1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

SKKN giải toán có lời văn 1

16 213 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 208,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc đưa ra các phương pháp dạy giải toán có lời văn, các bài toán điển hình… được đặc biệt quan tâm ngay từ khi học sinh bước vào lớp 1.Mặt khác giải toán có văn là một trong những mạch

Trang 1

1 Mở đầu.

1.1 Lí do chọn đề tài:

Trong hệ thống giáo dục, Tiểu học là bậc học nền tảng, đặt cơ sở ban đầu cho việc hình thành và phát triển toàn diện con người, đặt nền tảng vững chắc cho giáo dục phổ thông và toàn hệ thống giáo dục quốc dân

Chất lương giáo dục là vấn đề số một trong nội dung công tác của ngành giáo dục, vì vậy việc lựa chọn và sử dụng phương pháp dạy học là một vấn đề quan trọng mang tính quyết định đối với chất lượng dạy và học

Trong thực tế, những năm gần đây dạy toán trong nhà trường tiểu học đã

có những bước cố gắng cải tiến, phương pháp, nội dung và hình thức nhằm cải thiện chất lượng môn học Việc đưa ra các phương pháp dạy giải toán có lời văn, các bài toán điển hình… được đặc biệt quan tâm ngay từ khi học sinh bước vào lớp 1.Mặt khác giải toán có văn là một trong những mạch kiến thức cơ bản trong môn toán ở Tiểu học Nó có vai trò rất lớn đối với học sinh Giải toán có văn không chỉ giúp học sinh có điều kiện thâm nhập cuộc sống thực tế mà còn giúp học sinh thực hành vận dụng các kiến thức đã học, rèn luyện khả năng diễn đạt ngôn ngữ (thông qua việc trình bày lời giải một cách rõ ràng, chính xác và khoa học) Thông qua giải các bài toán có lời văn học sinh được giáo dục nhiều mặt

Đối với môn Toán lớp 1, môn học có vị trí nền tảng, là cái gốc, là điểm xuất phát của cả một bộ môn khoa học Môn Toán mở đường cho các

em đi vào thế giới kỳ diệu của toán học, giúp các em biết vận dụng những kiến thức đã học vào cuộc sống hằng ngày một cách thực tế

1.2 Mục đích nghiên cứu:

Từ những lý do trên nên qua giảng dạy, tôi thấy việc đổi mới phương pháp dạy học môn toán, đặc biệt là dạng “giải toán có lời văn” là một vấn đề quan trọng Bản thân tôi là một giáo viên tiểu học, tôi nhận thấy giải toán có lời văn là dạng toán khó kể cả đối với học sinh ở vùng thuận lợi Hơn nữa Cát Vân

là một xã vùng cao, điều kiện kinh tế còn nhiều khó khăn,sự quan tâm đến việc học tập của con em còn hạn chế Vì vậy muốn nâng cao chất lượng giáo dục nói chung và dạy tốt chương trình môn toán thì ngay từ khi học sinh bắt đầu vào lớp

1, người giáo viên phải đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng mới đó

là “ Mọi học sinh đều phải tích cực tham gia vào hoạt động học tập”

1.3 Đối tượng nghiên cứu:

Là những bài tập thuộc mạch kiến thức “giải toán có lời văn” trong chương trình lớp 1 ở Tiểu học

1.4 phương pháp nghiên cứu:

Do đó với mong muốn làm thế nào để chất lượng giải toán có lời văn của học sinh lớp 1 trường Tiểu học và THCS Cát Vân ngày càng nâng cao tôi viết sáng kiến: Một số biện pháp giúp học sinh học tốt ‘‘giải toán có lời văn’’ ở lớp 1

Trang 2

2 Nội dung Sáng kiến kinh nghiệm.

2.1 Cơ sở của Sáng kiến kinh nghiệm.

Quá trình nhận thức của học sinh Tiểu học ở các lớp đầu cấp của bậc tiểu học gắn với các hình ảnh trực quan Đặc điểm tư duy của học sinh tiểu học ở giai đoạn đầu này mang tính trực quan cụ thể, tư duy trừu tượng chưa phát triển

Do đó để hỗ trợ cho việc dạy học giải toán người ta thường sử dụng các phương tiện trực quan đó là hình ảnh thực (có thể là vật thật, tranh ảnh mô hình ở dạng hình vẽ hay sơ đồ đơn giản) Như vậy, các hình ảnh trực quan làm một bộ phận của hoạt động nhận thức, hoạt động tư duy của học sinh khi học toán nói chung, học giải toán nói riêng Đặc biệt là với học sinh tiểu học

Nội dung chương trình môn toán lớp 1 Trước khi chính thức học giải toán có lời văn sẽ học ở học kỳ II học sinh có giai đọan chuẩn bị cho học giải toán có lời văn ở học kỳ I Trong giai đoạn chuẩn bị này học sinh được làm quen với các "tình huống" qua tranh vẽ từ đó nêu thành “bài toán có lời văn” (nêu miệng bài toán và bước đầu có hướng "giải quyết bài toán" (ở mức độ nêu phép tính thích hợp) trong sách giáo khoa toán 1 có rất nhiều dạng bài này Sang học

kỳ II học sinh chính thức được giải toán có lời văn thông qua các bài học mang tính chất "làm quen" đó là: "bài toán có lời văn" với giải toán có lời văn thì bước đầu hình thành ở học sinh kỹ năng giải các bài toán đơn về thêm (bớt) một số đơn vị

Như vậy, năng lực tư duy của học sinh được nâng dần thông qua việc học giải toán với mức độ khó tăng dần theo từng lớp

2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng Sáng kiến kinh nghiệm 2.2.1 Phương pháp dạy học của giáo viên:

Qua thời gian 7 năm giảng dạy lớp 1, giao lưu chuyên môn trong nhà trường, tôi đã tìm ra thực trạng dạy học giải toán nói chung và giải toán đơn cho học sinh lớp 1 nói riêng ở trường tiểu học và THCS Cát Vân nơi tôi đang công tác, tôi nhận thấy những mặt ưu điểm và nhược điểm như sau:

a Ưu điểm:

Trong giờ học, giáo viên đã biết kết hợp nhiều phương pháp,cách thức tổ chức dạy học để học sinh hoạt động tích cực, tự tìm ra kiến thức mới Nói chung giáo viên nói ít, chủ yếu là tổ chức các hoạt động cho học sinh

Giáo viên đã sắp xếp, dành nhiều thời gian cho học sinh làm việc với SGK và vở bài tập

b Nhược điểm:

Phương pháp cũ đã ăn sâu vào giáo viên, do khả năng thích ứng còn hạn chế nên giáo viên thường chỉ truyền đạt, giảng giải theo các tài liệu đã có sẵn trong sách giáo khoa Vì vậy, giáo viên thường làm việc một cách máy móc, ít quan tâm đến khả năng sáng tạo của học sinh Việc giao bài tập của giáo viên đồng loạt từng bài trong vở bài tập cho học sinh trong lớp, làm cho học sinh có năng lực thường không có hứng thú học tập, vì các em giải quyết các bài tập đó

Trang 3

phần vì dễ, phần vì làm xong lại phải chờ đợi cô chữa giảng giải cặn kẽ cho các bạn khác Giáo viên chưa chú ý bồi dưỡng học sinh năng khiếu

Khi hướng dẫn giải toán, giáo viên thường dập khuôn theo sách và thường tiến hành như sau:

- Gọi một học sinh đọc đề toán

- Gọi học sinh khá trả lời câu hỏi

+ Bài toán cho biết gì ?

+ Bài toán hỏi gì ?

Đồng thời giáo viên ghi tóm tắt, sau đó giáo viên hỏi tiếp Chẳng hạn bài toán có liên quan đến phép cộng

Giáo viên hỏi:

- Muốn tìm… ta làm phép tính gì ? (cộng)

- Lấy mấy cộng với mấy ?

- Được bao nhiêu… ?

- Sau đó gọi 1 em lên bảng giải, lớp làm bài

- Lớp và giáo viên nhận xét đúng, sai

Làm theo trình tự trên chỉ có học sinh tiếp thu bài nhanh là được làm việc, học sinh khả năng tiếp thu bài chậm chỉ ngồi nghe vì chưa kịp phân tích tìm hiểu

đề Do đó các em chỉ việc nhìn bài ở trên bảng chép vào vở

Cách làm này, giáo viên bày sẵn kiến thức cho học sinh, học sinh chỉ việc trả lời một số câu hỏi là xong bài Đây không phải là dạy giải toán cho học sinh

- Thông thường sau mỗi bài học sinh làm, giáo viên tự đánh giá và nhận xét, tiêu chuẩn đánh giá và học sinh ghi nhớ và làm giống những điều giáo viên dạy

- Giáo viên chưa hướng dẫn học sinh lựa chọn cách giải, chưa tự tìm tòi sáng tạo trong giải toán

2.2.2 Thực trạng học giải toán có lời văn của học sinh lớp 1:

Do cách dạy của giáo viên nên khi giải toán đơn ở lớp 1, học sinh còn máy móc, chỉ biết làm theo mẫu chứ chưa biết so sánh, liên hệ và làm được những bài toán khác

- Một bộ phận học sinh lười suy nghĩ, chủ yếu ngồi chờ ghi bài giải đã chữa sẵn trên bảng

Khi gặp những bài toàn có “dữ kiện” mẫu, học sinh thường lúng túng

2.2.3 Khảo sát đầu năm:

Để kiểm tra sự hiểu biết của các em về "giải toán có lời văn" tôi đã khảo sát học sinh lớp 1B làm bài tập.Kết quả thu được như sau:

Tổng số HS

lớp 1B

Giải bài giải toán có lời văn về

“thêm”, “bớt” một số đơn vị

Trang 4

TS Hoàn thành tốt Hoàn thành Chưa hoàn thành 22

Bản thân là một giáo viên chủ nhiệm lớp 1B, với kết quả của học sinh như trên quả là điều không mong muốn Bởi vậy tôi đã áp dụng một số giải pháp giúp học sinh học tốt giải toán có có lời văn thông qua các tiết học toán trên lớp

2.3 Các giải pháp sử dụng để giải quyết vấn đề.

Dạy “Giải toán có lời văn “ cho học sinh lớp 1 đạt hiệu quả cao, trước hết thầy cô giáo phải nắm vững phương pháp dạy học môn toán theo hướng đổi mới, khái quát và cụ thể nội dung kiến thức cần cung cấp cho học sinh Dạy giải toán có lời văn cho học sinh lớp 1 đóng một vai trò quan trong trong dạy toán ở tiểu học Bởi vậy trong giảng dạy, chúng ta có thể sử dụng một số biện pháp sau đây:

Biện pháp 1: Nghiên cứu nội dung dạy học giải toán có lời văn cụ thể ở lớp 1 để đưa ra phương pháp giải nhằm nâng cao chất lượng dạy học.

Tôi nhận thấy để “Giải bài toán có lời văn” điều đầu tiên phải nắm thật chắc nội dung chương trình, sách giáo khoa.Trong chương trình toán lớp Một, giai đọan đầu học sinh còn đang học chữ nên chưa thể day ngay

“Bài toán có lời văn” Mặc dù đến tận Tuần 23, học sinh mới được chính thức học cách giải toán “Bài toán có lời văn” song chúng ta đã có ý ngầm chuẩn bị từ xa cho việc làm này ngay từ bài “ Phép cộng trong phạm vi 3 (Luyện tập)” ở Tuần 7

Bắt đầu từ tuần 7 cho đến các tuần 16 trong hầu hết các tiết dạy về phép cộng ,trừ đều có các bài tập thuộc dạng “ Nhìn tranh nêu phép tính” ở đây học sinh được làm quen với việc:

- Xem tranh vẽ

- Nêu bài toán bằng lời

- Nêu câu trả lời

- Điền phép tính thích hợp (Với tình huống trong tranh)

Ví dụ: Bài 5a( trang 46): Sau khi xem tranh vẽ ở trang 46 (SGK), học sinh tập nêu bằng lời: “Có 1 quả bóng màu trắng và 2 quả bóng màu xanh Hỏi có tất cả bao nhiêu quả bóng? Rồi tập nêu miệng câu trả lời: “Có tất cả

3 quả bóng” Sau đó viết phép tính thích hợp:

Tiếp theo đó ,kể từ tuần 17 học sinh được làm quen với việc đọc tóm tắt rồi nêu đề toán bằng lời,sau đó nêu cách giải rồi tự điền số và phép tính thích hợp vào dãy 5 ô trống.Ở đây không còn tranh vẽ nữa( Bài 3b trang 87,bài 5 trang 89)

Trang 5

Từ tuần 23 học sinh tự đọc đề toán rồi nêu tóm tắt bài toán,sau đó tự giải bài toán

Biện pháp 2: Nắm vững phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh.

Một trong những phương pháp dạy học toán ở tiểu học hiện nay đó là việc

sử dụng các phương pháp dạy học tích cực nhằm phát huy tối đa khả năng làm việc một cách chủ động, tích cực dưới sự tổ chức, điều khiển của giáo viên

Phương pháp này tác động liên tục nhằm kích thích tư duy của học sinh,

tổ chức hoạt động nhận thức của học sinh theo quy trình tạo điều kiện cho giáo viên và học sinh đều tham gia tích cực vào quá trình dạy học, học sinh được tiếp cận kiến thức bằng hoạt động làm bài tập, học sinh được làm việc cá nhân hoặc theo nhóm, trao đổi hợp tác với bạn, với thầy

Trong phương pháp dạy học tích cực thì người giáo viên giữ vai trò chủ đạo, tổ chức các tình huống học tập, hướng dẫn học sinh giải quyết vấn đề, khẳng định kiến thức mới trong vốn tri thức của học sinh Vì vậy nói chung giáo viên nói ít, giảng ít nhưng lại thường xuyên làm việc với từng học sinh hoặc từng nhóm học sinh Đòi hỏi giáo viên phải biết cách tổ chức các hoạt động của học sinh, đồng thời phải có một tri thức vượt ngoài lĩnh vực hạn chế của bộ môn mình dạy để có thể làm chủ nội dung và nghệ thuật dạy Cách dạy như thế giúp học sinh phát triển năng lực, sở trường cá nhân

Học sinh là chủ thể nhận thức, phải chủ động, độc lập suy nghĩ, làm việc tích cực và biết tự học, tự chiếm lĩnh tri thức từ nhiều nguồn khác nhau, dưới sự theo dõi hướng dẫn của giáo viên Cách học này tạo cho học sinh thói quen tự giác, chủ động không dập khuôn, biết tự đánh giá và đánh giá kết quả học tập của mình, của bạn, đặc biệt là tạo niềm vui, niềm tin trong học tập

Như vậy học sinh trở thành trung tâm của quá trình dạy học nghĩa là học sinh phải hoạt động nhiều, hoạt động để đạt được các yêu cầu của bài học Giáo viên trở thành người cộng tác thực sự trong cùng một công việc, cùng một nhiệm vụ theo cách thức hình thức khác nhau

Ngoài việc quan tâm tới vai trò của giáo viên và học sinh, phương pháp dạy học tích cực còn quan tâm đến cả yếu tố môi trường (bao gồm cơ sở vật chất, tâm tư, tình cảm, tính cách ) Bởi môi trường ảnh hưởng đến phương pháp học của học sinh và phương pháp sư phạm của giáo viên và giữa chúng có sự tác động tương hỗ

Trong các tiết học trên lớp tôi thường chia nhóm theo trình độ nhận thức của học sinh và giao bài phù hợp với từng đối tượng học sinh như sau:

Nhóm học sinh tiếp thu bài chậm:

Ví dụ: An có 4 quả bóng.Bình có 3 quả bóng.Hỏi cả hai bạn có mấy quả bóng?

Tóm tắt:

An có : quả bóng

Bình có : quả bóng

Trang 6

Cả 2 bạn có : quả bóng?

Khả năng tiếp thu bài của các em chậm nên giáo viên cho các em quan sát

kĩ tranh vẽ( hoặc mẫu vật), giáo viên nêu câu hỏi gợi mở để các em viết được tóm bài toán.Sau đó giáo viên đặt câu hỏi gợi ý để các em nêu được câu lời giải

và phép tính.Dần dần các em tự giải được bài toán mà không cần quan sát tranh vẽ

Nhóm học sinh tiếp thu bài bình thường:

Ví dụ: Viết số thích hợp vào tóm tắt rồi giải bài toán sau:

Bài toán: Lúc đầu tổ em có 6 bạn,sau đó có thêm 3 bạn nữa.Hỏi tổ em có tất cả bao nhiêu bạn?

Tóm tắt:

Có : bạn

Thêm : bạn

Có tất cả: bạn?

Nhóm học sinh tiếp thu bài nhanh:

Ví dụ: Giải bài toán theo tóm tắt sau:

Tóm tắt:

Có : 5 hình vuông

Có : 4 hình tròn

Có tất cả : bao nhiêu hình vuông và hình tròn?

Học sinh tiếp thu bài nhanh hơn mức độ yêu cầu cao hơn.Các em phải đọc

kĩ tóm tắt bài toán,nêu được đề toán sau đó các em mới giải được bài toán

Biện pháp 3: Tìm hiểu để nắm vững quy trình chung khi giải bài toán

có lời văn ở tiểu học để vận dụng vào việc dạy “ giải toán có lời văn ’’ở lớp 1.

Quá trình giải toán gồm 4 bước sau:

*Bước 1: Tìm hiểu nội dung bài toán

*Bước 2: Tìm đường lối giải bài toán

*Bước 3: Thực hiện cách giải toán

*Bước 4: Kiểm tra bài giải

Thực tiễn dạy học giải toán đã khẳng định tính đúng đắn của sơ đồ 4 bước giải toán nói trên Đối với học sinh tiểu học, đặc biệt là học sinh lớp 1 để hình thành thói quen và kĩ năng áp dụng sơ đồ 4 bước đó cần giúp học sinh nắm vững

và hiểu rõ mục đích, ý nghĩa mục đích đối với giải toán có lời văn

Bước 1: Tìm hiểu nội dung bài toán

Quá trình tìm hiểu nội dung bài toán (đề toán) thường thông qua việc đọc bài toán Học sinh cần đọc kỹ, hiểu rõ đề toán, phân biệt được cái đã cho và cái phải tìm Khi đọc bài toán phải hiểu rõ những từ, những thuật ngữ quan trọng

mà người ta thường gọi là các từ “chìa khoá” Chẳng hạn như “thêm”, “bớt”,

“bay đi” , “bán đi”, “lấy ra”, “ nhiều hơn” Do vậy, trong dạy học giải toán có lời văn ở Tiểu học nói chung và ở lớp 1 nói riêng, cần chú ý với việc kết hợp

Trang 7

giảng giải từ và thuật ngữ toán học giúp học sinh hiểu được nội dung bài toán.

Để kiểm tra việc học sinh hiểu nội dung bài toán như thế nào ? Giáo viên yêu cầu cầu học sinh nhắc lại yêu cầu bài toán không phải bằng hình thức đọc thuộc lòng mà bằng cách diễn đạt của mình Sau khi đọc bài toán học sinh cần xác định được 3 yếu tố cơ bản của bài toán:

Dữ kiện của bài toán: Đó là những cái đã cho và những cái đã biết của bài toán

Ẩn số: Là cái chưa biết, cái cần tìm mà bài toán yêu cầu

Điều kiện của bài toán đó là mối liên hệ giữa các dữ kiện và các ẩn số

Bước 2: Tìm đường lối giải bài toán

Hoạt động tìm tòi cách giải của bài toán gắn liền với việc phân tích các

dữ kiện, ẩn số và điều kiện của bài toán nhằm xác lập mối quan hệ giữa chúng

Từ đó lựa chọn phép tính số học thích hợp Hoạt động này thường diễn ra như sau:

Minh hoạ bài toán thông qua tóm tắt đề toán

Lập kết hoạch giải toán nhằm xác lập trình tự giải quyết, thực hiện các phép tính số học

Về tóm tắt đề toán: Việc này sẽ giúp học sinh bớt được một số câu, chữ làm cho bài toán gọn lại, nhờ đó mối quan hệ giữa các số đã cho và số phải tìm hiện ra rõ hơn Một số cách tóm tắt đề toán:

a Cách tóm tắt bằng chữ, (bằng lời)

b Cách tóm tắt bằng sơ đồ đoạn thẳng

c Cách tóm tắt bằng hình tượng trưng

Các hình tượng trưng có thể là hình vuông, hình tròn, hình tam giác, hình chữ nhật

Trong dạy học giải toán có lời văn ở lớp 1 thường thấy các cách tóm tắt bằng lời và bằng sơ đồ đoạn thẳng

Có hai hình thức thể hiện tương ứng với hai phương pháp tìm cách giải cho một bài toán

Thứ nhất: Phép phân tích đi lên.

Là phương pháp đi từ câu hỏi của bài toán đến dữ kiện của bài toán Tức

là phải tập trung vào câu hỏi của bài toán và suy nghĩ xem muốn trả lời được câu hỏi đó thì phải biết những gì và phải làm phép tính gì? Trong những điều kiện cần thiết phải biết đó thì cái nào là cái có sẵn, cái nào phải tìm và tìm như thế nào? Cứ như thế ta suy nghĩ ngược lên: Từ câu hỏi của bài toán trở về các điều kiện của bài toán Đây là phương pháp tìm cách giải thông dụng nhất

Thứ hai: Phép tổng hợp.

Là phương pháp tìm cách giải đi từ dữ kiện của bài toán đến câu hỏi của bài toán Từ những cái đã cho (đã có) suy ra hoặc tính được điều gì giúp ích cho việc giải toán không? Cứ như thế ta suy luận để tìm ra cách giải toán Tuy nhiên, cách này không phổ biến vì với mỗi phép tính thực hiện, học sinh chưa hiểu

Trang 8

được mục đích của việc làm đó và vì sao phải làm như vậy Thông thường người

ta chỉ sử dụng phép này để trình bày cách giải của bài toán

Bước 3: Thực hiện cách giải bài toán.

Khi đã hoàn thành bước 2, ta thực hiện cách giải theo cách đã nêu ở bước 2

Hoạt động này bao gồm việc thực hiện phép tính đã được nêu trong bước tìm cách giải bài toán nêu trên và trình bày bài giải

Cách trình bày bài giải:

- Phải ghi lời giải tương ứng với mỗi phép tính trong bài giải Trong đó cần lưu ý:

- Các phép tính giải được ghi với hư số và ghi kèm với đơn vị sau mỗi kết quả của phép tính vào trong ngoặc đơn

Câu lời giải cần phải ghi ngắn gọn, đủ ý

+ Cần có đáp số cuối lời giải (bài toán có bao nhiêu câu hỏi thì có bấy nhiêu đáp số, chỉ ghi đáp số)

+ Nếu bài toán có nhiều cách giải thì chỉ ghi đáp số sau cách giải cuối cùng

+ Yêu cầu các phép tính hàng ngang, không viết theo hàng dọc

Bước 4: Kiểm tra cách giải bài toán.

Việc kiểm tra nhằm phân tích xem cách giải phép tính và kết quả là đúng hay sai, có các hình thức thực hiện sau:

+ Thiết lập tương ứng các phép tính giữa các số đã tìm được trong quá trình giải với các số đã cho

+ Tạo ra bài toán ngược với bài toán đã cho rồi giải nó

+ Giải bài toán bằng cách khác rồi so sánh đáp số

+ Xét tính hợp lý của đáp số

Việc kiểm tra cách giải và đáp số của bài toán là yêu cầu không thể thiếu khi giải toán

Thực tế quan sát học sinh tiểu học khi giải toán chúng tôi nhận thấy rằng: Các em thường coi bài toán đã được giải xong khi có đáp số Nhưng khi giáo viên hỏi: “Em có chắc chắn đó là kết quả đúng không?” thì đa số các em đã lúng túng và chưa trả lời được ngay

Kiểm tra cách giải và đáp số của bài toán là các việc như kiểm tra về: + Cách sử dụng dụng dữ kiện

+ Lựa chọn và thực hiện phép tính

+ Cách trình bày bài giải (diễn đạt câu văn , thứ tự thực hiện)

+ Kiểm tra lại phương pháp và thủ thuật đã sử dụng khi giải toán

Đây là bước không thể thiếu trong quá trình giải toán ở tiểu học, điều đó giúp các em đảm bảo được tính chính xác cao khi giải toán và đặc biệt giúp phát triển ở các em năng lực sáng tạo, tính tích cực, chủ động và độc lập giải

Trang 9

toán Đối với học sinh giỏi việc tìm ra nhiều cách giải toán khác nhau cho cùng một bài toán đó là biện pháp tốt nhất để tìm ra cách giải và đáp số của bài toán

đó Hơn thế nữa, nó tạo điều kiện cho sự phát triển tư duy linh hoạt, năng động sáng tạo của học sinh Ngược lại, việc giúp học sinh biết cách đánh giá cách giải

là một động lực thúc đẩy sự cố gắng tìm ra cách giải khác nhau để giải bài toán

Biện pháp 4: Phương pháp dạy học giải toán có lời văn ở lớp 1:

Quy trình “ Giải bài toán có lời văn” thông thường qua 4 bước:

- Đọc và tìm hiểu nội dung bài toán

- Tìm đường lối giải bài toán

- Trình bày bài giải

- Kiểm tra cách giải bài toán

1 Đọc và tìm hiểu nội dung bài toán

Muốn học sinh hiểu và có thể giải được bài toán thì điều quan trọng đầu tiên là phải giúp các em đọc và hiểu được nội dung bài toán Giáo viên cần tổ chức cho các em đọc kĩ đề toán, hiểu một số từ khóa quan trọng như

“thêm,và,tất cả, hoặc “ bớt bay đi ăn mất,còn lại, ” ( có thể kết hợp quan sát tranh vẽ để hỗ trợ) Để học sinh dễ hiểu đầu bài giáo viên cần gạch chân

tữ ngữ chính trong đề bài Khi gạch chân giáo viên nên dùng phấn màu để học sinh dễ quan sát

Trong giai đoạn đầu,giáo viên nên giúp học sinh tóm tắt đề toán bằng cách đàm thoại: “Bài toán cho biết gì? Hỏi gì” và dựa vào câu trả lời của học sinh để viết tóm tắt đề , sau đó cho học sinh dựa vào tóm tắt nêu lại đề toán Đây là cách rất tốt để giúp học sinh ngầm phân tích đề toán

Nếu học sinh gặp khó khăn trong khi đọc đề toán thì giáo viên nên cho các em nhìn tranh và trả lời câu hỏi

Ví dụ : Bài 2 trang 118; lúc đầu tổ em có 6 bạn,sau đó có thêm 3 bạn

nữa.Hỏi tổ em có tất cả bao nhiêu bạn?

Giáo viên có thể hỏi:

- Em thấy lúc đầu có mấy bạn? ( lúc đầu có 6 bạn)

- Sau đó có thêm mấy bạn nữa? ( có thêm 3 bạn nữa)

- Tổ em có tất cả mấy bạn? ( có tất cả 9 bạn)

Trong trường hợp không có tranh ở sách giáo khoa thì giáo viên có thể gắn mẫu vật lên bảng từ để thay cho tranh; hoặc dùng tóm tắt bằng lời hoặc

sơ đồ đoạn thẳng để hỗ trợ cho học sinh đọc đề toán

Thông thường có 3 cách tóm tắt đề toán :

Tóm tắt bằng lời:

Ví dụ 1: Bài 2 (trang 121)

Có : 14 bức tranh

Thêm : 2 bức tranh

Có tất cả: bức tranh ?

Trang 10

Tóm tắt bằng sơ đồ đoạn thẳng:

Ví dụ 2 : Bài 4 (trang 125)

A 3 cm B 2 cm C

? cm

-Tóm tắt bằng sơ đồ mẫu vật

Ví dụ 3

Có :

Thêm:

Có tất cả: hình tam giác?

Kiểu tóm tắt như thế này khá gần gũi với cách đặt tính dọc nên có tác dụng gợi ý cho học sinh lựa chọn phép tính giải

Giai đoạn đầu nói chung bài toán nào cũng nên tóm tắt rồi cho học sinh dựa vào tóm tắt nêu đề toán Cần lưu ý dạy giải toán là cả một quá trình, không nên vội vàng yêu cầu các em đọc thông thạo đề toán, viết được câu lời giải, phép tính và đáp số để có một bài chuẩn mực ngay từ ngay từ tuần 23,24.Mà chúng ta cần nhẹ nhàng, bình tĩnh cho học sinh làm quen dần từng bước thì hiệu quả dạy học sẽ cao hơn

Tìm đường lối giải bài toán:

Sau khi học sinh tìm hiểu kĩ đề toán, xác định cái đã cho và cái phải tìm Tiếp theo giáo viên nêu câu hỏi gợi mở giúp học sinh nêu được phép tính và câu lời giải

Ví dụ : Bài 3 (trang 130): Lan hái được 20 bông hoa, Mai hái được 10 bông hoa Hỏi cả hai bạn hái được bao bông hoa?

- Bài toán cho gì? (Lan hái được 20 bông hoa)

- Còn cho biết gì nữa? (Mai hái được 10 bông hoa)

- Bài toán hỏi gì? (Cả hai bạn hái được bao bông hoa )

Giáo viên nêu tiếp:

- Muốn biết cả hai bạn hái được bao nhiêu bông hoa em làm tính gì? (Tính cộng)

- Lấy bao nhiêu cộng bao nhiêu? (20 + 10)

- Hoặc: Muốn biết cả hai bạn hái được bao nhiêu bông hoa em tính thế nào? (20 + 10 = 30)

Hoặc : “Cả hai bạn hái được bao nhiêu bông hoa?” (30 bông hoa) Em tính thế nào để được 30? (20 + 10 = 30)

Từ đấy giáo viên gợi ý để học sinh nêu tiếp” 30 này là 30 bông hoa nên ta viết bông hoa vào trong dấu ngoặc đơn: 20 + 10 = 30 (bông hoa)

Ngày đăng: 28/12/2017, 22:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w