1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Bài tập nhóm môn Kinh tế vĩ mô 2 ECO102 TOPICA

22 796 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 340,1 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài tập nhóm môn ECO 102 kinh tế vĩ mô thuôc chương trình đào tạo cử nhân trực tuyến topica, chủ đề lạm phát.............................................................................................................

Trang 1

Lớp CKTN17 Nhóm 6 12/25/2016

BÀI TẬP NHÓM MÔN ECO102

Trang 2

TOPICA TNU

BÀI TẬP NHÓM (Môn: ECO102 – KINH TẾ VĨ MÔ)

Đề tài:

Chủ đề 3:

Lạm phát có ảnh hưởng tới tất cả các đối tượng từ người tiêu dùng, doanh

nghiệp đến chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế hay không? Để kiềm chế lạm phát chính

phủ các nước thường sử dụng các biện pháp nào? Ở Việt Nam hiện nay có lạm

phát không? Nếu có thì chính phủ Việt nam sử dụng những biện pháp nào?

Hà Nội, tháng 12 năm 2016

Trang 3

MỤC LỤC

BÀI TẬP NHÓM (Môn: ECO102 – KINH TẾ VĨ MÔ) 1

LỜI MỞ ĐẦU 3

Phần 1 – CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LẠM PHÁT 4

1.1 Một số khái niệm cơ bản 4

1.2 Các nguyên nhân gây ra lạm phát 5

1.3 Tác động của lạm phát đến nền kinh tế thế giới 7

1.4 Phương hướng điều chỉnh lạm phát của Chính phủ các nước 9

Phần 2 - LẠM PHÁT VỚI NỀN KINH TẾ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN NĂM 2010-2016, ĐIỂN HÌNH LẠM PHÁT CAO NHẤT TRONG NĂM 2011 10

2.1 Tình hình lạm phát ở Việt Nam năm 2010-2016 10

2.2 Vài nét về tình hình lạm phát năm 2011 10

2.2 Các biện pháp của Chính phủ Việt Nam 12

Phần 3 - KIẾN NGHỊ VÀ ĐỀ XUẤT 17

3.1 Đối với chính phủ 17

3.2 Đối với các doanh nghiệp 17

3.3 Đối với các hiệp hội 18

3.4 Đối với cộng đồng 18

KẾT LUẬN 20

PHỤ LỤC 21

Trang 4

LỜI MỞ ĐẦU _

Việt Nam bắt đầu “đổi mới” và hội nhập kinh tế thế giới vào những năm 80 Gần

3 thập kỷ hội nhập chính là nguyên nhân cho sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế

nước ta Đặc biệt, ngày 11 tháng 1 năm 2007, Việt Nam chính thức gia nhập Tổ

chức Thương mại Quốc tế - WTO, Từ sau thời điểm trọng đại ấy của kinh tế đất

nước, sự phát triển mạnh mẽ đó càng được nhân lên bội phần

Song song với cơ hội lớn để phát triển đất nước vẫn còn nhiều nỗi lo Gia nhập

WTO giúp hàng hóa Việt Nam tự do lưu thông trên thị trường các nước thành viên

khác, nhưng thị trường Việt Nam cũng sẽ bị chia sẻ bởi hàng hóa nước ngoài Ngoài

ra, sản phẩm của Việt Nam cũng cần được nâng cao chất lượng và hạ giá thành để

có thể cạnh tranh với các nước

Tất cả sẽ trở nên dễ dàng hơn để kinh tế Việt Nam vươn xa hơn ra thế giới nếu

nước ta có thể điều chỉnh được một nhân tố quan trọng có ảnh hưởng lớn Nhân tố

ấy nằm trong phạm vi cho phép sẽ thúc đẩy nền kinh tế phát triển ổn định và bền

vững Nếu nằm ngoài phạm vi ấy, nền kinh tế có thể bị trì trệ hoặc hiện tượng “giá

cả leo thang”, khiến người dân phải sống cực khổ với mức lương có hạn Nhân tố ấy

được biết đến với cái tên Lạm phát.

Vậy bản chất của lạm phát là gì? Lạm phát xuất phát từ đâu? Biểu hiện của nó

như thế nào? Ảnh hưởng của nó đến nền kinh tế ra sao? Chính phủ các nước cũng

như Việt Nam đã làm gì để điều chỉnh lạm phát?

Nội dung được trình bày trong đề tài này sẽ giúp mọi người có được cái nhìn

khái quát về lạm phát, hiểu được nguyên nhân, hậu quả và các biện pháp kiềm chế

lạm phát để từ đó cùng nhau xây dựng kinh tế nước nhà phát triển một cách bền

vững

 Mục đích nghiên cứu của đề tài:

- Sơ lược những lý luận cơ bản về lạm phát

- Tình hình lạm phát ở Việt Nam trong 5 năm từ 2010 đến 2015, điển hình về

lạm phát cao nhất trong năm 2011

- Nhìn nhận các giải pháp của Chính phủ và rút ra những thành công cũng như

hạn chế của các giải pháp đó

- Đề xuất một số giải pháp

 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

- Đối tượng nghiên cứu của đề tài vấn đề lạm phát trong nền kinh tế

- Phạm vi nghiên cứu: tình hình lạm phát ở Việt Nam trong giai đoạn

2010-2015, điển hình cho năm lạm phát cao nhất 2011

 Phương pháp nghiên cứu: Tiếp cận các số liệu từ các nguồn tin tin cậy Đưa ra

các vấn đề lý luận, phân tích, tổng hợp, so sánh, mô hình hóa và sơ đồ hóa dựa

trên cơ sở các số liệu thực tế

Trang 5

Phần 1 – CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LẠM PHÁT _

1.1 Một số khái niệm cơ bản

1.1.1 Định nghĩa lạm phát

Vấn đề lạm phát trong nền kinh tế thế giới đã được biết đến từ lâu, gắn liền với

sự ra đời và phát triển của tiền tệ Các nhà kinh tế học theo trường phái “lạm phát

tiền tệ”, đại biểu tiêu biểu là Keynes và Friedman cho rằng “lạm phát là hiện tượng

tiền giấy thừa so với nhu cầu lưu thông hàng hoá và dịch vụ”

Trường phái “lạm phát giá cả” hay quan điểm lạm phát của nhà kinh tế học nổi

tiếng Paul A Samuelson và William D Nordhaus cho rằng “lạm phát là việc giá cả

hàng hoá tăng lên, không kể trong dài hạn hay ngắn hạn, mang tính đột xuất hay

theo chu kì”.

Kinh tế học vĩ mô định nghĩa: “Lạm phát là sự tăng lên liên tục của mức giá

chung (mức giá trung bình) theo thời gian”.

Trái ngược với lạm phát, khi mức giá chung liên tục giảm xuống được gọi là

Trong đó, CPIt (CPI- Consumer Price Index) là chỉ số giá tiêu dùng thời kỳ t,

CPIt-1 là chỉ số giá tiêu dùng thời kỳ t-1, được tính như sau:

CPI t=( ∑p i t q i t

p i0q i0).100 Trong đó: Chọn năm cơ sở và xác định giỏ hàng cho năm cơ sở (qt) với t biểu

thị năm hay thời kỳ thứ t năm hay thời kỳ thứ t, với t = 0 ở năm cơ sở, i là dạng viết

gọn của mặt hàng tiêu dùng thứ i trong giỏ hàng cơ sở

Có thể thấy tỷ lệ lạm phát quan hệ đồng biến với sự biến đổi của chỉ số giá tiêu

dùng Khi chỉ số giá tiêu dùng tăng thì tỷ lệ lạm phát cũng theo đó mà tăng, và ngược

lại Thực tế, tỷ lệ lạm phát thường được biểu hiện qua chỉ số giá tiêu dùng CPI

1.1.3 Quy mô lạm phát

Theo quy mô, người ta thường chia lạm phát thành 3 loại tùy theo mức độ của

tỷ lệ lạm phát:

chậm, ở mức dưới một con số (dưới 10%) mỗi năm Khi đó, tiền tệ mất giá không

nhiều và người ta tin tưởng vào giá trị của đồng tiền Lạm phát vừa phải luôn tồn tại

ở hầu hết các nền kinh tế thị trường Lạm phát ở mức độ này không gây ra những

tác động đáng kể đối với nền kinh tế

Trang 6

Lạm phát phi mã (Galloping inflation) là lạm phát xảy ra khi giá cả tăng với tốc

độ 2 hoặc 3 con số (15%, 26%, 311%, 957% ) mỗi năm Khi đó, tiền mất giá trị

một cách nhanh chóng và người ta chỉ nắm giữ một lượng tiền tối thiểu để đảm bảo

cho các giao dịch hàng ngày Loại lạm phát này khi ở đỉnh điểm sẽ gây ra những hệ

quả kinh tế nghiêm trọng

nhanh chóng, có khi tới vài trăm phần trăm một tháng hay vài nghìn phần trăm mỗi

năm Siêu lạm phát không thể kéo dài trong quá nhiều năm do tiền gần như mất hết

giá trị, các doanh nghiệp không thể hoạt động được và phá sản, người dân không

dùng tiền trong các giao dịch nữa và quốc gia gặp phải tình trạng này buộc phải cải

tổ chính sách kinh tế nước mình và tìm cách chấm dứt lạm phát

1.2 Các nguyên nhân gây ra lạm phát

Tỷ lệ lạm phát cao hay thấp do nhiều nguyên nhân chi phối Trong đó, nổi bật

nhất gồm các nguyên nhân chính sau:

 Lạm phát cầu kéo (Demand - pull inflation) Là nguyên nhân xảy ra khi tổng

cầu tăng nhanh hơn so với sản lượng tiềm năng của nền kinh tế Từ đó kéo

theo sự tăng lên của mức giá ở điểm cân bằng giữa tổng cung và tổng cầu Bản

chất của lạm phát cầu kéo là chi tiêu quá nhiều tiền để mua một lượng cung

hàng hóa hạn chế trong điều kiện nền kinh tế đã đạt cân bằng trên thị trường

lao động Có 3 nguyên nhân làm cho tổng cầu tăng là: sự gia tăng cung tiền,

tăng chi tiêu Chính phủ và xuất khẩu tăng

Hình 1: Lạm phát cầu kéo

Hình 1 biểu thị trường hợp đơn giản nhất của lạm phát cầu kéo Khi đường cầu dịch

chuyển từ AD0 đến AD1, nền kinh tế ở trạng thái vượt quá trạng thái sản lượng tiềm năng

Trong trường hợp này đường cung vẫn giữ nguyên Mức giá tăng tiếp từ P0 đến P1, nền

kinh tế lại chuyển về trạng thái đạt mức sản lượng từ Q0 đến Q1 Cứ như thế, sau khi

đường tổng cầu dịch chuyển về bên phải trái kéo theo mức giá tăng liên tục

 Lạm phát chi phí đẩy (Cost-push inflation)- Là nguyên nhân lạm phát bắt

nguồn từ sự gia tăng chi phí sản xuất như chi phí tiền lương tăng, giá nguyên

vật liệu tăng, giá nhập khẩu tăng, chính sách thuế và các khoản phải nộp khác

tăng; công nghệ sản xuất lạc hậu, cơ chế quản lý kém hiệu quả đẩy chi phí sản

xuất tăng lên

Trang 7

Hình 2: Lạm phát chi phí đẩy

Ban đầu, đường tổng cung là AS0 Khi chi phí đầu vào tăng, các hãng giảm mức

cung hàng hoá, dịch vụ và đường tổng cung dịch chuyển sang tới vị trí AS1 rồi AS2,

sản lượng giảm xuống còn Q1 và Q2, đẩy mức giá tăng từ P0 lên P1 và P2 Hiện

tượng mức giá tăng liên tục, đồng thời sản lượng cân bằng suy giảm được gọi là

tình trạng lạm phát đình trệ

 Lạm phát dự kiến (Anticipated inflation) Lạm phát vừa phải có xu hướng tiếp

tục giữ mức ổn định của nó làm cho giá cả tăng đều đều Tỷ lệ lạm phát này

được gọi là tỷ lệ lạm phát ỳ (inertial inflation) Trong trường hợp này, mọi người

có thế dự tính trước mức độ của lạm phát nên gọi là lạm phát dự kiến.

Hình dưới cho ta thấy khi đầu vào tăng, đường cung trong ngắn hạn dịch

chuyển từ ASS0 đến ASS1 rồi ASS2 do giá đầu vào tăng một cách đều đặn Khi đó,

Chính phủ cần can thiệp bằng cách kích thích tăng tổng cầu và nhiều biện pháp

khác Khi đường tổng cầu dịch chuyển từ AD0 đến AD1 và AD2 một cách đều đặn

như hình dưới thì loại lạm phát này có thể dự tính được Trong trường hợp như vậy,

sản lượng cân bằng vẫn giữ nguyên

Hình 3: Lạm phát dự kiến

 Lạm phát và lãi suất: Lãi suất thực tế = lãi suất danh nghĩa – tỷ lệ lạm phát

Khi tỷ lệ lạm phát tăng, lãi suất danh nghĩa tăng theo, tăng chi phí cơ hội của

việc giữ tiền, càng giữ nhiều tiền càng thiệt Điều này đặc biệt đúng trong các cuộc

siêu lạm phát, tiền mất giá càng nhanh, tăng mức độ gửi tiền vào Ngân hàng, vào

quỹ tiết kiệm hoặc đẩy ra thị trường để mua về mọi hàng hoá có thể dự trữ, gây

thêm mất cân bằng cung cầu trên thị trường hàng hoá và tiếp tục đẩy giá lên cao

Trang 8

 Ngoài ra còn có một số nguyên nhân khác gây ra lạm phát như:

- Để đảm bảo mức lợi nhuận, các ngành kinh doanh kém hiệu quả sẽ tăng giá

thành sản phẩm cũng gây ra lạm phát

- Giá nhân công tăng liên tục trong đại đa số hoặc toàn thị trường lao động

cũng sẽ dẫn đến lạm phát Trường hợp này còn gây ra nạn thất nghiệp vì

doanh nghiệp sẽ tuyển người kỹ hơn, yêu cầu cao hơn đối với kỹ năng và

trình độ của người lao động để xứng đáng với tiền công

- Lạm phát do cung tiền tăng cao hơn nhu cầu Khi đó, tiền trong lưu thông

tăng nhanh hơn số lượng hàng hóa và dịch vụ được sản xuất ra trong nền

kinh tế Ví dụ như tốc độ tăng trưởng cung tiền là 10% nhưng tốc độ tăng

trưởng thực của nền kinh tế 7% thì lạm phát tiền tệ là 3% Chính sách tiền tệ

mở rộng sẽ kích thích tổng cầu hàng hóa dịch vụ trong nền kinh tế, khi tốc độ

tăng trưởng tổng cầu cao hơn tốc độ tăng trưởng tổng cung, thì cũng dẫn đến

lạm phát

- Lạm phát đẻ ra lạm phát: Khi lạm phát xảy ra, người dân cho rằng hàng hóa

sẽ còn tăng giá trong tương lai, nên đẩy mạnh tiêu dùng hiện tại, tổng cầu sẽ

cao hơn tổng cung và gây ra lạm phát Đặc biệt, đối với một số ngành có sức

ảnh hưởng lớn lên thị trường, trong trường hợp lạm phát chi phí đẩy, đường

cung dịch chuyển sang trái càng làm thiếu hụt hàng hóa, lạm phát lại giam

tăng nhanh chóng

1.3 Tác động của lạm phát đến nền kinh tế thế giới

- Lạm phát vẫn ngày ngày xảy ra trên toàn cầu Nguyên nhân của nó thì có

nhiều Mỗi nguyên nhân lại gây ra một nhóm tác động riêng đến nền kinh tế

thế giới Tuy nhiên, có thể tóm gọn các tác động ấy thành các loại như sau:

1.3.1 Tác động phân phối lại thu nhập và của cải

Tác động này xảy ra một cách ngẫu nhiên giữa các cá nhân, tập đoàn, v.v đặc

biệt đối với những ai giữ nhiều tài sản có giá trị danh nghĩa cố định (ví dụ tiền mặt)

và những người làm công ăn lương Cụ thể như sau:

Khi nền kinh tế có lạm phát thì mối quan hệ giữa người vay và người cho vay

được xem xét theo lãi suất thực Thu nhập được chuyển từ người đi vay sang người

cho vay khi lạm phát trong thực tế khác với mức lạm phát dự kiến và ngược lại

Chênh lệch giữa lạm phát thực tế và lạm phát dự kiến càng cao thì mức độ phân

phối càng nhiều

Nói chung tốc độ tăng tiền công hầu như chậm hơn so với tốc độ tăng của giá

Vì vậy những người lao động hưởng lương bao giờ cũng bị thiệt thòi và người được

lợi là các ông chủ Quá trình phân phối này chỉ không diễn ra khi tốc độ tăng của tiền

công bằng với tốc độ tăng của giá

Trang 9

Những người bán tài sản thực để lấy tiền mặt trước khi lạm phát xảy ra thì khi

có lạm phát những người bán sẽ bị thiệt thòi và người được lợi là người mua

Do tỷ lệ tăng giá hàng hóa trong khi lạm phát không giống nhau, vì vậy những

doanh nghiệp nào mà sản xuất và tồn kho những mặt hàng có tỷ lệ tăng giá chậm sẽ

bị thiệt thòi

Đa phần, khi xảy ra lạm phát thu nhập của công chúng sẽ chuyển sang tay

chính phủ Vì 3 lý do sau: (1) Chính phủ nợ dân chủ yếu là dưới dạng tài sản tài

chính (ví dụ như trái phiếu chính phủ) Món nợ này là rất lớn; (2) các khoản chi trả

lương, trợ cấp… thường cố định trong một thời gian dài, kể cả có thay đổi thì cũng

không kịp tốc độ thay đổi của giá; (3) các hoạt động thu thuế (như thuế thu nhập) sẽ

tăng lên nhanh chóng, vì lạm phát đẩy thu nhập của dân chúng tăng lên và chịu ở

mức thuế cao hơn

Nhìn chung “ lạm phát không dự kiến được thường có xu hướng chuyển của

cải từ tay người chủ nợ sang tay con nợ, giúp người đi vay và làm thiệt người cho

vay Trong trường hợp lạm phát giảm xuống không lường trước được thì sẽ có ảnh

hưởng ngược lại

1.3.2 Tác động đối với sản lượng và công ăn việc làm

Nếu lãi suất thực là số âm thì khả năng huy động vốn của các tổ chức tín dụng

sẽ rất khó khăn Bên cạnh đó, lạm phát làm cho nội tệ mất giá Để đảm bảo thu nhập

của mình, nhiều nhà đầu tư nước ngoài có khuynh hướng chuyển tiền kinh doanh

của mình về nước, điều này càng làm cho thị trường vốn thêm suy yếu Điều này

càng khiến sản lượng sụt giảm nhanh chóng và tạo ra hiện tượng thất nghiệp do dư

cung lao động

1.3.3 Tác động đến cơ cấu kinh tế và phân bổ tài nguyên

Trong thời kỳ lạm phát diễn ra, giá cả của tất cả các hàng hóa không thay đổi

theo cùng 1 tỷ lệ Do vậy, những ngành có giá tăng nhanh sẽ nâng tỷ trọng của

ngành trong sản lượng, thay đổi vị thế kinh doanh của ngành mình (ví dụ như ngành

xăng dầu) Khi lạm phát tăng nhanh chóng cùng với sự thay đổi mạnh mẽ của giá cả

tương đối (tức đối với từng ngành riêng rẻ), có những doanh nghiệp ngành nghề làm

giàu nhanh chóng Nhưng cũng có những doanh nghiệp ngành nghề lại suy sụp, phá

sản, thậm chí còn chuyển hướng kinh doanh khác, dẫn đến thay đổi cơ cấu kinh tế

Thêm vào đó, khi xảy ra lạm phát, các doanh nghiệp sẽ hạn chế đầu tư và

những dự án có khoảng thời gian thu hồi vốn dài Tác động này có thể làm giảm hiệu

quả sử dụng các nguồn nhân lực của nền kinh tế trong dài hạn Sự giảm sút của

năng lực sản xuất có thể làm cho đường tổng cung AS dịch chuyển sang trái cùng

với mức giảm của sản lượng tiềm năng

Lạm phát làm biến dạng giá cả tương đối, tỷ lệ lạm phát càng cao thì sự biến

dạng giá cả tương đối càng lớn Mặt hàng có giá trị biến dạng một cách trầm trọng

Trang 10

do lạm phát đó là tiền tệ (tiền kim loại và tiền giấy) Giá cả của đầu vào hoặc hàng

hoá đã được định giá theo những quy tắc lâu dài cũng có xu hướng tách xa hơn khỏi

mức giá chung trong những thời kỳ lạm phát

1.4 Phương hướng điều chỉnh lạm phát của Chính phủ các nước

Dựa theo nguyên nhân dẫn đến tình trạng lạm phát, để kiềm chế lạm phát,

Chính phủ các nước có thể sử dụng một trong số các biện pháp sau đây:

 Sử dụng chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa thắt chặt Cụ thể là hạ

lãi suất tiền cho vay của ngân hàng , thắt chặt chi tiêu công cộng, tiền

lương…

 Cắt giảm cầu tiêu dùng bằng cách nâng thuế thu nhập

 Giảm chi tiêu của Chính phủ, giảm thâm hụt NSNN

 Giảm giá thành các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất

 Đẩy mạnh sản xuất hàng hóa, dịch vụ, tăng chi tiêu cho đầu tư sản xuất

bằng nhiều biện pháp như giảm thuế sản xuất, giảm lãi suất cho vay nhằm

tăng cung

 Giảm cung tiền, tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc, hoặc bán trái phiếu trên thị

trường mở, hoặc tăng lãi suất chiết khấu,

 Tăng cường công tác an sinh xã hội, thông tin truyền thông

Trang 11

Phần 2 - LẠM PHÁT VỚI NỀN KINH TẾ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN NĂM

20

10-2016, ĐIỂN HÌNH LẠM PHÁT CAO NHẤT TRONG NĂM 2011

2.1 Tình hình lạm phát ở Việt Nam năm 2010-2016

Cuối năm 2008, cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu bắt đầu ảnh hưởng tới Việt

Nam và kéo lạm phát về mức 7% trong năm 2009 Tuy nhiên, đợt lạm phát hai con

số thứ 2 lại bắt đầu từ tháng 9 năm 2010, trước cả khi tác động của khủng hoảng

giảm xuống Đợt lạm phát cao này kéo dài 13 tháng đến tháng 10 năm 2011 khiến

cho lạm phát lên đến 11,75% trong năm 2010 và 18,13% trong năm 2011

Trước tình hình lạm phát như trên, ngày 24 tháng 02 năm 2011 Chính phủ đã ban

hành Nghị quyết số 11/NQ-CP về những giải pháp chủ yếu tập trung kiềm chế lạm

phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội với nhiều giải pháp quan trọng

Triển khai thực hiện quyết liệt, đồng bộ các Nghị quyết và giải pháp kiềm chế và

kiểm soát lạm phát, kinh tế nước ta đã từng bước được cải thiện và tương đối ổn

định, tỷ lệ lạm phát liên tục giảm Chỉ số giá tiêu dùng tháng 12 so với cùng kỳ năm

trước đã giảm từ 2 con số năm 2011 (18,13%) xuống mức 1 con số (6,81% năm

2012; 6,04% năm 2013; 1,84% năm 2014 và 0,60% năm 2015 và dự kiến 4,5% năm

2016) Lạm phát cơ bản giảm từ 13,62% năm 2011 xuống 8,19% năm 2012; 4,77%

năm 2013; 3,31% năm 2014 và 2,05% năm 2015

Hình 4 Chỉ số giá tiêu dùng CPI bình quân từ 2010-2015 (năm trước so với

năm sau Nguồn : Tổng cục thống kê)

2.2 Vài nét về tình hình lạm phát năm 2011

2.2.1 Nguyên nhân

 Yếu tố cầu kéo

Ngày đăng: 21/08/2017, 11:37

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w