Tường, nền, vách của chuồng nuôi gia súc ẩm ướt, lạnh lẽo, nhiệt độ không khí thấp thì sự tỏa nhiệt qua con đường bức xạ của cơ thể sẽ tăng.. Hậu quả của sự tích luỹ nhiệt quá cao và phả
Trang 1NỘI DUNG CHI TIẾT MÔN HỌC KQHT 1: VỆ SINH MÔI TRƯỜNG KHÔNG KHÍ TRONG CHĂN NUÔI
I ĐẠI CƯƠNG
Không khí là một trong những yếu tố ngoại cảnh quan trọng vây xung quanh cơ thể gia súc, gia cầm Không những sự biến đổi về thành phần hoá học của không khí (như O2, CO2, N2 vv) ảnh hưởng đến sự sống của gia súc mà trạng thái vật lý của không khí (như nhiệt độ, ẩm độ, tốc độ gió, áp suất, bức xạ mặt trời vv) thay đổi cũng ảnh hưởng tới trạng thái sinh lý, sức khỏe và sức sản xuất của gia súc
II TÍNH CHẤT VẬT LÝ CỦA KHÔNG KHÍ
2.1 Nhiệt độ không khí
Nhiệt độ đất và nhiệt độ không khí được quyết định bởi phần năng lượng bức xạ mặt trời hấp thụ trên trái đất Vỉ thế yếu tố nhiệt độ thường xuyên có sự biến động phụ thuộc không những vào điều kiện vĩ độ địa lý, mùa trong năm, mà còn phụ thuộc vào đặc điểm vật lý của vật chất hấp thụ bức xạ Các đặc trưng nhiệt lượng của đất như nhiệt dung, hệ số dẫn nhiệt, màu sắc, độ xốp, độ ẩm của đất vv, và các đặc tính truyền nhiệt của không khí như truyền dẫn nhiệt phân tử, các dòng đối lưu, mật độ và thành phần không khí vv, là những yếu tố tạo thành chế độ nhiệt
Chế độ nhiệt có ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống của động vật vì nó là yếu tố môi trường trực tiếp tác động đến nhịp điệu sống và các quá trình sinh trưởng, phát triển
Hơn nữa, nhiệt độ không khí còn đóng vai trò quan trọng đối với chu trình nước trong tự nhiên và sự phân bố khí áp trên bề mặt trái đất Vì vậy, nhiệt độ biến đổi cũng là nguyên nhân gây ra mọi hiện tượng thời tiết phức tạp ở mỗi địa phương
2.1.1 Sự điều tiết thân nhiệt
Nhiệt độ thân thể của gia súc luôn được duy trì trong một trạng thái tương đối ổn định Quá trình điều tiết thân nhiệt được thực hiện dưới sự điều khiển của hệ thống thần kinh trung ương, do sự sinh ra (sự sản nhiệt) và mất đi (sự tỏa nhiệt) của nhiệt năng trong
cơ thể
2.1.2 Sản sinh nhiệt năng
Nhiệt năng sinh ra do quá trình trao đổi, oxy hoá các chất trong cơ thể động vật Tất cả các tế bào của cơ thể luôn ở trong trạng thái không ngừng sản sinh nhiệt năng Sự sản nhiệt ở từng cơ quan, tổ chức khác nhau trong cơ thể là không giống
Trang 2nhau, phụ thuộc chủ yếu vào tính chất và mức độ làm việc (mức độ sản nhiệt nhiều nhất tập trung chủ yếu ở bắp thịt, gan, thận, các tuyến nội tiết vv )
Ngoài ra, sự sản nhiệt còn phụ thuộc vào chế độ ăn, khẩu phần ăn (thức ăn giàu hoặc nghèo năng lượng, cho gia súc ăn nhiều hay ít) Ngoại cảnh không khí cũng tác động vào quá trình sản nhiệt như chế độ nhiệt, độ ẩm, tốc độ gió đối lưu
2.1.3 Sự tỏa nhiệt
Nhiệt năng của cơ thể gia súc tỏa ra ngoài môi trường sẽ có tác dụng giúp cho quá trình giải phóng nhiệt lượng thừa, đồng thời tạo cho cơ thể một sự cân bằng nhiệt lượng Quá trình điều tiết thân nhiệt chịu sự chi phối của hệ thần kinh trung ương (trung khu điều tiết nhiệt nằm trong mỏm dưới hành não) và một số nội tiết tố (nội tiết tố của tuyến giáp trạng, tuyến thượng thận vv )
Cơ thể động vật có nhiều cơ quan và hệ thống tham gia vào quá trình tỏa nhiệt: tỏa nhiệt qua da và niêm mạc, tỏa nhiệt qua hệ hô hấp, tiêu hoá, hệ thống nội tiết, tiết niệu v.v , trong đó da là cơ quan tỏa nhiệt có vai trò chủ yếu ở động vật có tuyến mồ hôi phát triển Ngược lại, ở những gia súc có tuyến mồ hôi kém phát triển (ví dụ như lợn, chó) thì
sự tỏa nhiệt cơ thể qua đường hô hấp sẽ chiếm ưu thế Sự tỏa nhiệt của cơ thể gia súc ra ngoài môi trường được thực hiện chủ yếu theo 3 cách: dẫn truyền, bức xạ và đối lưu
a Truyền nhiệt (truyền dẫn đối lưu)
Nguyên lý truyền nhiệt: vật (cơ thể) có nhiệt độ cao khi tiếp xúc với vật (cơ thể)
có nhiệt độ thấp tạo nên một sự chênh lệch nhiệt độ Do vậy, nhiệt sẽ được truyền từ vật (cơ thể) có nhiệt độ cao sang vật (cơ thể) có nhiệt độ thấp (nên còn gọi là quá trình truyền nhiệt ngược chiều) Động vật có thể tỏa nhiệt trên khắp bề mặt của cơ thể ra ngoài môi trường tự nhiên Nếu có thêm gió đối lưu hoặc khi gia súc chạy, vận động, sự tỏa nhiệt sẽ tăng lên
Ngoài ra, thông qua quá trình hô hấp, ăn uống, tiêu hoá, bài tiết, hoạt động giao phối, tiết sữa vv…, cơ thể gia súc cũng bị tiêu hao nhiệt lượng đáng kể
Trong môi trường có hàm lượng hơi nước không khí cao, kết hợp với dòng khí chuyển động xung quanh cơ thể lớn thì sự hao tổn nhiệt năng của cơ thể sẽ tăng lên Vì vậy, về mùa đông trong những ngày giá lạnh, khi nhiệt độ không khí hạ thấp cần có biện pháp chống lạnh cho gia súc bằng cách không chăn thả gia súc trên đồng cỏ hay ngoài bãi chăn, trong chuồng nuôi phải hạn chế độ ẩm và che chắn chuồng trại để tránh bị gió lùa
b Bức xạ
Tất cả cơ thể người và động vật đều có khả năng bức xạ nhiệt, khi nhiệt độ cơ thể cao hơn nhiệt độ môi trường thì nhiệt của cơ thể tỏa ra ngoài dưới hình thức sóng hồng ngoại gọi là bức xạ Nhiệt năng của cơ thể gia súc mất đi theo phương thức này có liên quan và phụ thuộc nhiều vào nhiệt độ của các vật thể xung quanh và môi trường tự nhiên
Trang 3Khi thân nhiệt tăng lên thì cường độ bức xạ cũng tăng theo Tường, nền, vách của chuồng nuôi gia súc ẩm ướt, lạnh lẽo, nhiệt độ không khí thấp thì sự tỏa nhiệt qua con đường bức xạ của cơ thể sẽ tăng
Gia súc tỏa nhiệt theo phương thức bốc hơi chủ yếu qua da (theo tuyến mồ hôi) và đường hô hấp (qua hơi thở) Đối với những gia súc không có hay có ít tuyến mồ hôi (ví dụ: như lợn, chó, trâu) thì sự bốc hơi để tỏa nhiệt bằng phương thức hô hấp sẽ chiếm ưu thế Nói chung, dựa theo diễn biến của điều kiện thời tiết, khí hậu thì vào mùa đông thường xảy ra sự truyền nhiệt ngược chiều, bức xạ lớn Trong mùa hè, sự bốc hơi lớn
Nói chung, động vật có thể sống trong khoảng từ - 600C đến +600C nhưng nhiệt
độ thích hợp nhất ở gia súc trưởng thành chỉ trong khoảng từ 210C đến 260C Trong nhiệt
độ cực đoan động vật phải tăng cường hoạt động sinh lý và hành vi bảo vệ để sinh tồn
Vượt ra ngoài phạm vi của giới hạn nóng (>+600C) và lạnh (<- 600C), động vật sẽ
bị tiêu diệt (Lê Viết Ly, 1995)
2.1.5 Ảnh hưởng của nhiệt độ không khí quá cao đối với cơ thể
a Nguyên nhân
Do nhiệt độ không khí cao (>300C); nhiệt độ cao không thay đổi nhưng độ ẩm quá cao (90 - 100%); nhiệt độ cao nhưng không khí không lưu thông hoặc lưu thông quá chậm; nhiệt độ cao kết hợp với mật độ nhốt giữ gia súc lớn, lớp mỡ dưới da dày, lông quá rậm; mùa hè cho ăn nhiều thức ăn tinh bột, trời nóng, không có gió đối lưu, cho gia súc vận động hoặc phải làm việc quá sức v.v Những nguyên nhân trên sẽ cản trở quá
Trang 4trình tỏa nhiệt làm cho gia súc mất đi trạng thái thăng bằng nhiệt dẫn đến xuất hiện các
phản ứng sinh lý của cơ thể
b Hậu quả của sự tích luỹ nhiệt quá cao và phản ứng điều tiết nhiệt của cơ thể động vật đối với nóng
- Phản ứng sinh lý: Khi mất thăng bằng nhiệt, cơ thể gia súc sẽ bị nhiệt lượng thừa
tích lại tác động gây ảnh hưởng đến cơ năng điều tiết nhiệt, dẫn tới giảm thấp sự sản sinh nhiệt, đồng thời tăng cường quá trình tỏa nhiệt qua da và đường hô hấp Biểu hiện ra ngoài dễ nhận thấy là mao mạch trương to, máu dồn về nhiều, tăng nhiệt độ trên bề mặt
da, tăng tiết mồ hôi, mạch đập và tần số hô hấp tăng lên Kết quả: gia súc cử động chậm chạp, khả năng tiêu hoá hấp thu kém, con vật hầu như không muốn ăn, sức đề kháng tự nhiên của cơ thể giảm mạnh
- Phản ứng bệnh lý: Sự điều tiết nói trên chỉ làm giảm tích luỹ nhiệt, chưa đủ để
loại trừ nhiệt đã tích luỹ Mặt khác, khi hô hấp tăng cường, mao mạch xung huyết, nhiệt
độ máu ngoại vi tăng thì quá trình phân giải protein, lipid và glucid cũng tăng lên, đồng thời trung khu thần kinh do bị nhiệt độ nóng của máu kích thích nên cũng tăng sản nhiệt, sau dẫn đến sự rối loạn Các sản phẩm oxy hoá không hoàn toàn sẽ được tích luỹ lại, tạo thành những chất độc đi vào máu gây trúng độc cho cơ thể
Nếu điều kiện ngoại cảnh (nhiệt độ không khí, sự thông thoáng, ẩm độ cao) không được cải thiện, gia súc phải sống liên tục dưới điều kiện nhiệt độ không khí cao, sự tỏa nhiệt của phản ứng sinh lý không đủ để điều tiết nhiệt Sự thăng bằng nhiệt bị phá vỡ, dẫn tới gia súc bị rơi vào trạng thái bệnh lý, hôn mê, tê cứng và chết
Thân nhiệt tăng cao một cách nhanh chóng kết hợp với loạn nhịp tuần hoàn, hô hấp là triệu chứng lâm sàng rõ nhất của hiện tượng cảm nóng (còn gọi là bệnh cảm nóng)
- Biện pháp đề phòng nhiệt độ không khí quá nóng: nên tạo điều kiện cho cơ thể
gia súc dễ dàng tỏa nhiệt bằng cách cải thiện bầu tiểu khí hậu chuồng trại thoáng mát, giảm độ ẩm, khí độc vv , cho gia súc ở nơi yên tĩnh, râm mát, rộng rãi, khi chuyên chở lưu ý mật độ hợp lý, tránh di chuyển gia súc trong thời tiết nắng, nóng
Khi phát hiện gia súc biểu hiện phản ứng bệnh lý cần có biện pháp can thiệp kịp thời: Hộ lý, chuyển đến nơi râm mát, đắp khăn lạnh vào đầu, tăng cường trợ tim v.v
Cần có chế độ sử dụng hợp lý gia súc cày kéo trong mùa hè và những ngày nắng nóng Phải căn cứ vào giống, tính biệt, tuổi, điều kiện khí hậu đặc thù của địa phương để quy định chế độ quản lý, chăm sóc nuôi dưỡng và sử dụng gia súc cho hợp lý
2.1.6 Ảnh hưởng của nhiệt để quá thấp đối với cơ thể
a Nguyên nhân
Do nhiệt độ không khí thấp (thấp dưới khu nhiệt điều hòa và nhiệt độ giới hạn),
Trang 5tốc độ chuyển động của gió và ẩm độ không khí cao, gia súc nuôi nhốt thưa, lông ít, lớp
mỡ dưới da mỏng (có thể do gia súc quá gầy), hoặc gia súc bị đói do thiếu thức ăn, chuồng trại không được che chắn vv
Trong nhưng trường hợp như vậy, cơ thể gia súc sẽ điều chỉnh để giảm tối đa sự tỏa nhiệt, đứng yên hoặc hạn chế vận động, mao mạch ngoại vi co hẹp lại, nhiệt độ trên
bề mặt da giảm thấp
b Hậu quả của nhiệt độ không khí quá thấp và phản ứng điều tiết của cơ thể động vật đối với lạnh
Những nguyên nhân nêu trên sẽ dẫn đến sự thúc đẩy quá trình tỏa nhiệt của cơ thể,
nhiệt năng bị mất nhiều, cơ thể sẽ phản ứng lại để cố giữ được thăng bằng nhiệt
Phản ứng của cơ thể sẽ trải qua hai giai đoạn:
- Phản ứng sinh lý: nếu lạnh vừa phải, cơ thể tăng cường trao đổi chất, quá trình
trao đổi khí và nhiệt cũng tăng Quá trình tiêu hóa và hiệu suất sử dụng thức ăn tăng cao,
gia súc được tăng cường sức đề kháng tự nhiên
Nếu nhiệt độ không khí tiếp tục hạ xuống thấp nữa, cơ thể sẽ tăng cường sản nhiệt
để chống rét, cơ bắp run rẩy do mất nhiệt năng Quá trình trao đổi chất và oxy hoá cung cấp năng lượng diễn ra nhanh nên gia súc chóng đói, mao mạch ngoại vi co hẹp, huyết áp
cơ thể tăng, mạch chậm, hô hấp giảm thấp, tăng cường hoạt động tiết niệu (biểu hiện là gia súc đi tiểu nhiều), gia súc có thể bị tê cóng, các mao quản ở phổi xuất huyết, sức đề
kháng tự nhiên của cơ thể giảm mạnh
- Phản ứng bệnh lý: Gia súc phải sống liên tục trong điều kiện nhiệt độ không khí
giảm thấp, cơ thể sản nhiệt không đủ để bù vào lượng nhiệt mất đi Nhiệt lượng của cơ thể bị mất quá nhiều, thăng bằng nhiệt bị phá vỡ, gia súc xuất hiện phản ứng bệnh lý Biểu hiện thân nhiệt giảm nhanh, da thiếu máu nhợt nhạt, huyết áp tăng, mạch chậm, hô
hấp giảm, tăng bài tiết nước tiểu vv…
Ở giai đoạn cuối, trao đổi chất giảm hẳn, huyết áp hạ thấp, gia súc mệt mỏi, thần
kinh rối loạn, con vật có thể bị hôn mê và chết
- Ảnh hưởng cục bộ: Khi bị lạnh cục bộ, lạnh kéo dài dẫn đến sự chỉ phối của hoạt
động thần kinh bị rối loạn, bắp thịt bị viêm, khớp xương tê cóng, phần dưới của chi rất
mẫn cảm, trâu, bò dễ mắc các bệnh như viêm khớp
- Biện pháp đề phòng nhiệt độ không khí quá lạnh: huấn luyện cho gia súc khả
năng chịu lạnh (ví dụ bằng các phản xạ có điều kiện và không có điều kiện) Cho gia súc
ăn uống đầy đủ, khẩu phần ăn và chế độ dinh dưỡng hợp lý Giữ bầu tiểu khí hậu chuồng nuôi thích hợp, ấm về mùa đông, không để nhiệt độ biến đổi mạnh, che chuồng chống
rét, hạn chế gió lùa, ẩm ướt, tránh để gia súc thoát mồ hôi
- Sự điều tiết nhiệt độ trong chuồng nuôi: nguồn nhiệt tự nhiên trong chuồng nuôi
Trang 6gia súc do nhiệt độ không khí và thân nhiệt của gia súc cơ thể gia súc tỏa nhiệt qua da và
hơi thở
Thân nhiệt gia súc do quá trình truyền nhiệt ngược chiều và sự đối lưu của không khí sẽ bốc lên cao theo phương thẳng đứng Như vậy, ở trong chuồng nuôi, càng lên cao,
nhiệt độ không khí càng tăng lên và chỗ gia súc nằm sẽ lạnh nhất
Nhiệt độ của môi trường không khí chịu ảnh hưởng của nhiệt độ mặt đất Không khí trực tiếp hấp thụ nhiệt lượng của mặt trời, do tác dụng truyền dẫn và bức xạ Ban ngày ờ chỗ thấp nhiệt độ không khí sẽ tăng cao nhất, càng lên trên nhiệt độ càng giảm Ban đêm, mặt đất sẽ trở nên lạnh nhanh, lớp không khí gần mặt đất vì thế cũng lạnh theo
2.2 Độ ẩm không khí
Độ ẩm là khái niệm để biểu thị hàm lượng hơi nước chứa trong không khí Khi nguồn hơi nước trong không khí chưa đạt điểm bão hòa, hơi nước có thể tiếp tục được hấp thu và đạt độ lớn nhất khi tới điểm bão hòa Nếu lượng hơi nước vượt qua điểm bão hòa sẽ chuyển thành mù (hơi nước bị ngưng tụ)
Độ ẩm không khí có quan hệ với nhiệt độ, tốc độ chuyển động và áp suất không khí Khi nhiệt độ không khí lên cao, khả năng tiếp thu hơi nước của không khí cũng tăng, nước bốc hơi tăng, do đó độ ẩm tuyệt đối cũng được tăng cường
Áp suất không khí tỷ lệ nghịch với lượng nước bốc hơi, áp suất càng thấp thì khi nhiệt độ không khí tăng, nước bốc hơi càng nhiều
2.2.1 Phương pháp biểu thị độ ẩm
Độ ẩm bão hòa
Độ ẩm bão hòa là lượng hơi nước tính ra gam của 1m3
không khí bão hòa hơi nước ở nhiệt độ nhất định
Độ ẩm tuyệt đối
Độ ẩm tuyệt đối là lượng hơi nước tính ra gam của 1m3
không khí ở một nhiệt độ nhất định Độ ẩm tuyệt đối cho biết số lượng hơi nước thực có trong không khí ở nhiệt độ nhất định
Độ ẩm chênh lệch
Độ ẩm chênh lệch biểu thị sự chênh lệch giữa độ ẩm bão hòa và độ ẩm tuyệt đối trong điều kiện nhiệt độ không khí nhất định Tức là ở trong điều kiện nhiệt độ đó, không khí tự nhiên có thể tiếp thu thêm một lượng hơi nước nhất định
Điểm sương
Khi hơi nước trong không khí chưa đạt độ bão hòa, do nhiệt độ tiếp tục xuống thấp, tuy không có thêm hơi nước tăng cường nhưng hơi nước không khí sẽ chuyển sang trạng thái bão hòa, thời điểm nhiệt độ đó gọi là điểm sương Khi nhiệt độ không khí tiếp
Trang 7tục xuống thấp dưới điểm sương thì hơi nước sẽ đọng lại tạo thành từng giọt nhỏ li ti, còn gọi là sương mù
Độ ẩm tương đối
Độ ẩm tương đối là tỷ số tính ra phần trăm (%) giữa độ ẩm tuyệt đối và độ ẩm bão hòa ở nhiệt độ không khí nhất định, trong một khoảng thời gian, không gian cụ thể
2.2.2 Độ ẩm không khí trong chuồng nuôi
Nguồn gốc và sự biến đổi của hơi nước trong không khí chuồng nuôi
Hơi nước trong chuồng nuôi có khoảng 75% được sản sinh từ cơ thể gia súc, 20 - 25% từ mặt đất (thức ăn, nước uống, chất độn chuồng, tường ẩm v.v , bốc ra), 10 - 15%
do không khí ở bên ngoài chuồng trại đưa vào
Sự biến đổi của độ ẩm và nhiệt độ không khí chuồng nuôi tương đối thích ứng với nhau Ban đêm độ ẩm tuyệt đối tăng, buổi sớm và ban ngày giảm Càng gần mái chuồng,
độ ẩm tuyệt đối càng lớn do phần lớn hơi nước tích tụ ở trên cao, nơi có nhiệt độ cao Mặt khác, lại thêm hơi thở của gia súc cũng góp phần đẩy không khí nóng lên cao Do vậy, dễ xuất hiện các giọt nước đọng ở mái chuồng gây mất vệ sinh, ảnh hưởng tới sức khỏe gia súc
Ảnh hưởng của độ ẩm đến sức khỏe và sức sản xuất của gia súc
Độ ẩm tương đối từ 55 - 85%, mức độ ảnh hưởng đến cơ thể chưa rõ rệt nhưng khi
độ ẩm >90% sẽ gây ảnh hưởng rất lớn Bất kỳ nhiệt độ không khí cao hay thấp, chuồng trại ẩm ướt đều không tốt Khi nhiệt độ thấp, ẩm độ cao làm tăng sự tỏa nhiệt, gia súc bị lạnh Khi nhiệt độ cao, ẩm độ cao sẽ gây trở ngại sự tỏa nhiệt, nhiệt lượng thừa ở lại trong
cơ thể gây rối loạn chức năng sinh lý cơ thể
Ngoài ra, độ ẩm không khí cao còn ảnh hưởng tới sự sinh trưởng, phát triển của các vi sinh vật gây bệnh Nói chung, chuồng nuôi gia súc ẩm thấp là điều kiện thuận lợi cho dịch bệnh phát sinh
Phương pháp loại trừ ẩm ướt trong chuồng nuôi
Phải hạn chế sự bốc hơi nước quá nhiều ở trong chuồng nuôi nhốt gia súc Đề phòng nước bốc hơi đọng lại trên tường, mái, cần tăng cường các biện pháp vệ sinh; quét dọn phân, rác, nước tiểu, nước uống tồn đọng; vệ sinh cống rãnh thoát nước, thay đệm lót, dùng vôi bột để hút ẩm (3kg vôi sống có thể hút được 1 lít nước), chú ý giữ chuồng
trại thông thoáng khí giúp cho quá trình tự điều chỉnh, hạn chế độ ẩm trong chuồng nuôi
Nói chung, chuồng nuôi gia súc độ ẩm tương đối không được quá cao; chuồng ngựa khoảng 80%, chuồng trâu, bò khoảng 85%, lợn sinh sản 62 - 75%, lợn vỗ béo 75 -
80% v.v
2.3 Bức xạ mặt trời
Trang 8sinh trưởng, phát dục, tăng trao đổi chất và tăng sức đề kháng giúp cơ thể mau phục hồi Tuy nhiên nếu phơi dưới ánh nắng mặt trời một thời gian dài, động vật có thể bị cảm nắng, thần kinh trung ương bị kích thích và có thể bị tổn thương, hô hấp và tuần hoàn bị rối loạn Vì vậy, chuồng trại nên được xây dựng có ánh nắng mặt trời chiếu vào nhưng không được để ánh nắng chiếu trực tiếp vào vật nuôi Đối với gia súc chăn thả ngoài đồng hay gia súc làm việc, không nên cho chúng ở quá lâu dưới trời nắng gắt Trên bãi chăn nuôi có chòi hay cây bóng mát để cho gia súc nghỉ trưa
2.4 Bụi và vi sinh vật trong không khí
2.4.1 Nguồn gốc và tính chất của bụi
Đất khô là nguồn bụi chủ yếu trong không khí, đặc biệt khi có gió to và trong điều kiện nhiệt độ cao Tốc độ gió từ 4 - 5m/giây có thể cuốn theo những hạt đất nhỏ
Tốc độ gió rất nhỏ, khoảng 0,3 - 0,4m/giây cũng cuốn đi những tạp chất lơ lửng trong không khí đem đi xa, trong thời gian lâu (ví dụ, virus lở mồm long móng bám vào những tạp chất này có thể được mang đi xa hàng trăm km)
Trong chuồng nuôi gia súc, thức ăn khô, khi tắm chải, dọn chuồng, thay đệm lót vv sẽ tạo nên bụi rắn hoặc dạng bụi lỏng (là những giọt nước nhỏ) gây kích ứng đường
hô hấp (gây ho, hắt hơi)
Có hai loại bụi: bụi vô cơ chiếm khoảng 2/3 trong không khí (bao gồm bụi kim loại, khoáng chất, đất, cát và bụi có nguồn gốc nhân tạo như các chất hoá học tổng hợp, hoá chất sát trùng tiêu độc, hoá chất bảo vệ thực vật vv ); bụi hữu cơ (bao gồm bụi có nguồn gốc thực vật như rơm, cám, hoặc bụi có nguồn gốc động vật như lông, da, sừng, móng); chiếm 1/3 - 1/4, ở trong chuồng nuôi gia súc, gia cầm dạng bụi này có thể tăng lên 50%
Bụi trong không khí được tính theo đơn vị mg/m3 hoặc số hạt bụi/m3 không khí
2.4.2 Ảnh hưởng của bụi đối với gia súc
Tác hại của bụi phụ thuộc vào kích thước của hạt bụi to hay nhỏ và tính chất của từng loại bụi Hạt bụi có đường kính < 5µm có thể xâm nhập vào sâu trong khí quản, đến phế quản (bao gồm các phế quản lớn, phế quản nhỏ), thậm chí đến tận các phế nang gây tổn thương nghiêm trọng cho chức năng sinh lý của phổi gia súc
Tác hại của bụi có thể gây ra cho cơ thể:
- Gây độc: bụi chì (Pb), a sen (As) v.v
- Gây kích thích cục bộ: bụi than, bụi đá, bụi xi măng v.v
- Gây dị ứng: bụi ngũ cốc, gai, sợi, phấn hoa, phấn cơ thể của một số loại côn trùng (ví dụ, bướm) v.v
- Gây nhiễm trùng: bụi lông, da của gia súc v.v
Trang 9- Gây ung thư: bụi phóng xạ, bụi của các khu công nghiệp v.v
2.4.3 Vi sinh vật trong không khí
Điều kiện phát sính vi sinh vật trong không khí:
Bụi và những giọt nước nhỏ trong không khí thường mang nhiều loại vi sinh vật,
có khi theo luồng gió được truyền đi rất xa, sau đó lại cùng lắng xuống với bụi hoặc ở trạng thái lơ lửng trong không khí
Bụi không khí ở khu vực thành thị thường có nhiều vi sinh vật hơn so với ở ngoài đồng cỏ hoặc rừng cây Mùa xuân, mùa hè trong không khí cũng chứa nhiều bụi hơn so với mùa thu, mùa đông Càng lên trên cao, số lượng vi sinh vật trong một đơn vị thể tích không khí càng giảm
Ngoài các vi sinh vật có lợi hoặc không gây bệnh, bụi còn có thể mang theo các vi sinh vật gây bệnh, đặc biệt đối với bụi có nguồn gốc trong các trang trại chăn nuôi gia súc hoặc từ các ổ dịch đang lưu hành
Các vi sinh vật gây bệnh ở trong đất, thức ăn thừa, chất bài tiết v.v , của gia súc
ốm có thể theo bụi khuếch tán đi xa Chuồng trại ẩm thấp, thiếu ánh sáng là điều kiện thuận lợi để lưu giữ nhiều loại mầm bệnh
Vi sinh vật có ở trong bụi xâm nhập vào cơ thể gia súc chủ yếu theo đường hô hấp
và tiêu hoá, gây bệnh ở cục bộ (ví dụ gây viêm mắt, mũi, họng) hoặc toàn thân (ví dụ bệnh do virus lở mồm long móng, virus Dịch tả lợn, bệnh do nhiễm khuẩn Salmonella) Ngoài ra, vi sinh vật trong không khí cũng rất dễ nhiễm vào các loại thực phẩm (như thịt,
cá, rau, củ, quả), nguồn nước sinh hoạt vv , là nguyên nhân gây ngộ độc thực phẩm (ngộ độc thực phẩm do vi khuẩn Salmonella, E.coli, Cl.botulinum, Cl.perfringens; do các nấm mốc độc Aspergillus navus, Aspergillus fumigatus v.v )
2.4.4 Biện pháp ngăn chặn bụi và vi sinh vật trong không khí
Loại bỏ hoặc có biện pháp khống chế quá trình phát sinh và giải phóng bụi Thực hiện trồng cây xanh quanh khu vực chuồng nuôi gia súc để ngăn chặn bụi, đồng thời tăng cường quá trình trao đổi thu nhận khí cacbonic, cung cấp khí oxy cho môi trường Ngăn cản quá trình lan tỏa bụi trong môi trường (bằng biện pháp phun ẩm), có biện pháp giảm nồng độ bụi trong không khí, thực hiện thông gió hợp lý trong chuồng nuôi gia súc, gia cầm Tiêu chuẩn vệ sinh cho phép nồng độ bụi trong khoảng từ 2 - 10mg bụi/m3 không khí
Để ngăn chặn bụi vi sinh vật trong không khí, trước hết phải có biện pháp giảm lượng bụi sản sinh Chuồng trại phải đảm bảo vệ sinh thú y, giữa các chuồng nuôi phải
có ngăn cách cứng để hạn chế bụi khuếch tán
III CÁC CHẤT KHÍ TRONG KHÔNG KHÍ
3.1 Thành phần các chất khí trong không khí
Trang 10Không khí chủ yếu gồm hai thành phần (N2) và oxy (O2) Ngoài ra, còn có thêm một số rất ít các chất khí khác như: Cacbonic (CO2), amoniac (NH3), hydro sulfua (H2S), axit vô cơ bay hơi, hơi nước, khói v.v Thành phần chất khí chủ yếu của lớp khí quyển ở tầng đối lưu như sau:
Riêng bầu tiểu khí hậu chuồng nuôi, thành phần các chất khí trong không khí có nhiều biến đổi do khí thể gia súc thở ra làm cho hàm lượng nhỏ và cacbonic tăng cao, lượng oxy giảm thấp, hơi nước thì bão hòa Ngoài ra, còn các chất khí độc hại bài tiết ra ngoài qua đường tiêu hoá như metal (CH4), hydro sulfua (H2S), Indol v.v
Dưới tác dụng của một số vi khuẩn, sự phân giải các chất hữu cơ có trong thức ăn thừa, trong phân và nước tiểu của gia súc tạo thành các khí thể độc hại bay hơi như NH3, H2S, CO2 Đó là một trong những nguyên nhân chính gây ô nhiễm bầu tiểu khí hậu chuồng nuôi
3.2 Ảnh hưởng của một số chất khí đến cơ thể
3.2.1 Amoniac (NH3)
Amoniac (NH3): Amoniac là chất khí không màu, mùi kích thích, rất độc với cơ quan hô hấp và thị giác của cơ thể Hàm lượng NH3 trong không khí rất ít hoặc không có (chỉ khoảng l/100mg/m3
không khí) Trong khu vực chuồng nuôi, NH3 sản sinh chủ yếu
do quá trình phân huỷ các chất hữu cơ có chứa nitơ
Khí NH3 kích thích thần kinh gây co thắt khí quản, phổi bị tổn thương, thuỷ thũng NH3 xâm nhập vào máu sẽ làm tăng lượng kiềm dự trữ, gia súc rơi vào tình trạng trúng độc kiềm, hệ thần kinh trung ương bị rối loạn, hô hấp bị tê liệt co giật toàn thân
Ảnh hưởng cục bộ: NH3 gây viêm đường hô hấp, tiêu hoá, viêm kết mạc, giác mạc mắt
Trúng độc NH3 dễ qua khỏi, sau khi hít phải NH3, ở trong cơ thể gia súc NH3 sẽ chuyển thành urea và được thải ra ngoài Tuy vậy, sau khi vào cơ thể, NH3 có thể qua tổ chức phổi vào máu, tác động vào hệ thống thần kinh trung ương gây trúng độc cấp tính
Ví dụ về phản ứng chuyển khí amoniac thành urea trong cơ thể gia súc rồi sau đó đào
Trang 11thải ra ngoài theo phân và nước tiểu:
2NH3 + CO2 CO (NH2)2 + H2O
Chỉ tiêu vệ sinh cho phép NH3 trong không khí chuồng nuôi theo tiêu chuẩn ngành tối đa là 10 ppm Gia súc ở lâu trong chỗ có hàm lượng NH3 vượt chỉ tiêu cho phép có thể thích ứng được nhưng sức đề kháng sẽ giảm, con vật dễ mắc các bệnh hô hấp
3.2.2 Hydro sulfua (H2S)
Hydro sulfua (H2S): H2S là chất khí bay hơi, rất độc, có mùi hôi đặc trưng (chỉ từ 0,001 - 0,002 phần nghìn đã phát hiện thấy mùi) Trong phân gia súc, gia cầm, H2S là sản phẩm của quá trình phân giải các hợp chất hữu cơ (chủ yếu là protein do cơ thể chưa hấp thu hết) có chứa lưu huỳnh dưới tác dụng của một số vi sinh vật Thức ăn giàu protein, quá trình tiêu hoá kém, H2S sẽ được sinh ra nhiều ở trong đường tiêu hoá của gia súc
Ví dụ: về nguồn gốc sản sinh khí H2S do quá trình phân giải của một số vi khuẩn đường ruột
Trúng độc H2S nguy hiểm không kém gì trúng độc axit HCN Hydro sulfua sau khi xâm nhập vào cơ thể (chủ yếu qua đường hô hấp) sẽ được kiềm hoá trên dịch nhầy niêm mạc thành muối natri sulfit (Na2S), muối này đi vào máu và được thuỷ phân để tạo
ra H2S gây kích ứng hệ thần kinh trung ương, làm tê liệt hô hấp, tuần hoàn
Trong chuồng nuôi, H2S bền trong không khí ẩm, trên bề mặt ẩm ướt của vách, mái chuồng nên rất nguy hiểm cho sức khỏe vật nuôi
Ảnh hưởng cục bộ: khí H2S gây viêm giác mạc, kết mạc mắt, viêm dạ dày, ruột Chỉ tiêu vệ sinh cho phép hàm lượng H2S trong không khí chuồng nuôi theo tiêu chuẩn ngành tối đa là 5 ppm
3.2.3 Khí carbonic (CO 2 )
Nồng độ khí này trong không khí khoảng 300ppm (0,03%) Khí carbonic được sinh ra từ hô hấp và từ các quá trình phân hủy các chất hữu cơ Chuồng gà thường có nồng độ khí carbonic cao hơn các vật nuôi khác do sự phân hủy urate trong phân Khí này có tỷ trọng thấp, do đó trong chuồng kém thông thoáng, nó sẽ tập trung ở lớp không khí sát nền chuồng Nồng độ trong không khí chuồng nuôi không nên vượt quá 0,3% Tuy nhiên, trong chuồng dạng hở, nồng độ khí CO2 thường không cao vượt quá mức này
Bảng 1.1: Tiêu chuẩn điều kiện vệ sinh thú y không khí chuồng nuôi
Trang 12Dụng cụ đo
1 Nhiệt độ không khí trong khoảng Nhiệt kế 0C 18 – 32
3 Tốc độ gió trong khoảng Phong tốc kế m/s 0,5 - 3,0
(Nguồn: TS Bùi Quang Anh và ctv, 2006)
3.3 Các biện pháp phòng ngừa ô nhiễm và bảo vệ môi trường không khí
Trong khu vực chuồng nuôi, biện pháp khống chế, ngăn chặn những chất khí có hại chủ yếu phải làm tốt công tác vệ sinh thú y Chuồng nuôi nhiều phân rác, ẩm ướt khi nhiệt độ không khí lên cao sẽ sản sinh nhiều chất khí độc hại Gia súc dễ bị trúng độc bởi CO2, NH3, H2S Trong điều kiện như vậy, sức đề kháng cơ thể sẽ bị giảm sút, gia súc dễ mắc các bệnh truyền nhiễm Do vậy, việc thực hiện quản lý và kiểm soát môi trường không khí một cách nghiêm ngặt là rất quan trọng Các biện pháp quản lý Nhà nước về môi trường và công tác chuyên môn cụ thể như sau:
- Thành lập các cơ quan chuyên trách quản lý môi trường, kiểm soát chặt các nguồn gây ô nhiễm
- Định kỳ tổ chức kiểm tra các chỉ tiêu vệ sinh môi trường không khí đối với một
số chất khí độc hại
- Quy hoạch, thiết kế xây dựng khu vực chuồng trại chăn nuôi hợp lý
- Tăng cường trồng cây xanh quanh khu vực chuồng trại để cải thiện bầu tiểu khí hậu chuồng nuôi, hạn chế ô nhiễm môi trường
- Áp dụng các biện pháp kỹ thuật vệ sinh cơ học, vật lý, hoá học và sinh học (ủ phân compost, biogas) để xử lý chất thải chăn nuôi (như phân, rác, chất độn chuồng, nước thải sinh hoạt, xác gia súc, gia cầm chết v.v )
- Tiến hành nâng cao chất lượng bầu tiểu khí hậu chuồng nuôi bằng biện pháp nhân tạo (như thông thoáng chuồng trại chăn nuôi, lọc bụi đối với nguồn cung cấp không khí)
Trang 13KQHT 2 VỆ SINH MÔI TRƯỜNG NƯỚC TRONG CHĂN NUÔI
Nước có vai trò quan trọng để duy trì sự sống của cơ thể Nước tham gia vào quá trình trao đổi, chuyển hoá các chất, cân bằng điện giải, điều hòa thân nhiệt, bài tiết, đào thải chất độc ra khỏi cơ thể
Nước hòa tan các chất vô cơ, hữu cơ, các chất độc hại, vi sinh vật gây bệnh v.v
Do vậy, có thể nói rằng khi bị ô nhiễm bởi các tác nhân gây bệnh nước giữ vai trò trung gian truyền bệnh, nên khi cung cấp nước cho gia súc, ngoài yêu cầu đầy đủ còn phải đảm bảo tiêu chuẩn vệ sinh
Nước còn là làm trơn cho nhiều bề mặt khác nhau như các khớp, giác mạc, màng phổi, bao tim, phúc mạc Lượng nước trong cơ thể khác nhau thùy theo loài, theo tuổi, tính đực cái, tình trạng dinh dưỡng
2.1.2 Màu nước
Màu sắc: nước sạch tự nhiên không có màu Tuy nhiên nước thải từ các nhà máy, khu dân cư, trại chăn nuôi đã thải ra môi trường nước các chất hòa tan khác nhau, làm cho nước có màu Bên cạnh đó màu sắc của nước còn do rong, rêu, tảo sống trong nước
và các ion kim loại Fe2+
, Fe3+, Al3+, SO42-, tạo thành Điều này ảnh hưởng lớn đến tính chất, hệ sinh thái của môi trường nước
2.1.3 Mùi nước
Nước sạch không có mùi và vị Việc xuất hiện mùi và vị lạ trong nước là dấu hiệu cho thấy nguồn nước đã bị ô nhiễm Mùi của nước có thể do sự phân hủy các sản phẩm
Trang 14có nguồn gốc hữu cơ, nước thải có chứa các chất tạo mùi có nguồn gốc vô cơ Mùi vị khác lạ của nước làm cho gia súc uống ít hoặc không uống nước
2.2.1 Độ pH: nước trong tự nhiên có độ pH thay đổi từ 5,5-9,5 Tốt nhất là 6,5-8
pH của nước do CO2 quyết định, CO2 sinh ra do oxy hóa chất hữu cơ, đôi khi do acid vô
cơ (sulfuric, nitric)
2.2.2 Độ muối: tổng số chất rắn hòa tan (Total dissolved solids = TDS) Đơn vị
mg/lít: là tất cả các loại muối hòa tan trong một lít nước Thường người ta thấy muối ở dạng Bicarbonate, Chlorite, Sulfate của Ca, Mg, Na Độ muối cũng ảnh hưởng đến sức khỏe gia súc
Thí dụ đối với heo:
TDS<1000mg/l: không gây ảnh hưởng
TDS 1000-5000mg/l: tiêu chảy nhẹ, tạm thời không uống
TDS 5000-7000mg/l: có ảnh hưởng đến heo có thai, heo đang cho sữa, heo bị stress do chuyên chở đi xa, thay đổi chuồng
TDS>7000mg/l: không an toàn cho heo
2.2.3 Oxy hòa tan (mg/l): là lượng oxy chủ yếu được hấp thu từ không khí vào
hoặc được sản sinh từ nước Oxy trong nước chủ yếu được hấp thu từ không khí Ở nước sông, trong nhiệt độ bình thường lượng O2 là 6-8mg/l, nước có nhiều cây thủy sinh thì O2đến 20-30mg/l
Nước ngầm thường không có oxy nhưng khi ra ngoài trời thì hấp thụ oxy rất nhanh
Chất hữu cơ trong nước càng nhiều thì O2 mất đi càng sớm, đồng thời tác dụng tự làm sạch càng sớm (O2 giảm đến 4mg/l thì tác dụng này ngừng) Căn cứ vào lượng oxy hòa tan trong nước, có thể gián tiếp biết được tình trạng vệ sinh của nước, lượng oxy hòa tan càng nhiều thì nước càng sạch
Nitrate và Nitrite (NO3-, NO2-): tan trong nước và có thể rửa trôi từ mặt đất đến nước ngầm
Chất thải của gia súc, phân bón có nguồn gốc nitrogen, chất hữu cơ thối rửa, đất
có nhiều vi khuẩn cố định đạm đều có thể là nguồn lây nhiễm cho nước Sự hiện diện của
Trang 15NO3-, NO2- < 100ppm, riêng NO2-<10 ppm Hai chỉ tiêu này rất quan trọng để ta có thể phân biệt được nước dơ hay nước sạch
Hợp chất Clor (mg/l): Trong thiên nhiên chủ yếu là hợp chất NaCl, KCl, CaCl2 và MgCl2 có hai nguồn gốc:
Nguồn gốc vô cơ: do đá thấm muối chảy ra làm vị nước kém đi nhưng không có hại nhiều cho gia súc
Nguồn gốc hữu cơ: do nước tiểu, phân, chất thải phân giải ra rất có hại về mặt vệ sinh Đây là chỉ tiêu quan trọng nhất của nước nhiễm bẩn
2.2.4 Muối sắt (Fe): Ở trong nước ngầm thường có hợp chất của sắt chủ yếu là do
chất vô cơ và đá trong đất bị phong hóa ngấm vào nước ngầm Nước có Fe thường không hại Sắt thường có trong nước uống 0,01-100mg/l (0,6mg/l)
2.2.5 Các nguyên tố vi lượng: Tiêu chuẩn nước uống được ở Trung Quốc như
sau:
Pb: không vượt quá 0,1mg/l
As: không vượt quá 0,05mg/l
Hợp chất Cl không vượt quá 1mg/l
Cu: không vượt quá 0,3mg/l
Zn: không vượt quá 15mg/l
Hg, Cr, Ba, Al không cần phát hiện
Pb: lượng chì trong nước là do nước chảy qua mỏ chì, qua công xưởng hoặc là
trong ống dẫn nước bằng chì Nước uống có nhiều chì làm cho gai súc bị bệnh lỵ, táo bón, tim, thần kinh; bò sữa có thể ngừng cho sữa
As: không được quá 0,05mg/l Nước chảy từ phân xưởng nhuộm dùng phẩm màu
aniline có As gây ngộ độc
Fluor: Nếu tỷ lệ fluor trong nước quá thấp dưới 0,5mg/l thì người và súc vật dễ bị
sâu răng Nhưng nếu cao quá 1mg/l thì có thể bị bệnh (ở răng, xương, thần kinh)
Bảng 2.1: Hướng dẫn tính chất nước uống được đối với gia súc
Trang 16Kim loại nặng và ion vi lượng
(Canadian Task Force on Water quality)
III VI SINH VẬT CÓ TRONG NƯỚC
Đánh giá vệ sinh nguồn nước phải kết hợp chặt chẽ giữa điều tra trên thực địa với việc kiểm nghiệm, phân tích mẫu nước
Bảng 2.2: Đánh giá vệ sinh nguồn nước về chỉ tiêu sinh vật học
Tổng số vi khuẩn hiếu khí <100 vi khuẩn/ml 100 - 1000 vi khuẩn/ml
(Theo Đỗ Ngọc Hoè và cs, 2005)
IV NGUỒN NƯỚC VÀ XỬ LÝ NƯỚC TRONG CHĂN NUÔI
Ở trong thiên nhiên, nước sinh hoạt (bao gồm nước uống, nước tắm rửa vv ) có thể được chia thành 4 loại dựa vào nguồn gốc
Trang 17Nước sông có khả năng tự rửa sạch các chất bẩn do sự sa lắng và quá trình oxy hóa xảy ra trong nước
4.1.4 Nước biển
Đây là dạng nước mặn, nước biển có hàm lượng các muối hòa tan cao, dao động
từ 25-32g NaCl/lít (ngoài khơi) và khoảng 12-13g NaCl/lít ven bờ Do nước biển mặn nên hạn chế sự phát triển của vi sinh vật và ký sinh trùng Do đó nước biển không thể sử dụng như nước sinh hoạt cho gia súc
4.2 Vệ sinh nước uống cho gia súc
4.2.1 Số lượng nước cho gia súc uống
Phải đáp ứng nhu cầu sinh lý của gia súc về nước uống, cách tốt nhất nên cho gia súc uống tự do, tức là cung cấp cho gia súc lượng nước sạch tuỳ thích Nhu cầu nước của gia súc thay đổi phụ thuộc tính chất của thức ăn, điều kiện khí hậu, nhiệt độ nước và
Trang 18Nhu cầu về nước uống hàng ngày đối với một số gia súc cụ thể như sau: Ngựa 50
- 70 lít; bò sữa 70 - 115 lít; bò thịt 50 - 60 lít; bê 30 - 35 rít; gà, vịt 0,5 - 1,25 lít; lợn nái nuôi con 75 - 100 lít; lợn vỗ béo 25 lít; dê, cừu 25 lít
4.2.2 Ảnh hưởng của nhiệt độ nước uống tới cơ thể gia súc
Nước lạnh gia súc sẽ cảm thấy dễ chịu nhưng nếu quá lạnh (nhiệt độ nước chênh lệch quá lớn so với thân nhiệt), cơ thể sẽ phải tiêu hao năng lượng làm cho nước nóng lên
Ví dụ, bò sữa khối lượng 400kg, sản lượng sữa 9 lít/ngày, nhu cầu nước uống là
45 lít Nếu nước lạnh O0C, sau khi uống, bò sẽ phải sử dụng nhiệt năng của cơ thể để nâng nhiệt độ nước lên bằng thân nhiệt, năng lượng tiêu hao chiếm 10,7% nhiệt năng cơ thể hoặc phải tiêu tốn 15,6% nhiệt lượng do thức ăn cung cấp sản sinh, tương đương với 455g protein
Ngoài ra, uống nước quá lạnh sẽ dẫn đến hiện tượng giảm nhiệt độ của các cơ quan phủ tạng, gia súc có thể bị rối loạn tiêu hoá gây tiêu chảy, chướng hơi dạ cỏ cấp tính vv , bò sữa uống nước lạnh sẽ bị giảm sản lượng sữa Vì vậy, nên cho gia súc uống nước có nhiệt độ thích hợp, gia súc trưởng thành khoảng 22 – 280C, gia súc non 300C
Để đảm bảo vệ sinh, đồng thời đáp ứng yêu cầu cung cấp nước thường xuyên, đầy
đủ, trong các trang trại chăn nuôi theo hình thức tập trung nên cho gia súc uống nước tự
do bằng hệ thống cung cấp nước có van hoặc máng uống tự động khi gia súc có nhu cầu
Trang 19KQHT 3 VỆ SINH MÔI TRƯỜNG ĐẤT TRONG CHĂN NUÔI
I Ý NGHĨA CỦA VỆ SINH ĐẤT TRONG CHĂN NUÔI
Đất (hay thổ nhưỡng) là lớp vỏ ngoài cùng trái đất có độ sâu từ vài centimet đến vài mét, do ảnh hưởng của quá trình phong hóa và các chất mùn có nguồn gốc động, thực vật tạo thành
Đất là một trong những yếu tố môi trường quan trọng của động vật, thực vật, vi sinh vật và nhiều sản phẩm phế thải khác Do vậy, đất có mối liên quan chặt chẽ đến khí hậu, nguồn nước, chuồng trại, bãi chăn thả, cây thức ăn v.v Đất cũng là môi trường chứa nhiều mầm bệnh nên có ảnh hưởng lớn đến dịch bệnh và sức khỏe của vật nuôi
Về cấu tạo cơ học, đất do những viên đất hoặc những hạt đất lớn nhỏ khác nhau hợp thành Chúng là thành phần rắn của đất, được coi là bộ xương của đất, quyết định trạng thái nước trong đất và những tính chất khác Hạt đất có thể đứng riêng (hạt đơn) hoặc phối hợp với nhau (hạt liên kết) Giữa những hạt đất có các khe hở, đất khô thì khe
hở chứa không khí, đất ướt khe hở sẽ chứa nước Căn cứ vào kích thước, các tiểu thể của đất được phân hạng như sau:
- Sỏi cuội có kích thích lớn hơn 2mm
- Cát to có kích thước từ 0,2 - 2mm
- Cát nhỏ có kích thước từ 0,02 - 0,2mm
- Hạt sét có kích thước từ 0,0001 - 0,02mm
- Hạt keo có kích thước dưới 0,0001mm
Cấu tạo cơ học của đất quyết định tính thấm nước và độ thông thoáng (của không khí) trong đất Hạt đất càng lớn, càng có nhiều SiO2, ít Fe, Ca, O2, Mg vv… Hạt đất càng nhỏ, càng có nhiều chất dinh dưỡng cần thiết cho cây trồng và vi sinh vật sử dụng
II THÀNH PHẦN LÝ HÓA CỦA ĐẤT VÀ ĐÁNH GIÁ VỀ MẶT VỆ SINH CỦA ĐẤT
Trang 20đến tình hình nước trong đất, tình hình không khí, hoạt động của vi sinh vật, nếu hạt đất nhỏ thì khó thấm nước qua
Tác dụng mao quản: là sức hút nước từ dưới lên trên mao quản Hạt đất càng nhỏ, khe hở nhỏ làm tăng tính mao quản nước được đưa lên càng cao
2.2.1 Trong đất có một số nguyên tố hoá học
Nói chung, thành phần hoá học của đất có CO2, Si, Mg, Ca, K, Na, Cu, P, Au, Co,
Zn v.v và những chất không hòa tan hoặc khó hòa tan khác ảnh hưởng trực tiếp của những thành phần hoá học đó đối với cơ thể gia súc, gia cầm là rất nhỏ nhưng ở lớp đất phía trên, còn có những chất hữu cơ và vô cơ khác như phân, rác thối rữa, xác động vật, phế thải công nghiệp, hoá chất độc hại v.v, làm ô nhiễm đất Những thành phần đó thường chuyển động theo sự dịch chuyển của mạch nước ngầm trong đất Mặt khác, những phế thải chăn nuôi cũng có thể mang theo virus, vi khuẩn, hoặc trứng giun, sán gây bệnh Các hoá chất độc hại, thuốc trừ sâu lẫn vào đất cũng có thể gây ngộ độc cho gia súc, gia cầm
Trong đất, các chất vô cơ đơn giản, một số hợp chất hữu cơ, các nguyên tố khoáng đa, vi lượng có vai trò quan trọng cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng sử dụng, thông qua đó, một cách gián tiếp làm nguồn cung cấp thức ăn cho gia súc Ví dụ ở nơi đất thiếu Cu, cây cỏ cũng thiếu Cu, nếu cho gia súc ăn các thức ăn này mà không bổ sung thêm Cu sẽ gây ra những rối loạn trao đổi chất, giảm sinh trưởng, phát triển
2.2.2 Ảnh hưởng của các chất hoá học ở trong đất đối với gia súc
Như trên đã nói, trong đất có hầu hết các nguyên tố hoá học: Si, Ca, Mg, K, P, I2,
Trang 21Co, Zn, Mo, Fe, Cu, Au v.v Ảnh hưởng của các nguyên tố này đối với cơ thể gia súc bằng con đường trực tiếp hoặc gián tiếp Gia súc có thể lấy trực tiếp các nguyên tố này (các nguyên tố đa lượng hoặc vi lượng) từ trong đất (ví dụ như với lợn lấy trực tiếp khi vận động ở sân chơi, gia súc nhai lại lấy gián tiếp qua cây cỏ, gà lấy trực tiếp khi chăn thả tự nhiên) Mặt khác, sự tồn tại của các nguyên tố hoá học ở trong đất sẽ ảnh hưởng tới tỷ lệ của chúng trong nguồn nước, cây cỏ thức ăn trên bãi chăn thả, từ đó sẽ ảnh hưởng gián tiếp đối với gia súc Ví dụ: thiếu nguyên tố Flo sẽ mắc bệnh về răng, xương; thiếu Fe, Cu, Co dễ mắc bệnh thiếu máu; thiếu Zn dễ mắc các bệnh về lông, da; thiếu iode dễ mắc bệnh bướu cổ v.v
2.2.3 Chỉ tiêu nhiễm bẩn hoá học của đất
Chỉ tiêu amoniac (NH3)
Hàm lượng amoniac tăng cao trong đất chứng tỏ có sự phân giải các hợp chất hữu
cơ nguồn gốc động vật NH3 thường tích tụ trong lớp đất bề mặt (sâu khoảng 20cm), tương đối ổn định, ít bị nước rửa trôi Chỉ tiêu NH3 được sử dụng để đánh giá độ nhiễm bẩn của đất
Chỉ tiêu các hợp chất Clo (Cl2)
Sự có mặt của hợp chất chứa Clo chứng tỏ đất đã bị nhiễm bẩn vô cơ (ví dụ như nhiễm thuốc trừ sâu) hoặc hữu cơ (nhiễm phân, nước tiểu của gia súc) Clo thường tích tụ
ở phần đất mặt (khoảng 20 - 40cm) và thấm nhanh xuống tầng đất sâu Nếu ở độ sâu 1m
có hợp chất Clo chứng tỏ đất đã bị nhiễm bẩn từ lâu (đã xác định quá trình tự rửa sạch Clo trong đất ở độ sâu im phải cần đến 3 năm) Do vậy, thông qua hợp chất Clo có thể đoán định thời điểm đất bị nhiễm bẩn
Chỉ tiêu muối nitrat (NO3)
Muối nitrat trong đất là sản phẩm cuối cùng của quá trình phân giải các hợp chất hữu cơ chứa nitơ Khi phát hiện thấy sự có mặt của muối nitrat chứng tỏ đất đã ở giai đoạn cuối cùng của quá trình nhiễm bẩn Khu đất đó đã bị nhiễm bẩn từ lâu
Chỉ tiêu độ oxy hoá của đất
Đây là chỉ tiêu gián tiếp để xác định hàm lượng chất hữu cơ có trong đất Độ oxy hoá của đất chủ yếu là lượng oxy tiêu hao dùng để oxy hoá các chất hữu cơ trong đất
Độ oxy hoá càng cao, chứng tỏ chất hữu cơ trong đất càng nhiều, đất đang bị nhiễm bẩn nặng
Trang 22Do đất có nhiều chất hữu cơ và mùn làm nguồn cung cấp dinh dưỡng cho vi sinh vật hấp thu phục vụ cho quá trình sinh trưởng, phát triển
- Có độ ẩm thích hợp giúp tăng cường sự hấp thụ chất hữu cơ của đất, tạo điều kiện tăng cường nguồn dinh dưỡng cho vi sinh vật sinh trưởng, phát triển
- Đất thông thoáng khí giúp tăng cường sự phân giải các chất hữu cơ, kích thích các vi sinh vật có đời sống hiếu khí sinh trưởng, phát triển
Những điều kiện bất lợi
Đất sâu (độ sâu từ 2 - 3m) thường ít chất dinh dưỡng, thiếu O2 sẽ gây bất lợi cho quá trình sinh trưởng, phát triển của các vi sinh vật hiếu khí
- Đất quá khô kiệt hoặc ngập nước gây ảnh hưởng đến quá trình phân giải các chất hữu cơ, hạn chế nguồn cung cấp chất dinh dưỡng cho vi sinh vật hoạt động
Trong mùa đông, nhiệt độ của đất không thích hợp gây trở ngại cho quá trình phân giải các chất hữu cơ, ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát triển của vi sinh vật
Đất ở những nơi ánh sáng mặt trời chiếu thẳng, hầu hết các vi sinh vật gây bệnh đều bị diệt trong độ sâu từ 7cm trở lên trong vòng 1 tháng
Ví dụ: Bệnh Nhiệt thán trâu bò do trực khuẩn Bacillus anthracis gây ra ở Việt Nam: Vùng đồng bằng, bệnh thường phát sinh vào mùa hè sau những cơn mưa to, nước ngập rồi rút đi; ờ miền núi, bệnh phát trong mùa thu - đông tại những đồng cỏ, bãi chăn thả khô cằn, có những vũng nước tù đọng, thuộc ổ dịch cũ
Bệnh Xoắn khuẩn (Leptospirosis): môi trường đất ẩm thấp, lầy lội, có độ a thích hợp rất thuận lợi cho xoắn khuẩn Leptospira tồn tại
Bệnh giun đũa người: Trứng giun đũa Ascaris lumbricoides: Đất có độ ẩm thấp (dưới 40%) hoặc cao (trên 90%), trứng sẽ bị hỏng Độ ẩm thích hợp cho trứng phát triển
từ 40 - 60%
2.3.2 Sự phân bố của vi sinh vật trong đất
Vi sinh vật thường xuyên có mặt trong đất là nhóm vi khuẩn cố định đạm (Azotobacter chroococcum, Clostridium pasterianum) Vi khuẩn cố định đạm giúp cho đất trở nên giàu đạm nhưng nghèo các chất hữu cơ khác, chúng tham gia vào quá trình tự rửa sạch của đất, có lợi cho canh tác vì làm tăng độ phì nhiêu cho đất
Ngoài ra, trong đất còn có sự phân bố của những vi sinh vật có nguồn gốc từ xác động vật, thực vật, chất thải, chất bài tiết của gia súc ốm vv Chủ yếu là những vi sinh vật thối rữa, một số là vi sinh vật gây bệnh (virus, vi khuẩn, nấm hoặc ký sinh trùng) Nói chung, chỉ những vi sinh vật có sức đề kháng mạnh mới có thể tồn tại được ở trong đất, phần lớn chúng ở trong lớp đất bề mặt (có độ sâu từ 10 - 20cm), nơi có nhiều chất hữu
cơ Vi sinh vật có rất ít ở những nơi đất chưa canh tác, lại có rất nhiều ở những nơi đất
Trang 232.3.3 Tác dụng tự rửa sạch của đất
Các chất hữu cơ trong đất sau một thời gian được vi sinh vật phân giải thành những chất vô cơ đơn giản cây trồng có thể sử dụng được Như vậy, quá trình tự rửa sạch của đất chính là quá trình vô cơ hoá các hợp chất hữu cơ
Trong điều kiện hiếu khí các chất hữu cơ được phân giải (nhờ vi sinh vật hiếu khí, chẳng hạn như vi khuẩn Azotobacter chroococcum) thành những sản phẩm oxy hoá đơn giản CO
2, HNO
4, H3PO4, H2O v.v
Trong điều kiện yếm khí, các chất hữu cơ phân giải (nhờ vi sinh vật yếm khí, ví
dụ vi khuẩn Clostridium pasterianum) thành những sản phẩm chưa bị oxy hoá hòan toàn như CH4, NH3, H2S v.v Quá trình phân giải yếm khí thường phát sinh ở những vùng ngập nước
Sản phẩm cuối cùng của quá trình phân giải hợp chất hữu cơ là các muối nitrat như Ca(NO3)2, NH4NO3 v.v Quá trình nitrat hoá làm giảm lượng chất hữu cơ, giảm nguồn dinh dưỡng của vi sinh vật (một số vi sinh vật gây bệnh sẽ không sinh trưởng, phát triển được) nhưng làm tăng độ phì nhiêu cho đất canh tác, đáp ứng nguồn cung cấp dưỡng chất cho cây trồng Do vậy, quá trình tự rửa sạch của đất có ý nghĩa lớn cả trong phòng bệnh cho gia súc và canh tác cho cây trồng
III CHỌN ĐỊA ĐIỂM ĐỂ LẬP TRẠI
3.1 Đặc tính vệ sinh của đất
Địa điểm xây dựng trại ở nơi đất khô không lầy lội, ẩm thấp, không bị nhiễm bẩn
về mặt hóa học, vi sinh vật theo các chỉ tiêu đã nói trên
3.5 Yên tỉnh và cách ly
Địa điểm lập trại phải xa chợ, các ổ rác, các ổ dịch củ, chổ đông người, trách lập trại ở những nơi có tiếng động bất thường
Trang 243.6 Đủ ánh sáng mặt trời và chắn gió
Nên chọn địa điểm có thể nhận đầy đủ ánh sáng ban mai và ít ánh sáng ban
chiều, không bị gió thổi thường xuyên vào trại Có cây xung quanh thì rất tốt