Và quả thật đến NguyễnXuân Sanh Xuân thu nhã tập thì kín mít, khó hiểu.Về quan niệm văn chương nghệ thuật, các nhà thơ mới quan tâm hiện thựccuộc sống đang tồn tại khách quan mà thơ đặc
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG CHÍNH 3
CHƯƠNG 1: VÀI NÉT VỀ PHONG TRÀO THƠ MỚI VÀ TÁC GIẢ VŨ HOÀNG CHƯƠNG 3
1.1 Vài nét về phong trào Thơ Mới và dấu ấn thơ tượng trưng Việt Nam (1932 – 1945) 3
1.1.1 Vài nét về phong trào Thơ Mới 3
1.1.1.1 Khái niệm thơ 3
1.1.1.2 Vài nét về phong trào Thơ Mới 3
1.1.2 Dấu ấn thơ tượng trưng trong phong trào Thơ Mới 6
1.2 Vài nét về tác giả Vũ Hoàng Chương và tập thơ Say – tập thơ Mây 8
1.2.1 Vài nét về tác giả Vũ Hoàng Chương 8
1.2.1.1 Tác giả Vũ Hoàng Chương 8
1.2.1.2 Quan niệm nghệ thuật 9
1.2.1.2.1 Quan niệm về thơ 9
1.2.1.2.2 Quan niệm về nhà thơ 10
1.2.2 Tập thơ Say và tập thơ Mây 11
CHƯƠNG 2: THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT TRONG THƠ CỦA VŨ HOÀNG CHƯƠNG QUA TẬP THƠ SAY VÀ TẬP THƠ MÂY 12
2.1 Cái “say” trong thơ Vũ Hoàng Chương 12
2.2 Cảm thức lạc loài, xa lạ 21
2.3 Nỗi chán chường trong thơ 24
2.3.1 Nỗi chán chường bởi cuộc đời 24
2.3.2 Nỗi chán chường trong tình yêu 27
2.4 Cái lý tưởng trong thơ 30
2.4.1 Cõi nhân gian tuyệt mĩ trong quan niệm chủ quan của nhà thơ 30
Trang 22.4.2 Con người đứng cao hơn so với thực tại 34
2.5 Quan niệm về thế giới và con người 37
2.5.1 Quan niệm về thế giới 37
2.5.2 Quan niệm về con người: 39
CHƯƠNG 3: ĐẶC SẮC NGHỆ THUẬT CỦA VŨ HOÀNG CHƯƠNG QUA TẬP THƠ SAY VÀ TẬP THƠ MÂY 42
3.1 Ngôn ngữ thơ và giọng điệu 42
3.1.1 Ngôn ngữ thơ 42
3.1.2 Giọng điệu trong thơ 47
3.2 Hình ảnh thơ giàu tính biểu tượng 50
3.3 Thể thơ 54
KẾT LUẬN 56
TÀI LIỆU THAM KHẢO 57
Trang 3MỞ ĐẦU
Trong các thể loại của văn học, thì “thơ ca là loại hình văn học sớm nhất củanhân loại”1 Thơ ca Việt Nam với quá trình lịch sử phát triển lâu dài như vậy,chắc chắn đã có sự phát triển vượt bậc về mặt nội dung và nghệ thuật Đặc biệt,phong trào Thơ Mới đã có những đóng góp xuất sắc vào quá trình phát triển vănhọc Việt Nam nói chung và thơ ca Việt Nam nói riêng Các thi sĩ của thuở ấy đãđem lại cho bạn đọc một tiếng nói mới, phản ánh khá trung thực tâm trạng của cảlớp thanh niên tiểu tư sản trong cuộc sống có nhiều đau buồn, trăn trở, và đôi khi
bế tắc trước hiện trạng của đất nước thời bấy giờ Trong Thi nhân Việt Nam, Hoài
Thanh đã khẳng định: “Tôi quyết rằng trong lịch sử thi ca Việt Nam chưa bao giờ
có một thời đại phong phú như thời đại này”2 Bởi theo ông, chưa bao giờ trongmột thời đại văn học nào trước đó, cùng một lúc xuất hiện trên văn đàn những hồnthơ “rộng mở như Thế Lữ, mơ màng như Lưu Trọng Lư, hùng tráng như HuyThông, trong sáng như Nguyễn Nhược Pháp, ảo não như Huy Cận, quê mùa nhưNguyễn Bính, kì dị như Chế Lan Viên và thiết tha, rạo rực, băn khoăn như XuânDiệu”3 Mỗi nhà thơ, một cá tính sáng tạo riêng, mỗi người sẽ tìm một “sự giảiphóng” khác nhau Điều đó đã làm giàu cho thi ca, chính thức thắp lên “Bìnhminh thơ Việt Nam hiện đại”
Vũ Hoàng Chương – một cái tên có thể xa lạ với người đọc, nhưng vớinhững người yêu thơ, đặc biệt là Thơ Mới, thì đây là một ngôi sao sáng của phongtrào Thơ Mới Khi tiếng đau đớn của Hàn Mặc Tử chợt vụt tắt, thì bầu trời thi caĐất Việt dường như chỉ còn Vũ Hoàng Chương đang quằn quại với những vếtthương xẻ nát tâm hồn Nhưng cũng chính những vết thương rỉ máu ấy lại vẽ ramột lối đi riêng, một con đường cho thi ca ngay từ buổi đầu đến với Thơ Mới.Nếu thơ là tiếng nói trong trẻo của tâm hồn thì đối với Vũ Hoàng Chương lạikhác, đó lại là tiếng bi ai cất lên từ nỗi đau của tâm hồn Thơ Vũ Hoàng Chương
vì thế chạm đến tận cùng nỗi đau và sự cảm thông của con người Từ đó thơ ông
đi vào lòng người đọc một cách sâu sắc, thơ ông góp vào sự phát triển của ThơMới, của văn học Việt Nam
1 Trần Đình Sử, 2016, Lí luận văn học tập 2, NXB ĐHSP, HN, tr.254
2,3 Hoài Thanh – Hoài Chân, Thi nhân Việt Nam, NXB Văn học,tr.25
3
Trang 4Với đề tài “Đặc điểm thơ Vũ Hoàng Chương (khảo sát qua hai tập thơ Say
và Mây)”, nhóm chúng tôi sẽ giới thiệu các đặc điểm về thơ của Vũ Hoàng
Chương trong phong trào Thơ Mới Với đề tài này, nhóm chúng tôi mong muốnđem đến cho các bạn những hiểu biết, những cái nhìn mới mẻ về Vũ HoàngChương Từ những đặc điểm thơ của Vũ Hoàng Chương, chúng ta sẽ thấy một cáitôi sáng tạo hoàn toàn khác, không lẫn vào đâu được giữa dòng chảy thi ca và gópphần vào quá trình phát triển của Thơ Mới
Trang 5NỘI DUNG CHÍNH CHƯƠNG 1: VÀI NÉT VỀ PHONG TRÀO THƠ MỚI VÀ TÁC GIẢ VŨ
HOÀNG CHƯƠNG 1.1 Vài nét về phong trào Thơ Mới và dấu ấn thơ tượng trưng Việt Nam (1932 – 1945)
1.1.1 Vài nét về phong trào Thơ Mới
1.1.1.1 Khái niệm thơ
Thơ được ví như bình minh của thể loại văn học, có lẽ điều này cũng chứngminh được rằng nếu trong quá trình vận động thơ mang lại sự đa dạng và sự cáchtân là điều tất yếu Khác với các thể loại kịch, tiểu thuyết, thơ dùng nội cảm trigiác nội cảm, bởi nói như James Joyce: “Thơ là trang phục ngôn từ của một giâylát cảm xúc” – nghĩa là nó là những biểu hiện những xúc động nội tâm, là một bản
tự thuật tâm trạng được cô đọng lại Vì thơ thuộc về bản mệnh tinh thần nên thếgiới của thơ là một dấu chấm lửng (!)
Và “hướng tư duy của thơ ngày nay thiên về hướng nội Trong khi đó tư duythơ của giai đoạn trước lại thiên về hướng ngoại” Các tác giả trung đại thườngnói về cái Ta, cái chung, thì với tác giả hiện đại đó chính là sự lên ngôi của cáiTôi “đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi” ( Hoài Thanh) Chính hướng tư duy
ấy đã chi phối rất nhiều đến thi pháp nghệ thuật của các tác giả trong nền văn họchiện đại Chính sự cách tân trong nghệ thuật mang dấu ấn cá nhân đã khẳng định
cá tính sáng tạo, phong cách nghệ thuật của họ Vì “Thơ như là mỹ học của cáikhác” nên sẽ không bằng lòng nằm yên trong quỹ đạo truyền thống mà luôn độtphá tạo ra những giá trị nghệ thuật mang tính thời đại
1.1.1.2 Vài nét về phong trào Thơ Mới Trong giai đoạn 1930 – 1945, thơ có những chuyển biến vượt bậc và đạt
được nhiều thành tựu to lớn Quan niệm thẩm mỹ về nhà thơ, người đọc thơ đãhoàn toàn thay đổi theo quan niệm thẩm mỹ phương Tây Cái đẹp gắn với cảmxúc con người, gắn liền với tự do sáng tạo Có nghĩa là cái đẹp là cái gần gũi, cái
tạo cho con người cảm xúc rung động, là cái gắn với chân – thiện Và cái đẹp gắn
với cái tôi cá nhân
Đặc biệt, sự ra đời của Phong trào Thơ Mới đã làm nên một cuộc Cách mạngtrong thi ca và chính thức thắp lên “Bình minh thơ Việt Nam hiện đại” Bởi “Một
Trang 6phong trào văn học ra đời bao giờ cũng phản ánh những đòi hỏi nhất định của xãhội”4 Nên sự xuất hiện của phong trào Thơ Mới là tiếng nói của giai cấp tư sản vàtiểu tư sản thành thị cùng với sự giao lưu văn hóa Đông Tây.
Thơ Mới được thai nghén từ trước 1932 và thi sĩ Tản Đà chính là người dạobản nhạc đầu tiên trong bản hòa tấu của Phong trào thơ Mới Tản Đà chính là
“gạch nối” của hai thời đại thơ ca Việt Nam, được Hoài Thanh – Hoài Chân xếpđầu tiên trong số 46 tên tuổi lớn của Phong trào thơ Mới Và đến ngày 10/3/1932
khi Phan Khôi cho đăng bài thơ Tình già trên Phụ nữ tân văn số 22 cùng với bài
tự giới thiệu “Một lối thơ mới trình chánh giữa làng thơ” thì phát súng lệnh củaPhong trào thơ Mới chính thức bắt đầu
Thơ Mới là phong trào thơ ca lãng mạn xuất hiện từ khoảng 1932 đến khi nổ
ra cuộc Cách mạng Tháng Tám 1945 Đó là nền thơ mang phong cách hiện đạitương tự thơ phương Tây thế kỉ XIX và XX, khác hẳn thi ca Việt Nam trong tất cảcác thời đại quá khứ Thơ Mới ra đời và phát triển mạnh mẽ với hàng loạt các nhàthơ tài năng với giọng điệu và phong cách khác nhau tiêu biểu như Xuân Diệu,Huy Cận, Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Bích Khê, Vũ Hoàng Chương, ĐinhHùng,
Thơ Mới mang cảm hứng mới Cái cảm hứng ấy là sự giải phóng cái tôi cánhân, sáng tạo cải biến hiện thực, lấy chủ nghĩa lãng mạn làm kim chỉ nam tuântheo trong quan niệm nghệ thuật, phương thức sáng tác cũng như trong quan điểmthẩm mĩ Và nỗi buồn, cô đơn là cảm hứng của chủ nghĩa lãng mạn Khuynhhướng lãng mạn được chọn bởi lẽ: Thứ nhất, vận mệnh đất nước đang trong tìnhtrạng bi đát, các nhà văn không thể gắn mình với hiện thực nên họ phải sáng tạothứ hiện thực khác để thể hiện tinh thần con người; Thứ hai, khi Pháp mang vănhóa văn minh vào Việt Nam thì Chủ nghĩa lãng mạn là phù hợp nhất trong việc ýthức cái tôi cá nhân, tôn trọng tự do riêng tư mà không cần hiện thực; Thứ ba, bảnthân Chủ nghĩa lãng mạn Phương Tây dựa trên chủ nghĩa cổ điển, nó không quá
xa với chủ nghĩa cổ điển đã khiến con người cảm thấy không bỡ ngỡ mà dễ bắtnhập
Chúng ta gọi chung là phong trào Thơ Mới nhưng thực ra trong đó có nhiềukhuynh hướng phức tạp “Nếu đứng về trường phái mà nói, thì đại đa số là lãngmạn nhưng cũng có tượng trưng và siêu thực”5 Nguyễn Xuân Xanh và Bích Khê
chính là đại diện tiêu biểu của khuynh hướng tượng trưng Gác linh hương của
4 Phan Cự Đệ, 1997, Văn học lãng mạn Việt Nam (1930 – 1945), NXB Giáo dục, tr.23
5 Phan Cự Đệ, 1997, Văn học lãng mạn Việt Nam (1930 – 1945), NXB Giáo dục, tr.39
Trang 7Đông Hoài, Dạ Đài của Trần Dần, Đinh Hùng là những sản phẩm của khuynh
hướng siêu thực Nhiều nhà thơ lãng mạn hướng tới thơ tượng trưng, thơ siêu thực
và nhiều thành công Những cái tên được kể đến như Chế Lan Viên, Xuân Diệu,Bích Khê, Lưu Trọng Lư, Nhóm Xuân Thu nhã tập xuất hiện tập trung nhữngnhà thơ với khao khát đổi mới thơ ca trên tinh thần dân tộc Họ tìm kiếm conđường thực tế nối liền nguồn gốc xưa với khát vọng nay với mục đích chính làdùng thơ ca để khai sáng dân trí, tuyên truyền Cách mạng
Theo Phan Cự Đệ, phong trào Thơ Mới tạm chia ra hai thời kì: 1932 – 1939
và 1940 – 19456 Trong thời kì thứ nhất, có thể “có một nét gạch mờ giữa haichặng đường 1932 – 1935 và 1936 – 1939”7 Ngay từ buổi đầu xuất hiện, văn học
đã mang những nét tiêu cực, buồn nản và thoát ly, nhưng trong thời kì thứ nhất
vẫn có nhiều yếu tố tiến bộ và tích cực: là tiếng gầm gừ của con hổ trong Nhớ
rừng, tiếng hát lên đường của khách chinh phu trong Tiếng gọi bên sông của Thế
Lữ Ở giai đoạn này “các nhà thơ Mới lãng mạn thì sự phân hóa rất ít, mà chỉ càngngày đi sâu hơn vào cái Tôi cá nhân”
“Con đường đi của Thơ Mới là con đường ngày càng xuống dốc”8 Cuối
chặng thứ hai của thời kì thứ nhất đã thể hiện được dấu hiệu đó, trong Đau thương (1937) – Hàn Mạc Tử, Tinh huyết – Bích Khê hay Xuân như ý của Hàn Mạc Tử (1939) Thời kì suy thoái của Thơ Mới bắt đầu với tập thơ Say (1940) của Vũ Hoàng Chương, rồi Vàng sao – Chế Lan Viên, Mây (1943) – Vũ Hoàng Chương
và Xuân thu nhã tập Qua đây để thấy được rằng, Thơ Mới ngay từ lúc mới ra đời
đã ngủ mê một giấc dài cho đến khi tiếng sấm của Cách Mạng mới bừng tỉnhgiấc Quan niệm chung của các nhà Thơ Mới là “quan niệm nghệ thuật vị nghệthuật”, chủ trương nói không với chính trị trong văn chương9 Vì không tìm được
tự do ngoài đời, nên họ lánh đời tìm đến nghệ thuật và nuôi ảo tưởng rằng tronglĩnh vực này họ có được tự do tuyệt đối
Xét trên phương diện nghệ thuật, từ những năm 1940 trở về sau Thơ Mớicũng đi vào bế tắc, kín mít và hình thức chủ nghĩa Từ ý thơ dàn trải, thiếu cô
đọng với hiện tượng văn xuôi tràn vào thơ trong Trên đường về của Nguyễn Văn Kiện, đến câu thơ dần cô đọng hơn trong Tiếng thu – Lưu Trọng Lư, Tràng Giang – Huy Cận, rồi đến thơ Say (bài Say đi em) Vũ Hoàng Chương dường như đã có
6 Phan Cự Đệ, 1997, Văn học lãng mạn Việt Nam (1930 – 1945), NXB Giáo dục, tr.43
7 Phan Cự Đệ, 1997, Văn học lãng mạn Việt Nam (1930 – 1945), NXB Giáo dục, tr.43
8 Phan Cự Đệ, 1997, Văn học lãng mạn Việt Nam (1930 – 1945), NXB Giáo dục, tr.48
9 Phan Cự Đệ, 1997, Văn học lãng mạn Việt Nam (1930 – 1945), NXB Giáo dục, tr.49,50
Trang 8xu hướng “trau chuốt, đẽo gọt hình thức chủ nghĩa”10 Và quả thật đến NguyễnXuân Sanh (Xuân thu nhã tập) thì kín mít, khó hiểu.
Về quan niệm văn chương nghệ thuật, các nhà thơ mới quan tâm hiện thựccuộc sống đang tồn tại khách quan mà thơ đặc trưng phản ánh thế giới tâm trạng,cảm xúc của con người nên hiện thực và thơ trong văn học không tương đồng vớinhau
1.1.2 Dấu ấn thơ tượng trưng trong phong trào Thơ Mới
Trong các trường phái thơ Pháp du nhập vào Việt Nam đặc biệt giai đoạn
1930 – 1945, thơ tượng trưng được các nhà thơ chú ý quan tâm không chỉ ở tínhđộc đáo hiện đại mà còn ở tư duy nghệ thuật từ quan niệm thẩm mỹ đến thi pháp.Đồng thời, khuynh hướng thơ tượng trưng góp phần thúc đẩy Thơ Mới phát triểnnhanh chóng, đạt nhiều thành tựu đáng kể
Có thể nói, trong thơ tượng trưng là sự tồn tại của thế giới nhị nguyên Vớichủ nghĩa tượng trưng quan niệm nghệ thuật không phải phản ánh thế giới thựctại, thế giới của hiện tượng mà là một thế giới siêu tưởng, một thế giới mơ hồ của
sự tương hợp giữa ánh sáng, sắc màu, âm thanh, mùi hương và nhạc điệu Các nhàtượng trưng xem thế giới hữu hình chỉ là hình ảnh, là cái bóng, là biểu trưng chomột thế giới mà ta không thấy được Họ quan niệm chính cái không nhìn thấy đómới là bản thể của thế giới Và họ cho rằng, nghệ thuật, muốn phản ánh thế giớiphải tìm ra những “hiện thực ẩn dấu” và thể hiện nó bằng các biểu trưng thẩm mỹ.Thơ tượng trưng du nhập được vào nước ta vì nó có những đặc điểm tươngđồng trong cái nhìn thế giới và quan niệm thi học với thơ Viêt Nam Đó cũng là
hệ quả của các nhà thơ tượng trưng Pháp và Việt Nam đều nhìn nhận thế giới làmột thể thống nhất “vạn vật nhất thể”, giữa con người và vũ trụ có những mối liên
hệ “Thiên nhân hợp nhất” Không chỉ thế, thơ tượng trưng Pháp và thơ Việt Namcòn gặp nhau trong việc đề cao vai trò tính nhạc trong thơ, chủ trương thơ là phảikhơi gợi, hàm súc, kiệm lời, vang dư vị “ý tại ngôn ngoại”
Bên cạnh đó còn là sự gần gũi về thân phận, đồng cảm về tâm hồn Họ cóchung cảnh ngộ là những kẻ bị “tù đày”, tước mất tự do ngay chính trên quêhương của mình Và họ luôn phải đối mặt với sự tàn bạo của tầng lớp thống trị, sựtha hóa đạo đức, Có lẽ chính những điều này đã nảy sinh tâm lý bất mãn ở cácthi sĩ Vì thế, họ tìm kiếm lối thoát bằng con đường sáng tạo nghệ thuật, và xemnghệ thuật là một mảnh đất phù hợp để tha hồ tự do Phan Cự Đệ từng nhận xét:
“Từ 1936 trở về sau, trường phái tượng trưng được người ta chú ý hơn cả Tại sao
10 Phan Cự Đệ, 1997, Văn học lãng mạn Việt Nam (1930 – 1945), NXB Giáo dục, tr.53
Trang 9vậy? ( ) Cái chính vẫn là sự gặp nhau của những tâm hồn tri thức bất mãn với xãhội, đau buồn, chán nản, u uất khi phong trào cách mạng quần chúng bị thất bạihoặc bị khủng bố, đàn áp dữ dội”11 Đối với các thi sĩ tượng trưng họ nhấn mạnhtính nhị nguyên của cái thực và cái tinh thần Từ đó, mở rộng biên độ và xóa nhòalằn ranh giữa cái đẹp và cái ghê tởm trong thơ “Thi sĩ khao khát hoài vọng cáimới cái đẹp, cái gì rung cảm hồn phách chàng đến tê dại khờ, dù cái đẹp ấy cao cảhay đê tiện, tinh khiết hay nhơ bẩn, miễn là có tính chất gây nên đê mê khoáilạc”12 Hay trong phê bình Mắt thơ, tác giả Đỗ Lai Thúy đã nhận xét Vũ Hoàng
Chương – một thi sĩ có khuynh hướng tượng trưng rằng: “Một Vũ Hoàng Chươngtìm thấy cái đẹp, chất thơ trong men rượu, khói thuốc để rồi ông cô đúc toàn bộtriết lý cuộc đời và nghệ thuật của mình vào một chữ “Say””13.Qua đây để thấyrằng, nghệ thuật ở đây “bất chấp mọi công thức hẹp hòi của luân lý”
Nói đến thơ tượng trưng thì không thể bỏ qua chủ thuyết “tương ứng cácgiác quan” của Baudelaire, theo cách hiểu của Phùng Văn Tửu thì đó chính là
“tổng hòa giữa các giác quan” Trong Vội vàng, Xuân Diệu đã vận dụng nhuần
nhuyễn phép tương giao để viết nên câu thơ:
Mùi tháng năm rớm vị chia phôi
Xuân Diệu đã cảm nhận thời gian bằng tất cả các giác quan của mình, bằngkhứu giác (mùi), thị giác (rớm), vị giác (vị) để diễn đạt sự mất mát âm thầmkhông gì có thể níu kéo được thời gian, mỗi khoảnh khắc đang lùi bỏ hiện tại đểtrở thành quá khứ Và khi ý thức được con người cảm thấy sợ hãi, nuối tiếc và hụthẫng
Trong thơ tượng trưng nhạc điệu không tách rời ý nghĩa, nói như Valéry:
“Thơ là sự giao động giữa âm thanh và ý nghĩa” Và đó cũng chính là nguyên tắcsáng tạo của các nhà thơ mới theo khuynh hướng tượng trưng trong Thơ Mới.Biểu tượng thẩm mỹ trong thơ tượng trưng là chiếc cầu nối giữa hai bờ hư –thực Điều này rất đúng với nhận xét của Đỗ Lai Thúy: “Thơ là sự giăng mắc, đi
về giữa hai thế giới Biểu tượng thơ ca, bởi vậy phải chuyển từ đơn sang phức.Phải là một phức thể những ấn tượng, hồi tưởng, chiêm bao, huyền tưởng, tiềmthức và vô thức trùm lên không gian và thời gian, có chức năng gợi nghĩa chứkhông phải mô tả”14
11 Phan Cự Đệ, 1997, Văn học lãng mạn Việt Nam (1930 – 1945), NXB Giáo dục, tr.195
12 Đỗ Lai Thúy, 2000, Mắt thơ, NXB Văn hóa thông tin, tr.58
13 Đỗ Lai Thúy, 2000, Mắt thơ, NXB Văn hóa thông tin , tr.60
14 Đỗ Lai Thúy, 2000, Mắt thơ, NXB Văn hóa thông tin, tr 194
Trang 10Dấu ấn thơ tượng trưng trong phong trào Thơ Mới đã thể hiện được tính hiệnđại hóa trong thi ca, không những vậy còn phản ánh được cái đa dạng trong kếthợp giữa những yếu tố phương Đông và phương Tây, kim và cổ Trong đó, nhàthơ Vũ Hoàng Chương được biết đến “là nhà thơ nhạy bén hòa nhập với tâm linhthơ tượng trưng chủ nghĩa phương Tây” Màu sắc tượng trưng trong thơ các nhàthơ trong phong trào Thơ Mới có những nét khác nhau, theo Đỗ Lai Thúy: “ThơMới là một vận động của tư duy thơ Việt Nam từ Lãng mạn (với những thi sĩ lớpđầu như Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Phạm Huy Thông), đến nửa Tượng trưng (lớptrung gồm Xuân Diệu, Huy Cận,Vũ Hoàng Chương ) và tượng trưng (ĐinhHùng, Bích Khê), rồi chớm sang Siêu thực (Hàn Mặc Tử)”15.
1.2.Vài nét về tác giả Vũ Hoàng Chương và tập thơ Say – tập thơ Mây 1.2.1 Vài nét về tác giả Vũ Hoàng Chương
1.2.1.1 Tác giả Vũ Hoàng Chương
Vũ Hoàng Chương là một nhà thơ tài hoa, nổi tiếng trong phong trào ThơMới Ông sinh ngày 5 tháng 5 năm 1916 tại Nam Định, nguyên quán tại làng PhùỦng, huyện Đường Hào, phủ Thượng Hồng, nay là huyện Mỹ Hào, tỉnh HưngYên Thuở nhỏ, ông theo học trường Albert Sarrault ở Hà Nội, đỗ tú tài năm
1937 Từ năm 1940, Vũ Hoàng Chương bắt đầu hoạt động văn nghệ, làm thơ, viếtkịch Năm 1954, Vũ Hoàng Chương vào Sài Gòn, tiếp tục sáng tác không ngừngcho đến khi ông mất (tháng 10 năm 1976). Vào năm 1959 ông đoạt “Giải Văn
học Nghệ thuật Toàn quốc” của Việt Nam Cộng hòa với tập thơ Hoa đăng
Thời gian 1969 – 1973 Vũ Hoàng Chương là Chủ tịch Trung tâm Văn bútViệt Nam Năm 1972 ông đoạt giải thưởng văn chương toàn quốc lần thứ hai.Ông còn được vinh danh là "Thi bá" Việt Nam
Theo Tạ Tỵ, thơ Vũ là “Tiếng thở dài giữa phương Đông trầm mặc” Thơông được đánh giá sang trọng, có dư vị hoài cổ, giàu nhạc tính và nhiều cung bậccủa một cái tôi sầu muộn Vì thế mà Phan Cự Đệ có viết “Vũ Hoàng Chươngnghe mưa rơi buồn suốt cả cuộc đời”
Trong Thi Nhân Việt Nam, Hoài Thanh – Hoài Chân bình thơ Vũ Hoàng
Chương như sau:
“Ý giả Vũ Hoàng Chương định nối cái nghiệp những thi hào – xưa của ĐôngÁ: cái nghiệp say (…) Vũ Hoàng Chương có cái dụng ý muốn say để làm thơ”16
Vì thế có thể nói rằng, thơ Vũ Hoàng Chương cô đúc trong một chữ “Say”
15 Đỗ Lai Thúy, 2000, Mắt thơ, NXB Văn hóa thông tin, tr.239
16 Hoài Thanh – Hoài Chân, 2016, Thi nhân Việt Nam, NXB Văn hóa, tr.349
Trang 11Lúc mới xuất bản tập thơ Say, Vũ Hoàng Chương “có dáng dấp phong lưu công tử”, khiến mọi người có thể liên tưởng đến chàng say trong thơ Say – một
nghệ sĩ phóng túng và hưởng lạc Vào khoảng cuối năm 1943, cũng là lúc thơ
Mây được in, thì “chàng thanh niên phong lưu khỏe mạnh, lanh lợi không còn
nữa, vì chất ma túy đã tàn phá người anh” Đó là đôi dòng nhận xét về tác giả củaBàng Bá Lân
Bối cảnh xã hội, hoàn cảnh sống cùng sự tác động của những yếu tố kháchquan đã có nhiều ảnh hưởng đến sự hình thành, vận động và phát triển trong quanniệm nghệ thuật của Vũ Hoàng Chương Trong suốt sự nghiệp sáng tác của mình,quan niệm nghệ thuật của ông đã có sự chuyển biến và thay đổi, có thể chia quanniệm nghệ thuật của Vũ Hoàng Chương thành hai giai đoạn chính, đó là giai đoạntrong phong trào Thơ Mới và sau phong trào Thơ Mới
1.2.1.2 Quan niệm nghệ thuật
1.2.1.2.1 Quan niệm về thơ
- Trong phong trào Thơ Mới giai đoạn 1932-1945:
Đây là giai đoạn mà sự nghiệp sáng tác của ông đã có những bước thànhcông vượt trội về thể loại thơ ca Là một trong những nhà thơ chịu ảnh hưởng củaphong trào Thơ Mới, do đó quan niệm nghệ thuật của ông có những nét tươngđồng so với các nhà thơ Mới cùng thời Đó là sự xuất phát từ quan niệm chung vềthơ mang thiên hướng “nghệ thuật vị nghệ thuật”
Trong quan niệm nghệ thuật Vũ Hoàng Chương cho rằng: “Thơ phải cấu tạobằng tính chất vô biên Sau cái thế giới hiện lên hàng chữ, phải ẩn náu muônnghìn thế giới, cả thế giới đương thành và đương hủy” Xuất phát từ quan niệmnày mà sáng tác của ông đã có nhiều bài thơ bàn đến sự đối lập triệt để giữa Mơ
và Thực, giữa lý tưởng và thực tế, giữa Say và Tỉnh, tiêu biểu là các bài thơ như:
Lý tưởng, Chân hứng, Tối tân hôn, Phương xa, Túy hậu cuồng ngâm,
Vũ Hoàng Chương từng chia sẻ: “Tôi học chữ Nho từ 5 tuổi, thơ phú chữNho ảnh hưởng rất mạnh đến đầu óc tôi”, chính vì vậy mà thơ ông mang nặng dấu
ấn phương Đông với văn phong, từ ngữ trau chốt, cầu kì, đẹp đẽ
Trong giai đoạn này, sáng tác của ông có sự nổi bật và để lại nhiều dấu ấn
sâu sắc, tiêu biểu là hai tập thơ: Say (1940) và Mây (1943)
- Sau phong trào Thơ Mới:
Như những văn nghệ sĩ trong và ngoài nước thì quan niệm nghệ thuật của VũHoàng Chương trong giai đoạn này có những sự chuyển biến dưới ánh sáng của
Trang 12Đảng Bên cạnh giữ vững những quan niệm nghệ thuật của mình về thơ như tronggiai đoạn trước thì trong giai đoạn này, quan niệm về nhà thơ và mục đích sángtác của nhà thơ đối với Vũ Hoàng Chương đã có những điểm khác biệt Thơ ôngkhông còn khép kín trong “tâm tư cá nhân” mà nó đã hướng đến những vấn đế lớnlao hơn trong cuộc sống như nề nếp gia đình, tình mẫu tử, phản kháng chế độ độctài, Đặc biệt trong giai đoạn này, thơ ông xem trọng yếu tố tôn giáo, nhiều tậpthơ mang đậm màu sắc tôn giáo, đặc biệt là Phật giáo đã ra đời, tiêu biểu như các
tập thơ: Thơ lửa (cùng Đoàn Văn Cừ, 1948), Rừng phong (1954), Hoa đăng (1959), Lửa từ bi (1963), Trong đó, tập thơ Lửa từ bi là một trong những tập thơ
nổi bật nhất trong sáng tác của ông từ sau Cách mạng Tháng Tám Tập thơ phảnánh tình yêu thương giữa con người với con người, hướng đến sự tự do, giải thoátmình và giải thoát đời
1.2.1.2.2 Quan niệm về nhà thơ
Năm 1961, trong cuốn Tạp chí bách khoa (số 102, ngày 1/4/1961) ở Sài Gòn,
Vũ Hoàng Chương phát biểu: “Tôi làm thơ là để nguyện cầu Tôi cho mình vốn ởmột vùng thanh khiết xa xôi, bị lạc nẻo xuống trần gian đầy bụi, đầy ma này, cầncầu nguyện để sớm trở về ” (Nguyễn Ngu Ý phỏng vấn Vũ Hoàng Chương) Sovới quan niệm nghệ thuật của những nhà thơ Mới thì quan niệm của ông có nhữngnét độc đáo, tiến bộ và mang màu sắc riêng, ông quan niệm thơ cần gắn bó mậtthiết với những sự thực trong cuộc sống, điều này được thể hiện qua lời chia sẻcủa ông: “Thơ vốn là mộng, là tưởng tượng, là tách rời thực tế, nhưng mộng trênnhững tình tự thực Không chấp nhận loại tình tự hư hoang Có khoa học giảtưởng, không có thơ giả tưởng, nói thơ là nói đến thế giới huyễn tưởng, huyễntưởng trên sự thực tế để thăng hoa sự thực, chứ không bất chấp, không chối bỏ sựthực Nhà thơ không được láo, nhà thơ phải thực nhưng thoát sáo sự thực thànhmộng để đưa hồn tính người yêu thơ vươn lên sự thực muôn đời đạt đến chân lýcuộc sống”
1.2.2 Tập thơ Say và tập thơ Mây
Trong Phong trào Thơ Mới, Vũ Hoàng Chương đã góp vào thi ca Việt Nam
hai tập thơ: Thơ Say và Thơ Mây Mùa đông Canh Thìn, 1940, tập thơ Say được xuất bản (nhà in Cộng Lực ấn loát và phát hành) Năm 1943, thi phẩm thơ Mây
được xuất bản (Đời Nay, Hà Nội) Và sự ra đời của tập thơ Say khá ngẫu nhiên,
khi được hỏi lý do xuất bản tập thơ Say, Vũ Hoàng Chương có nói: “Thơ tôi làm
khá nhiều và đã từ lâu, nhưng chưa hề có ý định in Tại Lưu Trọng Lư nó nợ tôi ít
Trang 13tiền, y không trả được liền gán cho tôi số giấy mà y đã trữ tính để in thơ Thế là
bỗng tự nhiên tôi có giấy, lại sẵn có thơ, vì vậy thơ Say ra đời!”.
Nếu kể về thành thực thì Say là tập thơ thành thực nhất của Vũ Hoàng
Chương, thi hứng cho tập thơ này là mối tình đầu lỡ dở và cái thú đi gió về mây –một thú say sưa đầy chua cay và ngao ngán
Với tập thơ Mây, tác giả đã chịu nhiều ảnh hưởng nặng nề của Liêu trai
Đây là hai tập thơ được Vũ Hoàng Chương sáng tác vào giai đoạn cuối củaphong trào Thơ Mới, nội dung của hai tập thơ có những đặc điểm riêng biệt, songnhìn chung chúng đều phản ánh sâu sắc nỗi buồn chán, bế tắc trong tình yêu vàcuộc sống của Vũ Hoàng Chương Đó là những nỗi buồn về tình đầu bị phụ bạc,buồn về thời thế loạn lạc, người nghệ sĩ không tìm ra lối thoát, buồn vì ước mơnghiệp văn của mình không thành hiện thực Bế tắc, chán nản ông đã tự giảiphóng linh hồn mình bằng cách tìm về cõi mộng mị với những cơn say Chếnhchoáng trong men say là bao nỗi niềm chua chát, hằn học, bi đát về cuộc đời và sựnghiệp của mình Và vì thế cái nhìn thế giới, con người, triết lý về cuộc đời của
Vũ Hoàng Chương được Đỗ Lai Thúy đưa ra trong quá trình Say – Tỉnh – LạiSay
CHƯƠNG 2: THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT TRONG THƠ CỦA VŨ HOÀNG
CHƯƠNG QUA TẬP THƠ SAY VÀ TẬP THƠ MÂY
2.1 Cái “say” trong thơ Vũ Hoàng Chương
Theo Thi nhân Việt Nam: “Ý giả Vũ Hoàng Chương định nối nghiệp những
thi hào xưa của Đông Tây: cái nghiệp say Người say đủ thứ: say rượu, say đàn,
Trang 14say ca, say tình đong đưa Người lại còn “hơn” cổ nhân những thứ say mới nhậpcảng: say thuốc phiện, say nhảy đầm Bấy nhiêu say sưa đều nuôi bằng một saysưa to hơn mọi say sưa khác: say thơ”17.
Có thể nói Vũ Hoàng Chương đã cô đúc toàn bộ triết lý cuộc đời và nghệthuật của mình vào một chữ “say”, trong đó tình yêu như là một chất liệu dạt dào
cho thi hứng thơ của thi sĩ Bắt đầu từ tập thơ Say đến Mây, Vũ Hoàng Chương
đã tạo cho mình một cõi thi ca đầy quyến rũ với những vần thơ loạng choạng,uyển chuyển của vũ điệu say Trong thơ Vũ Hoàng Chương, chúng ta bắt gặp cõisay, cõi tình và cõi thi ca như quện chặt vào nhau, những vần thơ vừa da diết vừaphóng túng lại chất chứa đầy những tuyệt vọng của một tài thơ mị tình Đấy là cõiriêng mà chàng thi sĩ Vũ Hoàng Chương kiến tạo nên, là nơi mọi ràng buộc của lýtrí và hiện thực trở nên mờ nhòa
Vũ Hoàng Chương chọn thế giới nghệ thuật của cái “say” là phương tiện,không gian và cảm hứng biểu đạt Hoài Thanh đã nhận định về thơ của Vũ HoàngChương: “Quả là những vần thơ say”18 Mặc cái say sưa vốn bị nghi kị là trụy lạc,cái say sưa của Vũ Hoàng Chương lại có chừng mực Bước vào thế giới thơ của
Vũ Hoàng Chương qua tập thơ Say và tập thơ Mây, người đọc như bước vào một
thế giới của tình yêu xác thịt, là sự chung chạ của hai thân người vào nhau:
Kìa, nệm gối đương chờ ta xô lệch, Thầm bên tai nhắc gọi phút điên say.
Và đương rụng, giữa luồng giăng chênh chếch, Cánh hoa tàn sau chót của Thơ Ngây.
Những luồng run chạy khắp thịt da ngà.
17 Hoài Thanh – Hoài Chân, 2016, Thi nhân Việt Nam, NXB Văn học, tr.349
18 Hoài Thanh – Hoài Chân, 2016, Thi nhân Việt Nam, NXB Văn học, tr 350
Trang 15Run vì sợ hay vì ngây ngất?
và
Dư hưởng yếu từng giây,
Dư hương dần loãng nhạt, Trong tay níu đôi thân liền sát.
Nhè nhẹ rơi vào lớp sóng khinh thanh.
Nhìn lại trong “thơ mới” lãng mạn, tình yêu đã trải qua khá nhiều chặngđường Thế Lữ, Huy Thông trân trọng người yêu, còn gọi nàng là “cô em”, đứng
xa ngắm nàng như ngắm một nhan sắc, một cái Đẹp nghệ thuật:
Cô em buồn đứng bên hồ Nghiêng tựa mình cây, dáng thẩn thơ.
Chừng cô tưởng đến ngày vui sẽ mất,
Mà sắc đẹp rỡ ràng rồi sẽ tắt Như bóng chiều dần khuất Dưới chân trời…
(Tiếng trúc tuyệt vời – Thế Lữ)
Nhưng đến Xuân Diệu, Huy Cận, người ta đã yêu thực sự, đã thổn thức, sayđắm thật Và ở cuối chặng đường, Vũ Hoàng Chương đã nói đến cái vị chua chátcủa tình yêu xác thịt Từ cái thái độ đứng xa chiêm ngưỡng của Thế Lữ đến “Hãysát đôi đầu, hãy kề đôi ngực” của Xuân Diệu thì khi đến được “Hai xác thịt lẫnvào nhau mê mải – Chút ngây thơ còn lại cũng vừa chôn” của thi sĩ họ Vũ là cảmột con đường đi19
Vũ Hoàng Chương không phải chỉ “say tình đong đưa”, mải mê trong thânxác lõa thể của phụ nữ, mà ông còn say tình thật Từ hồi còn nhỏ ông đã có mộtmối u tình:
Anh biết em từ độ,
Em mới tuổi mười hai, Anh yêu em từ thuở,
Em còn tóc xõa vai.
Tháng ngày đi mau quá,
19 Phan Cự Đệ, 1997, Văn học lãng mạn Việt Nam (1930 – 1945), NXB Giáo dục, tr.89
Trang 16Chốc đã sáu năm trời, Tình anh vẫn chưa hiểu;
“Chưa”, là “không”, em ơi!
(U tình, Say)
Ông đã từng được sống trọn những giây phút hạnh phúc của tình yêu, đượcđợi chờ, có những lúc nhớ nhung bồi hồi, nếm được vị ngọt của bờ bến hạnhphúc, nếm lấy cái vị say sưa nhẹ nhàng của tình yêu đôi lứa:
Từ hôm bên nhau thôi ngượng ngùng,
Từ buổi xa nhau mà nhớ nhung.
Em đã nao lòng, anh mê man!
Đuôi mắt đầu môi tình chứa chan, Đêm thường đêm mơ, ngày đợi ngày, Nhưng không hề nói cho nhau hay.
(Yêu mà chẳng biết, Say)
Cũng đã từng hiểu được cái cảm giác của những người giận nhau, thấy đượccái nắng mưa giận dỗi của người con gái đối với mình, lạc trong trò chơi trốn tìmcủa tình ái:
“Em buồn?” Anh gặng hỏi, Mấy lần em chẳng nói.
Rồi, anh không biết vì sao, Đẩy ghế đứng lên, em giận dỗi…
Giũ tung làn tóc, rún đôi vai,
Em vùng vằng,
Ôm sách vở, Sang phòng bên, Không học nữa, Không cho ai vào nữa, Cũng không thèm nghe nữa, Lời thiết tha anh van gọi mái ngoài.
… Sao em khóc? Vì đâu hờn tủi?
Em buồn, có phải lỗi anh không?
(Hờn dỗi, Say)
Chính mối tình đầu không đến được kết thúc hạnh phúc mà chàng thi sĩ đãvùi mình trong những thú vui hưởng lạc, lao mình vào thú vui vật chất, đắm chìm
Trang 17trong cái say và mượn say để tìm quên lãng Ông đã say trong giọng hát, say tiếngđàn, say nhảy đầm, tìm đến những thú vui ấy để khỏa lấp những niềm đau.
Vũ say hết mình cho thỏa cuộc kiếm tìm Cơn say ấy từ rượu, từ thuốc phiện,
từ sàn đan – xing, hay say hình bóng giai nhân Say để say hay say để quên, quênhết cái hữu hạn của kiếp nhân sinh, để thoát khỏi cái ba – ri – e của kiếp người.Ông cũng đã say trong giọng hát:
Phách ngọt đàn say nệm khói êm Tiếng ca buồn nổi giữa chừng đêm
Là cái say trong điệu khiêu vũ:
Ánh đèn tha thướt Lưng mềm não nuột dáng tơ Hàng chân lả lướt
Đê mê hồn gửi cánh tay hờ
Âm ba gờn gợn nhỏ Ánh sáng phai phai dần
(Say đi em, Say)
Nhà thơ tiếp tục nói về cái say nhảy đầm Vũ Hoàng Chương đã thả hồnmình trong hàng loạt động từ:
Bốn tường gương điên đảo bóng giai nhân,
Lui đôi vai, tiến đôi chân;
Riết đôi tay, ngả đôi thân,
Sàn gỗ trơn chập chờn trong biển gió.
… Say đi em! Say đi em!
Say cho lơi lả ánh đèn, Cho cung bậc ngả nghiêng, điên rồ xác thịt
(Say đi em, Say)
Nhà thơ lại tiếp tục để hồn thơ mình viễn du cùng những cơn say dài bất tận.Rượu và thuốc phiện tiếp tục trở thành người bạn đồng hành không thể thiếu của
Vũ Hoàng Chương trong hành trình đi tìm cái đích thực của nghệ thuật và cuộcđời:
Thuyền anh đi thôi nhé,
Xa nhau dần xa nhau.
Tôi về trên lưng rượu, Đến đâu thì đến đâu.
Trang 18(Chén rượu đôi đường, Say) Rượu, rượu nữa, và quên, quên hết!
(Say đi em, Say)
Và nhà thơ cũng tìm đến thuốc phiện để say, để quên:
Men khói đêm nay sầu dựng mộ
(Mười hai tháng sau, Mây) Hay
Tuyết xuống phương nào lạnh lắm không
Mà đây lòng trắng một mùa đông Tương tư nối đuốc thâu canh đợi
(Đời vắng em rồi, Mây)
Sự sụp đổ trong tình yêu bản thể đã làm tâm hồn người nghệ sĩ đã quá mỏimệt, chàng đã kết thân với một tri kỉ vô hình nhưng lại được định danh: nàng tiênnâu Đắm say trong thứ tình mới, chàng thi sĩ coi đó như là một tri kỉ, cùng nhautâm sự trong từng hồi say:
Đã hẹn với em rồi, không tưởng tiếc, Quãng đời xưa, không than khóc gì đâu!
Hãy buông lại gần đây làn tóc biếc, Sát gần đây, gần nữa, cặp môi nâu.
Hãy buông lại gần đây làn tóc rối, Sát gần đây, gần nữa, cặp môi điên, Rồi em sẽ dìu anh trên cánh khói, Đưa hồn say về tận cuối trời quên.
(Quên, Say)
Thiên đường được tạo nên bằng Nàng tiên nâu và nàng Men đã chắp cánhcho giấc mộng đẹp về cuộc đời mà nhà thơ đang nuôi dưỡng bằng nghệ thuật Để
Trang 19rồi, hư ảnh xuất hiện: “Ta ghì hư ảnh chút mà thôi” (Chân hứng) Hư ảnh như
một chiếc cầu ô thước nối Mơ và Thực trong thơ Vũ Hoàng Chương
Đây là lúc nhân vật đã xa rời cõi thực, đem tình yêu lý tưởng mà mình đặt ra
để rồi thỏa mãn trong cái xúc cảm của say tình ảo mộng, tình liêu trai Ở tập thơ
Say, hình ảnh nàng tiên nâu đã bắt đầu xuất hiện như thế, đã quyến luyến với nhau
như thế nhưng đó chỉ là những dấu hiệu mở đầu của cuộc tình hư thực này Sang
đến tập thơ Mây thì thứ tình liêu trai của thi sĩ mới được thể hiện rõ rệt nhất,
dường như bao quát cả thế giới thơ của tác giả
Có thể nhìn thấy rõ nét ở ngay bài đầu của tập thơ – Cảm thông:
Còn đâu thuở ấy niềm khăng khít Quỷ với người chung một mái nhà Trăng bạn, hoa em, trầm mối lái Đèn khuya, dìu dặt bóng yêu ma Mây mở đầu bằng triết lý dương thịnh âm suy nên người và quỷ yêu nhau là
một lẽ thường tình Có lẽ chính vì thế mà ông thấy nhớ cái không khí u hoài, xámxịt của thế giới nằm trong khói thuốc mà ông đang phả ra Xuyên suốt cuộc tìnhliêu trai của thi sĩ, ta cảm nhận thấy được không phải là nỗi đau bản thể của tácgiả vơi đi mà là nỗi đau ấy đã hóa thành một thứ đê mê khác, hình bóng ngườithương cũ nay không còn rõ hình rõ bóng nữa mà đã hóa thân vào những hìnhtượng siêu hình, không rõ nét nhưng lại rất gần gũi với chính thế giới mà thi sĩđang đắm chìm trong đó
Nhưng cuối cùng thì trong những cơn say ấy: “Đất trời nghiêng ngửa –
Thành Sầu chưa sụp đổ, em ơi!” Và quả thật cái tôi bản thể của Vũ cũng đã
thực sự cất cánh từ cảm hứng “say” này
Có rất nhiều nhà thơ mới viết về cái say, song ở mỗi nhà thơ lại có những nétđộc đáo riêng trong cách nhận thức và thể hiện Đối với Vũ Hoàng Chương thì cáisay trong thơ ông có những cái mới lạ, độc đáo hơn so với các nhà thơ cùng thời
mà như tác giả Hoài Thanh đã nhận định trong cuốn Thi nhân Việt Nam: “Vũ
Hoàng Chương rất gần Lưu Trọng Lư – Tản Đà: cả ba đều say Nhưng cái say của
Vũ Hoàng Chương mới hơn Cái chán nản cũng thế”20
Đúng vậy, xuất phát từ những uẩn ức về cuộc sống đời tư và sự bế tắc trêncon đường sáng tác thơ văn của những nhà thơ mới trong hoàn cảnh lúc bấy giờ
đã khiến họ phải tìm về với những cơn say với mong muốn giải thoát tinh thần.Tìm về cõi mộng mị để nói lên những tâm sự , những ước vọng mà ở thế giới thực
20 Hoài Thanh – Hoài Chân, 2016, Thi nhân Việt Nam, NXB Văn học, tr.41
Trang 20tại họ không thể và không có cơ hội được giải bày Cả Tản Đà, Lưu Trọng Lư và
Vũ Hoàng Chương đều tìm đến cái say nhưng cách mà họ thể hiện lại có nhữngdấu ấn riêng
Cái say của Tản Đà hướng đến khát vọng hưởng lạc, tận hưởng Ông tìm đếnvới mộng mị, đắm chìm sảng khoái trong cõi hư vô Giấc mộng của ông mangtính chất lãng mạn thoát ly Cuộc đời thực không lấy gì làm hạnh phúc, Tản Đàmong muốn thoát ly bằng mộng, triền miên trong cõi mộng để quên đời Khi ôngmộng, ông được sống những cuộc đời mới mẻ, đẹp đẽ, tự ông vẽ ra theo trí tưởngtượng mình Đối với ông cuộc đời này rượu đem đến cho ông những cái cảm giác
tận hưởng, ông mượn rượu để thỏa niềm hưởng lạc của mình Như trong bài Say
ông đã thể hiện cái hưởng lạc trong men say:
Đêm xuân một trận nô cười
Dưới đèn chẳng biết là người hay hoa Khi vui quên cả cái già
Khi say chẳng dốc giang hà cũng say
Hay:
Say sưa nghĩ cũng hư đời,
Hư thì hư vậy, say thì cứ say.
Đất say đất cũng lăn quay Trời say mặt cũng đỏ gay, ai cười ? Say chẳng biết phen này là mấy, Nhìn non xanh chẳng thấy lại là say.
(Lại say)
Tản Đà cũng biết suốt ngày say sưa không phải là tốt, cũng là thói hư ở đờinhưng ở câu tiếp theo ông khẳng định hư thì hư nhưng say thì vẫn cứ say, cáchnói thể hiện cái ngông trong hưởng lạc của ông cũng rất đậm nét, say là thú vui đểđược nhàn, để được thoải mái trong tâm hồn ông thì làm sao có thể bỏ được Ông muốn say để không can sự đời nữa, không muốn bận tâm nhữngchuyện trong dân gian, ông cứ say, cứ say để vui thú chính mình, ngay cả vợ
Trang 21khuyên ngăn ông cũng mặc, cứ say rồi lại say, say để giải sầu và để tự cho mìnhniềm vui:
Việc trần ai, ai tỉnh ai lo Say túy lúy nhỏ to đều bất kể Trời đất nhỉ, cái say là sướng thế
Vợ can chồng, ai dễ đã chừa ngay?
Muốn say lại cứ mà say.
(Lại say)
Đến với cái say trong thơ Lưu Trọng Lư thì cái say lại mang màu sắc của
sự phiêu du, mơ mộng lơ đãng mà như nhà thơ Hoàng Trung Thông cũng đã nhậnxét về thơ ông: “Những bài thơ của anh không sầu thì mộng, không mộng thì say
và đã say thì Giang hồ cõi ấy trọn đời phiêu linh” Thanh Mại cũng gọi LưuTrọng Lư là thi sĩ giang hồ Sự phiêu bạt trong những cảnh đời xa lạ trong thiênnhiên đẹp đã tạo cho thơ của Lưu Trọng Lư chất phiêu lãng và thơ mộng Nói nhưtác giả: “Mộng và đời là hai sợi chỉ ngang dọc trên khung cửi Đời đẻ ra mộng vàmộng dệt nên đời”
Để lòng với rượu cùng say Chừ đây nói lời chua cay lạ thường Chừ đây đêm hãy đầy sương
Con thuyền còn buộc trăng buông lạnh lùng
(Giang hồ) Hay
Chiều sương, rừng tía, lệ muôn hàng San sát nge đầy bến Trúc lang
Cây, nước, say theo người tráng sĩ Con đò quên cả chuyến sang ngang
(Chiều cổ)
Trang 22Có những phút ông cũng đã thức tỉnh, thoát khỏi những ảo giác mộng mị đểnhìn nhận thực tại, song sự thức tỉnh của ông chỉ là những khoảnh khắc thoángqua và trong những phút giây thức tỉnh đó tâm trạng ông vẫn luôn chao đảo, tồntại trong sự mơ hồ để rồi ông lại vẫn chìm đắm trong cõi say đầy mộng mị, đằmthắm và phiêu đãng.
Hết say vẫn bàng hoàng trong mộng Xót xa thay cái giống giang hồ!
(Giang hồ)
Như vậy cái say trong thơ của Tản Đà là cái say mang trạng thái của một kẻbất cần, ông tìm về cái say để tận hưởng, ông bỏ qua tất cả những bộn bề cuộcsống để tìm thú vui cho chính mình… Do đó cái say trong thơ ông là một cái saytriền miên, vô tận, say rồi lại say Còn trong thơ Lưu Trọng Lư thì cái say lạimang tính phiêu lưu lãng mạn, tìm đến cái say để bộc lộ tận cùng nỗi đau thươngcủa mình Còn với Vũ Hoàng Chương, những đau khổ trong cuộc đời khiến ôngluôn bị dằn vặt, ông không có được cái ngông, cái bất cần như Tản Đà Cái saytrong thơ ông luôn bị gián đoạn bởi những phút sực tỉnh và nhận thức được nỗiđau đang hiện hữu Ông say rồi tỉnh và rồi lại say Những trạng thái say tỉnh cứđan xen nhau khiến cho tâm trạng ông càng thêm uẩn ức, chính vì cái tỉnh đó đãkhiến ông càng phải đau khổ hơn Ông cũng không tìm đến tận cùng nỗi đau bằngcái say đầy phiêu lưu đãng rồi phút chốc thức tỉnh như Lưu Trọng Lư, cái say củaông đầy hiện thực, đầy tâm sự sâu sắc xuất phát từ cõi lòng, từ những thực tế đaukhổ mà ông đang và đã phải chịu đựng Nhắc đến cái say, người ta sẽ hình dungđến một trạng thái mộng mị, thoát li thực tại để tìm đến sự mê man, ảo giác nhưngđối với Vũ Hoàng Chương thì cái say của ông vừa mang cái mộng mị, ảo giácnhư những nhà thơ khác nhưng trong cái mộng mị, ảo giác ấy vẫn luôn thườngtrực những nỗi niềm chân thật của tâm trạng mình
2.2 Cảm thức lạc loài, xa lạ
Trong Thơ Mới, nỗi buồn, sự cô đơn gắn với người thi sĩ như duyên nợ VũHoàng Chương cũng không thoát khỏi cái “duyên” ấy Sự tan vỡ trong mối tìnhđầu, sự trắc trở gian truân trên bước đường công danh, sự nghiệp và sự bất bình,buồn đau trước thời cuộc khi mà dân tộc còn bị nô lệ chưa nhìn thấy lối thoát.Xung quanh ông người ta đang bon chen theo sự nghiệp, mộng phong hầu, giấc
cờ biển mong chiếm địa vị cao để hưởng vinh hoa phú quí mà người Pháp đã
Trang 23cố tình nhử mồi, mua chuộc Với bản ngã ưa sầu mộng và nhiều cảm xúc thì chốn
ấy nhất định không phải là nơi ông đeo đuổi Ông sống giữa cuộc đời nhưng lạikhông tìm được mối giao cảm với cuộc đời, với con người Để từ đó, ông phảingậm ngùi tự nhận mình như một kẻ đầu thai nhầm thế kỉ nên phải sống kiếp lạcloài, xa lạ ngay giữa cuộc đời mình đang hiện hữu và tồn tại Sống giữa cuộc đờinhưng người thi sĩ ấy luôn cảm thấy cuộc đời vô nghĩa tầm thường, con ngườikhông thể hòa đồng với thực tại Vũ tự biến mình thành một kẻ cô đơn, xa lạ vớihiện thực và đứng ngoài cuộc sống
Lũ chúng ta, lạc loài, dăm bảy đứa,
Bị quê hương ruồng bỏ, giống nòi khinh,
…
Lũ chúng ta, đầu thai nhầm thế kỉ, Một đôi người u uất nỗi chơ vơ,
(Phương xa, Say)
Nỗi niềm của một kẻ bơ vơ, lạc loài được ông gửi gắm qua bài thơ Phương
xa như một lời tuyên ngôn về tình thế tồn tại của căn bệnh tinh thần mà thế hệ
mình đang sống Cô đơn, lạc lõng là cảm thức chung của hầu hết các nhà ThơMới, song đạt đến tận cùng của sự bơ vơ, lạc lõng đó là sự lạc loài thì có lẽ VũHoàng Chương là người đạt đến mức tận cùng của cảm thức này Cô đơn, lạc loàikhiến cho nhà thơ cảm thấy xa lạ với cuộc đời, với chính mình, với cả quê hươnggiống nòi Nỗi mặc cảm “bị quê hương ruồng bỏ giống nòi khinh” đã khiến nhàthơ nghi ngờ vào chính sự xuất thân của mình “Lũ chúng ta lạc loài năm bảyđứa”, “Lũ chúng ta đầu thai nhầm thế kỉ”
Bị quê hương ruồng bỏ, ông bắt đầu bước vào những ngày tháng với cuộcsống tha phương, hoàn cảnh cuộc sống quá đỗi cay đắng ấy khiến cho ông trở nênmất phương hướng, quê hương dần trở nên xa lạ và không còn chứa đựng sự baodung Càng xa lạ ông lại càng bế tắc và lạc lối trên con đường tìm về với thế giớicủa thực tại:
Còi khuya vọng mãi tiếng ngân, Lao đao, núi thẳm cây gần tương tư
Tha phương đã réo mong chờ, Con tầu luân lạc đêm mờ còn say;
(Con tầu say, Say)
Trang 24Là một con người trần thế nhưng đối với ông chốn ấy không phải là nhà, lànơi để ông có thể thỏa sức vươn đến những khát khao và ước vọng của mình.Chốn trần gian đối với ông không có một niềm yêu thương an ủi khi ở trong mắtông chỉ tồn tại toàn những cái xấu xa của một thực tại đảo lộn điên cuồng vìnhững thói hư tật xấu và danh vọng vật chất:
Thôi hết nhé! Thỏa đi, niềm rạo rực!
Từ cung Trăng rơi ngã xuống trần gian.
Ta sắp uống bùn nhơ và sự thực
Sẽ mãi đây dày xéo giấc mơ tàn.
(Động phòng hoa chúc, Say) Hay
Đừng ép duyên ngọc trắng với bùn nhơ Thân gió bụi trả về cho gió bụi
(Lí tưởng, Say)
Tự nhận thức mình là một kẻ lạc loài, vì vậy ông không xem mình thuộc vềnơi chốn trần gian, sống giữa trần gian nhưng bản thân lại cảm thấy xa lạ, khôngtìm kiếm được tiếng nói chung giữa chính mình và thế giới thực tại
Vũ Hoàng Chương không chỉ lạc loài giữa cõi nhân sinh hiện hữu này màchính linh hồn ông cũng không thể tìm được sự đồng điệu với thân xác của mình.Ông tồn tại ở đây, ngay lúc này nhưng luôn tin rằng bản thể chân thực của mình là
(Giang Nam người cũ, Mây)
Trang 25Trong cả tập thơ Say và tập thơ Mây thì Vũ Hoàng Chương đã thể hiện
rất nhiều những câu thơ nói về sự bơ vơ, cô độc và lạc loài trong cuộc sống củamình như:
Tinh chủng bơ vơ độc viễn hành
(Đậm nhạt, Mây)
Cô đơn, men đắng sầu trăng bến Đất trích Tầm Dương quạnh tiễn đưa
(Dựng, Mây) Lặng nghe bốc tự đáy linh hồn Nỗi thương mến xa khơi tình kiếp trước Sóng ngủ dưới chân thuyền im trước gió
Đã ai say lạc bước tới Vô Cùng
… Hỡi người xưa Ngư Phủ hỡi Đào Nguyên
Ta đêm nay say cũng lạc con thuyền.
(Đào Nguyên lạc lối, Mây)
Nỗi niềm cô độc, cảm thức lạc loài, xa lạ luôn thường trực trong thơ ông.Trong cuộc sống của ông không có sự gắn kết với cộng đồng xã hội, không có sựchia sẻ nỗi lòng cùng đồng loại mà luôn tồn tại nỗi lòng của một cá thể cô độc,một mình nếm trải những đau khổ
Giữa cuộc sống này, Vũ Hoàng Chương luôn xem mình là một con ngườilạc lõng, không chốn nương tựa Có quê hương, có đồng loại song trong tiềm thứccủa mình ông luôn cảm thấy lạc lõng Càng cố gắng vượt thoát khỏi niềm cảmthức ấy bao nhiêu ông lại càng rơi vào trạng thái cô độc, lạc loài bấy nhiêu
Cha mẹ mất đi lạnh hương khói, Một chị một em sầu má hồng, Khuya sớm cô đơn giọt lệ tủi,
Ấu thơ đã trêu gì hóa công?
(Đời còn chi, Say)
Trang 26Không gian thì rộng, còn lòng người thì thờ ơ, lạnh nhạt, nên không tìmđược chốn nương thân giữa cuộc đời ấy càng khiến ông thêm lạc lõng, hoài nghi
về sự tồn tại của mình
Đời họ bỏ ta hề riêng gì kẻ ấy Tình trót lầm trao hề Ta hỡi ta ơi
(Bài hát cuồng, Mây)
Hai câu thơ của ông chứa đựng sự xót xa khi cuộc đời của mình khôngchỉ chịu sự quay lưng của người yêu mà với hiện thực cuộc sống cũng không còndung nạp cho những tư tưởng, ước vọng của mình Đời đã quay lưng với ông,chính vì vậy, ông cũng kiên quyết tách mình ra khỏi cuộc đời để sống cuộc sốngcho riêng mình Bởi vậy, ông đã từng tuyên bố rằng: “Thơ ta không viết cho đời”,ông chấp nhận sự ruồng bỏ của cuộc đời, trở thành một kẻ lạc loài, xa lạ, để có thểsống tự do tìm về với những giá trị mà bản thân mình trân quý
Vì những đổ vỡ trong đời sống cá nhân đã khiến ông tự thu mình và táchbiệt với đời sống thực tại hay chính những sự xô bồ, bất cập của đời sống đã đẩyông rơi vào bế tắc, và cô lập ông với đời sống? Theo quan điểm của chúng tôi thì
có lẽ cảm thức lạc loài, xa lạ của ông đều xuất phát từ yếu tố chủ quan và kháchquan trên Và dù nguyên nhân có xuất phát từ đâu thì cảm thức về sự lạc loài, xa
lạ được ông thể hiện qua hai tập thơ là rất rõ ràng và không thể phủ nhận, điều đó
đã được nhóm chúng tôi chứng minh trong những dẫn chứng cụ thể trên
2.3 Nỗi chán chường trong thơ
2.3.1 Nỗi chán chường bởi cuộc đời
Nỗi chán chường của Vũ Hoàng Chương có cái mới hơn, tuy có ảnh hưởngcủa thơ Pháp nhưng trước hết nó phản ánh một cuộc đời mới… “Dầu có cái vịBaudelaire, vẫn nhẹ nhàng khoáng đãng nhưng không nặng nề u ám như cái chánnản của Baudelaire”21 Đó là biểu hiện cái tôi chán chường trong thơ của VũHoàng Chương
Bao trùm lên thơ Vũ Hoàng Chương là một khối sầu cao ngất Vũ HoàngChương là thi sĩ đầy tài năng và tâm huyết Lúc khát vọng sống hoà nhập lại trỗidậy hơn lúc nào hết, thì tài năng và tâm huyết của ông đã bị làn gió vô tình củacuộc đời cuốn mất khiến ông lâm vào tình trạng thất vọng, chán chường Vì thế
mà nhà thơ đã đau đớn thốt lên:
Ôi! Ta đã làm chi đời ta
21 Hoài Thanh – Hoài Chân, 2016, Thi nhân Việt Nam, NXB Văn học , tr 31
Trang 27Ai đã làm chi lòng ta?
Cho đời tàn tạ lòng băng giá, Sương mong manh quạnh chớm thu già.
Và
Ta đã làm chi đời ta xưa?
Ta đã dùng chi đời ta chưa?
(Đời tàn trong ngõ hẹp, Mây)
Hỏi về mình “Ôi! Ta đã làm chi đời ta” đó là một nỗi đau thương vì sống là
đã làm gì mà nay còn không biết đã làm gì Khi tự hỏi “làm chi” thì như thể hiệnđược tất cả lối đi vào đời quá xa lạ không cho phép sử dụng hiện hữu như ý muốncủa chính mình Nhưng đau thương sao bằng khi đời không chỉ có Ta mà đời còn
có ai, với cách hỏi như thế đã cho thấy được cái Ta đã mất Ta, không trọn quyền
sử dụng Ta, để Ai làm cho Ta tan vỡ tận cõi lòng
Cái Tôi của Vũ Hoàng Chương lạc lõng, bơ vơ, và vì thế khối sầu của ông uuất, chồng chất và sừng sững hơn giữa cuộc đời :
Cánh rượu thu gần vạn dậm khơi, Nẻo say hư thực bóng muôn đời,
Ai đem xáo trộn sầu kim cổ?
Trăng nước Đà Giang, mộng Liêu Trai
(Đà Giang, Say)
Sự giằng co giữa một bên là sự cô đơn lạc lõng, một bên là ước muốn hoànhập với cuộc đời đã đẩy thi sĩ vào tâm trạng bế tắc không lối thoát Sau một giấcmộng dài tỉnh dậy bỗng chợt nhận ra ngày đã ngả sang chiều và cuộc đời cũngtheo đó mà khép lại:
Gối vải mộng phong hầu Vàng son mờ gác xép Bửng tỉnh mưa càng mau Chiều tàn trong ngõ hẹp Đời hiu hiu xế tà.
(Đời tàn trong ngõ hẹp, Mây)
Lý giải cho điều này không thể không kể đến việc sử dụng các yếu tố mùa.Ông thường đề cập đến mùa thu trong rất nhiều bài thơ Hy hữu xuất hiện trongnhững vần thơ là mùa xuân nhưng mùa xuân ở đây cũng là mùa xuân tàn úa:
“Xuân có sang mà hoa không tươi”
Trang 28Nhưng tại sao lại là mùa thu? Phải chăng, đó là mùa tàn úa của cuộc đời,mùa mà con người đã ngả bóng!
Xuân đời chưa hưởng kịp Mây mùa thu đã sang
(Đời tàn trong ngõ hẹp, Mây)
Ngoài ra, ông còn sử dụng rất nhiều từ như “đêm mưa”, “chiều tàn”, “lá
rụng”, “mưa”,… Điều này đã tạo một không gian tĩnh lặng, thời gian như đang
ngừng trôi, đang vơi dần lắng nghe tiếng thở dài não ruột của thi sĩ Mưa nhưnguồn ám chỉ cuộc đời đầy những giăng mắc, tù túng lạnh lẽo và cô đơn Ta cũnggặp mưa như thế trong thơ của Huy Cận :
Đêm mưa nằm nhớ không gian Lòng run thêm lạnh nỗi lòng bao la
(Buồn đêm mưa)
Theo tác giả Phan Cự Đệ, Nguyễn Bính nghe mưa rơi mà khơi sâu nỗi sầu
buồn cô quạnh:
Mưa mãi, mưa hoài, mưa bứt rứt Đêm dài dằng dặc, đêm bao la.
(Mưa trên đất khách)
Còn Vũ Hoàng Chương nghe mưa rơi mà buồn cả cuộc đời:
Chiều mưa rồi đêm mưa Đời tàn trong ngõ hẹp.
(Đời tàn trong ngõ hẹp, Mây)
Một chiều tàn tạ bức bối trong một không gian chật hẹp bỗng chốc vỡtrong tiếng than chua chát, xót xa:
Ôi ! ta đã làm chi đời ta?
Ai đã làm chi lòng ta Cho đời tàn tạ lòng băng giá Sương mong manh quạnh chớm thu già.
(Đời tàn trong ngõ hẹp)
Những chiều như thế cứ trở đi trở lại trong ông như một nỗi ám ảnh:
Trang 29Nhìn quanh: chiều xám với tha ma!
Vắng tanh! Ôi chiều, nơi tha ma ! Nhưng đâu đây ai khóc gần hay xa
Mà thảm thiết? Hay thu vừa nức nở?”
(Bạc tình, Say )
Và rồi Vũ Hoàng Chương lại cất lên những tiếng thơ đầy đau xót:
Hỡi ơi! dâu bể mòn thương nhớ
Gỗ đá còn trơ gỗ đá thôi!
(Cảm thông, Mây)
Những thương nhớ của tiền nhân về quê hương khi vào giữa cuộc đời nàycũng mòn đi vì dâu bể, cuộc đời này được ví như sự cải biến đến kinh hoàng,khiến cho những gì vốn có vào đây đều mất hết, đều trở thành không Và có lẽ,cuộc đời chỉ còn là cái xác chết, chết cả hồn lẫn xác: “Gỗ đá còn trơ gỗ đá thôi”.Câu thơ dường như đã thể hiện được sự thật của cuộc đời Nếu lúc trước “Gỗ yêuđương mà đá cũng si mê” – chính nhựa sống của quê hương khiến cho thế giớicủa Tình vẫn còn vẹn nguyên, có hồn của gỗ đá, thì sự đổi thay của đời đã làmcho yêu đương, si mê chẳng còn nữa nơi sự vật ngàn xưa
Con người còn trông đợi gì giữa cuộc đời không tình thương, không ngườithương, chán chường là lẽ đương nhiên
2.3.2 Nỗi chán chường trong tình yêu
Tình yêu đến với Vũ Hoàng Chương cũng rất đẹp Nhưng lại mau đượmchóng tàn Vũ Hoàng Chương đã từng coi tình yêu là lí tưởng, đã nâng niu, nuôidưỡng mối tình đầu nhưng nay bỗng kết thúc thật phũ phàng: người yêu đi lấychồng Ngày nàng đi lấy chồng, chàng say trong nỗi đau của tình yêu, thứ tìnhcảm trao đi suốt mười năm trời nay lại nhìn người ta sánh vai cùng kẻ khác Lòngđau như cắt, gọi tên nàng trong tuyệt vọng não nùng: “Tố của Hoàng ơi Tố của
Anh”, “Tố của Hoàng ơi Tố của Tôi” và “Tố của Hoàng ơi Tố của Ai” Nỗi đau
mất tình yêu như đào thêm nỗi sầu lạc loài khiến nhà thơ rơi vào tâm trạng hụthẫng, tròng trành như con thuyền giữa biển khơi Một tâm hồn vốn đã cô đơnbuồn tủi bởi cảm giác lạc loài nay càng thêm cô đơn, trống trải Thi sĩ thốt lên đau
đớn :
Đời họ bỏ ta hề riêng gì kẻ ấy