CHỦ ĐỀ SỐ 3: Lạm phát có ảnh hưởng tới tất cả các đối tượngtừ người tiêu dùng, doanh nghiệp, đến chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế haykhông? Để kiềm chế lạm phát chính phủ các nước thường sử dụng các biện pháp nào? Ở Việt Nam hiện nay có lạm phát không? Nếu có thìchính phủ Việt Nam sử dụng những biện pháp nào?MỞ ĐẦULạm phát là một hiện tượng kinh tế vĩ mô phổ biến và có ảnh hưởng sâu rộng đến các mặt của đời sống kinh tế xã hội. Lạm phát gắn liền với sự gia tăng đồng loạt của giá cả và sự mất giá của tiền tệ. Lạm phát mang sức mạnh tàn phá tiềm ẩn làm rối loạn nền kinh tế, làm phức tạp xã hội, làm giảm mức sống của người dân và có thể ở một mức nào đó thì lạm phát gây rối loạn chính trị xã hội. Khi một nền kinh tế có lạm phát ở mức độ cao sẽ dẫn đến sụt giảm tiết kiệm, sụp đổ đầu tư, các nguồn vốn trong nước sẽ chảy ra nước ngoài. Ngoài ra, lạm phát sẽ làm giảm nhịp độ tăng trưởng kinh tế, mất khả năng thực hiện những kế hoạch dài hạn của quốc gia và cực điểm của nó tạo nên sự căng thẳng về chính trị xã hội. Một ví dụ hết sức nổi bật về lạm phát là thời kỳ siêu lạm phát mà nước Đức đã trải qua vào đầu những năm 1920. Người ta cho rằng siêu lạm phát đã phá hủy toàn bộ hệ thống chính phủ dân chủ mà nước Đức đã nỗ lực xây dựng sau thất bại trong cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất và tạo cơ sở cho sự tăng cường quyền lực của Đảng phát xít do Hitler đứng đầu. Một loạt các nước Mỹ Latinh đã lâm vào lạm phát rất cao trong những năm 1980 do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng nợ bùng nổ vào năm 1982. Việt Nam cũng như phần lớn các nước trong giai đoạn đầu của quá trình chuyển đổi từ mô hình kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường đều trải qua lạm phát cao.
Trang 1VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI TRUNG TÂM ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI TẠI ĐÀ NẴNG
- -BÀI TẬP NHÓM MÔN KT102
Nhóm 5- Lớp 164232.CD9
CHỦ ĐỀ SỐ 3: Lạm phát có ảnh hưởng tới tất cả các đối tượng
từ người tiêu dùng, doanh nghiệp, đến chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế haykhông? Để kiềm chế lạm phát chính phủ các nước thường sử dụng các biện pháp nào? Ở Việt Nam hiện nay có lạm phát không? Nếu có thì
chính phủ Việt Nam sử dụng những biện pháp nào?
CÁC THÀNH VIÊN NHÓM:
1 Lê Thanh Hà; 2 Cao Trùng Dương; 3 Lê Túy Linh; 4 Phạm Ngọc Quý;
5 Vũ Đức Thiện; 6 Đặng Duy; 7 Trương Công Lộc; 8 Nguyễn Hoàng Minh
9 Lê Ngọc Thành; 10 Nguyễn Hữu Tuấn
THÔNG TIN LIÊN HỆ:
Nhóm trưởng: Lê Thanh Hà
Email: halt07854@student-topica.edu.vn
Trang 2
MỞ ĐẦU
Lạm phát là một hiện tượng kinh tế vĩ mô phổ biến và có ảnh hưởng sâu rộngđến các mặt của đời sống kinh tế - xã hội Lạm phát gắn liền với sự gia tăngđồng loạt của giá cả và sự mất giá của tiền tệ Lạm phát mang sức mạnh tàn phátiềm ẩn làm rối loạn nền kinh tế, làm phức tạp xã hội, làm giảm mức sống củangười dân và có thể ở một mức nào đó thì lạm phát gây rối loạn chính trị xã hội.Khi một nền kinh tế có lạm phát ở mức độ cao sẽ dẫn đến sụt giảm tiết kiệm, sụp
đổ đầu tư, các nguồn vốn trong nước sẽ chảy ra nước ngoài Ngoài ra, lạm phát
sẽ làm giảm nhịp độ tăng trưởng kinh tế, mất khả năng thực hiện những kếhoạch dài hạn của quốc gia và cực điểm của nó tạo nên sự căng thẳng về chínhtrị xã hội Một ví dụ hết sức nổi bật về lạm phát là thời kỳ siêu lạm phát mà nướcĐức đã trải qua vào đầu những năm 1920 Người ta cho rằng siêu lạm phát đãphá hủy toàn bộ hệ thống chính phủ dân chủ mà nước Đức đã nỗ lực xây dựngsau thất bại trong cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất và tạo cơ sở cho sự tăngcường quyền lực của Đảng phát xít do Hitler đứng đầu Một loạt các nước MỹLa-tinh đã lâm vào lạm phát rất cao trong những năm 1980 do ảnh hưởng củacuộc khủng hoảng nợ bùng nổ vào năm 1982 Việt Nam cũng như phần lớn cácnước trong giai đoạn đầu của quá trình chuyển đổi từ mô hình kế hoạch hóa tậptrung sang kinh tế thị trường đều trải qua lạm phát cao
Lạm phát là căn bệnh tiềm ẩn đối với nền kinh tế phát triển theo cơ chế thịtrường Nó xuất hiện khi nền kinh tế chứa đựng các dấu hiệu mất cân đối giữacung - cầu về hàng hóa, mất cân đối cung - cầu tiền tệ… Lạm phát là một vấn đềrất lớn, khó và phức tạp nên mỗi khi nó xuất hiện lại đòi hỏi nhiều tâm trí và sứclực của các nhà kinh tế và nhiều nhà khoa học, để nhằm tìm ra các phương phápkiềm chế nó để tránh hậu quả do nó gây ra
Sự phát triển ổn định, bền vững của nền kinh tế phụ thuộc vào nhiều yếu tố,trong đó có kiềm chế tỷ lệ lạm phát ở mức vừa phải Theo lý thuyết kinh tế vĩ môhiện đại, trong quá trình thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, các quốc gia cần phải quan
Trang 3tâm đến việc ổn định mức giá chung (ổn định lạm phát) Nếu muốn có tăngtrưởng kinh tế bền vững thì các quốc gia phải gắn kết được giữa tỷ lệ tăngtrưởng cao với tỷ lệ lạm phát vừa phải và tương ứng với tỷ lệ thất nghiệp thấp.Đây cũng là lý do khiến các nước Châu Mỹ La Tinh ở thời kỳ lạm phát cao đãphải đấu tranh, đưa ra mức lạm phát mục tiêu và các nhà hoạch định kinh tế phảithực hiện được mục tiêu này
Từ những phân tích trên, nhóm 05 chọn đề tài tiểu luận về lạm phát để hiểu rõthế nào là lạm phát, nguồn gốc và biểu hiện của lạm phát; ảnh hưởng của lạmphát tới người tiêu dùng, doanh nghiệp và tăng trưởng kinh tế Bên cạnh đó giúpchúng ta có cái nhìn về thực trạng lạm phát ở Việt Nam và các biện pháp khắcphục Với kiến thức còn hạn chế bài viết không tránh khỏi những sai sót nênmong được sự thông cảm của thầy cô và bạn đọc
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LẠM PHÁT
1.1 Khái niệm lạm phát
Lạm phát được định nghĩa là sự gia tăng liên tục trong mức giá chung Điều nàykhông nhất thiết có nghĩa giá cả của mọi hàng hóa và dịch vụ đồng thời phải tănglên theo cùng một tỷ lệ, mà chỉ cần mức giá trung bình tăng lên Lạm phát vẫn cóthể xảy ra khi giá của một số hàng hóa giảm, nhưng giá cả của các hàng hóa vàdịch vụ khác tăng đủ mạnh
Lạm phát có thể được định nghĩa là sự suy giảm sức mua của đồng tiền Trongbối cảnh lạm phát, một đơn vị tiền tệ mua được ngày càng ít hơn đơn vị hànghóa và dịch vụ hơn Hay nói một cách khác, trong bối cảnh lạm phát, chúng ta sẽphải chi ngày càng nhiều tiền hơn để mua một giỏ hàng hóa và dịch vụ nhất định.Nếu thu nhập bằng tiền không tăng kịp tốc độ trượt giá, thì thu nhập thực tế, tức
là sức mua của thu nhập bằng tiền sẽ giảm Do vậy, thu nhập thực tế tăng lênhay giảm xuống trong thời kỳ lạm phát phụ thuộc vào điều gì xảy ra với thu nhậpbằng tiền, tức là, phải chăng các cá nhân có nhận thêm lượng tiền đã giảm giá trị
Trang 4đủ để bù đắp cho sự gia tăng của mức giá hay không Người dân vẫn có thể trởnên khá giả hơn khi thu nhập bằng tiền tăng nhanh hơn tốc độ tăng giá.
Một điều quan trọng mà chúng ta cần nhận thức là lạm phát không chỉ đơn thuần
là sự gia tăng của mức giá mà đó phải là sự gia tăng liên tục trong mức giá Nếunhư chỉ có một cú sốc xuất hiện làm tăng mức giá, thì dường như mức giá chỉđột ngột bùng lên rồi lại giảm trở lại mức ban đầu ngay sau đó Hiện tượng tănggiá tạm thời như vậy không gọi là lạm phát Trong thực tế, việc phân biệt đượccác sự kiện chỉ xảy ra một lần nhưng có ảnh hưởng kéo dài với sự gia tăng liêntục được lặp lại của mức giá trong mỗi thời kỳ có ý nghĩa rất quan trọng đối vớiviệc điều hành các chính sách kinh tế vĩ mô Chính phủ thường chỉ điều chỉnhchính sách trước các cú sốc kéo dài, còn các mất cân đối tạm thời thường để thịtrường tự giải quyết
1.2 Nguyên nhân của Lạm phát
1.2.1 Lạm phát do cầu kéo
Đây chính là sự mất cân đối trong quan hệ cung – cầu Nguyên nhân chính là dotổng cầu tăng quá nhanh trong khi tổng cung không tăng hoặc tăng không kịp.Việc tăng cung ứng tiền tệ là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến việc tăng cầu vềhàng hoá và dịch vụ Nhưng đây không phải là nguyên nhân duy nhất làm tăngcầu Áp lực lạm phát sẽ tăng sau từ 1 đến 3 năm, nếu cầu về hàng hoá vượt quámức cung, song sản xuất vẫn không được mở rộng hoặc do sử dung máy mócvới công suất giới hạn hoặc vì nhân tố sản xuất không đáp ứng được sự ra tăngcủa cầu Sự mất cân đối sẽ được giá cả lấp đầy từ đó mà lạm phát do cầu tănglên (lạm phát do cầu kéo xuất hiện Chẳng hạn như ở Mỹ, sử dụng công suấtmáy móc là một chỉ số có ích phản ánh lạm phát trong tương lai ở Mỹ, sử dụngcông suất máy móc trên 83% dẫn tới lạm phát tăng
1.2.2 Lạm phát do chi phí đẩy
Hình thức của lạm phát do chi phí đẩy phát sinh từ phía cung, do chi phí sản xuấtcao hơn đã được chuyển sang người tiêu dùng Điều này chỉ có thể đạt trong giaiđoạn tăng trưởng kinh tế khi người tiêu dùng sẵn sàng trả với giá cao hơn Ví dụ:
Trang 5Nếu tiền lương chiếm một phần đáng kể trong chi phí sản xuất và dịch vụ và nếutiền lương tăng nhanh hơn năng suất lao động thì tổng chi phí sản xuất sẽ tănglên Nếu nhà sản xuất có thể chuyển việc tăng chi phí này cho người tiêu dùngthì giá bán sẽ tăng lên, công nhân và các công đoàn sẽ yêu cầu tiền lương caohơn trước để phù hợp với chi phí sinh hoạt tăng lên điều đó tạo vòng xoáy lươnggiá
Một yếu tố chi phí khác là giá cả nguyên nhiên vật liệu tăng do tỷ giá tăng hoặckhả năng khai thác hạn chế Một ví dụ điển hình cho thấy giá cả nguyên nhiênvật liệu là giá dầu thô tăng Trong năm 1972-1974 hầu như giá dầu quốc tế tăng
5 lần dẫn đến lạm phát tăng từ 4,6% đến 13,5% bình quân trên toàn thế giới.Ngoài ra sự suy sụp của giá dầu (1980) làm cho lạm phát giảm xuống mức thấpchưa từng thấy Bên cạnh đó giá cả nhập khẩu cao hơn được chuyển cho ngườitiêu dùng nội địa cũng là một yếu tố gây nên lạm phát Nhập khẩu càng trở lênđắt đỏ khi đồng nội tệ yếu đi hoặc mất giá so với đồng tiền khác
1.2.3 Lạm phát do cung tiền tệ tăng cao và liên tục
Theo quan điểm của các nhà kinh tế học thuộc phía tiền tệ, khi cung tiền tệ tănglên kéo dài làm cho mức giá tăng lên kéo dài và gây ra lạm phát Có thể thấyngưỡng tăng cung tiền để gây lạm phát là nền kinh tế toàn dụng Khi nền kinh tếchưa toàn dụng thì nguồn nguyên nhiên vật liệu còn nhiều, chưa khai thác nhiều
Có nhiều nhà máy xí nghiệp bị đóng cửa chưa đi vào hoạt động Do đó nhân viênnhàn rỗi lớn và tỷ lệ thất nghiệp cao … Trong trường hợp này, khi tăng cung tiềnthì dẫn đến lãi suất giảm đến một mức độ nào đó, các nhà đầu tư thấy rằng cóthể có lãi và đầu tư tăng nhiều Từ đó các nhà máy, xí nghiệp mở cửa để sảnxuất, kinh doanh Lúc này nguyên nhiên vật liệu bắt đầu được khai thác, ngườilao động có việc làm và sản lượng tăng lên
Ở nền kinh tế toàn dụng, các nhà máy, xí nghiệp được hoạt động hết công suất,nguồn nguyên nhiên vật liệu được khai thác tối đa Khi đó lực lượng lao độngđược sử dụng một cách triệt để và làm sản lượng tăng lên rất nhiều Tuy nhiêntình hình sẽ dẫn đến một vài kênh tắc nghẽn trong lưu thông Chẳng hạn khi các
Trang 6nhà máy, xí nghiệp hoạt động hết công suất sẽ dẫn đến thiếu năng lượng, thiếulao động, nguyên vật liệu dần bị khan hiếm …Vai trò của chính phủ và các nhàquản lý phải xác định được kênh lưu thông nào bị tắc nghẽn và tìm cách khơithông nó Nếu không sẽ gây ra lạm phát Lúc đó sản lượng không tăng mà giá cảtăng nhiều thì lạm phát tất yếu sẽ xảy ra
1.2.4 Các nguyên nhân khác
Ngoài các nguyên nhân chủ yếu đã đề cập ở trên, một số các nguyên nhân kháccũng gây ra lạm phát Thứ nhất có thể kể đến là tâm lý của dân cư Khi ngườidân không tin tưởng vào đồng tiền của Nhà nước, họ sẽ không giữ tiền mà đẩyvào lưu thông bằng việc mua hàng hoá dự trữ hoặc đầu tư vào một lĩnh lực kinhdoanh nào đó … Như thế cầu sẽ tăng lên mà cung không đáp ứng được, cânbằng cung cầu trên thị trường hàng hoá không còn nữa và tiếp tục đẩy giá lêncao, từ đó lạm phát sẽ xảy ra
Thứ hai thâm hụt ngân sách cũng có thể là một nguyên nhân dẫn đến tăng cungứng tiền tệ và gây ra lạm phát cao Khi chính phủ lâm vào tình trạng thâm hụtngân sách thì có thể khắc phục bằng cách phát hành trái phiếu chính phủ để vayvốn từ người dân nhằm bù đắp phần thiếu hụt Biện pháp này không làm ảnhhưởng đến cơ số tiền và do vậy mà làm tăng mức cung ứng tiền tệ và không gây
ra lạm phát Tuy nhiên khi sự thâm hụt trầm trọng và kéo dài thì chính phủ phải
áp dụng biện pháp in tiền Việc phát hành tiền sẽ ảnh hưởng đến cơ số tiền tệlàm tăng mức cung ứng tiền, đẩy tổng cầu lên cao và làm tăng thêm tỷ lệ lạmphát Tuy nhiên, đối với các nước đang phát triển, việc phát hành trái phiếu chínhphủ gặp nhiều khó khăn vì nguồn vốn trên thị trường còn hạn chế Biện pháp intiền được coi là có hiệu quả nhất Vì thế mà khi thâm hụt ngân sách càng nhiều
và càng kéo dài thì tiền tệ sẽ tăng theo và tỷ lệ gây lạm phát càng lớn
Còn đối với những quốc gia có nền kinh tế phát triển thì việc phát hành trái phiếu
có lợi hơn Nhưng việc phát hành này kéo dài sẽ làm cầu về vốn sẽ tăng và lãisuất tăng cao hơn Lúc này để giảm lãi suất trên thị trưòng Ngân hàng Trungương lại phải mua vào các trái phiếu đó Như thế mức cung tiền lại tăng lên và
Trang 7dễ gây lạm phát.Tóm lại, nếu như thâm hụt ngân sách kéo dài thì trong mọitrường hợp vẫn làm tăng cung tiền và lạm phát xảy ra là một điều chắc chắn.Một nguyên nhân nữa có thể gây ra lạm phát là tỷ giá hối đoái Khi tỷ giá tăngđồng bản tệ sẽ bị mất giá Khi đó tâm lý những người sản xuất trong nước muốnđẩy giá hàng lên tương ứng với mức tăng tỷ giá hối đoái Mặt khác khi tỷ giá hốiđoái tăng, chi phí cho các nguyên vật liệu, hàng hoá nhập khẩu sẽ tăng lên Do
đó giá cả của các hàng hoá này tăng lên cao Đây chính là lạm phát do chi phíđẩy
Bên cạnh đó các nguyên nhân liên quan đến chính sách của nhà nước, chínhsách thuế, chính sách cơ cấu kinh tế không hợp lý, mất cân đối cũng dẫn tới lạmphát
1.3 Biểu hiện của lạm phát
Biểu hiện của lạm phát là tiền giấy bị mất giá, giá cả hàng hóa tăng
Lúc đầu giá vàng tăng, sau đó lan rộng ra đối với giá cả các hàng hóa khác,nhưng giá cả các loại hàng hóa tăng không giống nhau Đối với hàng tư liệu tiêudùng thiết yếu (lương thực, thực phẩm, hàng may mặc), giá cả tăng cao so vớicác hàng tiêu dùng khác Đối với tư liệu sản xuất thì giá cả tăng nhanh nhất lànhững vật tư nguyên liệu quan trọng (sắt, thép, kim loại…)
Giá cả hàng hóa tăng lên làm cho đời sống người lao động ngày càng khó khăn,
vì vậy cơ cấu tiêu dùng của người lao động sẽ bị thay đổi theo chiều hướng giảmtiêu dùng xa xỉ, lâu dài, tập trung cho tiêu dùng trước mắt Điều đó khiến cho chỉ
số lạm phát của từng nhóm mặt hàng có thể không giống nha, thậm chí cónhững mặt hàng giảm giá, nhưng chỉ số giá chung thì vẫn tăng Ngoài nhữngbiểu hiện nói trên, lạm phát còn biểu hiện là tỷ giá ngoại tệ tăng liên tục, tức làtiền trong nước bị giảm giá còn ngoại tệ thì tăng giá
Thông thường trong nước có lạm phát, tiền giấy bị mất giá so với vàng, giá vàngtrong nước tăng thì nó cũng sẽ làm tỷ giá ngoại tệ tăng Điều này đối với nước cólạm phát cũng có lợi thế là có thể đẩy mạnh được xuất khẩu hàng hóa
Trang 8Cần chú ý là vì biểu hiện trực tiếp của lạm phát là sự tăng liên tục của giá cảhàng hóa, nên người ta thường đồng nhất lạm phát và tăng giá, và vì vậy người
ta lấy chỉ số tăng của giá cả hàng hóa (nói chung) làm chỉ số lạm phát Thực rachỉ số lạm phát và chỉ số tăng giá không hoàn toàn giống nhau Nói cách khác tỷ
lệ tăng tiền (tỷ lệ tăng trưởng tiền tệ hay tốc độ tăng tiền) và tỷ lệ mất giá của tiềngiấy (chỉ số tăng giá - tỷ lệ lạm phát) không phải là hai khái niệm đồng nhất
Tại Việt Nam, từ năm 1990 trở về trước, tỷ lệ tăng giá (lạm phát) cao hơn tỷ lệtăng trưởng tiền tệ, chứng tỏ lạm phát rất nghiêm trọng
Từ sự phân biệt nói trên người ta đánh giá tình trạng của lạm phát qua việc sosánh hai chỉ tiêu là tỷ lệ tăng giá (tỷ lệ lạm phát) và tỷ lệ tăng trưởng tiền tệ Từ
đó cho rằng lạm phát diễn biến qua hai giai đoạn:
Giai đoạn thứ nhất: ở giai đoạn này tỷ lệ lạm phát (tỷ lệ tăng giá) nhỏ hơn tỷ lệtăng trưởng tiền tệ, nói cách khác tốc độ mất giá của tiền giấy chậm hơn tốc độtăng tiền Tình trạng này xảy ra ở Mỹ từ năm 1982 đến nay, còn ở Việt Nam, bắtđầu từ năm 199 tỷ lệ tăng giá thấp hơn tỷ lệ tăng tiền
Theo các nhà nghiên cứu khi tỷ lệ lạm phát (tăng giá) nhỏ hơn tỷ lệ tăng tiền thì
có nghĩa là lạm phát đang ở trong tình trạng có thể chấp nhận được và thậm chíngười ta còn cho rằng với điều kiện đó lại là liều thuốc thúc đẩy tăng trưởng kinhtế
Giai đoạn thứ hai: đây là bước phát triển nguy hiểm hơn của lạm phát Tỷ lệ lạmphát (tăng giá) cao hơn tỷ lệ tăng trưởng tiền tệ, nói cách khác tốc độ mất giá tiềngiấy lớn hơn, nhanh hơn tốc độ tăng tiền.Tình trạng này xảy ra ở Việt Nam từnăm 1990 trở về trước Tại Mỹ từ năm 1971 đến năm 1981 đã xảy ra tình trạngnày
Khi tốc độ tăng giá lớn hơn tốc độ tăng tiền nghĩa là tiền tăng thêm ít mà giá cảtăng lên thì nhiều Trong trường hợp này, lạm phát không còn là hiện tượng củatiền tệ nữa, và vì vậy chứng tỏ một tình trạng nguy hiểm và bi đát của nền kinh tếtài chính Lạm phát như vậy là lạm phát nguy hiểm và trầm trọng vô cùng Ở đó,
Trang 9người ta thấy sự mất giá của tiền giấy diễn ra nhanh chóng như một cỗ xe xuốngdốc mất thắng.
Đánh giá mức độ lạm phát bằng cách so sánh nó với tỷ lệ tăng trưởng tiền tệ mớithấy tình trạng nguy hiểm và hiệu ứng của nó đối với nền kinh tế xã hội
Ngoài ra người ta còn đánh giá mức độ của lạm phát bằng cách đưa vào tỷ lệtăng giá Theo đó, nếu tỷ lệ tăng giá càng cao thì lạm phát được coi là nghiêmtrọng Có 3 mức độ khác nhau của lạm phát:
- Lạm phát vừa phải: đó là lạm phát mà tỷ lệ tăng giá cả hàng hóa trong khoảng10% trở lại Mới đầu lạm phát này còn được gọi là lạm phát một con số, người tacho rằng lạm phát một con số là lạm phát có thể chấp nhận được, nhiều nướccoi lạm phát một con số như là một chính sách của nhà nước để phát triển kinhtế
- Lạm phát cao: là lạm phát mà chỉ số tăng của giá cả là tương đối cao Đó làmức lạm phát ở hai con số (dưới 100%), còn gọi là lạm phát thực sự
- Siêu lạm phát: đó là lạm phát với cường độ lớn từ 100% lên vài ba trăm phầntrăm mỗi năm Với mức độ lạm phát này thì nó ảnh hưởng ghê gớm đến đờisống kinh tế xã hội
CHƯƠNG 2: ẢNH HƯỞNG CỦA LẠM PHÁT
2.1 Ảnh hưởng của lạm phát tới người tiêu dùng
Người tiêu dùng nhất là những người làm công ăn lương, những người có thunhập thấp phải chiụ sự tác động trực tiếp nhất của lạm phát trong cơn bão tănggiá Lạm phát cũng làm giảm việc làm cho người dân trong trung và dài hạn Theo kết quả điều tra “Tác động của bão giá lên hành vi và thái độ của người tiêudùng” tại Hà Nội, Đà Nẵng và TPHCM được Công ty Nghiên cứu thị trường FTAcông bố năm 2011 Cuộc điều tra được thực hiện với 600 người tiêu dùng (ĐàNẵng: 200; TPHCM: 200; Hà Nội: 200) trong độ tuổi từ 18-50, nhằm tìm hiểu sựtác động của lạm phát đến đời sống người tiêu dùng, đo lường thái độ của họ về
Trang 10tình hình kinh tế -xã hội Từ đó giúp những người làm công tác tiếp thị có sự điềuchỉnh phù hợp với bối cảnh hiện nay.
Có 54% người tiêu dùng được hỏi cho rằng lạm phát ảnh hưởng nặng nề đếnđời sống của họ Theo cuộc điều tra, đa số người tiêu dùng tại ba thành phố trênđều chịu ảnh hưởng trực tiếp của lạm phát đến đời sống Tỷ lệ này ở TPHCM là52%, Hà Nội 49% và Đà Nẵng 62% Có 48% số người được hỏi cho rằng lạmphát ảnh hưởng một phần đến cuộc sống hàng ngày, chỉ 6% cho rằng lạm phátkhông ảnh hưởng
47% người được hỏi lo ngại về giá điện và giá lương thực tăng mạnh trong thờigian qua Trong khi đó, chỉ có 31% người dân lo lắng về tình hình suy thoái kinh
tế hiện nay và 28% lo lắng về giá xăng dầu Đáng ngạc nhiên là chỉ có 10% lolắng về thiên tai cũng như tình hình biến đổi khí hậu toàn cầu Mức độ lạc quancủa người tiêu dùng Việt Nam về nền kinh tế đang giảm dần Hầu hết đều chorằng nền kinh tế Việt Nam sắp tới sẽ giữ nguyên (48%) hoặc xấu đi (36%)
Hành vi tiêu dùng của người dân thời lạm phát cũng thay đổi Khi có tiền nhànrỗi, người tiêu dùng thích gửi tiền vào quỹ tiết kiệm của ngân hàng, sau đó làmua vàng Có đến 40% người tiêu dùng chọn cách gửi tiền trong ngân hàng khi
có tiền nhàn rỗi, 31% chọn cách mua vàng Riêng người tiêu dùng tại Đà Nẵngthích mua vàng (48%) hơn gửi tiết kiệm ngân hàng (33%) Trong giai đoạn bãogiá, người tiêu dùng có xu hướng cắt giảm việc mua sắm ở các kênh hiện đại(siêu thị, cửa hàng tiện lợi…) và chuyển sang chợ - kênh bán hàng có giá thấphơn Đặc biệt, họ sẽ tranh thủ mua sắm thường xuyên hơn khi có các chươngtrình khuyến mãi Người tiêu dùng buộc phải cắt giảm chi tiêu ở nhiều nhómngành hàng không thuộc nhu yếu phẩm Các sản phẩm tiêu dùng nhanh (FMCG)
ít bị ảnh hưởng hơn (ngoại trừ bánh kẹo)
Kết quả điều tra cũng cho biết, những lĩnh vực người tiêu dùng phải cắt giảm chitiêu trong thời lạm phát là du lịch, hàng xa xỉ, thời trang, dịch vụ thẩm mỹ, muasắm điện máy, giải trí, thông tin liên lạc (điện thoại, Internet) Nhóm ngành hàngthiết yếu là nhóm mà họ không thể cắt giảm, bao gồm: giáo dục, đi lại, ăn uống,
Trang 11điện nước, chăm sóc sức khỏe Trong khi đó người tiêu dùng ở Hà Nội cắt giảmchi tiêu ở tất cả các ngành hàng.
2.2 Ảnh hưởng của lạm phát tới doanh nghiệp
Lạm phát ảnh hưởng rất lớn tới các chủ thể trong nền kinh tế, mà ảnh hưởngnhiều nhất là các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh Lạm phát ảnh hưởng nhiềuđến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, khi chi phí đầu vào tăng làm chohầu hết lợi nhuận của hầu hết các doanh nghiệp bị giảm sút đáng kể Lạm phátcao làm cho thu nhập thực tế của người dân giảm, nhu cầu tiêu dùng giảm kéotheo cầu về hàng hóa dịch vụ trên thị trường cũng giảm đi
Ảnh hưởng của lạm phát đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp cụ thể như sau
2.2.1 Ảnh hưởng của lạm phát đến doanh thu
Nền kinh tế lạm phát cao, giá hầu hết các loại hàng hóa đều tăng, nhưng cùngvới đó sản phẩm mà doanh nghiệp sản xuất ra cũng tăng giá Nếu doanh nghiệpsản xuất kinh doanh mặt hàng có mức giá tăng nhanh, sản lượng bán ra ít bị ảnhhưởng của lạm phát có thể làm cho doanh thu của doanh nghiệp tăng
Tuy nhiên, nếu mặt hàng kinh doanh có mức giá tăng chậm, sản lượng bán rachịu ảnh hưởng nhiều của lạm phát thì doanh thu có xu hướng giảm Như vậy,
để đánh giá được mức độ ảnh hưởng của lạm phát ta cần phải xét đến mức tănggiá sản phẩm và mức tăng hay giảm sản lượng bán ra
2.2.2 Ảnh hưởng của lạm phát đến chi phí
Lạm phát ảnh hưởng rất lớn đến chi phí đầu vào của doanh nghiệp, lạm pháttăng cao làm tăng hầu hết các loại chi phí: chi phí nguyên vật liệu đầu vào, chiphí sản xuất, chi phí nhân công, chi phí quản lý, bán hàng, thuê kho bãi… điều
đó làm tổng chi phí sản xuất kinh doanh tăng lên ảnh hưởng đến các hướng đầu
tư của doanh nghiệp, buộc các doanh nghiệp phải có những điều chỉnh nhằm tối
đa hóa chi phí để có thể tồn tại và cạnh tranh trên thị trường
Tuy nhiên, lạm phát dẫn đến tình trạng tăng giá chung của toàn nền kinh tế Điều
đó có nghĩa là tất cả các doanh nghiệp trong nền kinh tế đều chịu ảnh hưởng của
Trang 12sự tăng giá chung Vì vậy, nếu doanh nghiệp có các biện pháp tốt để tối thiểuhóa chi phí như tìm được những nhà cung ứng với giá thấp hơn, phân phối tốtchi phí nhân công … thì việc tăng chi phí chung trong nền kinh tế lại có thể trởthành một lợi thế của doanh nghiệp.
2.2.3 Ảnh hưởng của lạm phát đến lợi nhuận
Lạm phát khiến cho các yếu tố đầu vào tăng cao, chi phí tăng cao ảnh hưởngđến doanh thu và chi phí của doanh nghiệp qua đó ảnh hưởng đến lợi nhuận củadoanh nghiệp Lạm phát làm cho giá trị thực của các tài sản khấu hao nhiều hơn,phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp cao hơn khiến lợi nhuận giảm sút
Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, trong thời kỳ lạm phát lợi nhuận của doanhnghiệp vẫn có thể tăng do mức tăng giá bình quân của các yếu tố đầu vào thấphơn mức tăng giá của sản phẩm đầu ra trong khi sản lượng sản phẩm của doanhnghiệp bán ra không giảm sút nhiều
2.2.4 Ảnh hưởng của lạm phát đến năng suất lao động
Lạm phát xảy ra làm tiền lương thực tế của người lao động giảm xuống Ngườilao động sẽ mất động lực làm việc nếu doanh nghiệp không có chế độ đãi ngộ tốtđối với nhân viên của mình Điều đó ảnh hưởng lớn đến năng suất lao động củadoanh nghiệp
Tuy nhiên, trong điều kiện lạm phát thì tất cả các doanh nghiệp đều chịu ảnhhưởng Vì vậy, doanh nghiệp đề ra cách ứng phó với lạm phát sẽ hạn chế đượcrủi ro, nắm bắt tốt những cơ hội kinh doanh và duy trì ổn định việc làm cho ngườilao động, sẽ giữ được người lao động ở lại với doanh nghiệp, người lao động sẽ
ổn định được tâm lý và phục vụ tốt cho công ty, qua đó năng suất lao động sẽcao hơn
2.2.5 Ảnh hưởng của lạm phát đến thị phần
Khi lạm phát cao, doanh nghiệp gặp phải khó khăn trong khâu huy động vốn
để mở rộng quy mô sản xuất Cùng với đó, khi xảy ra lạm phát nhu cầu tiêu dùngcủa người tiêu dùng cũng có xu hướng giảm làm sản lượng tiêu thụ của doanhnghiệp giảm kéo theo doanh thu của doanh nghiệp cũng giảm Nhiều doanh