng ông vẫn thấy các hình thức thơ đó còn nhiều hạn chế, chủ yếu vẫn là “thức ăn của lí trí” thuần túy Với ông, chức năng thơ không phải sự bộc bạch những trạng thái cảm xúc thông thường (cái mà văn xuôi có thể thay thế và làm tốt), mà phải hướng đến thể hiện những tri thức huyền nhiệm và chỉ có nó (thơ) mới diễn đạt được Thơ là sự cố gắng thể hiện một thế giới mới nằm ẩn dấu sau thế giới hiện thực, khả dĩ đem lại cho tinh thần một sức mạnh đặc biệt là khả năng nhìn thấy thế giới không giống như nó hiện hữu mà ở chỗ nó lộ ra bằng những loại suy (analogies) bất ngờ giữa những cảm giác và trong sự tương hợp sâu xa giữa cái có thể nhìn thấy, cảm tính và cái tinh thần ẩn dấu bên trong [59]

Trang 20

20

Các nhà tượng trưng chủ nghĩa cho rằng thơ sẽ nhờ âm thanh của các từ gợi lên được những sắc thái tinh tế nhất của tâm trạng Nhà thơ tượng trưng muốn biến bài thơ thành một thứ nhạc điệu chiêu hồn gợi lên những giấc mơ kì lạ, như một điệu đàn âm vàng từ nơi rừng thẳm xa xôi Bài thơ sẽ dẫn con người đi tới một nơi xa lạ không giống với xã hội thi sĩ đang sống, đi tới nơi ngự trị của ý niệm nguyên sơ [36, tr 58] Thơ ca không có nhiệm vụ miêu tả cái thế giới gọi là “thực tại” mà ngược lại, nó lập nên một “thực tại” khác, thực hơn [44, tr 314]

Về nhận thức, các nhà thơ tượng trưng là những người phê phán một cách gay gắt cách làm của phái Thi Sơn, cho rằng những nhà thơ của phái này có thể nắm bắt một cách rất chắc sự vật và miêu tả đầy đủ đường nét góc cạnh của nó, nhưng họ đã tước bỏ mất phần lớn niềm vui thi vị của sáng tạo Với họ, thơ là sự biểu hiện một thế giới vô hình, qua hình ảnh biểu tượng và năng lực tinh thần kì diệu của nghệ sĩ chứ không phải một thế giới được nhìn thấy bằng sự quan sát thông thường Nhìn chung thơ tượng trưng từ Baudelaire đến Rimbaud, Mallarmé phản ánh niềm say mê thám hiểm thế giới mới, những sự phá cách táo bạo và những sự tìm kiếm không mệt mỏi những giá trị nghệ thuật, cách biểu hiện theo hướng hiện đại Diễn đạt bằng hình ảnh, biểu tượng, bằng những liên tưởng bất ngờ dựa trên năng lực có tính chất thần cảm của nghệ sĩ đã tạo cho thơ tượng trưng những khả năng biểu hiện mới, những vẻ đẹp quyến

rũ thú vị mà thơ thuần lí trí từ Phục hưng đến thời đại Cổ điển, Khai sáng và Lãng mạn không thể có được

Thế kỉ XIX chứng kiến sự “phục sinh” của nền thơ Pháp Khởi đầu từ cảnh khô cằn hoang vắng, con đường thơ kết thúc trong sự rậm rạp phần nào hỗn độn, dẫn tới nhận định về “tình trạng Babel” của thơ những năm cuối thế kỉ Con đường này trải qua những chặng “cách mạng” mà một số nhà nghiên cứu gọi là “nhịp mạnh” xen kẽ

những chặng “phản ứng” hay “nhịp yếu” [44, tr 343]

Một thành tựu của chủ nghĩa tượng trưng là câu thơ tự do (mà Rimbaud đã thể nghiệm với tác phẩm thơ – văn xuôi Thần cảm), cũng được coi là khó tiếp nhận đối với

Trang 21

21

độc giả Gustave Kahn được coi là người xây dựng lí thuyết thơ tự do Theo Kahn, việc thay thế thơ truyền thống bằng thơ tự do là một cuộc cách mạng, đáp ứng cảm xúc hiện đại của thế hệ nghệ sĩ trẻ Tiếp theo những cải cách rụt rè của các nhà lãng mạn,

Baudelaire, Verlaine và đặc biệt là Rimbaud (trước khi sáng tác Thần cảm), đã giảm

bớt hình thức nghiệt ngã của thơ truyền thống, nhưng mới tạo ra “câu thơ được giải thoát”, chưa phải “câu thơ tự do” Theo Kahn, không phải thơ bị qui phạm hóa một cách ngặt nghèo và hình thức hơn văn xuôi mà ngược lại, thơ chỉ tuân theo qui phạm mỗi lúc một khác của bản thân nó Mỗi thi sĩ, mỗi lần phải sáng tạo một tiết tấu đặc biệt riêng cho mỗi tác phẩm thơ Hậu quả của sự cách tân này là mỗi lần muốn nắm bắt giai điệu thơ – giai điệu này càng cá biệt bao nhiêu càng “đạt” bấy nhiêu – người đọc phải cố gắng hết sức để giao cảm với tác giả, một sự cố gắng nhọc nhằn, nhiều lúc phải triệt bỏ cả ý nghĩ hưởng thụ, thưởng thức khi đọc thơ, và như vậy, sự li khai giữa thi sĩ

với công chúng có nguy cơ trở nên tuyệt đối [44, tr 342]

Chủ nghĩa tượng trưng xem thế giới hữu hình chỉ là hình ảnh, là cái bóng, là tượng trưng cho một thế giới mà ta không nhìn thấy được Đây mới chính là bản thể của thế

giới Cho nên, nhà thơ phải đến với cuộc sống bằng trực giác vì chỉ có trực giác mới

tìm ra cái bí ẩn nằm sau thế giới hữu hình, mới nhìn thấy thế giới đích thực là cái thế giới không nhìn thấy ấy

Từ những ý trên chúng ta có thể nhận ra những đặc trưng tiêu biểu của thơ tượng trưng như sau:

+ Thơ là sự tương giao (tương hợp) cảm giác

+ Thơ là nhạc, là sự tổng hòa nhiều giác quan

+ Thơ được biểu đạt bằng một hệ thống các biểu tượng giàu sức ám gợi

Thơ tượng trưng là khởi đầu của chủ nghĩa hiện đại Các nhà thơ của thi phái này là những vị tiền bối trực tiếp cho các trào lưu nghệ thuật hiện đại thế kỉ XX, tiêu biểu như chủ nghĩa siêu thực trong thơ và khuynh hướng văn học nội quan (tiêu biểu là Marcel Proust) trong lĩnh vực văn xuôi… Trong sự cách tân của mình, thơ tượng trưng

Trang 22

22

đã khai sinh ra tính hiện đại trong văn học thế giới với những biểu hiện muôn màu, muôn vẻ của nó (khái niệm tính hiện đại gắn liền với tên tuổi nhà thơ tiên phong của thi phái này: Charles Baudelaire) Trên cái nhìn tổng quát, tính hiện đại của thơ tượng trưng gắn liền với ý niệm về một sự lật nhào và vượt lên trên ranh giới của những cái

đã biết, cái quen thuộc, cái hàng ngày nhìn thấy Thơ tượng trưng đã tự giải thoát mình khỏi những qui định và ước lệ, nó chỉ biết tuân theo những đòi hỏi mãnh liệt của nhu cầu sáng tạo của nghệ sĩ chứ không tuân theo những chuẩn mực tiền lệ hoặc quán tính Tính hiện đại vừa là một phẩm chất thơ, vừa là một yêu cầu để từ đó thơ ca (và nghệ thuật nói chung) vươn tới để tiếp cận và chiếm lĩnh những giá trị thẩm mĩ mới phù hợp với cảm xúc và trình độ tư duy của công chúng văn học hiện đại [59]

Chủ nghĩa tượng trưng là một cuộc nổi loạn ngôn từ Nhận thức đó hoàn toàn có

cơ sở, vì khác với bất kì trường phái văn học nào trước nó, các nhà thơ đã ân sủng cho

nó một quyền lực mới, riêng biệt Thơ phải tạo cho những từ ngữ mới hoặc cấp cho từ những ý nghĩa mới trở thành thành một trong những ám ảnh thường trực đối với các nhà thơ tượng trưng Bởi vì đối với họ, trong ngôn ngữ thường nhật, ngôn ngữ của trí năng, thậm chí của cả văn xuôi, từ là vật phụ thuộc trong những mối liên hệ, được sắp xếp trong trật tự dưới sự dẫn dắt của lí trí phổ quát và thực hiện chức năng truyền đạt thông tin theo mục đích của chủ thể hành ngôn Các nhà thơ tượng trưng và sau này là các nhà thơ hiện đại chủ nghĩa cho rằng: ngay ở thơ cổ điển (và cả lãng mạn), chức năng của các nhà thơ không phải là tìm ra những từ mới, cô đặc hơn hay rực rỡ hơn,

mà là sắp xếp một nghi thức cũ, hoàn thiện tính đối xứng hay tính súc tích của một mối quan hệ… Ý nhị cổ điển là ý nhị về các mối quan hệ, chứ không phải về từ: đó là nghệ thuật biểu đạt chứ không phải nghệ thuật phát minh… Người ta thích thú vì cách trình bày chúng chứ không phải vì sức mạnh và vẻ đẹp riêng của nó Ngôn từ không phải chỉ

là phương tiện của thơ mà còn là chính bản thân thơ [59]

Những nhà thơ lãng mạn đã lợi dụng tối đa các khúc gẫy của câu thơ truyền thống – chuyển dịch và tăng thêm các chỗ ngắt hơi, thực hiện những cách vắt dòng táo

Trang 23

23

bạo, đảo lộn cú pháp để phục tùng tiết tấu Chính vì thể, họ đã xô đổ được các vách ngăn bên trong mà không phá hủy được cấu trúc cơ bản của câu thơ Về phương diện ngôn từ, các nhà thơ lãng mạn quan niệm, từ không còn là một kí hiệu lệ thuộc vào một cái gì tiên nghiệm, “có trước” nó như các nhà cổ điển quan niệm Theo Hugo “Từ là một thực thể sống, mạnh hơn kẻ sử dụng nó, vọt ra từ nơi tối tăm, nó làm nảy sinh một nghĩa mới, tùy theo ý nó”

Với các tác giả tượng trưng, sự đổi mới diễn ra trong lòng ngôn ngữ thơ: những

sự “tương hợp” của Baudelaire hay “thuật luyện đan về ngôn từ” của Rimbaud, triết luận ngôn ngữ của Mallarmé hay “chủ nghĩa ấn tượng” về từ vựng hoặc ngữ pháp ở Verlaine, Mallarmé và các nhà tượng trưng

Mallarme, lãnh tụ của phái tượng trưng nhấn mạnh ý nghĩa thần bí của bài thơ

và của từ ngữ trong thơ Rimbaud viết bài thơ Những nguyên âm, nêu lên ý nghĩa của

mỗi nguyên âm Rimbaud nói: “Tôi đã sáng chế ra màu sắc các nguyên âm: A đen, E trắng, I đỏ, O tím, U xanh – Tôi đã điều chỉnh hình thức và sự vận động của mỗi phụ

âm và với những tiết điệu có tính chất bản năng, tôi tự hào đã sáng chế ra một ngôn ngữ thơ có thể ngày một ngày hai phù hợp cho tất cả các giác quan” Với Rimbaud, thi

sĩ là người tiên tri (Le Voyant), là người thay đổi cách nhìn, cách cảm, để chọn trong hiện thực những giá trị thơ mà người khác không tìm thấy được [36, tr 59]

Thơ tượng trưng dùng biểu tượng như là một cấu tạo hình tượng đặc biệt để chống lại lối miêu tả và biểu lộ tình cảm trực tiếp của chủ nghĩa lãng mạn Nói cách khác, chủ nghĩa tượng trưng tôn trọng điều bí ẩn của thơ Họ tránh dùng miêu tả mà dùng những từ gợi lên ý nghĩa Tức là dùng biểu tượng như là một phương tiện biểu hiện Đến thời kỳ cuối, thơ tượng trưng rơi vào hình thức chủ nghĩa, mấp mé giữa đường ranh nghệ thuật và phi nghệ thuật bằng lối thơ hủ nút, kín mít Điều này khiến thơ tượng trưng rơi vào tình trạng phi giao tiếp, có tính chất loại bỏ sự giao tiếp của người đọc [57]

1.3 Thơ mới và tiếp nhận của chủ nghĩa tƣợng trƣng trong Thơ mới

Trang 24

24

1.3.1 Sự ra đời và ý nghĩa của phong trào Thơ Mới

Một phong trào văn học ra đời bao giờ cũng phản ánh những đòi hỏi nhất định của xã hội Nó là tiếng nói của một tầng lớp người, của một giai cấp vừa mới ra đời, đang lớn lên hoặc đã già cỗi trong xã hội Thơ cũ (trong Nam Phong, Văn học tạp chí)

là tiếng nói của một tầng lớp phong kiến đã thất bại và đầu hàng đế quốc Văn học lãng mạn từ 1932 trở đi là tiếng nói của tư sản và tiểu tư sản thành thị Sự xuất hiện của giai cấp tư sản và tiểu tư sản thành thị là nguyên nhân chính làm cho phong trào Thơ mới ra đời [1, tr.16]

Do kết quả sự mở rộng khai thác thuộc địa của đế quốc Pháp, sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất, một giai cấp tư sản bản xứ hèn yếu ra đời, đồng thời một giai cấp

vô sản tương đối mạnh mẽ hơn cũng xuất hiện Trong những năm đại chiến 1914 –

1918, giai cấp tư sản Việt Nam đã có những hoạt động khá mạnh

Giai cấp tiểu tư sản thành thị có điều kiện hình thành sớm hơn ngay sau đợt khai thác lần thứ nhất Lúc này, các thành thị lớn đã đông đúc, việc buôn bán tương đối phát triển, bộ máy viên chức của thực dân và phong kiến đã có quy mô hoàn chỉnh Giai cấp này bao gồm những tiểu thương, tiểu chủ, viên chức, giáo viên, học sinh, sinh viên, những người làm nghề tự do Theo Thống kê niên giám của Đông Dương thì năm

1921 – 1922 ở Việt Nam có khoảng 189.130 giáo viên, công chức, học sinh, sinh viên

và đến năm 1932 – 1933 là năm “Thơ mới” đã ra đời, con số đó lên tới 352.369 người [10, tr 17]

Trong những năm sau đại chiến tầng lớp trí thức cũng bắt đầu xuất hiện, nhưng

do sự kìm hãm của thực dân nên nó phát triển chậm Tính từ năm 1929 trở về trước, tri thức Việt Nam tốt nghiệp ở Pháp đã có những luật khoa tiến sĩ, y khoa tiến sĩ, cử nhân văn chương, cử nhân sử địa, cử nhân triết học, cử nhân khoa học Từ 1920 trở về sau trong nước đã có một số sinh viên tốt nghiệp trường Cao đẳng sư phạm (Dương Quảng Hàm, Hoàng Ngọc Phách, Đặng Thai Mai ) Ở nước ta, lúc bấy giờ vào loại tri thức còn có thể kể những người đã đậu bằng tú tài tây hoặc cao đẳng tiểu học

Trang 25

25

Giai cấp tư sản và một bộ phận tiểu tư sản lớp trên (tri thức, viên chức cao cấp)

đã có lối sinh hoạt “văn minh” ở thành thị Người ta ở nhà lầu, đi ô tô, dùng đèn điện, quạt điện, đi nghe hòa nhạc hoặc đi xem chớp bóng Những kiểu sinh hoạt đua đòi, trụy lạc được thực dân khuyến khích Năm 1931 dân số Hà Nội không quá 10 vạn người mà

có hơn 100 nhà săm và nhà thổ! Trên báo chí xuất hiện những quảng cáo to tướng của các ông vua thuốc lậu Năm nào ở các đô thị lớn cũng có chợ phiên, hội chợ, thi sắc đẹp Sinh hoạt của tư sản và tiểu tư sản thành thị cũng thể hiện ngay cả trong cách ăn mặc của thanh niên nam nữ Cô gái Bắc Kì trước kia đội nón thúng quai thao, tóc bỏ đuôi gà, dép sơn cong tớn, quần áo thâm lượt thượt Sau đó các cô bỏ dép, bỏ nón, dùng giày mõm nhái, ô đen Năm 1929, ta đã thấy những cô thiếu nữ Hà thành mặt đánh phấn, đôi mày vọng nguyệt bằng nét mực Tàu, môi son đỏ chót, áo màu, ô màu, giày thêu mũi nhọn gót cao Năm 1931, những cô thiếu nữ “tân tiến” nhất thì đường ngôi rẽ lệch, giày cao gót, quần trắng, áo màu, khăn san, phấn mặt, chơi tennis

Thanh niên thành thị giàu sang cũng mỗi năm mỗi “mốt” không kém gì phụ nữ Thậm chí cái mốt “y phục lụng thụng” năm 1928 của Paris, những người Pháp ở Đông Dương chưa dùng mà một số công tử Hà thành đã bắt chước rồi

Những đổi mới nói trên là những đổi mới nằm trong phạm vi sinh hoạt Điều đáng chú

ý là những thay đổi về suy nghĩ, cảm xúc do lối sinh hoạt mới gây nên Những thay đổi

đó cũng do sự tiếp xúc văn hóa với Pháp, đặc biệt là với văn học Pháp Năm 1915 thực dân Pháp và triều đình phong kiến bắt buộc bãi bỏ thi hương ở Bắc kì Khoa thi hội cuối cùng ở Huế vào năm 1919 đã chấm dấu hết cho một chế độ khoa cử thối nát Khoa

cử bỏ thì thơ Đường thất ngôn bát cú cũng theo đó mà mất dần vị thế độc tôn Trong và sau chiến tranh thế giới thứ nhất, để đầu độc thanh niên và trí thức Việt Nam, thực dân Pháp cho Phạm Quỳnh và Nguyễn Văn Vĩnh ra tạp chí Nam Phong, báo Trung Bắc tân văn và nhà xuất bản Âu tây tư tưởng Họ giới thiệu và dịch các sách cổ điển và lãng mạn Pháp, đặc biệt giới thiệu những tư tưởng được coi là bảo thủ, phản động trong văn

Trang 26

Chính những đổi mới trong sinh hoạt, tư tưởng và sự tiếp xúc với văn học lãng mạn Pháp đã đã đem đến cho người thanh niên tiểu tư sản thành thị những năm 30 của thế kỉ này những tình cảm mới, những rung động mới Họ yêu đương, mơ mộng, vui buồn đã khác các cụ nhà nho ngày xưa nhiều lắm Chính vì sự khác nhau sâu xa đó giữa hai thế hệ mà những thơ ngâm hoa vịnh nguyệt không còn hợp với tình cảm mới của họ nữa Phong trào “Thơ mới” lãng mạn ra đời năm 1932 chính là để đáp ứng những nhu cầu tình cảm đó của một tầng lớp thanh niên mới

Nhưng vấn đề đặt ra là tại sao Thơ mới lại xuất hiện năm 1932 mà không phải là thời điểm khác sớm hơn hay muộn hơn? Ngoài cơ sở xã hội đã có từ trước năm 1930,

về văn học, chúng ta đã có những tác phẩm có tính chất lãng mạn như Khối tình con của Tản Đà, Một tấm lòng của Đoàn Như Khuê, Giọt lệ thu của bà Tương Phố, Tố Tâm

của Hoàng Ngọc Phách Rồi ngay trong thơ Tản Đà cũng đã phảng phất chút bâng khuâng, phóng túng của thế hệ sau Một số bài thơ của một số tác giả làm từ trước

những năm 1932, nhưng đợi tới 1932 – khi mà Phụ nữ tân văn, Phong hóa dấy lên

phong trào “Thơ mới” họ mới đưa đi in

Có thể lí giải dưới chính sách chèn ép, bóc lột của thực dân Pháp, đời sống của hầu hết các giai cấp, đặc biệt là tiểu tư sản đã trở nên khó thở và bấp bênh, có chiều rơi xuống giai cấp vô sản Do đó họ có thái độ bất mãn với thực dân Một trong những số

đó đã đi theo phong trào cách mạng dân tộc đang diễn ra ở khắp mọi nơi Trong bản báo cáo đọc tại Hội nghị văn hóa toàn quốc lần thứ nhất (1948) đồng chí Trường Chinh nhận định: “Sau cơn khủng bố trắng 1930 – 1931, một sự buồn rầu u uất ngập tràn tâm hồn Việt Nam ( ) Tầng lớp tư sản không dám đấu tranh bằng chính trị và quân sự

Trang 27

27

chống đế quốc nữa, bèn chuyển ra đấu tranh bằng văn hóa chống phong kiến Chủ nghĩa lãng mạn trong văn nghệ đi đôi với phong trào “vui vẻ trẻ trung” có tính chất trụy lạc của thanh niên trí thức thành thị Thực dân Pháp cố nhiên khuyến khích nhưng khuyến khích những khuynh hướng đó, cốt đánh lạc hướng thanh niên” [36]

Với tâm trạng chán chường với cuộc sống thực tại thì con đường văn thơ lúc bấy giờ đối với một số tiểu tư sản trí thức là một lối thoát li trong sạch, là một nơi có thể gửi gắm nỗi niềm tâm sự Không đánh Pháp, không đi theo cách mạng vẫn có thể làm văn chương Và theo họ, làm văn chương có lẽ cũng là một cách để tỏ rõ lòng yêu nước thầm kín Thật đúng như đồng chí Trường Chinh nhận định: “ Các tầng lớp tư sản

và tiểu tư sản trí thức Việt Nam tìm thấy trong chủ nghĩa lãng mạn một tiếng thở dài chống chế độ thuộc địa”[ 36]

1.3.2 Sự tiếp nhận của chủ nghĩa tượng trưng trong Thơ mới

Chủ nghĩa tượng trưng tồn tại không lâu, nhưng ảnh hưởng của nó trong văn học lại sâu đậm và lâu dài

Trong giao lưu với văn học nước ngoài, Thơ mới Việt Nam chịu ảnh hưởng của thơ ca phương Tây, trong đó có thơ tượng trưng là một thực tế không phủ nhận Các tác giả thơ tượng trưng như Baudelaire, Arthur Rimbaud, Paul Verlaine đã để lại dấu

ấn âm nhạc khác nhau trong sáng tác của một bộ phận của các nhà thơ mới Trong Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh, Hoài Chân đã khẳng định: “Các nhà thơ mới không nhiều

thì ít, ở mức độ đậm nhạt khác nhau, đều bị ám ảnh bởi Baudelaire, người đã khơi

nguồn thơ ấy” Ở chuyên luận Thơ mới, Giáo sư Phan Cự Đệ viết: “Từ năm 1936 trở về

sau, trường phái thơ tượng trưng được người ta chú ý hơn cả” Trong lời tựa tập thơ

Những bông hoa Ác, Giáo sư Đỗ Đức Hiểu đã phân biệt hai “làn sóng” thơ, trong đó

làn sóng thứ nhất chịu ảnh hưởng nhiều ở thơ lãng mạn, còn làn sóng thứ hai với các nhà thơ Xuân Diệu, Hàn Mạc Tử, Bích Khê, Chế Lan Viên, Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng… chịu ảnh hưởng của thơ tượng trưng Bản thân Xuân Diệu, một trong những

Trang 28

28

trụ cột của thi đàn Việt Nam cũng đã thừa nhận: “Với Baudelaire, tôi đi toàn vẹn vào tính chất hiện đại của thơ”

Trong Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh đã nhận xét: “Tinh thần lãng mạn của

văn học Pháp đã gia nhập vào văn học Việt Nam từ trước những năm 1932, cùng một

lần với Tuyết hồng lệ sử, Tố Tâm và Giọt lệ thu, cho nên trong thời đại này chỉ còn

phảng phất Thơ tượng trưng được người ta thích hơn, nhất là Baudelaire, người đầu tiên đã khởi nguồn thơ ấy Có thể nói hầu hết các nhà thơ vừa kể trên, không nhiều thì

ít, đều bị ảnh hưởng của Baudelaire” [37, tr 36]

Ảnh hưởng của Baudelaire trong thơ Việt Nam là một hiện tượng có tính đột xuất và phức tạp Người ta thường nói đến mặt sa đọa trong một số bài thơ Việt Nam

dưới ảnh hưởng của Baudelaire Trong Giáo trình Lịch sử văn học Việt Nam 1930 –

1945, phần văn học lãng mạn có nhận xét: “Có người tìm cách tự diệt trong một cuộc

sống dâm ô trụy lạc (Vũ Hoàng Chương, Bích Khê) Có người lại ca tụng sự điên loạn,

mê sảng, tạo ra một thế giới quái dị, thét lên những tiếng kì dị (Hàn Mặc Tử, Đinh Hùng) Có người trốn vào tôn giáo, vào đạo, vào nghệ thuật thuần túy Họ đặt cho nghệ

sĩ cái nhiệm vụ thần bí của một con đồng để nối liên lạc giữa thần linh cao cả với người đọc phàm trần” Ý kiến này để nhận xét về những thi sĩ tượng trưng có lẽ còn đúng hơn

là những thi sĩ lãng mạn Bởi nó nói được những biểu hiện thoát li có tính chất khác thường của những người làm thơ thời kì 1932 – 1945, dưới ảnh hưởng của Baudelaire

Tuy nhiên, xét trên phương diện mang tính chất đặc thù trong lĩnh vực thơ và nhìn sự năng động trong quan hệ giữa cái tiếp nhận (tức thi sĩ Việt Nam) và cái được tiếp nhận (tức thơ Baudelaire) thì chúng ta nhận thấy một điều khá thú vị trái ngược với

ý kiến trên Một số thi sĩ Việt Nam xem Baudelaire như một tài năng độc đáo đã mở ra một cách nhìn và cảm riêng trong tình thế cá nhân người làm thơ gặp hoàn cảnh không bình thường, hơn là xem tư tưởng nghệ thuật của Baudelaire Trong thực tế, một số thi

sĩ Việt Nam đã nhìn Baudelaire như một nhà cách tân trong lĩnh vực thơ và hướng theo cách làm của Baudelaire Số người đó tìm cách cho thơ Việt Nam mới mẻ hơn (ít ra là

Trang 29

29

về mặt hình thức, còn về nội dung thì các thi sĩ Việt Nam lúc bấy giờ hầu hết đều bị hạn chế vì đứng xa phong trào cách mạng, vì thế giới quan duy tâm chủ quan) Bằng thực tiễn sáng tác, họ góp phần làm cho thơ Việt Nam đi gần với cảm xúc cá nhân, với cách diễn đạt riêng của mỗi người làm thơ, từ đó làm cho thơ Việt Nam phóng khoáng hơn trước, vượt qua công thức gò bó, những niêm luật nghiêm ngặt của thơ cổ (thơ đường luật) Họ chú ý lựa chọn từ ngữ, hình ảnh, vai trò của tưởng tượng và hư cấu Thơ Việt Nam xuất hiện công khai thời kì này đã có một số hình ảnh thơ được độc giả chú ý nhiều, như hình ảnh con hổ “gậm một khối căm hờn trong cũi sắt”, hình ảnh chinh phu ra đi vì giận lũ bất nhân (trong thơ Thế Lữ), hình ảnh con voi già mang vết thương sau một cuộc chiến đấu thất bại đã gầm hét trước khi chết để tỏ sức sống mạnh

mẽ của giống loài (trong thơ Hoàng Trung Thông) và một số hình ảnh khác

Nếu như Baudelaire được xem là người khéo léo kết hợp giữa tính ruyền thống

và tính cách tân trong thơ, chính ông cũng đã viết nhiều bài thơ mang “tư tưởng mới” – mới hiểu theo kiểu thơ tưởng tượng, chứ không phải mới theo kiểu thơ cách mạng – dưới hình thức những bài sonnet với trình độ điêu luyện thì ở Việt Nam cũng đã có một

số thi sĩ tìm cách diễn tả những suy nghĩ phóng khoáng, mới mẻ hơn trước bằng hình thức thơ mang tính chất truyền thống

Ý kiến của Baudelaire về sự tương hợp của cảm giác trong bài Tương hợp, bài

thơ 14 câu nổi tiếng của Baudelaire cũng đã có ảnh hưởng đáng chú ý trong thơ Việt Nam Ý kiến của Baudelaire về mối tương quan giữa thính giác, vị giác, xúc giác (những mùi hương, những màu sắc và những âm thanh hòa hợp nhau) được một số thi

sĩ Việt Nam tiếp nhận như một phương tiện đồng hóa và mô tả một số những khách thể

ít nhiều mang tính tế nhị Như Huy Cận nói về sự hòa hợp của mùi hương và màu sắc, mùi thơm lúa mới và hương hoa trên rừng trên con đường làng đã làm cho đôi trai gái

lâng lâng say (Đi giữa đường thơm) Còn Xuân Diệu thì nói tới những âm hưởng và những âm vang khác nhau của nhạc qua bài Huyền diệu, thi sĩ nói sự tương hợp của

mùi hương, của màu sắc, của âm thanh trong một khúc nhạc; hơn nữa, trong âm thanh,

Trang 30

30

người ta có thể nghe cả “tiếng suối, lời chim, giọng khóc cười” và khi tiếng nhạc ngừng vẫn còn nghe tiếng rung động của trái tim, như cái rung khẽ của chiếc lá sau cơn gió Không dừng lại những cảm giác có thể cảm nhận được thực bằng các giác quan, một số nhà thơ Việt Nam còn nói tới cả màu sắc và mùi hương của thời gian, của không gian, hay “săn tìm” những dấu hiệu về mối “tương quan bí ẩn” giữa con người

và vũ trụ

Từ những điều trên, ta có thể thấy những ảnh hưởng khác nhau của thơ

Baudelaire đối với phong trào Thơ mới ở Việt Nam Đồng thời ta còn thấy được trình

độ khác nhau của những người tiếp nhận ảnh hưởng đó Điều đáng nói là đối với một

số thanh niên Việt Nam thời kì 1936 – 1945, Baudelaire hiện ra như một người phản ứng và như một cách tân trong lĩnh vực thơ Cái bí ẩn về sức mạnh thu hút của Baudelaire chính là ở chỗ Baudelaire là một người phản ứng, một người nổi loạn đi tìm lối thoát trong việc làm thơ và coi công việc này như một lối đi riêng cho phép Baudelaire phát huy trí thông minh và tài nghệ của mình

Một số thanh niên Việt Nam trong những năm ba mươi, khi tình hình cách mạng nước ta đang gặp khó khăn thì chính những người cầm bút chỉ có thể nỗi bất bình của

họ một cách khó khăn và tế nhị Nhưng chính thời điểm đó, một số thi sĩ Việt Nam đã

có sự đóng góp vào sự phát triển của nền văn học

Thật vậy, ở Việt Nam từ những năm 1936 đã diễn ra sự phân hóa mới trong hàng ngũ văn nghệ sĩ nói chung, dưới tác động của phong trào quần chúng cách mạng gắn liền với sự xuất hiện của Mặt trận dân chủ Đông Dương, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương Trên văn đàn công khai thời kì này xuất hiện một số người làm thơ công khai hợp pháp, họ đứng hẳn trên lập trường cách mạng của giai cấp

vô sản Những bài thơ cách mạng đăng báo công khai không nhiều, song tiếng vang của nó thì lan xa, ảnh hưởng của nó thật to lớn Những tình cảm yêu nước và cách mạng trong thơ Tố Hữu, cái nhìn lạc quan triển vọng lịch sử của người làm thơ, cái

Trang 31

để tạo thành một khuynh hướng thơ có màu sắc tượng trưng rất rõ rệt, góp phần làm đa dạng phong cách nghệ thuật của phong trào Thơ Mới Một số nhà nghiên cứu đã dẫn ra một số lý do trực tiếp và sâu xa để cắt nghĩa sự đồng cảm và tiếp thu một cách tự nhiên ảnh hưởng của thơ tượng trưng trong thơ của một bộ phận các nhà thơ mới Việt Nam

Đầu thế kỷ XX, nhu cầu đổi mới văn học được đặt ra một cách cấp bách Do những ngẫu nhiên lịch sử, Việt Nam nằm trong vòng đô hộ của đế quốc tư bản phương Tây, sự giao lưu văn hoá, văn học được mở rộng, sự tự ý thức của mỗi nền văn học không cho phép giữ mãi tính chất vùng của khu vực văn hoá Nho giáo và văn tự tượng hình được mà phải nhanh chóng hoà vào dòng chung của văn học thế giới Nhu cầu đổi mới ấy khi xuất hiện lại gặp được sự chín muồi về những điều kiện lịch sử, kinh tế, xã hội… nên nhanh chóng được hiện thực hoá

Đầu thế kỷ XX kinh tế đô thị đã phát triển mạnh, tầng lớp thị dân hình thành và ngày càng đông đảo đi liền với những thị hiếu và nhu cầu mới, chữ quốc ngữ đã thuần thục, lớp trí thức Tây học ngày càng nhiều… Những điều kiện ấy giúp con người Việt Nam khi đứng trước “đối chứng” là văn học phương Tây càng nhận ra một cách rõ hơn

sự trì trệ, xơ cứng của nền nếp thơ cũ đã tồn tại qua bao thế kỷ, càng thấy rõ hơn cần phải có cái gì đó mới để tăng thêm sinh khí cho thi đàn Với những điều kiện hết sức khách quan ấy, thơ Việt Nam gặp gỡ thơ Pháp trở thành vấn đề tất yếu và nguồn thơ

Trang 32

và thơ Pháp trở thành vừa như một tất yếu vừa như một sự lựa chọn tích cực để góp phần nhanh chóng đưa thơ Việt Nam đi vào quỹ đạo của thơ hiện đại

Sự tương đồng trong ý thức về thân phận giữa các nhà thơ mới Việt Nam và các

nhà thơ tượng trưng trung Phương Tây Trong Phong trào thơ mới, Giáo sư Phan Cự

Đệ viết: “Nhìn chung từ 1936 trở về sau, trường phái tượng trưng được người ta chú ý hơn cả Tại sao đây? … Cái chính vẫn là sự gặp nhau của những tâm hồn trí thức bất mãn với xã hội, đau buồn, chán nản, u uất khi phong trào cách mạng của quần chúng bị thất bại hoặc bị đàn áp dữ dội…” [10]

Văn học các nước phương Tây, trong nội dung của nó, ý thức về cá nhân và thân phận con người xuất hiện sớm Đó chính là cơ sở ý thức tư tưởng quan trọng làm xuất hiện những phong trào, những khuynh hướng nghệ thuật chuyên chú vào những khám phá bản chất đích thực của con người, vị trí của con người trong trời đất với tất

cả những khả năng, những khát vọng và cả những đổ vỡ đau đớn của họ Ở phương Đông, với những khuôn khổ đạo lý chặt chẽ, con người cá nhân dường như rất ít có điều kiện thể hiện, nếu có thì nhìn chung vẫn là yếu ớt Đầu thế kỷ XX, với những điều kiện mới (kinh tế hàng hoá, nếp sống đô thị, sự rạn nứt những nguyên lý đạo đức cổ truyền…), ý thức cá nhân có điều kiện xuất hiện và khẳng định Nó giúp các nghệ sỹ,

Trang 33

33

những người nhạy cảm, ý thức được rõ hơn tính chất thù địch của hoàn cảnh đối với nghệ thuật và họ khám phá ra bi kịch tâm hồn của chính họ Nhiều câu thơ của các nhà thơ thời kì này như những minh chứng để thấy rằng: là những người dân mất nước, các nhà thơ biết nỗi đau của họ, và vì thế thơ tượng trưng - lối thơ xoáy sâu vào chủ thể, lối thơ biểu hiện sự phản ứng đối với cuộc sống tầm thương nhỏ nhen, vị kỷ, vị lợi trở thành có sức hấp dẫn kỳ lạ đối với các nhà thơ Việt Nam

Baudelaire đã từng nói: “Ý tưởng về sự ích lợi là sự thù nghịch nhất của thế giới với ý tưởng của cái đẹp” Những nhà thơ tượng trưng, từ Baudelaire đến Arthur Rimbaud, Paul Verlaine, Mallarmé… càng ngày càng nhận ra cái kỷ nguyên hiện đại mỗi ngày một đi xa hơn giới hạn của cái thiêng liêng, cái “vầng hào quang”, cái “quầng sáng tâm linh” đã bị biến mất dưới sức nặng của vật chất hoá và phi nhân tính hoá các quan hệ giữa con người, với sự tính toán đáng sợ theo tinh thần của thực chứng luận cuối thế kỷ Trong các nhà thơ Pháp, Arthur Rimbaud đã từng ước mơ chạy trốn trước

sự buồn chán: rời bỏ thành phố Charleville ra Paris, rời bỏ Paris sang phương Đông, rồi

bỏ phương Đông đến với hư vô… Tuy hoàn cảnh nước Pháp cuối thế kỷ XIX và Việt Nam đầu thế kỷ XX không phải tất cả đều tương đồng (về lịch sử, xã hội, quan hệ giai cấp), nhưng trước những biến động xã hội, giữa các nhà thơ mới Việt Nam và các nhà thơ tượng trưng phương Tây đều nảy sinh những động năng tâm lý như nhau, họ phát hiện ra sự vô vọng trong khả năng dung hoà với xã hội và tìm kiếm lối thoát cho mình trong những khám phá thẩm mỹ mới

Nhân tố xã hội như đã chỉ ra là rất quan trọng Tuy nhiên cần phải thấy rằng: từ những tiếp thu yếu tố nghệ thuật của thơ tượng trưng đến việc hình thành một khuynh hướng thơ, lý do thời đại là chưa đủ để cắt nghĩa Các nhà thơ mới say thơ Baudelaire

và các tác giả tượng trưng không chỉ dừng lại ở thái độ phản ứng đối với thực tại, ở một tâm hồn đồng điệu, mà còn ở một nghệ thuật mới tinh vi và quyền rũ: sự phát hiện

ra mối tương hợp các giác quan, những tương quan huyền bí giữa con người và vũ trụ,

ở những miền bí ẩn của tâm linh chưa ai khám phá, ở âm điệu du dương của nhạc để

Trang 34

34

diễn tả những giai điệu chủ quan của tâm hồn nghệ sĩ, ở cả sự xả thân cho những tìm tòi mới mẻ của các thi sĩ tượng trưng… Như vậy, để có thể biến các yếu tố được tiếp nhận từ bên ngoài để tạo thành một bộ phận thơ ca có khuynh hướng nghệ thuật rõ rệt còn có những yếu tố khác không kém phần quan trọng, làm cho thơ vừa đảm bảo tính mới lạ, hấp dẫn, vừa gần gũi với tâm thức thẩm mỹ của người phương Đông và Việt Nam

Thêm vào đó, đặc trưng ngôn ngữ Việt Nam - tiếng Việt thuộc vào loại ngôn ngữ đơn âm tiết, có khả năng gợi cảm lớn Trong những văn cảnh nhất định, vỏ âm

thanh tự nó có sức mạnh diễn tả sự vật hoặc trạng thái tâm hồn con người Truyện Kiều

của Nguyễn Du từng có những câu thơ rất hay biểu thị sức mạnh này của tiếng Việt:

Tiếng khoan như gió thoảng ngoài Tiếng mau sầm sập như trời đổ mưa

Có rất nhiều những âm thanh có ý nghĩa tượng trưng, có sức mạnh diễn đạt những ý nghĩa vượt ra ngoài rất xa sự vật mà nó chỉ định kiểu như những câu thơ trên Đó là thế mạnh không thể phủ nhận được của tiếng Việt

Ngoài ý nghĩa tượng trưng, sức ám gợi của âm thanh từ ngữ, tiếng Việt là thứ ngôn ngữ giàu nhạc tính Sự phong phú về mặt thanh điệu trong tiếng Việt thực sự có thế mạnh trong việc diễn tả một cách dễ dàng các sắc thái, các cung bậc khác nhau, tinh vi của tâm hồn con người Nó là một trong những yếu tố quan trọng góp phần tạo nhạc tính cho thơ “Âm nhạc trước mọi sự” (de la musique avant toute chose) Trong

sự tìm kiếm thẩm mỹ, để vừa khai thác tối đa khả năng của ngôn từ, vừa để tìm lối thoát cho thơ trong việc khắc phục kiểu trình bày trực tiếp sự vật, các nhà thơ tượng trưng, đi đầu là Verlaine đã đưa âm nhạc lên thành vấn đề đầu tiên trong thơ Ở khía cạnh này có sự tương đồng giữa thơ Việt Nam và thơ tượng trưng Pháp là điều dễ hiểu Tuy vấn đề nhạc tính trong thơ không phải là mới vì âm nhạc là một phần không thể thiếu được của thơ, hơn nữa cha ông xưa đã từng nói “thi trung hữu nhạc”, nhưng vấn

đề là ở chỗ: với sự gợi ý của tinh thần âm nhạc từ thơ tượng trưng, Thơ mới đã phát

Trang 35

35

huy ở mức độ tối đa vấn đề nhạc tính, và trong thực tiễn đời sống thơ ca, Thơ mới đã tạo được những bài thơ có sức gây ấn tượng mạnh mẽ không phải chỉ là hình ảnh, màu sắc mà ở chính sự du dương trong âm điệu của nó

Về sự khác biệt giữa người phương Đông và phương Tây, nhiều nhà nghiên cứu

đã phát hiện ra rằng: nếu người phương Tây sớm nhận thức vũ trụ là khách thể, con người sớm có chiều hướng tách mình ra khỏi nó để khám phá, chinh phục thì người phương Đông ngược lại, có xu hướng hoà hợp với vũ trụ, khám phá và biểu hiện mình trong những tương quan huyền nhiệm với tạo vật Với người phương Đông, vũ trụ không thể là khách thể và ngày nay, tuy trong thời đại khoa học, nhưng những dấu tích của quan niệm người xưa vẫn chưa mất đi trong ý thức con người hiện đại, trong thơ ca ngoại cảnh vẫn thường được biểu hiện trong mối liên hệ khăng khít với tâm cảnh Người xưa vẫn thường nói:

Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ

Câu thơ tuy có vẻ giản dị nhưng đó chính là sự cảm nhận có màu sắc triết học của người xưa về quan hệ huyền nhiệm giữa con người và thế giới Ở đây có vấn đề sự liên quan giữa quan niệm nhất thể cảm giác của thơ tượng trưng và quan niệm triết học căn bản của Trung Hoa xưa về tính nhất thể của vũ trụ Từ lâu, người phương Đông xem

vũ trụ là một thể thống nhất và con người là tiểu vũ trụ trong cái vũ trụ ấy Bởi vậy, vạn vật và con người có mối tương giao thầm kín và người xưa tin rằng nhờ sự liên hệ mật thiết đó mà Trời và Người có khả năng tương cảm, tương ứng Trình Minh Hạo có

nói trong Ngữ lục: “Trời và Người gốc không phải là hai, bất tất phải nói thiên nhân

hợp nhất Tâm của ta chính là Trời đây, phát huy đến cùng cực cái tâm của ta thì biết được tính, biết được tính tức là biết Trời” (Thiên nhân bản vô nhị, bất tất ngôn hợp Tâm tiện thị thiên, tận chi tiện tri tính, tri tính tiện tri thiên) Tư tưởng thiên nhân hợp nhất đó là cốt lõi và đặc điểm lớn của triết học Trung Hoa xưa và nó ảnh hưởng tới các quốc gia nông nghiệp lúa nước phương Đông như Việt Nam một cách mạnh mẽ Việc thơ tượng trưng phát hiện ra mối tương hợp, hô ứng với nhau giữa các giác quan, giữa

Trang 36

36

mùi hương, màu sắc và âm thanh, mối liên hệ huyền bí giữa con người và vũ trụ là sự trùng hợp thú vị giữa cái tìm tòi được của thơ Pháp và chiều sâu tâm thức người phương Đông và Việt Nam

Người phương Đông nói chung có thế mạnh về lối tư duy bằng tượng trưng Đó

là lối tư duy đặc trưng của người trung đại Khi con người chưa tách mình ra khỏi tự nhiên và chưa nhận thức nổi nó, người trung đại thường sử dụng tự nhiên để thực hiện nhu cầu biểu hiện mình và tư duy tượng trưng được hình thành từ đó Thiên nhiên với người trung đại như thể là cùng một loại với con người… Thiên nhiên là một bình chứa

vĩ đại các tượng trưng Đối với người trung đại nói chung là thế, và với một nước phương Đông như Việt Nam, do còn gắn chặt với điều kiện một xã hội nông nghiệp cổ truyền nên lối tư duy ấy còn chưa xa lắm, nhất là trong cấu trúc ý thức xã hội

Đặc điểm tư duy của người trung đại phương Đông được phản ánh một cách rõ rệt trong thơ Đường Trước khi có thơ tượng trưng phương Tây, người Việt Nam đã trải qua nhiều thế kỷ làm quen với thơ luật Đường của Trung Quốc Đó là một thứ thơ gắn chặt với tâm thức của người trung đại và trong nhiều thế kỷ thơ Đường đã trở thành như quốc thi của người Việt

Một trong những nội dung chính của thơ Đường là khám phá mối giao hoà giữa con người với thiên nhiên, và đó là một trong những nét đặc trưng nổi bật Nếu phương Tây có thế mạnh về tư duy khái niệm vì sớm có truyền thống tư biện và khoa học, thì thơ Đường thiên về lối tư duy cụ tượng, dùng hình ảnh có tính tượng trưng để diễn đạt chân lý Vì vậy, ý nghĩa của thơ Đường thường không nằm ở sự vật được nói đến, sự vật như cái cớ đề nhà thơ nói cái khác vượt xa bản thân nó Và cũng vì thế thơ Đường thường gợi chứ không tả, thơ phải nói ít hiểu nhiều, bài thơ luôn dành “dư địa” cho người thưởng ngoạn

Will Durrant, một nhà nghiên cứu Hoa Kỳ đã phát hiện ra điểm khác biệt rất căn bản giữa thơ phương Đông và thơ phương Tây thơ phương Tây thiên về cái mạnh mẽ,

Trang 37

Ngoài một số điều kiện kể trên, để góp phần lý giải sự gặp gỡ giữa thơ Mới và thơ tượng trưng, còn có những điều kiện khác không những chỉ liên quan đến một bộ phận thơ mà còn liên quan đến toàn bộ phong trào thơ, đó là nhân tố thời đại trên phạm

vi quốc tế

Nhìn lịch sử phát triển văn học, không chỉ ở Việt Nam mà ngay cả ở các khu vực khác, sự vận động trong đời sống văn học thế kỷ XX được dựa trên nền tảng của những giao lưu và trao đổi quốc tế Vấn đề này thực ra cũng không phải ở thế kỷ XX mới đặt ra, vấn đề là giao lưu và trao đổi ở thế kỷ XX khác các thế kỷ trước về quy mô

và mức độ, tất cả đều có tính toàn cầu Chủ nghĩa tượng trưng, mặc dầu nó là một thi phái ra đời trên cơ sở những điều kiện lịch sử cụ thể của nước Pháp những thập niên cuối thế kỷ XIX, nhưng sau đó nó trở thành một phong trào thơ rộng lớn cả châu Âu và không chỉ ở lĩnh vực thơ ca, các bộ môn nghệ thuật khác cũng có xu hướng theo phong cách tượng trưng

Việt Nam ta nằm trong khu vực văn hoá Nho giáo Tuy thơ ca trung đại thiên về tính chất giáo hoá theo chức năng chung của văn học phong kiến phương Đông, song người Việt Nam cũng như người phương Đông nói chung chú trọng nhiều đời sống tâm linh, chú trọng những lẽ huyền vi của người và tạo vật mà tư duy duy lý khó bề nhận thức Thơ mới gần hay xa, gián tiếp hay trực tiếp, trong nhu cầu cách tân của mình trong quá trình vận động của nó, sự hướng tới gặp gỡ những quan điểm mới của

Trang 38

38

nghệ thuật tượng trưng là một điều tự nhiên Ở đây các tác giả Thơ mới Việt Nam không phải đón nhận xu hướng phản lý trí của phương Tây như một cái gì hoàn toàn mới mẻ mà là một sự thức dậy của những khả năng tiềm ẩn trong tâm thức của mình

Sự đón nhận cái mới nhưng lại rất chủ động và nhuần nhị, một trong những đặc điểm nổi bậc trong tính toán toàn cầu của Thơ mới – thơ hiện đại Việt Nam

Tất cả những vấn đề được dẫn ra trên là những điều kiện để Thơ mới Việt Nam tiếp nhận những ảnh hưởng của thơ tượng trưng phương Tây, trong đó có những yếu tố thuộc về dân tộc và những yếu tố thuộc về thời đại Cũng cần thấy: sự ảnh hưởng của thơ tượng trưng với Thơ mới không phải là một chiều giản đơn hay là sự chồng thêm lên Thơ mới những tìm tòi thẩm mỹ mới một cách vật lý mà nó được thực hiện thông qua “bộ lọc” của chủ thể nhà thơ Thơ tượng trưng Pháp sẽ có ảnh hưởng rất tích cực đối với nhu cầu làm mới thơ Việt Nam khi nó được các nhà thơ mới nội sinh hoá nó Khả năng nội sinh hoá thơ tượng trưng trong Thơ mới như vậy sẽ phụ thuộc rất nhiều vào phẩm chất, tài năng của nghệ sỹ, phụ thuộc vào mức độ nhuần nhuyễn trong khả năng đồng hoá và sáng tạo trên cơ sở kết hợp cái mới - hiện đại và cái truyền thống vốn

có của phương Đông

Có thể sẽ còn nhiều nguyên nhân khác nữa để lý giải lý do đi vào, và có sức sống được của thơ ca tượng trưng trong Thơ mới Việt Nam 1932 – 1945, nhưng những

lý do trên chắc chắn là những lý do nền tảng không thể không nghĩ đến Và chỉ có như thế ta mới thấy được sự hướng về thơ tượng trưng của Thơ mới, ngoài một số biểu hiện cực đoan, quá đà, về cơ bản là một định hướng tích cực, bởi vì nó không những góp phần đáp ứng nhu cầu của sự giao lưu chân chính, dựa trên những căn bản sâu xa của dân tộc, để chuyển hoá cái mới vào Việt Nam, có thể “trước lạ sau quen” nhưng sống sượng, chỉ nặng về kỹ xảo ngôn từ, mà gắn liền với thơ Việt Nam và tâm hồn người Việt [60]

Tiểu kết chương 1

Trang 39

39

Trên đây, chúng tôi đã giới thiệu một số nội dung có tính chất khái lược về chủ nghĩa tượng trưng và phong trào Thơ mới Quá trình ảnh hưởng của thơ tượng trưng đối với thơ Việt Nam để tạo nên một “Thời đại trong thi ca” - Thơ mới với những tác giả, tác phẩm đã in đậm dấu ấn vào nền thi ca Việt Nam Đặc biệt, trong chương 1, chúng tôi cũng lưu ý làm nổi bật những đặc trưng tiêu biểu của chủ nghĩa tượng trưng,

đó là sự tương giao giữa các giác quan, góp phần tạo nên trong các tác phẩm thơ thời

kỳ này những hiệu ứng lan tỏa, đan xen nhiều tầng cảm xúc và thực sự đem lại cho thơ những cảm nhận mới lạ Đặc trưng tiếp theo của chủ nghĩa tượng trưng, đó là cách thể hiện trong thơ tiết điệu, tính nhạc Ngoài ra, chủ nghĩa tượng trưng cũng đặc biệt chú trọng đến tính biểu tượng trong thơ Đánh dấu cho sự tiếp biến, ảnh hưởng của chủ nghĩa tượng trưng trong thi ca phương Tây đối với Thơ mới Việt Nam, trong các sáng tác của các tác giải tiêu biểu như Xuân Diệu, Huy Cận, Bích Khê, Hàn Mặc Tử đã thể hiện rõ những đặc trưng đó, đồng thời có những bước đổi mới và tạo nên những dấu ấn ảnh hưởng khác nhau giữa nội tại các tác giả trong Thơ mới Những giới thuyết trên đây được chúng tôi lấy làm cơ sở để phân tích rõ hơn về sự ảnh hưởng của chủ nghĩa tượng trưng đối với Thơ mới trong chương 2 của luận văn

Trang 40

40

CHƯƠNG 2 TÍNH TƯƠNG GIAO VÀ HỆ THỐNG BIỂU TƯỢNG

TRONG THƠ MỚI

2.1 Tính tương giao trong Thơ mới

Nếu như chủ nghĩa lãng mạn khám phá thế giới thơ bằng nhiều giác quan với những biểu hiện bên ngoài được nhận biết bằng những hình ảnh cụ thể, rõ ràng thì chủ nghĩa tượng trưng lại nhận thức thế giới bằng sự tổng hòa nhiều giác quan của sự tương hợp bên trong để đi sâu vào bản chất của sự vật và nắm bắt linh hồn của nó Ý nghĩa của mỗi bài thơ không phải nằm ở những điều mà nhà thơ nói đến một cách trực tiếp Nó chỉ được xác lập từ những tương quan, tương giao những mối liên hệ phức tạp của các yếu tố nghệ thuật có trong thơ Đây là điều mà những quan sát thông thường của tư duy lý tính khó khám phá được Điều này xuất phát từ quan niệm về thế giới hiện thực trong thơ

Thuyết tương giao quan niệm rằng vũ trụ là một thế giới thống nhất trong đó tất

cả đều tương ứng với nhau Các nhà thơ tượng trưng rất chú trọng đến quan niệm tương ứng các giác quan Quan niệm này đã trở thành một nguyên tắc thẩm mỹ trong sáng tạo thơ ca của chủ nghĩa tượng trưng Valery đưa ra một định nghĩa về thơ gắn

Ngày đăng: 21/06/2021, 01:37

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w