Chính vì vậy mà những kết luận đưa ra thường đúng nhưng không sâu sắc, không đầy đủ, chưa phản ánh hết sự sinh đọng của thế giới hiện thực khách quan + + Chủ nghĩa duy vật siêu hình : là
Trang 1Câu 1: Vấn đề cơ bản của Triết học gồm có 2 mặt Mỗi mặt trả lời cho 1 câu hỏi lớn
+ 1 Mặt thứ nhất (Bản thể luận) : Bàn về nguồn gốc của thế
giới: vật chất có trước hay ý thức có trước, cái nào quyết định cái nào Có 2 cách trả lời khác nhau đã dẫn đến việc hìnhthành 2 khuynh hướng triết học lớn đối lập nhau
+ a) Chủ nghĩa duy vật:
- Những người theo chủ nghĩa duy vật cho rằng và chứng minh rằng : vật chất là cái có trước, ý thức là cái có sau; vật chất quyết định ý thức, ý thức là sự phản ánh vất chất
+ - Trong chủ nghĩa duy vật gồm 3 dạng phái khác nhau
+ + Chủ nghĩa duy vật ngây thơ : là dựa vào việc quan sát một cách trực tiếp các sự vật hiện tượng để từ đó kết luận về nó Chính vì vậy mà những kết luận đưa ra thường đúng nhưng không sâu sắc, không đầy đủ, chưa phản ánh hết sự sinh đọng của thế giới hiện thực khách quan
+ + Chủ nghĩa duy vật siêu hình : là dựa vào phương pháp
nghiên cứu sự vật trong trạng thái tĩnh tại, không tính tới qúa trình vận động và phát triển không ngừng của sự vật; cô lập sự vật đó với các sự vật khác Vì vậy những kết luận đưa
ra thường không đúng và có khi làm méo mó sự vật hiện tượng.+ Chủ nghĩa duy vật biện chứng: là dựa vào phương pháp nghiên cứu, xem xét, đánh giá sự vật ở trong trạng thái vừa tĩnh tại vừa luôn luôn vận động phát triển không ngừng và trong mối quan hệ với các sự vật hiện tượng khác nhau Chính vì vậy mà những kết luận mà họ đưa ra phản ánh đúng sự vật hiện tượng một cách khách quan
+ b) Chủ nghĩa duy tâm:
- là học thuyết khẳng định rằng ý thức là cái có trước, vật chất là cái có sau, ý thức sinh ra vật chất quyết định vật chất
+ - Chủ nghĩa duy tâm có 2 dạng phái:
+ + Chủ nghĩa duy tâm khách quan : cho rằng có một thế giới tinh thần, một thế giới ý niệm tuyệt đối tồn tại trước con người, vĩnh hằng, hoàn hảo, luôn luôn vận động và biến đổi không ngừng Trong quá trình vận động và biến đổi đó tha hoá nên tạo nên thế giới hiện thực Cũng chính vì quan điểm như vậy mà những người theo chủ nghĩa duy tâm khách quan cho rằng
Trang 2thế giới hiện thực chỉ là cái bóng của thế giới tinh thần, bị chi phối bởi thế giới tinh thần ấy.
+ + Chủ nghĩa duy tâm chủ quan : cho rằng thế giới hiện thực
là sự phức hợp các cảm giác của con người, khi cảm giác của con người không còn thì thế giới cũng không còn tồn tại
+ Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm làm thành thuyết
“Nhất nguyên luận”
+ Bên cạnh đó còn có một thuyết “Nhị nguyên luận” : ý thức và vật chất cùng song song tồn tại, không có cái nào quyết định cái nào, không có cái nào sinh ra cái nào
2 Mặt thứ hai (Nhận thức luận) : bàn về việc con người có khả
năng nhận thức hay không; những hiểu biết, những tri thức của con người có phản ánh được đầy đủ, sâu sắc bản chất về thế giới hiện thực khách quan hay không
+ Trong triết học hiện đại có 2 trường phái :
+ a) Trường phái Khả tri luận:
Trường phái này gồm đa số các nhà triết học theo chủ nghĩa, tuyệt đại bộ phận các nhà triết học theo chủ nghĩa duy vật ; khẳng định rằng con người có khả năng nhận thức được thế giới.Tuy nhiên khả năng nhậ thức đó lại được hiểu khác nhau:
+ - Những người theo chủ nghĩa duy tâm khách quan cho rằng quá trình nhận thức của con người là quá trình hồi tưởng lại của linh hồn bất tử
- Những người theo chủ nghĩa duy tâm khách quan cho rằng tri thức là cái có sẵn dưới dạng bẩm sinh, chủ thể nhận thức chỉ cần tạo điều kiện cho các nhận thức ấy bùng nổ
+ - Những người thoe chủ nghĩa duy vật biện chứng cho rằng nhận thức là một quá trình của con người đi từ những hiểu biếtđơn giản đến những hiểu biết phức tạp, không phải là cái có sẵn dưới dạng bẩm sinh mà đó là kết quả của quá trình hoạt động thực tiễn của mỗi bản thân con người Khả năng nhận thức của con người là hữu hạn nhưng khả năng nhận thức của loài người là vô hạn Về nguyên tắn cho dù thế giới khách quan có vận đọng không ngừng thì con người hoàn toàn có khả năng nhận thức được nó
+ b) Trường phái Bất khả tri:
Cho rằng con người không thể nhận thức được thế giới, nếu có
Trang 3nhận thức được thì cũng chỉ là nhận thức được hiện tượng, không thể nhận thức được bản chất của sự vật.
Câu 2: Nội dung và ý nghĩa phương pháp luận của định nghĩa vật chất của Lênin
- Định nghĩa vật chất của Lê nin có 3 nội dung quan trọng:
+ + Thứ nhất, khẳng định vật chất là một phạm trù triết học cónghĩa là muốn khẳng định và phân biệt vật chất với tư cách là một phạm trù triết học (tức phạm trù khái quát thuộc tính cơ bản nhất, phổ biến nhất của mọi tồn tại vật chất và được xác định từ góc độ giải quyết vấn dề cơ bản của triết học) với khái niệm vật chất được sử dụng trong các khoa học chuyên ngành ( tức khái niệm dùng chỉ những dạng vật chất cụ thể, cảmtính, những biểu hiện cụ thể củ thế giới vật chất, tự nhiên hay xã hội)
+ + Khẳng định vật chất là một phạm trù triết học để chỉ thực tại khách quan nghĩa là: Thực tại khách quan là thuộc tính quan trọng nhất để phan biệt vật chất và ý thức, để khẳng địnhrằng đó những cái đang tồn tại độc lập với ý thức con người trong đời sống xã hội vật chất đó là tồn
tại XH, nó không phụ thuộc vào ý thức XH
+ + Khẳng định vật chất (dưới hình thức tồn tại cụ thể của nó) là cái có thể gây nên cảm giác ở con người khi nó trực tiếp hay gián tiếp tác động đến giác quan của con người, ý thức của con người là sự phản ánh đối với vật chất còn vật chất là cái được ý thức phản ánh
- ý nghĩa phương pháp luận:
+ + Khẳng định bản chất của thế gới là vật chất, vật chất có trước, ý thức có sau, vật chất quyết định ý thức, ý thức chỉ
là sự phản ánh, chỉ là sản phẩm của vật chất đồng thời định nghĩa cũng khẳng định con người có khả năng nhận thức được thếgiới, có khả năng chụp lại, chép lại, phản ảnh thế giới vc + + Định nghĩa vật chất đã bác bỏ quan điểm xuyên tạc của CN duy tâm về CN duy vật và khẳng định bản chất của CN duy vật luôn được "khẳng định và tồn tại", cơ sở nền tảng của CN duy vật vẫn tiếp tục phát triển và nó cũng bác bỏ các quan niệm trước đây về vật chất, góp phần mở đường cho các KH tự nhiên trong việc tìm ra các hình thức mới của vật chất để chứng minhcho sự phong phú của cấu trúc vật chất Vì vậy nó cung cấp thế
Trang 4giới quan, phương pháp luận cho hoạt động nhận thức và hoạt động cải tạo thực tiễn.
Câu 3: Quan điểm duy vật biện chứng về nguồn gốc, bản chất, kết cấu của ý thức.
3.1 Nguồn gốc của ý thức
a Nguồn gốc tự nhiên:
Dựa trên những thành tựu của khoa học tự nhiên nhất là sinh lýhọc thần kinh, chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định rằng ý thức là thuộc tính của một dạng vật chất sống có tổ chức cao
là bộ óc con người.Bộ óc con người hiện đại là sản phẩm của quá trình tiến hoá lâu dài về mặt sinh vật - xã hội và có cấu tạo rất phức tạp, gồm khoảng 14 - 15 tỷ tế bào thần kinh Các
tế bào này tạo nên nhiều mối liên hệ nhằm thu nhận, xử lý, dẫntruyền và điều khiển toàn bộ hoạt động của cơ thể trong quan
hệ với thế giới bên ngoài thông qua các phản xạ có điều kiện
và không điều kiện
Hoạt động ý thức con người diễn ra trên cơ sở hoạt động sinh
lý thần kinh của bộ óc người Sự phụ thuộc của ý thức vào hoạtđộng của bộ óc thể hiện ở chỗ khi bộ óc bị tổn thương thì hoạtđộng ý thức sẽ bị rối loạn Ý thức là chức năng của bộ óc người, là hình ảnh tinh thần phản ánh thế giới khách quan; nhưng ý thức không diễn ra ở đâu khác ngoài hoạt động sinh lý thần kinh của bộ óc người
.Ngược lại, chủ nghĩa duy tâm tách rời ý thức ra khỏi hoạt động của bộ óc, thần bí hoá hiện tượng tâm lý, ý thức
Còn chủ nghĩa duy vật tầm thường lại đồng nhất vật chất với ýthức.Tuy nhiên, nếu chỉ có bộ óc người mà không có sự tác độngcủa thế giới bên ngoài để bộ óc phản ánh lại tác động đó thì cũng không thể có ý thức
Phản ánh là thuộc tính chung, phổ biến của mọi đối tượng vật chất Phản ánh là năng lực giữ lại, tái hiện lại của hệ thống vật chất này những đặc điểm của hệ thống vật chất khác
Trong quá trình phát triển lâu dài của thế giới vật chất, thuộc tính phản ánh của vật chất cũng phát triển từ thấp đến cao với nhiều hình thức khác nhau
.- Phản ánh vật lý: Là hình thức phản ánh đơn giản nhất ở giới
vô sinh, thể hiện qua các quá trình biến đổi cơ, lý, hoá
Trang 5- Phản ánh sinh học trong giới hữu sinh cũng có nhiều hình thức khác nhau ứng với mỗi trình độ phát triển của thế giới sinh vật:
+ Tính kích thích: Thể hiện ở thực vật, động vật bậc thấp, đã
có sự chọn lọc trước những tác động của môi trường
+ Tính cảm ứng: Thể hiện ở động vật bậc cao có hệ thần kinh, xuất hiện do những tác động từ bên ngoài lên cơ thể động vật
và cơ thể phản ứng lại Nó hoàn thiện hơn tính kích thích, ược thực hiện trên cơ sở các quá trình thần kinh điều khiển mối liên hệ giữa cơ thể với môi trường thông qua cơ chế phản
đ-xạ không điều kiện
+ Tâm lý động vật: Là hình thức cao nhất trong giới động vật gắn liền với các quá trình hình thành các phản xạ có điều kiện, thông qua các cảm giác, tri giác, biểu tượng ở động vật
có hệ thần kinh trung ương
- Phản ánh ý thức: Gắn liền với quá trình chuyển hoá từ vượn thành người Đó là hình thức phản ánh mới, đặc trưng của một dạng vật chất có tổ chức cao nhất là bộ óc con người
Như vậy, sự phản ánh thế giới khách quan vào bộ óc con người
là nguồn gốc tự nhiên của ý thức
b Nguồn gốc xã hội:
Để ý thức có thể ra đời, những nguồn gốc tự nhiên là rất cần thiết nhưng chưa đủ Điều kiện quyết định cho sự ra đời của ý thức là nguồn gốc xã hội, thể hiện ở vai trò của lao động, ngôn ngữ và các quan hệ xã hội
- Lao động đem lại cho con người dáng đi thẳng đứng, giải phóng 2 tay Điều này cùng với chế độ ăn có thịt đã thực sự có
ý nghĩa quyết định đối với quá trình chuyển hoá từ vượn thành người, từ tâm lý động vật thành ý thức Việc chế tạo ra công
cụ lao động có ý nghĩa to lớn là con người đã có ý thức về mụcđích của hoạt động biến đổi thế giới
- Trong quá trình lao động, con người tác động vào các đối ợng hiện thực, làm chúng bộc lộ những đặc tính và quy luật vậnđộng của mình qua những hiện tượng nhất định Những hiện tượng
tư-đó tác động vào bộ óc con người gây nên những cảm giác, tri giác, biểu tượng Nhưng quá trình hình thành ý thức không phải
là do tác động thuần túy tự nhiên của thế giới khách quan vào
bộ óc con người, mà chủ yếu là do hoạt động lao động chủ động của con người cải tạo thế giới khách quan nên ý thức bao giờ
Trang 6cũng là ý thức của con người hoạt động xã hội Quá trình lao động của con người tác động vào thế giới đã làm cho ý thức không ngừng phát triển, mở rộng hiểu biết của con người về những thuộc tính mới của sự vật Từ đó, năng lực tư duy trừu tượng của con người dần dần hình thành và phát triển.
- Lao động ngay từ đầu đã liên kết con người lại với nhau trong mối liên hệ tất yếu, khách quan Mối liên hệ đó không ngừng được củng cố và phát triển đến mức làm nảy sinh ở họ mộtnhu cầu "cần thiết phải nói với nhau một cái gì đó", tức là phương tiện vật chất để biểu đạt sự vật và các quan hệ của chúng Đó là ngôn ngữ Ngôn ngữ là hệ thống tín hiệu vật chất mang nội dung ý thức Theo Mác, ngôn ngữ là cái vỏ vật chất của tư duy, là hiện thực trực tiếp của tư tưởng; không có ngônngữ thì con người không thể có ý thức
Như vậy, nguồn gốc trực tiếp và quan trọng nhất quyết định sự
ra đời và phát triển của ý thức là lao động, là thực tiễn xã hội Ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong bộ
óc con người thông qua lao động, ngôn ngữ và các quan hệ xã hội Ý thức là sản phẩm xã hội, là một hiện tượng xã hội
3.2 Bản chất của ý thức
- Ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong bộ óc con người, là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan Tuy nhiên, không phải cứ thế giới khách quan tác động vào bộ óc người là tự nhiên trở thành ý thức Ngược lại, ý thức là sự phản ánh năng động, sáng tạo về thế giới, do nhu cầu của việc con người cải biến giới tự nhiên quyết định và được thực hiện thông qua hoạt động lao động Vì vậy, ý thức là cái vật chất được đem chuyển vào trong đầu óc con người và được cải biến đi ở trong đó” Tính sáng tạo của ý thức được thể hiện rarất phong phú Trên cơ sở những cái đã có, ý thức có thể tạo
ra tri thức mới về sự vật, có thể tưởng tượng ra những cái không có trong thực tế Ý thức có thể tiên đoán, dự báo về tương lai, có thể tạo ra những ảo tưởng, huyền thoại, những giả thuyết, lý thuyết khoa học hết sức trừu tượng và có tính khái quát cao
Tuy nhiên, sáng tạo của ý thức là sáng tạo của phản ánh, bởi
vì ý thức bao giờ cũng chỉ là sự phản ánh tồn tại
- Ý thức là sản phẩm lịch sử của sự phát triển xã hội nên về bản chất là có tính xã hội
3.3 Kết cấu của ý thức
Trang 7Ý thức là một hiện tượng tâm lý - xã hội có kết cấu rất phức tạp bao gồm nhiều thành tố khác nhau có quan hệ với nhau Có thể chia cấu trúc của ý thức theo hai chiều:
a Theo chiều ngang: Bao gồm các yếu tố như tri thức, tình cảm, niềm tin, lý trí, ý chí , trong đó tri thức là yếu tố
* Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến:
- Nội dung:
+ Tính khách quan và phổ biến của mối liên hệ: Nhờ
có mối liên hệ mà có sự vận động, mà vận động lại là phương thức tồn tại của vật chất, là một tất yếu khách quan, do đó mối liên hệ cũng là một tất yếu khách quan
+ Do mối liên hệ là phổ biến, nên nó có tính đa dạng: Các sự vật; hiện tượng trong thế giới vật chất là đa dạng nên mối liên hệ giữa chúng cũng đa dạng, vì thế, khi nghiên cứu các sự vật, hiện tượng cần phải phân loại mối liên
hệ một cách cụ thể
+ Phép biện chứng duy vật nghiên cứu những mối liên
hệ chung nhất và phổ biến nhất của thế giới khách quan Còn những hình thức cụ thể của mối liên hệ là đối tượng nghiến cứucủa các ngành khoa học cụ thể
- Ý nghĩa:
+ Vì các mối liên hệ là sự tác động qua lại, chuyển hoá, quy định lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng và các mối liên hệ mang tính khách quan, mang tính phổ biến nên trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiến con người phải tôn trọng quan điểm toàn diện, phải tránh cách xem xét phiến diện
+ Vì các mối liên hệ có tính da dạng, phong phú – sựvật, hiện tượng khác nhau, không gian, thời gian khác nhau cácmối liên hệ biểu hiện khác nhau nên trong hoạt động nhận thức
và hoạt động thực tiễn con người phải tôn trọng quan điểm lịch
Trang 8hiện tượng, là khuynh hướng chung của thế giới.
+ Sự phát triển có tính chất tiến lên, kế thừa liên tục
+ Sự phát triển thường diễn ra quanh co, phức tạp, phải trải qua những khâu trung gian, thậm chí có lúc, có sự thụt lùi tạm thời
+ Phát triển là sự thay đổi về chất của sự vật Nguồn gốc của sự phát triển là do sự đấu tranh của các mặt đốilập trong bản thân sự vật
- Ý nghĩa:
+ Khi nhận thức, khi giải quyết một vấn đề nào đó con người phải đặt chúng ở trạng thái động, nằm trong khuynh hướng chung là phát triển
+ Nắm bắt những cái hiện đang tồn tại ở sự vật, phải thấy rõ khuynh hướng phát triển trong tương lai của
chúng, phải thấy được những biến đổi đi lên cũng như những biến đổi có tính chất thụt lùi Và phải khái quát những biến đổi để vạch ra khuynh hướng biến đổi chính của sự vật
+ Phải biết phân chia quá trình phát triển của sự vật ấy thành những giai đoạn để tìm ra phương pháp nhận thức
và cách tác động phù hợp nhằm thúc đẩy sự vật tiến triển nhanhhơn hoặc kìm hãm sự phát triển của nó, tùy theo sự phát triển
đó có lợi hay có hại đối với đời sống của con người
+ Khắc phục tư tưởng bảo thủ, trì trệ, định kiến trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn
+ Định hướng, chỉ đạo hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn cải tạo hiện thực, cải tạo chính bản thân con người
Câu 5: Nội dung và ý nghĩa của phương pháp luận của quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập?
* Nội dung:
Tất cả các sự vật, hiện tượng đều chứa đựng những mặt trái ngược nhau, tức những mặt đối lập trong sự tồn tại của nó Cácmặt đối lập của sự vật vừa thống nhất vừa đấu tranh với nhau tạo thành nguồn gốc, động lực của sự vận động, phát triển của
sự vật Phép biện chứng duy vật đã đưa ra và sử dụng các khái niệm: mặt đối lập, mâu thuẫn biện chứng, sự thống nhất của cácmặt đối lập, đấu tranh của các mặt đối lập để diễn đạt mối quan hệ giữa thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập trongbản thân sự vật – tạo thành nguồn gốc, động lực của sự vận động và phát triển của sự vật
Trang 9* Ý nghĩa:
+ Vì mâu thuẫn là nguồn gốc, động lực của sự vận động, phát triển của sự vật và là khách quan trong bản thân sự vật nên cần phải phát hiện ra mâu thuẫn của sự vật bằng cách phân tích sự vật tìm ra những mặt, những khuynh hướng trái ngược nhau và mối liên hệ, tác động lẫn nhau giữa chúng
+ Phải biết phân tích cụ thể một mâu thuẫn cụ thể, biết phân loại mâu thuẫn và tìm cách giải quyết cụ thể đối với từngmâu thuẫn
+ Phải nắm vững nguyên tắc giải quyết mâu thuẫn – phù hợpvới từng loại mâu thuẫn, trình độ phát triển của mâu thuẫn Không được điều hòa mâu thuẫn Phải tìm ra phương thức, phươngtiện và lực lượng để giải quyết mâu thuẫn khi điều kiện đã chín muồi
Câu 6: Nội dung và ý nghĩa của phương pháp luận của quy luật chuyển hóa từ những thay đổi về lượng dẫn đến những thay đổi
về chất và ngược lại?
* Nội dung:
Mỗi sự vật, hiện tượng đều là một thể thống nhất của 2 mặt chất và lượng và chúng có quan hệ hữu cơ với nhau Phép biện chứng duy vật đã đưa ra và sử dụng các khái niệm: chất, lượng,thuộc tính, độ, điểm nút, bước nhảy để diễn đạt mối quan hệ giữa chất và lượng trong sự vận động và phát triển của sự vật,hiện tượng – cách thức vận động, phát triển
* Ý nghĩa:
+ Trong nhận thức và hoạt động thực tiễn phải chú ý tích lũy dẫn những thay đổi về lượng, đồng thời phải biết thực hiệnkịp thời những bước nhảy khi có điều kiện chín muồi
+ Chống lại quan điểm tả khuynh: chủ quan, nóng vội, duy
ý chí, khi lượng chưa biến đổi đến điểm nút đã thực hiện bước nhảy
+ Chống lại quan điểm hữu khuynh: bảo thủ, trì trệ, khi lượng đã biến đổi đến điểm nút nhưng không thực hiện bước nhảy
+ Phải thấy được tính đa dạng của các bước nhảy, nhận thức được từng hình thức bước nhảy, có thái độ ủng hộ bước nhảy, tạo mọi điều kiện cho bước nhảy được thực hiện một cách kịp thời
+ Phải có thái độ khách quan và quyết tâm thực hiện bước nhảy khi hội đủ các điều kiện chin muồi
Trang 107) Nội dung và ý nghĩa phương pháp luận của quy luật phủ định của phủ định
Nội dung:
Trong quá trình vận động và phát triển, sự vật mới được ra đờitrên cơ sở khẳng định và phủ định sự vật cũ Khi hai mặt mâu thuẫn đấu tranh với nhau mà vượt qua giới hạn độ thì sự vật mới ra đời, phủ định biện chứng có mặt Thế nhưng sự vật khôngdừng lại ở đó mà nó lại tiếp tục đấu tranh giữa các mặt mâu thuẫn mới và một lần nữa cái mới đó bị cái mới hơn phủ định.Quá trình phủ định cái phủ định của sự vật đó làm xuất hiện những sự vật mới là kết quả tổng hợp tất cả các yếu tố tích cực mới được bổ sung và từ những lần khẳng định và phủ định trước đó Quy luật phát triển liên tục, điểm kết thúc của chu
kỳ này lại là điểm bắt đầu của một chu kỳ mới Do vậy, kết quảphủ định cái phủ định luôn luôn bao giờ cũng có hình thức mới hơn, có nội dung toàn diện và phong phú hơn những cái ban đầu.Tuy nhiên, sự tiến lên của sự vật không theo con đường thẳng tắp mà được diễn ra theo hình “xoắn ốc” Bởi “sự phát triển theo đường “xoắn ốc” là biểu thị sự rõ ràng, đầy đủ các đặc trưng của quá trình phát triển biện chứng của sự vật: tính kế thừa, tính lặp lại, tính tiến lên
Khi nghiên cứu về Quy luật phủ định của phủ định chúng ta không nên máy móc trong nhận thức
Ý nghĩa:
- Quy luật phủ định của phủ định giúp chúng ta nhận thức được tính đúng đắn và tất yếu của sự vật bởi phát triển là khuynh hướng chung, do đó cái mới bao giờ cũng chiến thắng Song, quátrình phát triển không diễn ra theo đường đường thẳng mà con đường xoắn ốc: quanh co, phức tạp với nhiều chu kỳ và giai đoạn trung gian
- Sự vật ra đời sau luôn là cái mới, cái tiến bộ hơn cái trướcthế nhưng không phải lúc nào cũng như vậy, có nhiều lúc, cái mới lại là cái thụt lùi so với cái cũ, thế nhưng sự thụt lùi
đó là những bước thụt lùi trong quá trình phát triển chung của
nó
- Nhận thức được quy luật này chúng ta sẽ biết cách tác động phù hợp sao cho sự vật phát triển nhanh hay chậm, tránh được
Trang 11những nhận thức sai lầm, chủ quan duy ý chí và bảo thủ trong công việc và trong các hiện tượng xã hội Đồng thời cần phải chống thái độ phủ định sạch trơn hoàn toàn không có gì, coi thường giá trị truyền thống mà cần phải biết phát hiện ra cái mới, tạo điều kiện cho cái mới phát triển.
8) Nội dung và ý nghĩa phương pháp luận của các phạm trù: cái chung và cái riêng, nguyên nhân và kết quả, nội dung và hình thức
a) cái chung, cái riêng
Nội dung:
Cái riêng là một phạm trù TH dùng để chỉ 1 sv, một hành động, một quá trình riêng lẻ nhất định
Ví dụ: một hành tinh, một cuộc cách mạng, một con người
Cái chung là một phạm trù TH dùng để chỉ những mặt, những thuộc tính, những mối quan hệ giống nhau ở nhiều sv, hiện tượng
Ví dụ: mt, vận động, lượng, chất
Ý nghĩa:
1 Cái chung là cái bản chất, quy luật chi phối mọi cái riêng thì trong nhận thức và thực tiễn phải biết phát hiện cái chung và vận dụng nó để cải tạo, định hướng sự phát triển cái riêng Phải nâng cao trình độ lý luận thì mới tiếp cận và phát hiện ra bản chất, quy luật của sv Không nắm được cái chung, lý luận sẽ rơi vào mò mẫm mù quáng
2 Áp dụng cái chung vào cái riêng phải biết cá biệt hóa, không được tuyệt đối hóa, áp dụng cho phù hợp, nếu không
cá biệt hóa, nếu áp dụng nguyên xi cái chung sẽ rơi vào rập khuôn giáo điều
3 Nếu xem thường cái chung, tuyệt đối hóa cái riêng sẽ rơi vào bệnh cục bộ, bản vị, địa phương chủ nghĩa, phép vua thua lệ làng
b) Nguyên nhân và kết quả
Nội dung: