1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

nhung van de co ban ve nha nươc

44 198 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 44
Dung lượng 4,9 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nguyên tắc tập trung dân chủ có tầm quan trọng trong việc tổ chức, hoạt động của bộ máy nhà nước xã hội chủ nghĩa, Nguyên tắc này thê hiện hai yêu cầu sau: Tạo được sự thống nhất ý chí c

Trang 1

Chương 1:

NHUNG VAN ĐÈ CƠ BẢN VỀ NHÀ NƯỚC

I NGUON GOC VA BAN CHAT CỦA NHÀ NƯỚC

1 Nguồn gốc

- Học thuyết mác xít và các học thuyết khác về ngồn gốc nhà nước Trên quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, chủ nghĩa Mác —- Lênin đã chứng minh một cách khoa học rằng nhà nước và pháp luật không phải là những hiện tượng xã hội vĩnh cửu và bất biến mà là một phạm trù lịch sử có quá trình phát sinh, phát triển và tiêu vong Nhà nước chỉ xuất hiện khi xã hội loài người phát triển đến một giai đoạn nhat dinh, ching luôn vận động, phát triển và sẽ tiêu vong khi những điều kiện khách quan cho sự tồn tại và à phát triển của chúng không còn nữa

- Các học thuyết phi mác xít về nguồn gốc nhà nước Thuyết thần học

Thuyết gia trưởng Thuyết khế ước xã hội

Thuyết bạo lực

- Quá trình hình thành nhà nước Công xã nguyên thuỷ và tổ chức thị tộc - bộ lạc

Công xã nguyên thuỷ là hình thái kinh té - xã hội đầu tiên của loài người, một xã hội chưa

có giai cập, chưa có nhà nước Cơ sở kinh tế của công xã nguyên thuỷ là chế độ sở hữu chung

về tư liệu sản xuất và sản phẩm lao động con người sống co cụm vào nhau để cùng sinh hoạt, kiếm sống và bảo vệ mình Xã hội nguyên thuỷ được tổ chức đơn giản, tế bào cơ sở của xã hội không phải gia đình mà là thị tộc Thị tộc được tổ chức theo nguyên tắc huyết thống Trong thi tộc đã tồn tại phân công lao động, nhưng mới chỉ phân công lao động tự nhiên Hệ thống quản

lý của công xã thị tộc là Hội đồng thị tộc và Tủ trưởng Quá trình phát triển xã hội công xã nguyên thuỷ đã xuất hiện hình thức tổ chức cao hơn là bào tộc, bộ lạc và liên minh bộ lạc

Sự phân hoá giai cấp và sự xuất hiện của nhà nước

Lịch sử đã trải qua ba lần phân công lao động xã hội lớn: chăn nuôi tách khỏi trồng trọt; thủ công nghiệp tách khỏi nông nghiệp; thương nghiệp tách khỏi quá trình sản xuất vật chất trực

Số nô lệ tăng lên đông cùng với sự cưỡng bức và bóc lột ngày càng nặng nề của giai cấp chủ nô Tổ chức thị tộc bat lực không còn phù hợp nữa, xã hội đòi hỏi phải có một tổ chức mới

đủ sức để dập tắt cuộc xung đột ngày càng gay gắt giữa các giai cấp, hoặc cùng lắm là giữ các cuộc xung đột trong vòng trật tự Đó chính là nhà nước

2 Bản chất của nhà nước Nhà nước là sản phẩm và biểu hiện của những mâu thuẫn giai cấp không thể điều hoà được Trong xã hội có giai cấp, sự thống trị của giai cấp này đối với giai cập khác đều thể hiện dưới ba quyền lực: kinh tế, chính trị và tư tưởng Mỗi kiểu nhà nước đều có bản chất riêng, nhưng các nhà nước đều có một số điểm chung, là bộ máy để thực hiện sự thống trị về giai cấp Nhà nước có một số đặc điểm riêng sau đây: :

- Nhà nước là một tổ chức quyên lực chính trị công cộng đặc biệt, có bộ máy chuyên thực hiện cưỡng chế và thực hiện cưỡng chế và quản lý những công việc chung của xã hội

- Nhà nước phân chí dân cư theo lãnh thổ thành các đơn vị hành chính, không phụ thuộc vào chính kiến, huyết thống, giới tính

- Nhà nước có chủ quyền quốc gia

- Nhà nước ban hành pháp luật và thực hiện sự quản lý bắt buộc đối với mọi công dân

- Nhà nước quy định và thu các loại thuế dưới các hình thức bắt buộc

II KIỂU VÀ HÌNH THỨC NHÀ NƯỚC

1 Kiều nhà nước

Trang 2

Kiểu nhà nước là tong thé nhitng dau hiéu cơ bản, đặc thù của nhà nước, thể hiện bản chất giai cấp và những điều kiện tồn tại và phát triển của nhà nước trong một hình thái kinh tế - xã hội nhất định

Trong lịch sử xã hội có giai cấp đã tồn tại bốn hình thái kinh tế xã hội: chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa Tương ứng với bốn hình thái kinh tế - xã hội

đó là bốn kiều nhà nước: kiểu nhà nước chủ nô, kiểu nhà nước phong kiến, kiểu nhà nước tư sản, kiểu nhà nước xã hội chủ nghĩa

2 Hình thức nhà nước

- Hình thức chính thé

Là cách thức tổ chức và trình tự thành lập các cơ quan có quyền lực cao nhất của nhà nước

và mỗi quan hệ giữa các cơ quan đó Hình thức này có hai dạng cơ bản:

Chính thể quân chủ: quân chủ tuyệt đối, quân chủ hạn chế

Chính thể cộng hoà: cộng hòa quý tộc, cộng hòa dân chủ, cộng hòa đại nghị, cộng hòa tổng thống, cộng hòa lưỡng tính

- Hình thức câu trúc nhà nước

Hình thức nhà nước đơn nhất là nhà nước có chủ quyển chung, có một hệ thống cơ quan quyên lực và quản lý thống nhất từ Trung ương đến địa phương và các đơn vị hành chính bao gồm tỉnh (thành phố), huyện (quận), xã (phường)

Nhà nước liên bang là nhà nước có từ hai hay nhiều nước thành viên hợp lại Nhà nước liên bang có hai hệ thống co quan quyên lực và quản lý, một hệ thông chung cho toàn liên bang và một hệ thống trong mỗi nước thành viên, có chủ quyền quốc gia chung của nhà nước liên bang

và đồng thời mỗi nước thành viên củng có chủ quyên riêng

IV NHA NUOC CONG HOA XA HOI CHU NGHIA VIET NAM

1 Nguyên : tắc tô chức và hoạt động của bộ máy nhà nước

- Nguyên tắc tất cả quyên lực của nhà nước thuộc về nhân dân

Đây là nguyên tắc nói lên nguồn gốc quyên lực của nhà nước và bản chất giai cấp của nhà nước xã hội chủ nghĩa Lịch sử hình thành và phát triển các quan diễm lập hiến của nhà nước

ta, từ Hiến pháp 1246 đến Hiến pháp 2013 có thể thấy tư tưởng nhà nước nhân dân quán triệt trong việc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân Tat ca quyén lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nên tảng là liên minh giữa giai cắp công nhân với giai cập nông dân và đội ngữ tri thức

Trang 3

Nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân được quán triệt trong việc tô chức

bộ máy nhà nước Theo đó, Quốc hội và Hội đồng nhân dân là cơ quan quyên lực nhà nước các cơ quan này do nhân dân bầu ra theo nguyên tắc pho thong, binh đắng, trực tiếp và bỏ phiếu kín Quốc hội được trao quyền lực tối cao trong việc tổ chức và hoạt động của tất cả cơ quan nhà nước

Quyền lực nhà nước là thông nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyên lập pháp, hành pháp, tư pháp

Chủ trương của nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong việc củng cố, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là triệt dé ap dung phuong cham: dan biét — dan ban — dan kiểm tra Thực hiện tốt phương châm này là góp phân thực hiện hóa nguyên tắc tất

cả quyển lực nhà nước thuộc về nhân dân

- Nguyên tắc về sự lãnh đạo của Đảng đối với bộ máy nhà nước

Đây là nguyên tắc quan trọng nhất, quyết định việc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước có theo đúng những định hướng, mục tiêu và phản ánh đượy ban chất của nhà nước xã hội chủ nghĩa hay không Theo Điều 4, Hiến pháp 2013:“Đảng Cộng sản Việt Nam - Đội tiên phong của giai câp công nhân, đồng thời là đội tiên _phong của Nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, Nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác - Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hột”

Nội dung của nguyên tắc Đảng lãnh đạo thể hiện:

Đề ra cương lĩnh xây dựng phát triển đất nước, dé ra đường lỗi chủ trương, chính sách về các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng để trên cơ sở đó nhà nước xây dựng chiến lược và kế hoach hoạt động

Định hướng việc củng cố và hoàn thiện tổ chức hoạt động của bộ máy nhà nước

Giới thiệu những cán bộ có phẩm chất, năng lực để nhân dân lựa chọn vào những vị trí quan trọng của bộ máy nhà nước

Tuyên truyên, giáo dục nhân dân tích cực thực hiện nhiệm vụ đối với nhà nước, tham gia quả lý nhà nước; Đảng giáo dục đảng viên gương mẫu, đi đầu trong việc thực hiện các chủ trương của nhà nước

- Nguyên tắc tập trung dân chủ

Tại Điều 6 Hiến pháp năm 2013 quy định: "Nhân dân thực hiện quyên lực nhà nước bằng dân chủ trực tiếp, bằng dân chủ đại điện thông qua Quốc hội, Hội đồng nhân dân và thông qua các cơ quan khác của Nhà nước", quy định đa dang hơn về thực hiện quyên lực của Nhân dân

so với Hiến pháp năm 1992, đặc biệt thể hiện quyền lực nhà nước bằng dân chủ trực tiếp đã làm rõ hơn, sâu sắc hơn vai trò làm chủ của Nhân dân

Nguyên tắc tập trung dân chủ có tầm quan trọng trong việc tổ chức, hoạt động của bộ máy nhà nước xã hội chủ nghĩa, Nguyên tắc này thê hiện hai yêu cầu sau:

Tạo được sự thống nhất ý chí của tất cả cơ quan, t6 chức; các cán bộ, công chức trong bộ máy nhà nước để thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ chính trị của nhà nước; đảm bảo sự phục tùng của cấp dưới với các mệnh lệnh của cấp trên; sự tuân thủ của địa phương đối với các chỉ đạo, điều hành thống nhất của trung ương; đây vốn là những yêu cầu cơ bản của nền hành chính

Bảo đảm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của nhân dân trong việc đề xuất ý kiến, trình bày quan điểm về những vấn đề quan trọng nảy sinh trong xã hội Dân chủ còn thể hiện ở viéc cac ngành, các địa phương có quyền vận dụng sáng tạo, linh hoạt trong việc thực thi các chủ trương, mệnh lệnh của câp trên trong khuôn khổ cho phép và được qui định bởi pháp luật

- Nguyên : tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa

Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa là điều kiện cần thiết cho tổ chức, hoạt động của bộ máy nhà nước xã hội chủ nghĩa Nhà nước quản lý xã hội hội bằng pháp luật và không ngừng tang cường pháp chế xã hội chủ nghĩa.Các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội,

Trang 4

đơn vị vũ trang nhân dân và mọi công dân phải nghiêm chỉnh chấp hành hiến pháp và pháp luật

Nguyên tắc pháp chế chi phối nhiều lĩnh vực khác nhau của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Trong lĩnh vực tổ chức hoạt động của bộ máy nhà nước, nguyên tắc này thể hiện ở

ba yêu câu sau:

Phải đảm bảo sự điều chỉnh pháp luật đối với toàn bộ hệ thống các cơ quan nhà nước về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn mối liên hệ nội tại giữa các cơ quan nhà nước cũng như mỗi liên hệ giữa các cơ quan nhà nước với tất cả các yếu tô khác trong hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa

Phải bảo đảm sự tuân thủ triệt để của tất cả các cơ quan nhà nước trong việc vận dụng, áp dụng pháp luật trong hoạt động quản lý xã hội Tất cả các văn bản do cơ quan nhà nước ban hành phải bảo đảm tuân thủ về thủ tục, trình tự luật định; tôn trọng yêu câu về tính hợp hiến, hợp pháp và tính thông nhất trong việc ban hành văn bản pháp luật

Phải xây dựng thiết chế đắm bảo việc tuân thủ các yêu cầu vừa nêu, kế cả việc xử lý những

tổ chức và cá nhân vi phạm

2 Hệ thông các cơ quan trong bộ máy nhà nước

Hệ thống các cơ quan nhà nước Là hệ thống các cơ quan được tổ chức và hoạt động theo những nguyên tắc chung thống nhất tạo thành một cơ chế đồng bộ để thực hiện các nhiệm vụ

và chức năng của Nhà nước

- Các loại cơ quan nhà nước

Cơ quan quyền lực nhà nước: Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất, HĐND là cơ quan quyên lực nhà nước ở địa phương

- Cơ quan hành chính Nhà nước:

Chính phủ, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc chính phủ, các UBND cấp tỉnh,

huyện và các cơ quan chuyên môn thuộc UBND

- Các cơ quan xét xử: TAND tối cao, TA quân sự, TAND địa phương, toà án đặc biệt và

Cơ quan nhà nước có những đặc điểm sau:

Là một tổ chức công quyên có tính độc lập tương đối đối với cơ quan nhà nước khác

Tính quyển lực nhà nước là đặc điểm cơ bản của cơ quan nhà nước làm cho nó khác với các tô chức khác

Thâm quyền của các cơ quan nhả nước có những giới hạn về không gian (lãnh thổ), \ về thời - gian có hiệu lực, về đối tượng chịu sự tác động Thâm quyên của cơ quan phụ thuộc vào ổịa vị pháp lý của nó trong bộ máy nhà nước Giới hạn thẩm quyền của cơ quan nhà nước là giới hạn pháp lý vì được pháp luật quy định

Mỗi cơ quan nhà nước có hình thức và phương pháp hoạt động riêng do pháp luật quy định Các cơ quan nhà nước

Quốc Hội: là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước CHXHCNVN; là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, Quốc hội do cử tri cả nước bầu ra theo chế độ bầu cử phô thông đầu phiếu, trực tiếp và bỏ phiếu kín Trong cơ cấu tô chức của QH còn có Hội đồng dân tộc và các Uỷ ban của Quốc hội

Uy ban thường vụ Quốc hội: Là cơ quan thường, trực của Quốc hội; UB Thường vụ Quốc hội do Quốc hội bâu ra và chịu trách nhiệm trước Quốc hội

Trang 5

Chủ tịch nước: Là người đứng đầu Nhà nước, thay mặt nước CHXHCNVN về đối nội và đối ngoại Chủ tịch nước do QH bầu ra trong số đại biểu QH, Chủ tịch nước chịu trách nhiệm

và báo cáo công tác trước QH

Chính phủ: Là cơ quan chấp hành của QH, cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước

- CHXNCNVN Cơ cầu I tổ chức của CP: Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc CP do QH quyết định thành lập, bãi miễn theo đề nghị của Thủ tướng CP Thành phần của CP: Thủ tướng CP, các Phó Thủ thướng CP, các Bộ trưởng và các thành viên khác của CP

Bộ, cơ quan ngang Bộ: Là cơ quan của CP thực hiện chức năng QLNN đối với ngành hoặc lĩnh vực công tác trong phạm vi cả nước; QLNN các dịch vụ công thuộc ngành, lĩnh vực HĐND: Là cơ quan quyên lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của ND do ND địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước ND địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên

UBND: Do HĐND bầu là cơ quan chấp hành của HĐND, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm chấp hành Hiến pháp, luật, các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên và NQ của HĐND

Toà án nhân dân: Là cơ quan xét xử của nước CHXHCNVN Chánh án TANDTC do QH bầu ra từ số đại biểu QH, chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước QH, trong thời gian QH không họp thì báo cáo công tác trước UB Thường vụ QH và Chủ tịch nước

Viện kiểm sát nhân dân: Có chức năng thực hành công tố; kiểm sát các hoạt động tư pháp Viện trưởng VKSNDTC do QH bầu ra, miền nhiệm, bãi nhiệm theo để nghị của Chủ tịch nước; chịu sự giám sát của Quốc hội, chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội; trong thời gian QHH không họp thì báo cáo trước UB Thường vụ QH và Chủ tịch nước

Trang 6

Chương 2:

NHUNG VAN DE CO BAN VE PHAP LUAT

I KHAI NIEM, DAC DIEM VA BAN CHAT CUA PHAP LUAT

1 Nguén gốc và khái niệm

Trải qua ba lần phân công lao động xã hội lớn làm cho chế độ tư hữu được hình thành và các giai câp đối lập nhau về quyền lợi Các tập quán, quy tắc xã hội nguyên thuỷ dần không đủ sức điều chỉnh quan hệ xã hội trong những điều kiện mới đó là sự đối kháng vê quyên lợi giữa cac gial cấp, nó đòi hỏi phải hình thành một hệ thống quy tắc xử sự thể hiện ý chí và bảo vệ lợi ích của giai cÁo thống trị, từ đó pháp luật ra đời

Về cơ bản, pháp luật được hình thành thông quan các con đường chủ yếu sau: tập quán pháp, tiền lệ pháp, văn bản pháp luật do các cơ quan nhà nước xây dựng và ban hành

Pháp luật là hệ thống những quy tắc xử sự do nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận và bảo đảm thực hiện, thể hiện ý chí của giai cap thống trị nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát triển phù hợp với lợi ích của giai câp mình

Theo hoc thuyét Mac — Lénin, phap luật chỉ tồn tại và phát triển trong xã hội có giai cấp Tính giai cấp thể hiện ở chỗ, pháp luật phản ánh ý chí nhà nước của giai cấp thông trị Nhờ năm trong tay quyền lực nhà nước, giai cập thống trị đã thông quan nhà nước thể hiện ý chí của giai cấp mình một cách tập trung, thống nhất và hợp pháp hoá thành ý chí của nhà nước, ý chí

đó được cụ thể hoá trong các văn bản pháp luật do các cơ quan nhà nước có thâm quyền ban hành và được nhà nước bảo đảm thực hiện Tính giai cấp thể hiện ở mực đích điều chỉnh các quan hệ xã hội, là việc điều chỉnh quan hệ giữa các giai cap, tầng lớp trong xã hội

Bên cạnh tính giai cấp, pháp luật còn thể hiện tính xã hội Pháp luật vừa thể hiện ý chí và bảo vệ lợi ich của giai cap thống trị xã hội, vừa là công cụ ghi nhận bảo vệ lợi ích các giai cấp, các tầng lớp xã hội khác vì mục đích ổn định và phát triển xã hội theo đường lỗi của giai cấp thống trị Lịch sử loài người đã trái qua bốn kiểu nhà nước, mỗi kiểu nhà nước đều có những đặc điểm và bản chất riêng về pháp luật cụ thê:

a Nhà nước chiếm hữu nô lệ

- Bản chất

Trong chế độ chiếm hữu nô lệ, tư liệu sản xuất và cả nguoi san xuất đều thuộc sở hữu của giai cấp chủ nô, đồng thời nhà nước lại nằm trong tay giai cap chủ nô nên ý chí của nhà nước thể hiện ý chí của giai cấp chủ nô Pháp luật thừa nhận chủ nô là công dân có đầy đủ quyền hành và lựoi ích còn nô lệ không được coi là công dân, họ không có thứ quyên nào cả, họ có thé bị bán, tặng cho, thậm chí bị giết tuỳ theo ý muốn của chủ nô

- Đặc điểm

Pháp luật chiếm hữu nô lệ củng cố quan hệ sản xuất hình thành trên cơ sở chế độ chiếm hữu của chủ nô đối với tư liệu sản xuất và đối với người sản xuất, hợp pháp hoá sự bóc lột không có giới hạn của chủ nô đối với nô lệ

Pháp luật chiêm hữu nô lệ ghi nhận và củng cố tình trạng không bình đẳng trong xã hội Pháp luật chiếm hữu nô lệ ghi nhận sự thông trị tuyệt đối của gia trưởng đối với vợ và các con trong gia đình

Pháp luật chiếm hữu nô lệ quy định những hình phạt rất đã man, tàn bạo

Trong pháp luật chiếm hữu nô lệ đối tượng điều chỉnh không được xác định rõ ràng

b Nhà nước phong kiến

- Bản chất

Tính giai cấp thể hiện ở chỗ ý chí của giai cấp phong kiến được đề lên thành luật, là công

cụ của nhà nước phong kiến nhằm bảo vệ lợi ích của giai cấp phong kiến Tính xã hội thể hiện

Trang 7

ở chỗ, pháp luật phong kiến là phương tiện mang tính quy phạm và bắt buộc chung để thực hiện việc quản lý xã hội trên các lĩnh vực, triển khái các công việc của xã hội

- Đặc điểm

Pháp luật phong kiến là pháp luật đặc quyên

Pháp luật phong kiến có nhiều quy tắc mang tính chất tôn giáo và đạo đức phong kiến Pháp luật phong kiến rất hà khắc và đã man

Pháp luật phong kiến thường tản mạn, không có tính thông nhất cao Điều này xuất phát từ tính mạnh mún, phân tán và khép kín của xã hội phong kiến

c Nhà nước tư sản

- Bán chất

Tính giai cấp thể hiện ở chỗ nó luôn luôn thể hiện ý chí và bảo vệ lợi ích của giai cấp tư sản Tính xã hội của pháp luật tư sản cũng thể hiện rõ nét [rước hết đó là việc áp dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật, công nghệ vào trong cuộc sống nên xã hội tư bản chủ nghĩa đã có những bước tiễn quan trọng cả về đời sông vật chất và tỉnh thần Nhận thức cũng như nhu cầu của con người tăng lên đặc biệt là những vẫn đề như: môi trường tự nhiên, việc làm, chăm sóc

Pháp luật tư sản ghi nhận và bảo đảm thực hiện nguyên tắc pháp chế trong tổ chức, hoạt động của nhà nước tư sản, của các tổ chức chính trị - xã hội trong hoạt động của công dân

d Nhà nước xã hội chủ nghĩa

Pháp luật xã hội chủ nghĩa do nhà nước xã hội chủ nghĩa, nhà nước dân chủ, thê hiện quyền lực của đông đảo nhân dân lao động ban hành và bảo đảm thực hiện

Pháp luật xã hội chủ nghĩa có quan hệ chặt chẽ với chế độ kinh tế xã hội chủ nghĩa

Pháp luật xã hội chủ nghĩa có quan hệ mật thiết với đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng cộng sản

Pháp luật xã hội chủ nghĩa có quan hệ chặt chẽ với các quy phạm xã hội khác trong chủ nghĩa xã hội

H QUY PHẠM PHÁP LUẬT VÀ QUAN HỆ PHÁP LUẬT

1 Quy phạm pháp luật

1.1 Khái niệm

Quy phạm pháp luật là quy tắc xử sự chung do Nhà nước ban hành và bảo đầm thực hiện

để điều chỉnh quan hệ xã hội theo những định hướng và nhằm đạt được những mục đích nhất định

1.2 Đặc điểm

Trang 8

Quy phạm pháp luật là quy tắc xử sử: đó là việc chỉ ra cách xử sử và xác định các phạm vi

xử sử của con người

Quy phạm pháp luật là tiêu chuẩn để xác định giới hạn và đánh giá hành vi của con người Quy phạm pháp luật do các cơ quan nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện

Quy phạm pháp luật là quy tắc xử sự chung

Quy phạm pháp luật là công cụ điều chỉnh quan hệ xã hội, mà nội dung của nó thường thể hiện là cho phép và bắt buộc

Chế tài: Là một phần của quy phạm pháp luật, nó chỉ ra các biện pháp mang tính chất trừng phạt mà các chủ thể có thâm quyền có thê áp dụng đối với các chủ thể vi phạm pháp luật, không thực hiện đúng mệnh lệnh của Nhà nước đã được nêu trong phần quy định của pháp luật

Là những quy phạm không bao gồm các bộ phận cấu thành là giả định, quy định, chế tài

Đó là những quy phạm pháp luật đặc biệt, thường gặp là: Quy phạm nguyên tắc được dùng làm

cơ sở xuất phát và tư tưởng chỉ đạo cho việc xây dựng và thi hành các quy phạm pháp luật khác Quy phạm định nghĩa xác định các đặc điểm, những thược tính cơ bản của sự vật hay

hiện tượng, hoặc những khái niệm, những phạm trù được xây dựng trong văn bản

1.4 Phương pháp diễn đạt

Một quy phạm pháp luật có thể được trình bày trong một điều luật

Trong một điều luật cũng có thể trình bày nhiều quy phạm pháp luật, những quy phạm này

có nội dung tương tự nhau hoặc cùng liên quan đến một vẫn đề

Thường khi trình bày một quy phạm, phần giả định trình bày trước sau đó mới đến phần quy định và chế tài, tuy nhiên trật tự nay cũng có thé thay đổi

Khi trình bày một điều luật, có thê trình bày đầy đủ các phần của quy phạm pháp luật nhưng cũng có trường hợp một phần nào đó của quy phạm lại được gới thiệu ở các điều khoản khác trong cùng văn bản pháp luật đó

{.5 Vai trò của quy phạm pháp luật

Trong hệ thống các quy phạm xã hội, quy phạm pháp luật giữ vị trí trung tâm, có vai trò quan trọng nhất Sở đĩ như vậy vì pháp luật có phạm vi điều chỉnh rộng, bao quát tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Quy phạm pháp luật có những ưu thế, sức mạnh vốn có mà các quy phạm xã hội khác không có Trong xã hội, các quy phạm xã hội khác về nguyên tắc là không được trái với pháp luật Hành vị của con người trong xã hội, các mỗi quan hệ giữa người với người về nguyên tắc được điều chỉnh bằng pháp luật

Là một loại quan hệ tư tưởng

Quan hệ pháp luật xuất hiện trên cơ sở quy phạm pháp luật

Trang 9

Nội dung của quan hệ pháp luật được cầu thành bởi các quyền và nghĩa vụ pháp lý mà việc thực hiện được đảm bảo bằng sự cưỡng chế nhà nước

Sự thực hiện quan hệ pháp luật được đảm bao bang su cưỡng chế của nhà nước, ngoài ra còn phụ thuộc vào ý thức tự giác, tự nguyện của các bên tham gia

Mang tính xác định

2.3 Phân loại

Căn cứ vào đối tượng và phương pháp điều chỉnh, quan hệ pháp luật được phân loại thành các nhóm lớn tương ứng với các ngành luật như: quan hệ pháp luật dân sự, quan hệ pháp luật hình sự

Căn c cứ vào cách thực hiện quyền và nghĩa vụ của chủ thể, quy phạm pháp luật được phân loại thành quan hệ pháp luật cụ thể và quan hệ pháp luật chung:

2.4 Cơ câu của quan hệ pháp luật

- Chủ thể của quan hệ pháp luật

Chủ thê của quan hệ pháp luật là những cá nhân hay tổ chức dựa trên cơ sở của các quy phạm pháp luật mà tham gia vào các quan hệ pháp luật, trở thành người mang các quyền và nghĩa vụ pháp lý cụ thé

Các loại chủ thể

Chủ thể quan hệ pháp luật bao gồm cá nhân và tổ chức

Cá nhân là chủ thê của quan hệ pháp luật bao gồm: công dân Việt Nam và nguoi nude ngoai cu tru, sinh sống và làm việc trên lãnh thổ Việt Nam

Một tổ chức cũng có thể là chủ thể của nhiều quan hệ pháp luật khác nhau Đó có thê là một cơ quan nhà nước, một tổ chức xã hội, một tổ chức kinh tế hoặc các bộ phận cấu thành các

cơ quan, tô chức đó

Pháp nhân chỉ xuất hiện khi nhà nước cho phép, tức là được nhà nước thừa nhận hoặc thành lập Tuy nhiên, không phải tổ chức nào do nhà nước thành lập hoặc thừa nhận cũng có

tư cách pháp nhân Điều 84 Bộ luật dân sự 2005 quy định pháp nhân phải đảm bảo các điều kiện sau :

Được thành lập hợp pháp

Có cơ câu tô chức chặt chế,

Phải có tài sản riêng

Nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập

- Nội dung của quan hệ pháp luật

Quyền chủ thể

Quyên chủ thê trong quan hệ pháp luật là khả năng của các cá nhân, tổ chức tham gia quan

hệ đó được quy phạm pháp luật quy định trước và được nhà nước bảo vệ băng sự cưỡng chê Nghĩa vụ pháp lý

Nghĩa vụ pháp lý là cách sử sự bắt buộc được quy phạm pháp luật xác định trước mà một bên của quan hệ pháp luật đó phải tiến hành nhằm đáp ứng quyên chủ thê của bên kia

- Khách thể của quan hệ pháp luật

Khách thể quan hệ pháp luật là những lợi ích vật chất, tỉnh thần và những lợi ích xã hội khác thoả mãn những nhu cầu, đòi hỏi của các tổ chức hoặc cá nhân mà vì chúng các chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật

Il HE THONG CAC VAN BAN QUY PHAM PHÁP' LUẬT

1 Khái niệm, đặc điểm

Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản do cơ quan Nhà nước có thấm quyền ban hành theo thủ tục, trình tự luật định, trong đó có các quy tắc xử sự chung được Nhà nước bảo đảm thực hiện nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội theo định hướng XHCN và được áp dụng nhiều lần trong thực tế đời sống Văn bản quy phạm pháp luật là một trong 3 hình thức pháp luật được giai cấp thống trị sử dụng để nâng ý chí của giai cấp thống trị sử dụng để nâng ý chí của giai cấp mình thành pháp luật là: tập quán pháp, tiền lệ pháp và văn bản quy phạm pháp luật Pháp

Trang 10

luật XHCN có bản chất khác với bản chất của các kiểu pháp luật trước đó, vì vậy nó cũng đòi hỏi phải có những hình thức biểu hiện phù hợp với bản chất đó

Văn bản quy phạm pháp luật có những đặc trưng sau:

- Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản đo cơ quan Nhà nước có thấm quyền ban hành, nghĩa là, không phải mọi văn bản đều có thê gọi là văn bản quy phạm pháp luật, mà chỉ những văn bản nào được cơ quan Nhà nước có thâm quyền ban hành mới có thể trở thành văn bản quy phạm pháp luật Đặc trưng này cân chú ý một số điểm như sau : Một là không phải bất

kỳ cơ quan nào trong bộ máy Nhà nước đều có thâm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật, mà chỉ có những cơ quan được pháp luật quy định mới có được thâm quyên này Hai là thâm quyền của các cơ quan ban hành văn bản quy phạm pháp luật quyết định nội dung điều chỉnh, phạm vi điều chỉnh và mức độ điều chỉnh của văn bản Ba là cơ chế phân công và phối hợp, phân cấp thâm quyền cũng như các nguyên tắc tập trung dân chủ và pháp chế trong tổ chức, hoạt động của cơ quan Nhà nước là yêu tố quy định sự hình thành một trật tư nghiêm ngặt về hiệu lực pháp lý của các văn bản

- Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản có chứa đựng quy tắc xử sự chung, được áp dụng đổi với mọi chủ thể của pháp luật Như vậy những văn bản mặc dù có ý nghĩa pháp lý nhưng không chứa đựng những quy tắc xử sự chung thì không phải là văn bản quy phạm pháp luật (ví dụ như Nhà nước XHCN co thé ra các văn bản mang tính chính trị như: Lời kêu £01, tuyên bố, thông báo, nghị quyết Các văn bản đó mặc dù có ý nghĩa pháp lý, nhưng không phải là văn bản quy phạm pháp luật) Đây là tiêu chí chủ yếu để phân biệt văn bản quy phạm pháp luật với các văn bản Nhà nước khác như văn bản áp dụng pháp luật, các loại giây tờ hành chính

- Văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng nhiều lần trong đời sống, được áp dụng trong mọi trường hợp khi có sự kiện pháp lý xảy ra Như vậy, các quy phạm pháp luật được áp dụng nhiều lần đối với một đối tượng hoặc một nhóm đối tượng có hiệu lực trong phạm vi toàn quôc hoặc trong từng địa phương, chỉ khi nào văn bản quy phạm pháp luật hết hiệu lực hoặc bị bãi bỏ do cơ quan có thậm quyền quyết định

- Văn bản quy phạm pháp luật có nhiều loại, mỗi loại từ tên gọi, nội dung, phạm vi điều - chỉnh, giá trị pháp lý, thủ tục, trình tự ban hành đều do luật định

- Văn bản quy phạm pháp luật được Nhà nước bảo đảm thi hành bằng các biện pháp như: tuyên truyền, giáo dục thuyết phục; các biện pháp về tổ chức hành chính, kinh tế Trong trường hợp cân thiết thì Nhà nước áp dụng bằng biện pháp cưỡng chế bắt buộc thi hành và quy định chế tài đối với người có hành vi vi phạm

2 Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật ở nước ta chia làm 2 loại cơ bản : văn bản luật và văn bản dưới luật

- Văn bản luật : là văn bản quy phạm pháp luật do Quốc Hội là cơ quan quyên lực Nhà nước cao nhất ban hành theo trình tự và thủ tục được quy định trong Hiến pháp Các văn bản này có giá trị pháp lý cao nhất Mọi văn bản khác (dưới luật) khi ban hành đều phải dựa trên cơ sở của văn bản luật và không được trái với các quy định trong các văn bản đó Văn bản gồm có : Hiến pháp, Luật (hoặc bộ luật), nghị quyết

Hiến pháp là văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp lý cao nhất, là nên tảng,

cơ sở dé ban hành các luật và văn bản dưới luật Hiến pháp quy định những vẫn đê cơ bản nhất

là nhà nước và xã hội như chế độ chính trị, chế độ kinh tế, văn hoá xã hội, quyên và nghĩa vụ

cơ bản của công dân, nguyên tắc tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước Các quy phạm Hiến pháp vừa bao quát các quan hệ XH mà pháp luật điều chỉnh lại vừa mang tính khái quát cao Do vậy, Hiến pháp như là “luật nguồn”, “luật mẹ”, “luật của các luật” để cơ quan nhà nước có thâm quyền dựa vào để ban hành các văn bản quy phạm khác, hình thành nên toàn bộ

toà nhà pháp lý

Trang 11

Luật hoặc bộ luật: Quốc hội nước ta giữ quyền ban hành hiến pháp, luật và bộ luật Chính

vì thế Quốc hội còn được gọi là cơ quan lập hiến, lập pháp Quốc hội ban hành luật, bộ luật căn

cứ vào các quy định Hiến pháp và để thực hiện quyên quyết định những chính sách cơ bản về đối nội và đỗi ngoại, nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quôc phòng, an ninh của đất nước, những nguyên tắc chủ yếu về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, về quan hệ xã hội và hội động của công dân thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước Luật, bộ luật đều có nguồn từ các quy định của Hiến pháp Nó chứa đựng các quy phạm pháp luật, là những văn bản có hiệu lực pháp lý sau hiến pháp, phù hợp với hiến pháp; vừa là văn bản cụ thê hóa Hiến pháp, bảo đảm cho Hiến pháp được thực hiện, vừa là cơ sở cho các cơ quan có thẩm quyền ban hành các văn bản quy phạm PL để thực hiện quản lý các lĩnh vực của đời sống XH

Pháp lệnh: Do UBT'VQH ban hành; Pháp lệnh chỉ quy định những vấn đề cụ thể do Quốc hội quyết định và giao ủy quyền, trên cơ sở chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc Hội Vì thế, pháp lệnh là văn bản lập pháp ủy quyên, thuộc phạm trù lập pháp Đó thường là các vấn đề có ý nghĩa cấp bách, những vân đề mới, không én định, còn thiểu kinh nghiệm thực tiễn mà chưa có điều kiện để điều chỉnh bằng luật hoặc chưa cần thiết phải điều chỉnh bằng luật Thực tiễn lập pháp cho thấy, Quốc hội khóa VI, IX, X và hiện nay là Quốc hội khóa XI đều giao cho UB Thường vụ Quốc hội ban hành pháp lệnh để quy định những vấn đẻ thuộc phạm vi quy định của luật nhưng chưa đủ điều kiện ban hành luật Hiệu lực của Pháp lệnh thấp hơn luật

Bên cạnh việc ban hành luật và pháp lệnh, Quốc hội và UB Thường vụ Quốc hội còn ra nghị quyết Có thể coi nghị quyết là văn bản có tính quy phạm hoặc văn bản quy phạm bởi nó

có hiệu lực pháp lý như luật, pháp lệnh và nội dung, nghị quyết thể hiện quyết định quan trọng của Quốc hội đối với kế hoạch phát triển KT-XH, các chính sách cơ bản vệ tài chính, tiền

tệ quốc gia, dân tộc, tôn giáo, đối ngoại, an ninh, quốc phòng, về ngân sách nhà nước, phê chuẩn các điều ước quốc tế

- Văn bản dưới luật : Văn bản dưới luật là những văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan Nhà nước ban hành theo trình tự, thủ tục và hình thức được pháp luật qui định Những văn bản này có giá trị pháp lý thấp hơn các văn bản luật, vì vậy khi ban hành phải chú ý sao cho những quy định của chúng phải phù hợp với những qui định của Hiến pháp và Luật

Văn bản lập quy của cơ quan hành chính nhà nước TW, bao gồm: văn bản của chính phủ (nghị quyết, nghị định), của thủ tướng chính phủ (quyết định, chỉ thị) và quyết định, chỉ thị, thông tư của Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ

Các văn bản trên tạo thành hệ thống thể chế của nền hành chính quốc gia, vừa là văn bản cụ thể hoá văn bản lập pháp, vừa đặc cơ sở pháp lý trực tiếp cho tổ chức và hoạt động của nên hành chính, thực hiện quản lý hành chính đối với mọi lĩnh vực của đời sống XH

Văn bản lập quy của cơ quan tư pháp (Toà án, VKS) Hội đồng thắm phán TAND tdi cao

ra nghị quyết dé hướng, dẫn các toà án áp dụng thống nhất pháp luật, tổng kết kinh nghiệm xét

xử Chánh án TAND tối cao, Viện trưởng VKSND tối cao ra quyết định, thông tư, chỉ thị để qui định các biện pháp báo đảm thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của ngành; quy định những vấn đề khác thuộc thâm quyên của mình

Van bản lập quy của chính quyền địa phương (HĐND và UBND) HĐND ra nghị quyết để quyết định những vẫn đề xây dụng địa phương vững mạnh bảo đảm thí hành nghiêm chỉnh hiển pháp, luật, pháp lệnh, các nghị quyết của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội và các văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan hành chính cấp trên UBND ra quyết định, chỉ thị để

tổ chức thực hiện nghị quyết của HĐND cùng cấp và thực hiện chức năng của cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương

Các văn bản quy phạm pháp luật liên tịch: các cơ quan nhà nước có thâm quyền không chỉ

tự mình ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, mà còn phôi hợp với các cơ quan, tổ chức

để ban hành văn bản, gọi là văn bản liên tịch Nội dung của văn bản loại này quy định liên

Trang 12

quan đến chức năng, nhiệm vụ của nhiều cấp, nhiều ngành, nhiều tổ chức chính trị - xã hội Có

3 loại văn bản liên tịch sau: Thông tư liên tịch giữa các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc chính phủ; Thông tư liên tịch giữa Tòa án NDTC với Viện kiểm sát nhân đân tối cao hoặc giữa các cơ quan này với bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; Nghị quyết, thông

tư liên tịch giữa cơ quan Nhà nước có thâm quyền với cơ quan trung ương của tô chức chính trị

- xã hội

3 Hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật

Để mỗi văn bản quy phạm pháp luật được ban hành đi vào cuộc sống có thể phát huy tác dụng, bảo đảm hiệu lực thực tế và hiệu quả điều chỉnh của văn bản, thì cân phải xác định rõ, chính xác giới hạn hiệu lực của văn bản cả về thời gian, không gian và đối tượng thi hành Đó cũng là điều kiện để thiết lập một trật tự thứ bậc nghiêm ngặt về hiệu lực giữa các văn bản, bảo đảm hình thành được một hệ thống văn bản quy phạm PL có tính thống nhất cao

Hiệu lực về thời gian của môi văn bản quy phạm pháp luật là giới hạn phạm vi tác động của văn bản vẻ thời gian, được tính thời điểm phát sinh hiệu lực cho đến khi chấm dứt hiệu lực của văn bản Thông thường, một văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực từ ngày công bé va hết hiệu lực khi có văn bản khác thay thế hoặc hủy bỏ Một số văn bản ghi rõ thời điểm phát sinh và chấm dứt hiệu lực, những văn bản này mặc nhiên hết hiệu lực khi đến thời điểm đã ghi trong văn bản Cá biệt, một số văn bản quy phạm PL có hiệu lực sau ngày công bố một thời gian, hoặc có những quy định có hiệu lực trước ngày công bố văn bản (gọi là hiệu lực hồi tố)

và các trường hợp này được được ghi rõ trong văn bản

Hiệu lực về không gian của văn bản quy phạm pháp luật là giới hạn phạm vi tác động của văn bản về mặt không gian, có thể là toàn bộ lãnh thế quốc qua, một vùng hoặc một địa phương nhất định Việc xác định hiệu lực không gian có thể dựa vào căn cứ: Dựa vào điều khoản xác định hiệu lực không gian văn bản; đối với các văn bản quy phạm pháp luật không có điều khoản xác định hiệu lực không gian thì phải dựa vào thâm quyền cơ quan ban hành và nội dung văn bản để xác định hiệu lực không gian Cá biệt có văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực ngoài lãnh thé Thi du như những viên chức Nhà nước công tác ngoại giao ở nước ngoài vẫn phải chịu sự điều chỉnh của pháp luật Việt Nam

Hiệu lực theo đối tượng thi hành (áp dụng) văn bản quy phạp PL là giới hạn phạm vi các cơ quan, tổ chức, cá nhân có nghĩa vụ thi hành Thông thường các văn bản pháp luật tác động đến tật cả các đối tượng nằm trong lãnh thổ mà văn bản đó có hiệu lực về thời gian và không gian Phu hop voi điều đó, các văn bản quy phạm pháp luật của nước ta được ban hành nhăm tác động đến công dân Việt Nam; tuy nhiên, trong những trường hợp nhất định, pháp luật Việt Nam còn có hiệu lực đối với người nước ngoài, người không quôc tịch cư trú trên lãnh thổ Việt Nam, trừ những trường hợp pháp luật của Việt Nam hoặc điều ước quốc tế mà Việt Nam có ký kết hoặc tham gia có quy định khác Cá biệt những văn bản quy phạm PL chỉ tác động điều chỉnh đến một số đối tượng nhất định (trong một số ngành nghề, lãnh vực), trong những trường hợp này thường được ghi rõ trong văn bản

_IV THUC HIEN PHAP LUAT, VI PHAM PHAP LUAT VA TRACH NHIEM PHAP

Hành vi thực hiện pháp luật là những xử sự (hành động hoặc không hành động) của các chủ thể pháp luật (các cá nhân, tổ chức) phù hợp với những yêu cầu của các quy phạm pháp luật, có ích cho xã hội, nhà nước và cá nhân

Trang 13

1.2 Các hình thức thực hiện pháp luật

Tuân rhủ pháp luật là hình thức thực hiện những quy phạm pháp luật mang tính chất ngăn cắm bằng hành vi thụ động, trong đó chủ thể pháp luật kiềm chế không làm những việc mà pháp luật cắm Ví dụ: một công dân không thực hiện những hành vi tội phạm được quy định trong bộ luật hình sự, tức là công dân đó tuân thủ những quy định trong bộ luật hình sự này Thị hành pháp luật là hình thức thực hiện những quy định trao nghĩa vụ bắt buộc của pháp luật một cách tích cực trong đó các chủ thể thực hiện nghĩa vụ bằng những hành động tích cực

Ví dụ: một người thấy những người khác đang lâm vào tình trạng nguy hiểm đến tính mạng và người đó đã cứu giúp, tức là người đó đã bằng hành động tích cực thi hành quy định về nghĩa

vụ công dân của pháp luật nói chung và của luật hình sự nói riêng

Sử dụng pháp luật là hình thức thực hiện những quy định về quyên chủ thể của pháp luật, trong đó các chủ thể pháp luật chủ động, tự mình quyết định việc thực hiện hay không thực hiện mà điều pháp luật cho phép Ví dụ: việc thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo

Áp dụng pháp luật là hình thức thực hiện pháp luật đặc biệt quan trọng Nhà nước thông qua các cơ quan có thẩm quyền hoặc nhà chức trách tổ chức cho các chủ thể thực hiện những quy định của pháp luật .Hinh thức này luôn luôn có sự tham gia của nhà nước

1.3 Các quy đinh về áp dụng pháp luật

Áp dụng pháp luật là hình thức thực hiện pháp luật trong đó có nhà nước (thông qua cơ quan hoặc người có thâm quyển) tô chức cho các chủ thể khác thực hiện pháp luật Khi xảy ra các trường hợp sau đây thì phải tiến hành hoạt động á áp dụng pháp luật

Một là, khi có vi phạm pháp luật xảy ra

Hai là, khi có tranh chấp về quyền và nghĩa vụ pháp lý mà các chủ thê không tự giải quyết được

Ba là, khi các quy định của pháp luật không thể mặc nhiên được thực hiện bởi các chủ thể khác nêu không có sự can thiệp mang tính tô chức của nhà nước

Bốn là, trong trường hợp nhà nước thấy cần thiết phải tham gia vào một số quan hệ pháp luật cụ thể với mục đích kiểm tra, giám sát nhằm bảo đảm đúng đắn của hành vi các chủ thê Các giai đoạn áp dụng pháp luật

- Xác định đặc trưng pháp lý, tầm quan trọng c của những tình tiết cụ thể của sự việc cần giải

- Soạn thảo và ban hành quyết định áp dụng: pháp luật

_ Đây là giai đoạn trung tâm của hoạt động ap dung pháp luật là giai đoạn mang tính pháp lý nhất: Quyết định á áp dụng pháp luật làm phát sinh quan hệ pháp luật, ân định quyền và nghĩa vụ pháp lý cụ thể của các bên tham gia quan hệ pháp luật đó

Quyết định áp dụng pháp luật có những đặc điểm sau: _

Là một yếu tô cuối cùng và mẫu chốt nhất của sự kiện pháp lý phức tạp làm phát sinh quan

hệ pháp luật

Luôn mang tính chất cụ thể và cá biệt, vì Ì được ban hành chỉ de giải quyết những trường hợp cá biệt - cụ thẻ

Chỉ được thực hiện một lần và sẽ chấm đứt hiệu lực khi được thực hiện

Được thể hiện không chỉ dưới hình thức văn bản mà có thê bằng miệng

Thông thường được ban hành bằng một thủ tục chặt chẽ và cụ thể

- Thực hiện quuyết định áp dụng pháp luật

Trang 14

Quyết định áp dụng pháp luật cũng phải được thị hành thì mới có ý nghĩa thực tế Trách nhiệm thi hành trước hết của những đối tượng có liên quan được chỉ rõ trong quyết định đó, nhưng các cơ quan ban hành cũng như những cơ quan có liên quan khác có trách nhiệm bảo đảm việc thi hành quyết định

2 Vi phạm pháp luật

2 1 Khái niệm và đặc điểm

Vĩ phạm pháp luật là hành vi trái pháp luật xâm hại các quan hệ xã hội được pháp luật bảo

vệ đo các chủ thê có năng lực hành vi thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý gây hậu quả thiệt hại

cho xã hội

Vi phạm pháp luật là một hiện tương xã hội có những đặc điểm cơ bản sau :

Vi phạm phạm pháp luật luôn là một hành vi của cá nhân hoặc tô chức cụ thể, được thê hiện dưới dạng hành động hay không hành động

Vị phạm pháp luật là hành vi trái pháp luật, gây nguy hiểm cho xã hội Không có hành vi nguy hiểm cho xã hội, con người thì không có vi phạm pháp luật

Vi phạm pháp luật là hành vi trái pháp luật xâm hại đến các quan hệ xã hội được pháp luật

xác lập và bảo vệ

VI phạm pháp luật là hành vi có lỗi

Chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lý

2.2 Cấu thành vi phạm pháp luật

- Mặt khách quan của vi phạm pháp luật

Mặt khách quan của vi phạm pháp luật là toàn bộ những dấu hiệu bên ngoài của nó, bao gồm: hành vi trái pháp luật, hậu quả do hành vi trái pháp luật gây ra cho xã hội, mỗi quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật với hậu quả mà nó gây ra cho xã hội

- Mặt chủ quan của vi phạm pháp luật

Lỗi của chủ thê vi phạm pháp luật: lỗi là trạng thái tâm lý phản ánh thái độ tiêu cực của chủ thê đối với hành vi trái pháp luật của mình, cũng như đối với hậu quả của hành vi đó, tại thời điểm thực hiện hành vi đó Phụ thuộc vào mức độ tiêu cực trong thái độ của chủ thé khoa học pháp lý chia lỗi ra thành hai loại : lỗi cô ý và lỗi vô ý

Lỗi cô ý: cố trực tiếp, cô ý gián tiếp

Lỗi vô ý : vô ý vì quá tự tin, vô y do cau tha

Động cơ vi phạm: là cái thúc đây chủ thê thực hiện hành vi vi phạm pháp luật Động cơ đó

có thể là vụ lợi, trả thù, đê hèn

Mục đích vi phạm: mục đích là kết quả cuối cùng trong suy nghĩ của mình mà chủ thể mong muốn đạt được khi thực hiện hành vi vi phạm pháp luật

- Chủ thể vi phạm pháp luật

Chủ thê vi phạm pháp luật có thể là cá nhân hoặc pháp nhân có năng lực trách nhiệm pháp

lý Hành vi trái pháp luật có lỗi mới là vi phạm pháp luật, vì vậy, chủ thể của vi phạm pháp luật phải là người có năng lực hành vi

- Khách thê của vi phạm pháp luật

Khách thê của ví phạm pháp luật là các quan hệ xã hội được pháp luật điều chính và bảo vệ

bị hành vi vi phạm pháp luật xâm hại tới và gây ra các thiệt hại hoặc đe doạ trực tiếp gây thiệt

Trang 15

3.1 Khái niệm, đặc điểm của trách nhiệm pháp lý

Trách nhiệm pháp lý là sự phản ứng tiêu cực của nhà nước đối với chủ thể thực hiện vi phạm pháp luật Sự phản ứng đó thể hiện ở việc áp dụng đối với các chủ thể thực hiện vi phạm pháp luật các biện pháp mang tính chất trừng phạt hoặc khôi phục lại những quyên và lợi ích hợp pháp bị xâm hại, gây cho chủ thể vi phạm pháp luật những thiệt hại nhất định về vật chất hoặc tịnh thân Do đó trách nhiệm pháp lý thể hiện sự đánh giá xấu và sự lên án của nhà nước

và xã hội đối với hành vi vi phạm pháp luật và chủ thé thực hiện hành vi đó

Trách nhiệm pháp lý có các đặc điểm sau:

Cơ sở thực tế của trách nhiệm pháp lý là vi phạm pháp luật: Chỉ khi có vi phạm pháp luật mới áp dụng trách nhiệm pháp lý

Cơ sở pháp lý của việc truy cứu trách nhiệm pháp lý là quyết định do cơ quan nhà nước hoặc người có thâm quyền ban hành trên cơ sở xem xét, giải quyết vụ việc vi phạm đã có hiệu lực pháp luật

Các biện pháp trách nhiệm pháp lý là một loại biện pháp cưỡng chế nhà nước đặc thù: Mang tính chất trừng phạt hoặc khôi phục lại những quyên và lợi bị xâm phạm và đồng thời được áp dụng chỉ trên cơ sở những quyết định của cơ quan hoặc người có thâm quyên

3.2 Các loại trách nhiệm pháp lý

Thông thường khoa học pháp lý căn cứ vào các loại vi phạm pháp luật hình sự, hành chính, dân sự, kỷ luật để phân chia các loai biện pháp trách nhiệm pháp lý là: trách nhiệm hình sự, trách nhiệm hành chính, trách nhiệm kỷ luật, trách nhiệm dân sự và trách nhiệm vật chất của cán bộ, công chức đối với tài sản của nhà nước

Trách nhiệm hình sự nghiêm khắc nhất Theo pháp luật Việt Nam trong những biện pháp trách nhiệm hình sự có cả biện pháp phạt tù chung thân, hoặc tử hình, theo nguyên tắc chung, chỉ toà án mới có quyển xét sử tội phạm và ra các bản án hình Sự

Trách nhiệm hành chính là dạng trách nhiệm áp dụng đối với hành vi ít nguy hiểm hơn tội phạm nên hình phạt chính là cảnh cáo hay phạt tiền, thủ tục xử lý cũng đơn giản và có nhiều cơ quan (chủ yếu là cơ quan hành chính - nhà TƯỚC) CÓ quyền ra quyết định xử phat

Trách nhiệm dân sự chủ yếu mang tính chất bồi hoàn về những thiệt hại mà các bên đã gây

ra do vi phạm nghĩa vụ trong quan hệ dân sự mà toà án hoặc cơ quan nhà nước nêu đứng ra xử

lý thì chỉ với tư cách trọng tài, tuy nhiên phán xét của nó mang tính bắt buộc thi hành

Trách nhiệm kỷ luật do được áp dụng đôi với những vi phạm kỷ luật trong nội bộ cơ quan,

tổ chức nhà nước hoặc tổ chức kinh tế “phi nhà nước” nên biện pháp xử lý mang tính chất riêng: khiến trách cảnh cáo hay đình chỉ công tác buộc thôi việc hoặc chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn (sa thải) do cơ quan chủ quản áp dụng đối với đương sự

Trách nhiệm vật chất là một loại biện pháp trách nhiệm pháp lý đặc biệt Nội dung của đạng trách nhiệm này thê hiện ở việc công chức nhà nước và người lao động khác phải bồi hoàn cho nhà nước, người sử dụng lao động khác thiệt hại do hành vi trái pháp luật của mình

đã gây ra cho nhà nước hoặc tổ chức khác

và pháp luật cần phải có, thể hiện sự đánh giá về tính hợp pháp hay không hợp pháp trong hành

vị Xử sử của con người, cũng như trong tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước và các

tổ chức xã hội

- Đặc điểm

Ý thức pháp luật là một hình thái ý thức xã hội, luôn chịu sự quy định của tôn tại xã hội

Trang 16

Ý thức pháp luật mang tính kế thừa, nó phản ánh tồn tại xã hội trong một thời đại nào đó nhưng đồng, thời nó cũng kế thừa những yếu tô nhất định của ý thức pháp luật thời đại trước

đó, những yếu tố kế thừa có thé 1a tiến bộ hay không tiến bộ

Ý thức pháp luật là một hiện tượng mang tính giai cấp

- Câu trúc và phân loại ý thức pháp luật

Căn cứ vào nội dung, tính chất của các bộ phận hợp thành, ý thức pháp luật được cầu thành

từ hệ tư tưởng pháp luật và tâm lý pháp luật

Phân loại ý thức pháp luật

Căn cứ vào cấp độ và giới hạn nhận thức, ý thức pháp luật được chia thành ý thức pháp luật thông thường và ý thức pháp luật có tính lý luận

Căn cứ vào chủ thê của ý thức pháp luật, ý thức pháp luật được chia thành: ý thức pháp luật

xã hội, y thức pháp luật nhóm, ý thức pháp luật cá nhân

- Mỗi quan hệ giữa ý thức pháp luật và pháp luật

Ý thức pháp luật là tiền để tư tưởng trực tiếp để xây dựng và hoàn thiện hệ thông pháp luật

Ý thức pháp luật là nhân tố thức đây việc thực hiện pháp luật trong đời sông xã hội

Ý thức pháp luật là cơ sở đảm bảo cho việc áp dụng đúng đắn các quy phạm pháp luật Pháp luật cũng tác động trở lại đối với ý thức pháp luật

Pháp luật là hệ thông các quy phạm (quy tắc xử sự) do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận

để điều chỉnh các quan hệ xã hội Như vậy, có pháp luật rồi mới có pháp chế - pháp luật là tiền

đề của pháp chê

Khái niệm pháp chế còn được hiểu là phương pháp, chễ độ quản lý xã hội, là nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước và cả hệ thống chính trị, cũng là nguyên tắc xử sự của mọi công dân

- Các nguyên tặc của pháp chế

Bảo đảm tính thống nhất của pháp chế, tính tối cao của hiến pháp và các đạo luật: Pháp luật phải được nhận thức và thực hiện thống nhất trên toàn bộ lãnh thổ quốc gia và ở tất cả các ngành, các lĩnh vực

Mọi chủ thể đều có nghĩa vụ phải chấp hành pháp luật, bình đẳng trước pháp luật: Hình phạt đối với những chủ thê vi phạm pháp luật, cũng như quyên và nghĩa vụ của họ là như nhau, không phân biệt đăng cấp, nguồn gốc xuất thân, địa vị xã hội, nòi giông, tín ngưỡng

Phát hiện, ngăn chặn kịp thời và xử lý nhanh chóng, công minh mọi vi phạm pháp luật tức là pháp chế phải nghiêm minh

Thiết lập cơ chế đề công dân thực hiện các quyên tự do đã được pháp luật ghi nhận và bảo

VỆ các quyên tự do đó trước các vi phạm

Tính thống nhất của pháp chế phù "hợp hài hoà với tính hợp lý

3, Công tác đấu tranh phòng chống vi phạm pháp luật

Thời gian qua tình hình thế giới, khu vực có nhiều biến động phức tạp, kinh tế - xã hội của đất nude gap nhiêu khó khăn, nhưng Chính phủ, Viện kiểm sát nhân dân và Tòa án nhân dân

đã nỗ lực triển khai nhiều biện pháp đầu tranh phòng, chống có hiệu quả vi phạm pháp luật và tội phạm; công tác điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án có chuyên biến tích cực, bảo đảm giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, góp phần quan trọng vào việc duy trì ổn định và phát triển kinh tế - xã hội

Trang 17

Tuy nhiên, công tác phòng ngừa, chống vi phạm pháp luật và tội phạm, phòng, chống tham những, công tác điều tra, truy tổ, xét xử và thi hành án còn có những hạn chế Tình hình vi phạm pháp luật và tội phạm, tham những còn diễn biến phức tạp, trên một số lĩnh vực có xu hướng gia tăng, nghiêm trọng hơn cả về quy mô và tính chất Công tác phát hiện, xử lý vi phạm pháp luật và tội phạm, tham những hiệu quả chưa cao, hiệu lực răn đe, phòng ngừa thấp Tiến độ và chất lượng giải quyết nhiều vụ án, nhất là các vụ án về kinh tế, tham những lớn, trọng điểm còn kéo dài, chưa nghiêm minh Tranh tụng tại phiên tòa còn hạn chế Việc xem xét, giải quyết đơn đề nghị giám đốc thẩm, tái thẩm dân sự chuyển biến chậm Số bán án, quyết định về dân sự chưa được thi hành còn khá lớn Số người bị kết án phạt tù trên ngoài xã hội chưa truy bắt được còn nhiều; hiệu quả công tác giáo dục, cải tạo phạm nhân còn những hạn chế, số người tái phạm còn cao Nhiều văn bán quy định chỉ tiết và hướng dẫn thi hành pháp luật chậm được ban hành Tình trạng thiếu cán bộ có chức danh tư pháp, nhất là tại các tỉnh phía Nam, Tây Nguyên và miền núi phía Bắc kéo dài nhiều năm chưa được khắc phục Năng lực và trách nhiệm của một bộ phận cán bộ tư pháp còn yếu, nhiều trường hợp tiêu cực, sa sút phẩm chất đạo đức, vi phạm pháp luật, một số trường hợp phải xử lý hình sự

Những việc cần làm để phòng chéng vi phạm pháp luật:

- Các cấp ủy đảng, chính quyên từ Trung ương đến cơ sở phải quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo công tác phòng, chống vi phạm pháp luật, xác định công tác này là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, thường xuyên của mình; đề ra các nghị quyết, chương trình để thực hiện có hiệu quả các chủ trương, kế hoạch phòng, chống tội phạm; định kỳ sơ kết, tổng kết, đánh giá tình hình, kết quả thực hiện; tăng cường đôn đốc, kiểm tra, thanh tra, kịp thời giải quyết, tháo gỡ những khó khăn, vướng mặc trong quá trình phòng, chồng tội phạm Người đứng đầu cấp ủy đảng và chính quyên các cấp phải chịu trách nhiệm trước hết về tình hình tội phạm và tổ chức thực hiện công tác phòng, chống tội phạm ở ngành, địa phương mình

Mỗi cán bộ, đảng viên có trách nhiệm thực hiện và tuyên truyện, vận động gia đình thực hiện pháp luật liên quan đến công tác phòng, chong tội phạm Kết quả thực hiện | cong tac phòng, chống tội phạm là một trong những tiêu chí để bình xét, phân loại đối với mỗi tổ chức đẳng và đảng viên Chú trọng phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý kiên quyết những cán bộ, đảng viên bao che, dung túng tội phạm hoặc có biểu hiện tiêu cực trong công tác này Cán bộ, đảng viên có vợ (hoặc chông), con bị xử lý hình sự thì tùy theo mức độ liên đới phải xem xét khi dé bạt, bố nhiệm, giới thiệu ứng cử vào các chức vụ lãnh đạo hoặc miễn nhiệm, cách chức nếu cán

bộ, đảng viên đó đang giữ chức vụ lãnh đạo

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về an ninh, trật tự an toàn xã hội; thực hiện tốt công tác thông kê tội phạm và ban hành quy chế thâm định về bảo đâm an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự an toàn xã hội đối với các dự án phát triển kinh tế - xã hội quan trọng

- Huy động sự tham gia rộng rãi, tích cực của các tổ chức quần chúng và nhân dân vào công tác phòng, chồng vi phạm pháp luật Nâng cao hiệu quả phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc; củng cô và tiếp tục xây dựng thé trận an ninh nhân dân, nhất là ở các thành phó, thị xã lớn, tuyến biên giới trên bộ và trên biển Tổ chức cam kết, glao ước thi đua xây dựng gia đình, địa bàn dân cư, xã, phường, thị trấn, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp, trường học bảo đảm an toàn về an ninh, trật tự Xây dựng và nhân rộng các mô hình phòng, chống tội phạm có hiệu quả, các điển hình tiên tiến Vận động nhân dân tích cực tắn công trấn áp tội phạm, truy bắt các đối tượng bị truy nã nhưng đang lân trốn Kịp thời động viên, khen thưởng những tập thể, cá nhân đã đóng góp tích cực trong việc phát hiện, điều tra tội phạm Có chính sách bảo vệ

cá nhân và gia đình những người tham gia làm công tác phòng, chống tội phạm Có chính sách

hỗ trợ thỏa đáng đối với các tập thé, cá nhân bị thương, hy sinh hoặc bị thiệt hại về tài sản khi tham gia công tác này

Tăng cường và đổi mới công tác cảm hóa, giáo dục, giúp đỡ những người phạm tội được đặc xá, tha tù, người mắc tệ nạn xã hội tại cộng đồng và tại các trại giam, cơ sở chữa bệnh, cơ

Trang 18

sở giáo dục, trường giáo dưỡng với những hình thức phù hợp Quan tâm hỗ trợ những người lầm lỗi đã cải tạo tốt để sớm én định cuộc sống, tái hòa nhập với cộng đồng

- Củng cố, nâng cao năng lực của lực lượng trực tiếp chống tội phạm từ Trung ương đến co

sở theo hướng tập trung, chuyên sâu, phân định rõ trách nhiệm, có khả năng thực hiện tốt nhiệm vụ được giao Tập trung đầu tư trang thiết bị, kỹ thuật nghiệp vụ chuyên dùng cho công tác chống vi phạm pháp luật Tăng cường năng lực các cơ sở đào tạo cán bộ chống tội phạm thuộc các bộ, ngành chuyên môn Xây dựng chiến lược đào tạo đội ngũ cán bộ chồng tội phạm vững vàng về chính trị, có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ đáp ứng tốt yêu cầu của công tác này Ban hành chế độ phụ cấp đối với những cán bộ kiêm nhiệm, những người không hưởng lương từ ngân sách nhà nước tham gia công tác phòng, chống tội phạm

Xây dựng lực lượng Công an nhân dân trong sạch, vũng mạnh để làm tốt hơn nữa vai trò nòng cốt trong công tác phòng, chống tội phạm

- Tiếp tục đây mạnh cải cách tư pháp, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác điều tra, truy

tổ, xét xử, thi hành án hình sự nhằm phát hiện kịp thời và xử lý nghiêm minh mọi hành vi phạm tội, không bỏ lọt tội phạm và không làm oan người vô tội

- Đây mạnh công tác tuyên truyén, giáo dục về đạo đức, lối sông, về pháp luật phòng, chống vi phạm pháp luật với nhiều hình thức phong phú, sinh động để xây dựng lối sống lành mạnh, nâng cao phẩm chất đạo đức và ý thức chấp hành pháp luật trong cán bộ, nhân dân, góp phần hạn chế tội phạm và đấu tranh có hiệu quả với những hành vi phạm tội Các cơ quan thông tin đại chúng cân tích cực tham la vào việc phát hiện vi phạm, tội phạm; biểu dương những tắm gương tích cực phòng, chống tội phạm; phê phán những hành vi tiêu cực, tham nhũng, vô trách nhiệm trong công tác này

- Đây mạnh công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật phòng, chống tội phạm; nghiên cứu xây dựng, sớm ban hành các văn bản pháp luật đáp ứng với đòi hỏi của tình hình mới

- Tăng mức đầu tư từ ngân sách nhà nước, tích cực {ranh thủ các nguồn lực khác; có cơ chế, chính sách phù hợp để huy động sự đóng góp kinh phí của các tô chức xã hội, doanh nghiệp và nhân dân cho công tác phòng, chống tội phạm Xây dựng Quỹ phòng, chong vi phạm pháp luật

- Đây mạnh nghiên cứu khoa học và ứng dụng thành tựu tiên tiễn về khoa học, công nghệ trong công tác phòng, chống vi phạm pháp luật

- Mở rộng quan hệ hợp tác quôc tế trong công tác phòng, chồng vi phạm pháp luật, trước hết là với các nước láng giéng, các nước có quan hệ truyền thống, các nước trong khu vực ASEAN Tổ chức thực hiện tốt các Công ước quốc tế, Hiệp định tương trợ tu pháp, Hiệp định hợp tác phòng, chống tội phạm mà Nhà nước ta đã ký kết hoặc gia nhập Tiếp tục nghiên cứu tham gia, ký kết các Điều ước quốc tế khác liên quan đến công tác phòng, chống vi phạm pháp luật

Trang 19

H ĐỐI TUONG DIEU CHỈNH

Điều chỉnh những nhóm quan hệ tài sản phát sinh trong quá trình sản xuất, phân phối, lưu thông, tiêu thụ sản phẩm hành hoá và quan hệ nhân thân phi tài sản nhằm thỏa mãn nhu cầu về vật chất và tinh than ngày càng tăng của các thành viên trong xã hộ

- Quan hệ tài sản:

Quan hệ tài sản là quan hệ giữa người với người thông qua một tài sản Quan hệ tài sản bao giờ cũng gắn với một tài sản nhất định được thể hiện dưới dạng này hay dạng khác.Tài sản (được khái quát chung ở Điều 163 BLDS nam 2005) bao gồm: Vật, tiền, giầy tờ có giá và các quyên tài sản Quan niệm về tài sản không chỉ bó hẹp ở những vật vô tri mà còn hàm chứa nội dung xã hội là những quan hệ xã hội liên quan đến một tài sản,

Tài sản không chỉ bao gồm vật thuộc về ai, do ai chiếm hữu, sử dụng, định đoạt mà còn bao gồm cả việc dịch chuyển những tài sản đó từ chú thé nay sang chu thể khác, quyền yêu cầu của một hay nhiều chủ thể và nghĩa vụ tương ứng với các quyên yêu cầu đó của một hay nhiều chủ thê khác trong quan hệ nghĩa vụ cũng được coi là tài sản Quan hệ tài sản rất đa dạng và phức tạp bởi các yếu tố cấu thành nên các quan hệ đó bao gồm: chú thể tham gia, khách thể được tác động và nội dung của các quan hệ đó

Quan hệ tài sản phát sinh giữa các chủ thể là những quan hệ kinh tế cụ thể trong quá trình sản xuất, phân phối, lưu thông và tiêu thụ sản phẩm cũng như cung ứng dịch vụ trong xã hội Quan hệ tài sản luôn gắn liền với quan hệ sản xuất và phù hợp với quan hệ sản xuất vốn là hạ tang của xã hội Quan hệ sản xuất tồn tại không phụ thuộc vào ý chí của con người mà nó phát sinh, phát triển theo những quy luật khách quan Nhưng những quy luật này được nhận thức và phản ánh thông qua những quy phạm pháp luật lại mang tính chủ quan chủ quan - y chi cua giai cap théng tri phan anh su ton tại xã hội thông qua các quy phạm pháp luật Mỗi chủ thê tham gia vào một quan hệ kinh tế cụ thể đều đặt ra những mục đích và với động cơ nhất định Bởi vậy, quan hệ tài sản mà các chủ thể tham gia mang ý chí của các chủ thể, phù hợp với ý chí của các chủ thể tham gia và phải phù hợp với ý chí của Nhà nước thông qua các quy phạm pháp luật dân sự Nhà nước dùng các quy phạm pháp luật dân sự tác động lên các quan hệ kinh

tế, hướng cho các quan hệ này phát sinh, thay đổi theo ý chí của Nhà nước

Quan hệ tài sản do luật dân sự điều chỉnh mang tính chất hàng hóa và tiền tệ Trong mô hình kinh tế này, các tài sản được thể hiện dưới dạng hàng hóa và được quy thành tiền Sản xuất ra hàng hóa và dịch vụ để bán, để trao đổi là đặc trưng của nên sản xuất này Nó tạo động lực cho mọi cá nhân và tổ chức, khơi dậy mọi tiềm năng của họ, phát huy ý chí tự lực, tự cường ra sức làm giàu cho mình và cho đất nước Nhưng nên kinh tê hàng hóa theo cơ chế thị trường cũng có những mặt trái của nó Cho nên, khuyến khích tính năng động, sáng tạo đi đôi với thiết lập trật tự kỉ cương trong hoạt động kinh tế, bảo đảm cho mọi đơn vị kinh tế, không phân biệt quan hệ sở hữu đêu hoạt động theo CƠ chế tự chủ kinh doanh, hợp tác và cạnh tranh với nhau, bình đẳng trước pháp luật Bởi vậy, cần phải có hành lang pháp lí vừa mềm dẻo, linh hoạt, vừa chặt chẽ mới có thể đáp ứng được các yêu câu trên

- Quan hệ nhân thân phi tài sản:

Quan hệ nhân thân là quan hệ giữa người với người về một giá trị nhân thân của cá nhân hay các tổ chức Việc xác định một giá trị nhân thân là quyền nhân thân phải được pháp luật

Trang 20

thừa nhận như một quyền tuyệt đối của một cá nhân, tổ chức Quyền nhân thân là quyền dân sự gan liên với một chủ thể, về nguyên tắc không thể chuyển giao cho chủ thể khác Đó là một quyền dân sự tuyệt đối, mọi người đều có nghĩa vụ tôn trọng quyên nhân thân của người khác Luật dân sự điều chỉnh các quan hệ nhân thân bằng cách quy định những giá trị nhân thân nào được coi là quyền nhân thân, trình tự thực hiện, giới hạn của các quyên nhân thân đó, đồng thời quy định các biện pháp thực hiện, bảo vệ các quyên nhân thân.Các quan hệ nhân thân xuất phát từ quyền nhân thân do luật dân sự điều chỉnh có thê chia làm hai nhóm:

Quan hệ nhân thân gắn với tài sản

Quan hệ nhân thân không gắn với tài sản

IH PHƯƠNG PHAP DIEU CHINH

Phương pháp điều chỉnh của luật dân sự là những cách thức, biện pháp mà Nhà nước tác động lên các quan hệ tài sản, các quan hệ nhân thân làm cho các quan hệ này phát sinh, thay đổi, chấm đứt theo _ÿ chí của Nhà nước phù hợp với ba lợi ích (nhà nước, xã hội và cá nhân) Luật dân sự điều chỉnh các quan hệ tài sản và quan hệ nhân thân theo nghĩa rộng bao gồm các quan hệ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động trong nên kinh tế thị trường Ở đó, các cá nhân, tổ chức không phụ thuộc vào hình thức sở hữu, hoạt động theo

cơ chế tự chủ kinh doanh, hợp tác và cạnh tranh với nhau

Phương pháp điều chỉnh của luật dân sự có những đặc điểm sau:

- Các chủ thể tham gia các quan hệ tài sản và các quan hệ nhân thân do luật dân sự điều chỉnh độc lập về tô chức và tài sản, bình đẳng với nhau về địa vị pháp lí Độc lập về tổ chức và tài sản là tiền đề tạo ra sự bình đẳng trong các quan hệ mà các chủ thể tham gia Bởi các quan

hệ tài sản mà luật dân sự điều chỉnh mang tính chất hàng hóa - tiền tệ và đền bù tương đương là đặc trưng khi trao đổi

- Tự định đoạt của các chủ thê trong việc tham gia các quan hệ tài sản Khi tham gia vao các quan hệ tài sản, mỗi chủ thể đều đặt ra những mục đích với những động cơ nhất định Bởi vậy, việc lựa chọn một quan hệ cụ thể do các chủ thể tự quyết định, căn cứ vào khả năng, điều kiện, mục đích mà họ tham gia vào các quan hệ đó Khi tham gia vào các quan hệ cụ thể, các chủ thể tùy ý theo ý chí của mình lựa chọn đối tác sẽ tham gia, nội dung quan hệ mà họ tham gia, cách thức, biện pháp thực hiện các quyên và nghĩa vụ

- Đặc trưng của phương pháp giải quyết các tranh chấp dân sự là hòa giải Việc thực hiện hay từ chối một quyên tài sản của các chủ thể thuộc phạm vi tự định đoạt của họ (tuy nhiên, chỉ trong trường hợp quyên của họ không đồng thời là nghĩa vụ mà pháp luật quy định) Cho nên, việc giải quyết các tranh chấp dân sự do các bên tự thoá thuận

- Các quan hệ mà luật dân sự điều chỉnh chủ yếu là các quan hệ tài sản mang tính chất hàng hóa và tiền tệ, việc vi phạm nghĩa vụ của một bên trong quan hệ đó dẫn đến thiệt hại về tài sản đối với bên kia Bởi vậy, trách nhiệm dân sự trước tiên là trách nhiệm tài sản Trách nhiệm của bên vi phạm đối với bên bị vi phạm và hậu quả của việc áp dụng trách nhiệm là phục hồi tình trạng tài sản của bên bị thiệt hại Trong quan hệ đân sự, các chủ thể có quyền tự định đoạt

IV MỘT SỐ NOI DUNG CO BAN

1 Chú thể quan hệ pháp luật dân sự

- Cá nhân

Là con người cụ thể và đang sống Cá nhân phải có hộ tịch rõ ràng, cho phép phân biệt được với cá nhân khác Mọi cá nhân không nhất thiết đều có quyền và nghĩa vụ giông nhau, dù tat cả các cá nhân đều bình đẳng trước pháp luật Việc xác định quyền và nghĩa vụ của mỗi cá nhân lệ thuộc vào kết quả đánh giá năng lực pháp luật và năng lực hành vị của cá nhân đó Năng lực pháp luật: Là khả năng của cá nhân được hưởng quyền hoặc đảm nhận tư cách người có nghĩa vụ Năng lực pháp luật của cá nhân có từ khi cá nhân được sinh ra và mất đi khi

cá nhân chết Mọi cá nhân đều có năng lực pháp luật dân sự như nhau; song, có khi cá nhân không không thể có một quyền nào đó mà tất cả những cá nhân khác đều có thể có, như trong trường hợp người không có quyền hưởng đi sản do đã có một trong những hành vi được ghi

Trang 21

nhận tại BLDS Điều 646 khoản 1 Cá nhân có thể mất năng lực pháp luật ngay khi còn sống trong những trường hợp đặc biệt Trong luật thực định Việt Nam, tình trạng mất năng lực pháp luật chi ton tại trong những trường hợp đặc biệt do luật quy định và chỉ có hiệu lực đối với các | quan hệ phát sinh trong những trường hợp đó Nói cách khác, không có tình trạng mất năng lực pháp luật tống quát: người không có quyền hưởng di sản, trên nguyên tắc, chỉ không có quyền hưởng đối với một di sản xác định, và bảo tồn khả năng có quyên hưởng đối với các đi sản khác

Năng lực hành vi: Là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự Khác với năng lực pháp luật, năng lực hành vi chỉ được thừa nhận cho những cá nhân có đủ các điều kiện do pháp luật quy định: người chưa đủ sáu tuổi không có năng lực hành vi dân sự; người bị bệnh tâm thần hoặc mắc các bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình có thể bị tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự theo quyết định của toà án Tất cả những giao dịch của người không có hoặc mất năng lực hành vi dân sự đều chỉ có thể được xác lập thông qua người đại diện Tình trạng không có năng lực hành vi tổng quát luôn có tính chất tạm thời và sẽ chấm dứt sau một thời gian; trong khi tình trạng mất năng lực hành vi tổng quát có thê kéo dài không thời hạn

- Pháp nhân

Là một tổ chức tồn tại vì một mục đích nào đó Pháp nhân phải có những yếu tố lý lịch cơ bản rõ ràng cho phép phân biệt với cá nhân các thành viên của nó và với các pháp nhân khác Pháp nhân có năng lực pháp luật và năng lực hành vi phù hợp với mục đích tồn tại của mình:

có những pháp nhân (như quỹ xã hội, quỹ từ thiện) không thể có những quyền và nghĩa vụ của thương nhân; không pháp nhân nào có thể có quyền và nghĩa vụ của người thừa kế theo pháp

Vật có thực là vật được đưa vào giao lưu dân sự đáp ung day đủ ba yêu cầu:

Vật có thực phải là một bộ phận của thế giới vật chất |

Vật có thực phải đem lại lợi ích cho con người

Vật có thực là những vật mà con người có thể chiếm giữ được

Tiền, theo kinh tế học, là giá trị đại diện cho giá trị thực của hàng hóa và là phương tiện lưu thông trong đời sống của con người Về mặt chính trị, đó còn là đại điện cho chủ quyền của một quốc gia, đòi hỏi người có tiền (là chủ sở hữu) không thể có toàn quyền định đoạt loại tài sản đặc biệt này mà phải tuân thủ những quy định nghiêm ngặt của Nhà nước Do đó, tiền có một vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dan

Giấy tờ trị giá được bằng tiền, bao gồm: cổ phiếu, trái phiếu, tín phiếu, kỳ phiếu, công trái,

Các quyên về tài sản Đó là những quyền gắn liền với một tài sản hoặc khi thực hiện quyền

đó, chủ sở hữu sẽ có được một tài sản Các quyền tài sản là các quyền trị giá được bằng tiền và

có thể chuyển giao được trong giao lưu dân sự, chăng hạn như quyền đòi nợ, quyền tác giả, quyên sở hữu công nghiệp,

Tài sản có thể được phân loại theo nhiều cách Hệ thống luật Latinh chia tai san thành động

sản và bất động sản; tài sản hữu hình và tài sản vô hình; vật tiêu hao và vật không tiêu hao; vật

cùng loại và vật đặc định; vốn và lợi tức; vật được sở hữu và vật không được sở hữu; tài sản công và tài sản tư Theo luật Anh Mỹ, chia thành quyền sở hữu đối vật và quyền sở hữu đối

nhân; đất đai và các loại tài sản khác (bao gồm tiền, động sản hữu hình mà không phải tiền,

động sản vô hình )

- Quyền sở hữu tài sản

Quyên sở hữu tài sản gồm quyền sử dụng, quyền chiếm hữu và quyền định đoạt

Trang 22

răng, hai quyền này không nhất thiết phải tồn tại song song trên cùng một tài sản

Chủ sở hữu có quyển quyết định phương thức sử dụng tài sản (dùng hay không dùng tài sản) cũng như cách thức thu hoa lợi, lợi tức (trực tiếp khai thác hoa lợi, tự nhiên của tài sản, hoặc để cho người khác khai thác thông qua một hợp đồng cho thuê, cho mượn) Tài sản có thể được sử dụng hoặc được khai thác trực tiếp bằng chính chủ sở hữu hoặc bởi một người khác không phải là chủ sở hữu (khi được chủ sở hữu chuyển giao quyền sử dụng hoặc do pháp luật quy định)

Quyền định đoạt

Theo Điều 201 BLDS “Quyền định đoạt là quyền của chủ sở hữu chuyển giao quyển sở hữu tài sản của mình cho một người khác hoặc từ bỏ quyền sở hữu đó.” - Ngoài ra, chủ sở hữu còn có thể định đoạt tài sản bằng cách chấm dứt sự tồn tại vật chất của tài sản Như vậy, chủ sở hữu có quyển quyết định số phận của tài sản về phương diện vật chất (tiêu dùng, thiêu hủy, chuyển hóa thành một hình thức tôn tại khác ), hoặc về phương diện pháp lý (chuyển nhượng, tặng cho, trao đôi, góp vốn kinh doanh ) Cũng như quyên sử dụng, quyên định đoạt của chủ

sở hữu có thể do chính chủ sở hữu hoặc do một người khác thực hiện Mọi trường hợp định đoạt tài sản ngoài khuôn khổ giới hạn của quyên tự định đoạt của chủ sở hữu cũng như định đoạt tài sản thuộc sở hữu của người khác đều bị xem là những giao dịch vô hiệu Cũng có trường hợp, tài sản được chuyên quyền sở hữu không phải do hiệu lực của việc thực hiện quyên tự định đoạt của chủ sở hữu, mà do pháp luật quy định (như trong các trường hợp trưng mua, trưng dụng vì mục đích an ninh quốc phòng, giải tỏa có đền bù để thực hiện quy hoạch đô thị )

Quyền chiếm hữu

Theo Điều 189 BLDS: “Quyền chiếm hữu là quyền của chủ sở hữu tự mình nắm giữ, quản

lý tài sản thuộc quyển sở hữu của mình” Việc năm giữ và quản lý ở đây bao hàm cả việc thực hiện quyền sử dụng (dùng và khai thác) hoặc quyên không sử dụng tài sản (cất giữ)

Người không phải là chủ sở hữu cũng có quyên chiếm hữu tài sản trong những trường hợp được chủ sở hữu chuyên giao hoặc do pháp luật quy định Luật ghi nhận sự khác nhau về chế

độ pháp lý của người chiếm hữu với tư cách là chủ sở hữu và người chiếm hữu tài sản của người khác trong quá trình thực hiện quyền chiếm hữu của mình đối với tài sản

3 Hợp đồng dân sự

Hợp đồng là công cụ chủ yếu để xác lập quan hệ giữa người và người liên quan đến tài sản trong một xã hội có tổ chức Các quan hệ ây không chỉ hình thành trong lĩnh vực dân sự mà cả trong các lĩnh vực thương mại, lao động, thậm chí trong lĩnh vực hành chính Mỗi loại hợp đồng đồng, trong mỗi lĩnh vực, có những đặc điểm rất riêng và, do đó, được chỉ phôi bởi những quy định riêng Tuy nhiên, là sản phẩm của sự gặp gỡ ý chí, tất cả các hợp đồng đều hình thành

và vận hành trên cơ sở nguyên tắc tự do kết ước và những nguyên tắc cơ bản khác mà xoay quanh những nguyên tắc đó, một hệ thống các quy tắc pháp lý được xây dựng và tạo thành luật

vê quan hệ kết ước hay còn gọi là luật chung về hợp đồng

Hop đồng làm phát sinh nghĩa vụ theo một cơ chế chung: các bên giao kết thống nhất ý chí

về việc rang buộc lẫn nhau trong một quan hệ đặc trưng bằng thái độ xử sự của một bên nhằm đáp ứng yêu câu của bên kia Hợp đồng chỉ phát sinh hiệu lực ràng buộc đỗi với các bên giao kết và không tạo ra bat kỳ một nghĩa vụ nào đối với người thứ ba

Ngày đăng: 16/01/2018, 10:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w