Qua học giải toán giáo viên từng bước giúp học sinh phát triển tư duy đồng thời rèn luyện những đức tính và phong cách làm việc của con người lao động thế kỷ XXI tính nhanh nhẹn, hoạt bá
Trang 1PHẦN 1: MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài.
Để hoà chung với sự đi lên của toàn cầu, đất nước đang chuyển mình trong xu thế đổi mới và phát triển chủ của toàn xã hội trên tất cả các lĩnh vực Để bước sang một thời đại mới, một thế kỷ mới Thế kỷ XXI, thế kỷ của khoa học công nghệ thông tin với mục tiêu xây dựng đất nước ta: Dân giàu Nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh Đại hội lần thứ IV của ban chấp hành trung ương Đảng cộng sản Việt Nam đã khẳng định: “Giáo dục là quốc sách hàng đầu trong sự nghiệp phát triển đất nước.” Đại hội Đảng lần thứ VII đã chỉ rõ và khẳng định rằng: “ Giáo dục vừa là động lực vừa là tiền đề của sự phát triển xã hội trong thời kỳ đổi mới của đất nước ta” Bên cạnh đó Nghị quyết cũng chỉ ra rằng Trách nhiệm và sứ mệnh vô cùng cao quý của người giáo viên là những kỹ sư tâm hồn, những chiến sỹ trên mặt trận tư tưởng văn hoá trong sự nghiệp giáo dục và trong thời kỳ công nghiệp hóa -hiện đại hoá đất nước Để theo kịp với các nước tiên tiến trên thế giới, ngành giáo dục đã có đổi mới trong việc dạy và học
Chương trình dạy học ở Tiểu học rất quan tâm rèn luyện cho học sinh phát triển toàn diện các mặt: Đức, trí, thể, mỹ … trong đó trọng tâm là giáo dục đạo đức, phát triển trí tuệ học sinh Có thể nói, Toán học là một trong những bộ môn có vai trò chủ đạo trong việc giúp học sinh phát triển trí tuệ của mình Bởi vì, dạy học Toán và nhất là giải toán, đòi hỏi học sinh phải tư duy một cách tích cực và linh hoạt, huy động thích hợp các kiến thức và kỹ năng đã có vào các tình huống khác nhau Học giải toán học sinh phải biết suy nghĩ năng động, sáng tạo để phát hiện những dữ kiện, điều kiện chưa được đưa ra môt cách tường minh Vì vậy có thể nói giải toán là một trong những biểu hiện năng động nhất của trí tuệ học sinh
Qua học giải toán giáo viên từng bước giúp học sinh phát triển tư duy đồng thời rèn luyện những đức tính và phong cách làm việc của con người lao động thế
kỷ XXI tính nhanh nhẹn, hoạt bát, tính làm việc có kế hoạch, tính chăm chỉ cận thận, thói quen làm việc xét đoán có căn cứ khoa học, có kiểm tra kết quả cuối cùng, từng bước hình thành phát triển và rèn luyện thói quen suy nghĩ làm việc học độc lập, linh hoạt sáng tạo …
Trong quá trình học tập giải Toán giúp học sinh tạo thói quen không thoả mãn với kết quả tìm ra để học sinh say mê tìm tòi hơn nữa
Quá trình dạy học giải Toán giúp học sinh biết trình bày làm rõ ràng mạch lạc, khoa học đúng quy cách, biết sử dụng câu lời giải phù hợp … Từ đó giúp học sinh hiểu cái hay, cái đẹp trong Toán học
Vì ý nghĩa giáo dục nhiều mặt của dạy học Toán nói chung, giải Toán nói riêng, mà trong quá trình dạy học giải Toán phải làm sao cho các em thành thạo các bài toán có lời văn trong chương trình Lớp 1 là một việc làm cần thiết mà chúng ta phải bồi dưỡng cho học sinh để làm nền tảng, tạo đà cho các lớp trên Thực tế giảng dạy Toán Lớp 1 cho thấy việc dạy học sinh giải toán có lời văn là việc làm khó
Trang 2khăn, đòi hỏi giáo viên phải giải quyết tốt các vấn đề liên quan khắc phục khó khăn Đồng thời phối hợp vận dụng những kinh nghiệm của bản thân với kiến thức
và phương pháp dạy học để đạt kết quả tốt Ngoài ra phải nắm vững và phân loại đối tượng học sinh để có kế hoạch dạy học phù hợp trình độ cho học sinh, dạy học phải biết cá thể hoá hoạt động học tập của học sinh để giúp học sinh có khả năng phát triển tối đa hoạt động trí tuệ của mình Đấy là mục đích cuối cùng của việc dạy
học Toán Do đó, tôi chọn nghiên cứu “Một số biện pháp nâng cao chất lượng giải toán có lời văn cho học sinh lớp 1” để tìm ra những biện pháp hữu hiệu nhằm
khắc phục các mặt hạn chế, giúp cho việc giải Toán có lời văn của học sinh khối 1 đạt hiệu quả cao
2 Mục đích nghiên cứu.
- Tìm biện pháp giúp học sinh giải toán
- Trang bị thêm kiến thức cho bản thân
3 Đối tượng nghiên cứu.
- Nâng cao chất lượng giải toán có lời văn cho 13 học sinh lớp 1B Trường Tiểu học Cát Tân - Như Xuân
- Những nguyên nhân và giải pháp để nâng cao chất lượng giải toán có lời văn
4 Phương pháp nghiên cứu.
Để thực hiện tốt biện pháp nâng cao chất lượng giải toán có lời văn co học sinh lớp 1, tôi đã sử dụng một số phương pháp sau:
4.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết.
4.2 Phương pháp quan sát.
4.3 Phương pháp điều tra.
PHẦN 2: NỘI DUNG
1 Cơ sở lí luận của việc giải toán có lời văn cho học sinh lớp 1
Trong phân phối chương trình Toán 1, nội dung giải toán có lời văn chính thức ở tuần 22 mới có bài cụ thể vì giai đoạn này học sinh đã học gần hết các vần, đọc được tương đối nhiều từ ngữ Những trước đó ( từ bài phép cộng trong phạm vi
4 ở tuần 7) học sinh đã được làm quen với dạng toán giải ở mức độ quan sát tranh nêu miệng bài toán rồi mới viết phép tính thích hợp vào các ô trống và đến tuần thứ
16 học sinh tiếp tục được làm quen dạng toán này dựa vào tóm tắt bài toán để viết phép tính Như vậy có thể nói, mạch toán có lời văn xuyên suốt và chiếm lĩnh thời lượng tương đối lớn ở sách Toán 1 mới Vì vậy để nâng cao chất lượng giải toán có lời văn cho học sinh lớp 1 cần có những giải pháp hữu hiệu nhất
Môn Toán, đặc biệt là giải toán có lời văn còn góp phần giáo dục ý thức tìm tòi sáng tạo và nhiều kỹ năng tính toán cần thiết để con người phát triển toàn diện, hình thành nhân cách tốt đẹp cho con người lao động trong thời đại mới Bậc tiểu
Trang 3học, một yêu cầu quan trọng là dạy cho trẻ cách học nhằm xây dựng cho học sinh những kỹ năng cơ sở giao tiếp, đặc biệt, Giải toán có lời văn giúp học sinh phát triển về nhân cách, óc sáng tạo một cách nhẹ nhàng hơn, tự nhiên hơn và chất lượng hơn
Như vậy, đổi mới phương pháp dạy học phải thiết thực, góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục tiểu học, tạo điều kiện để cá thể hoá dạy học và khuyến khích dạy học phát triển ra nội dung của bài học
2 Thực trạng của việc dạy và học về dạng toán có lời văn lớp 1 trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm.
Trong những năm trước, khi dạy các dạng toán có lời văn cho học sinh lớp 1, tôi rút ra những nhận xét sau đây:
* Về phía giáo viên:
Trong quá trình giảng dạy, giáo viên đã chú ý đến việc phát huy tính tích cực của học sinh, học sinh tự tìm ra tri thức mới dưới sự hướng dẫn của giáo viên Hình thức dạy học đa dạng, phong phú, các trò chơi đã được đưa vào dạy học một cách có hiệu quả nhằm giúp học sinh "học mà chơi, chơi mà học” nắm chắc bài một cách nhẹ nhàng, thoải mái
Bên cạnh đó vẫn còn có phần ít giáo viên do tuổi tác, do trình độ nhận thức nên việc sáng tạo trong dạy học vẫn có phần hạn chế Chủ yếu là chuyển tải nội dung trong sách giáo khoa, hình thức dạy học tẻ nhạt Quy trình lên lớp chủ yếu rập khuôn vào sách giáo viên do Bộ ban hành nên học sinh chưa thực sự ham học; phương pháp dạy học của giáo viên chưa phù hợp với trình độ và tâm lí học sinh, đôi khi còn máy móc, cứng nhắc chưa pháp huy được sự sáng tạo của học sinh
* Về phía học sinh:
Đối với học sinh lớp 1 tư duy logic chưa phát triển, cơ bản là tư duy cụ thể nên giải các bài toán có lời văn đối với các em là rất khó khăn, tỉ lệ làm đúng còn ít
và chưa chặt chẽ Trong thực tế ở Trường Tiểu học Cát Tân, việc giải các bài tập, bài toán có lời văn ở lớp 1 học sinh còn lúng túng rất nhiều Đa số các em đọc đề là làm ngay, bỏ qua các bước giải toán có lời văn Tỷ lệ biết tóm tắt bài toán thấp, cách giải nghèo nàn, thậm chí bị bế tắc khi giải bài toán
Thực tế giảng dạy cho thấy nguyên nhân chủ yến các em vấp phải khi giải toán
có lời văn:
- Nguyên nhân 1: Các em chưa đọc kỹ đề bài.
- Nguyên nhân 2: Phần lớn các em chưa biết sàng lọc những yếu tố nào cơ bản,
yếu tố nào không cơ bản cần phải loại bỏ để tóm tắt bài toán
- Nguyên nhân 3: Các em chưa biết phát hiện từ "chìa khoá", dẫn đến làm sai
phép tính
- Nguyên nhân 4: Khi viết câu lời giải của bài toán các em chưa biết dựa vào
câu hỏi làm câu lời giải cho bài toán
Trang 4Đứng trước thực trạng đó, tôi băn khoăn trăn trở phải làm thế nào để chất lượng môn toán năm sau cao hơn năm trước, nhất là giải toán có lời văn Qua theo dõi chất lượng môn Toán ở lớp 1A (Tổng số học sinh: 24 em) trong năm học 2014 – 2015 tôi tổng hợp được như sau:
MỨC ĐỘ
Qua bảng tổng hợp trên ta thấy chất lượng môn Toán cuối kỳ I cao hơn ở học
kỳ II Vì sao vậy?
Như đã nói trước, ở tuần 22 học sinh bắt đầu học sinh giải toán có lời văn và khoảng tuần thứ 25 và 26 là thi học kỳ II để kiểm tra chất lượng Như vậy rõ ràng chất lượng thấp ở học kỳ II có phần do có bài toán giải Xem thực tế bài làm của học sinh nhiều em bị mất điểm ở bài giải
Để khắc phục được các nguyên nhân trên Tôi đã trăn trở tìm tòi và đúc rút kinh nghiệm trong việc giải toán có lời văn
3 Các giải pháp đã sử dụng để nang cao chất lượng giải Toán có lời văn ở lớp 1
3.1 Về giải pháp:
3.1.1 Nghiên cứu dạng giải toán có lời văn trong chương trình Toán 1.
Ở phạm vi sáng kiến này tôi chỉ đề cập đến một mảng kiến thức trong sách giáo khoa Toán lớp 1 đó là nội dung giải toán có lời văn bao gồm:
- Nhận biết về bài toán có lời văn
- Biết giải các bài toán đơn về thêm, bớt
- Biết trình bày bài giải
3.1.2 Tìm hiểu đối tượng học sinh.
- Tâm lý học sinh:
Với đối tượng là học sinh lớp 1, các em bắt đầu bước vào môi trường mới, có quá nhiều điều lạ lẫm với các em, tâm lý lo âu, sợ sệt, rụt rè, ảnh hưởng nhiều đến kết quả học tập
Theo Tâm lý học thì nhận thức của các em chủ yếu thông qua con đường từ
trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng Dưới tác động của học tập tư duy của trẻ đang phát triển
- Trình độ học sinh:
Có thể nói học sinh lớp 1 như một tờ giấy trắng Giờ đây các em mới bắt tay vào học tập, lĩnh hội trí thức và hầu như các hoạt động học tập của các em chưa
Trang 5được làm quen Về kinh nghiệm và vốn sống quá ít ỏi Do vậy, đối tượng này giáo viên phải thật bình tĩnh, không được nôn nóng, mà phải tác động dần dần trong quá trình học tập mới mong đạt kết quả cao
Để bước đầu học sinh lớp 1 thực hiện giải toán có lời văn yêu cầu học sinh biết cách tìm hiểu đề, học sinh cần nhận thức đúng đắn về việc tìm hiểu đề, tóm tắt và phân tích đề, thực hiện lời giải và giải bài toán
3.1.3 Nghiên cứu phương pháp giảng dạy về dạng giải toán có lời văn.
Để giúp các em giải toán có lời văn đạt kết quả cao trước hết người giáo viên cần nghiên cứu bài dạy ở sách giáo viên và sách học sinh Ngoài ra còn tìm hiểu thêm ở các tài liệu có liên quan như: Tập san, sách nâng cao … dạy lớp 1 theo chương trình Tiểu học mới Ngoài ra người thấy cần chuẩn bị tốt đồ dùng dạy học như: Bộ đồ dùng biểu diễn, tranh minh hoạ, vật thật và tự học tự bồi dưỡng để nâng cao trình độ cho bản thân
Giáo viên là người định hướng, dẫn dắt học sinh lĩnh hội kiến thức Do đó giáo viên phải nhận rõ vai trò và nhiệm vụ mới của mình, tránh làm thay việc của các em
Xác định phương pháp và hình thức dạy học cụ thể:
- Phương pháp: Nêu vấn đề Quan sát – hỏi đáp Luyện tập – thực hành
- Hình thức: Cá nhân Nhóm Toàn lớp
Các phương pháp và hình thức tổ chức phải được sử dụng một cách nhuần nhuyễn, linh hoạt
Xác định rõ về hai dạng giải toán có lời văn:
- Dạng 1: Bài toán về thêm một số đơn vị.
- Dạng 2: Bài toán về bớt một số đơn vị.
Xác định các hoạt động dạy học về giải toán có lời văn:
- Bước 1: Tìm hiểu và tóm tắt bài toán.
- Bước 2: Phân tích các bài toán.
- Bước 3: Trình bày bài toán.
- Bước 4: Kiểm tra đánhh giá bài giải.
3.2 Về các biện pháp tổ chức thực hiện
Biện pháp 1: Hướng dẫn học sinh nắm vững kiến thức các dạng toán đơn
về cộng, trừ.
Trường hợp 1: : "Tìm tổng khi biết hai số"
Ví dụ 1: Bài 4 trang 125 Toán 1
Đoạn thẳng AB dài 3cm và đoạn thẳng BC dài 6cm Hỏi đoạn thẳng AC dài mấy xăng-ti-mét?
Bước 1: Tóm tắt bài toán.
Trang 6A 3cm B 6cm C
cm?
Bước 2: Bài giải.
§o¹n th¼ng AC dài tất cả là:
3 + 6 = 9 (cm)
Đáp số: 9 cm
Ví dụ 2: Một hộp bút có 12 bút xanh và 3 bút đỏ Hỏi hộp đó có tất cả bao
nhiêu cái bút?
Bước 1 : Tóm tắt bài toán.
Có : 12 bút xanh
Có : 3 bút đỏ
Có tất cả … Cái bút ?
B íc 2 : Bài giải
Có tất cả số bút là :
12 + 3 = 15 (cái bút)
Đáp số : 15 cái bút
2 Trêng hîp 2 : " Tìm hiệu khi biết số bị trừ và số trừ ".
Ví dụ : (BT2 – trang 149 - Toán 1)
An có 8 quả bóng, An thả 3 quả bay đi Hỏi An còn lại mấy quả bóng?
Bước 1 : Tóm tắt bài toán.
An có : 8 quả bóng
Thả đi : 3 quả bóng
Còn lại … quả bóng ?
Bước 2: Bài giải:
Số bóng An còn lại là:
8 – 3 = 5 (quả bóng)
Đáp số: 5 quả bóng
* Nhận xét : Trong chương trình học toán của lớp 1 hiện nay, chỉ có hai loại toán
bài giải như vừa nêu trên Thực tế đây là bài thuộc dạng toán đơn giản nhất của
kiểu bài: Giải bài toán có lời văn Chính vì thế khi dạy, giáo viên cần khắc sâu cho
học sinh biết mối quan hệ giữa các thành phần trong đề toán Từ đó để tìm ra thành phần chưa biết dựa trên các thành phần đã biết, như thế là ta đã giúp học sinh trả lời câu hỏi của đề toán
Trang 7Trong thực tiễn ở các trường Tiểu học, khi dạy cho học sinh giải các bài toán
có lời văn, các em còn rất lúng túng trong việc ghi tóm tắt bài toán, cách trình bày
và nhất là tìm ra được câu lời giải thích hợp với mỗi đề toán Chỉ có 10 – 15 % học sinh có thể tự ghi tóm tắt và tìm được câu lời giải thích hợp, còn đa số học sinh không tóm tắt đầu bài mà dập khuôn từ một dạng nào đó áp dụng vào giải các bài tập nên kết quả chưa cao
Các em chưa biết dựa vào tóm tắt và chưa thấy được tầm quan trọng của việc tóm tắt, đây là bước đầu tiên, quyết định cách giải bài toán
Qua các vấn đề trình bày trên và những khó khăn mà học sinh mắc phải khi giải bài toán có lời văn tôi xin củng cố lại một số mẹo nhỏ bên cạnh đường lối chung như sau:
Biện pháp 2: Giúp học sinh tìm ra các bước, tiến hành giải bài toán có lời văn.
Từ các ví dụ cụ thể và qua việc học sinh thực hành làm bài tập, giáo viên giúp học sinh tiến hành giải bài toán có lời văn qua 4 bước sau:
1 §ọc – tìm hiểu bài to¸n
2 Tóm tắt bài toán
3 Phân tích các đại lượng liên quan
4 Thực hiện bµi giải
Bước 1 : Yêu cầu học sinh nhất thiết phải đọc kỹ đề bài (3 lần trở lên), tìm
hiểu để biết được cái đã cho và cái phải tìm, đến đây là điều quan trọng không thể
bỏ qua được Giáo viên cần nhắc nhở học sinh tránh thói quen xấu là vừa đọc đầu bài xong hoặc chưa hiểu kỹ bài đã vội vàng giải toán Như vậy là không tránh khỏi
sự bế tắc khi giải toán hoặc làm lạc đề toán
Để giúp học sinh hiểu rõ đề hoặc tránh việc học sinh bỏ qua việc tìm hiểu đề, giáo viên có thể đưa ra các câu hỏi để giúp học sinh hiểu đề hơn
Ví dụ:
Bài toán cho biết những gì?
Hay bài toán yªu cÇu ta tìm gì?
Cũng có thể yêu cầu học sinh nhắc lại đề toán mà không cần phải nhìn sách
vở Nếu các em nhớ đề, đọc lại được cũng có nghĩa là các em đã hiểu đề
Bước 2 : Tóm tắt bài toán.
Đây là bước rất quan trọng nó là kết quả ban đầu của bíc 1; lúc này bài toán được tóm gọn lại, chủ yếu bằng lược đồ đơn giản Nhờ đó mà mối quan hệ giữa các
số đã cho và số phải tìm hiện rõ hơn, dễ hiểu hơn
Học sinh cần tóm tắt được bài toán, biết phân tích tổng hợp, xác định được yêu cầu của bài ra, tìm ra cách giải thích hợp
Ở chương trình Lớp 1 giáo viên dạy cho học sinh với cách tóm tắt như sau:
Trang 8a Tóm tắt bằng chữ :
Ví dụ: Mai gấp được 6 cái thuyền, Hà gấp được 3 cái thuyền Hỏi 2 bạn gấp được mấy cái thuyền?
Tóm tắt: Mai gấp : 6 cái thuyền
Hà gấp : 3 cái thuyền
Có tất cả … Cái thuyền ?
b.Tóm tắt bằng sơ đồ đoạn thẳng.
Ví dụ: 6 cái thuyền 3 cái thuyền
.Cái thuyền?
c Tóm tắt bằng sơ đồ ven :
Ví dụ: Hằng có 7 quả cam, Nga có 2 quả cam Hỏi cả hai bạn có tất cả bao nhiêu quả cam?
d Tóm tắt bằng chữ và dấu : (Thường là mũi tên hoặc dÊu ngoặc)
Ví dụ: Lan có 10 điểm 9 và 8 điểm 10, Hỏi Lan có tất cả bao nhiêu điểm 9,
10 ?
Tóm tắt:
Có 10 điểm 9
Có 8 điểm 10
Trên đây là 4 cách bài toán mà tôi thường dùng để dạy học sinh Lớp 1 Tuy nhiên đối với học sinh Lớp 1 hiện nay thì kiểu tóm tắt bằng chữ là chủ yếu và thông dụng nhất Các cách tóm tắt trên giúp cho các em học sinh dễ hiểu và khi học sinh
đã tóm tắt được bài toán thì các em sẽ dễ dàng tìm ra cách giải
Bước 3 : Phân tích đề bài toán.
Đây là bước quan trọng trong quá trình giải toán tập trung cao độ tư duy của học sinh Để lập được mối liên quan giữa các đại lượng, trong bước này người thầy
Điểm 9, 10 ?
Trang 9giúp các em biết suy luận Muốn biết được yêu cầu của đề bài là gì? Thì phải làm như thế nào?
Để thực hiện được điều đó giáo viên cần tổ chức cho học sinh đọc kỹ đề toán,
hiểu rõ một số từ khóa quan trọng như: “Thêm, và, tất cả,…” hoặc “Bớt, bay đi,
ăn mất, còn lại,…” (Có thể quan sát tranh vẽ để hỗ trợ)
Trong thời kỳ đầu (Tiết 81, 82) giáo viên nên giúp học sinh tóm tắt bằng cách
đàm thoại: “Bài toán cho gì?, hỏi gì?” và dựa vào câu trả lời của học sinh để viết
tóm tắt, sau đó cho học sinh dựa vào tóm tắt để nêu lại đề toán Đây là cách rất tốt
để học sinh ngầm phân tích đề toán
Ví dụ: Nhà Lan có 5 con gà, mẹ mua thêm 4 con gà Hỏi nhà Lan có tất cả mấy con gà?
* Qua ví dụ trên, ta phân tích như sau:
- Bài toán cho biết gì ? (nhà Lan có 5 con gà)
- Còn cho biết gì nữa ? (mẹ mua thêm 4 con gà)
- Bài toán hỏi gì ? (nhà Lan có tất cả mấy con gà?)
- Giáo viên nêu tiếp: “Muốn biết nhà Lan có tất cả mấy con gà, em làm tính
gì ?” ( tính cộng )
- Mấy cộng mấy ? (4 + 5); 4 + 5 bằng mấy ? (4 + 5 = 9)
Tới đây giáo viên gợi ý để học sinh nêu tiếp: “9 này là 9 con gà”, nên ta viết
“con gà” vào trong dấu ngoặc đơn:
4 + 5 = 9 (con gà)
Trong các bước phân tích bài toán, giáo viên cần hướng dẫn học sinh qua các câu hỏi cụ thể để đi đến yêu cầu được giải quyết tránh tình trạng lan man thiếu trọng tâm và hướng học sinh đi lệch vấn đề
Bước 4 : Trình bày bài giải:
Đây là bước cụ thể hóa của vấn đề tư duy trên, nó được thể hiện rõ nét kỹ năng, kỹ xảo giải bài tập của học sinh Học sinh dựa vào sơ đồ phân tích trên để viết bài toán, nó được chuyển dịch tư duy ngược lại khi phân tích
Nhìn vào bảng tóm tắt phân tích ví dụ trên, ta đi đến trình bày bài giải như sau:
Bài giải:
Nhà Lan có tất cả số gà là :
4 + 5 = 9 (con gà)
Đáp số : 9 con gà
Lưu ý : Khi giải bài toán có lời văn thông thường, các em chỉ cần viết bước 4,
còn lại các bước 1, 2, 3 là bước suy nghĩ và làm miệng Song cũng cần phải tỉ mỉ,
Trang 10cẩn thận, chính vì việc khong để cho các em suy nghĩ cho nên dẫn đến đa số các em qua loa, đại khái, dẫn đến kết quả sai, trong khi giải bế tắc
Trong quá trình giảng dạy bài toán có lời văn có hai điều mà tôi cần lưu ý là :
- Luôn củng cố ý thức nắm các bước giải toán
- Thành thạo kỹ năng tính toán, học thuộc bảng cộng, bảng trừ ; biết làm cộng trừ trong phạm vi 100 không nhớ
- Nếu trong quá trình giải toán, học sinh không nắm được các quy tắc, tiến trình các bước thì không thể tránh được sự nhầm lẫn, bài toán có thể bế tắc hoặc tìm ra cách giải chưa hay, chưa nhanh nhất Cho nên giải một bài toán có lời văn dù
là đơn giản hay phức tạp thì học sinh cần phải tuân thủ các bước tiến hành, không thể qua loa đại khái bước nào thì kết quả mới cao được Điều này giáo viên và học sinh cần ghi nhớ
Nếu trong quá trình giải toán, học sinh không thuộc bảng cộng, trừ thì kết quả không tránh khỏi sự sai sót Đây chính là kỹ năng quan trọng trong tính toán Vì thế cho nên bất cứ bài toán nào cũng đòi hỏi đến kỹ năng tính toán Vì vậy giáo viên phải luôn rèn luyện cho học sinh đọc đúng các phép tính cộng, trừ (không nhớ) và vận dụng thành thạo
Qua một số biện pháp kể trên ta có thể nhận thấy dễ dàng: Muốn giải một bài toán có lời văn tốt thì học sinh phải :
- Nắm chắc đường lối chung giải bài toán
- Học thuộc và vận dụng thành thạo
Biện pháp 3 : Tổ chức cho học sinh cách thực hiện các bước tóm tắt đề toán, trình bày lời giải, phép tính trong dạng : Giải toán có lời văn.
1 Đối với Lớp 1, bài toán có lời văn chỉ đơn thuần là bài toán đơn, các em chủ yếu làm quen với hai loại bài (như đó núi ở trên), và trong chương trình mới này yêu cầu học sinh khi giải phải viết thêm lời giải Đối với bài toán đơn thì các em sẽ dựa vào yêu cầu của bài toán để viết câu lời giải :
Ví dụ : Tóm tắt đề toán (BT2 – trang 149 - Toán 1)
Lan có : 8 quả bóng
Lan thả : 5 quả bóng
Còn lại…… quả bóng ?
Cách 2 : Sau khi tính xong : 8 - 3 = 5 (quả bóng), giáo viên chỉ vào 5 và hỏi : "5quả bóng " ở đây là số bóng của ai " còn lại " ?(Là số bóng của Lan còn lại)
Từ câu trả lời của các em ta giúp học sinh chỉnh sửa thành câu lời giải : " Số bóng của Lan còn lại là " ….
Ở đây, giáo viên cần tạo điều kiện cho học sinh nêu nhiều câu lời giải khác nhau, sau đó cùng bàn bạc, thảo luận để tìm câu trả lời thích hợp nhất Không nên b¾t buộc học sinh nhất thiết phải tuân theo một kiểu nhất định Ngoài ra, từ tuần