Mặc dù vậy, một trong những hạn chế lớn của ngành chăn nuôi là gây ô nhiễm môi trường do chất thải từ vật nuôi phân, nước tiểu và một lượng lớn nước, rác thải từ vệ sinh chuồng trại.. Vi
Trang 1PHÁP THỰC HIỆN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Sinh học ứng dụng
HÀ NỘI - 2018
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Luận văn được hoàn thành tại Trường Đaị học Sư phạm Hà Nội 2 Trong quá trình làm khóa luận tốt nghiệp em đã nhận được rất nhiều sự giúp
đỡ để hoàn tất luận văn
Trước tiên em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới cô Lưu Thị Uyên đã tận tình hướng dẫn, truyền đạt kiến thức, kinh nghiệm cho tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp này
Xin gửi lời cảm ơn đến quý thầy cô Khoa Sinh - KTNN, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 những người đã truyền đạt kiến thức quý báu cho em suốt trong thời gian học tập vừa qua
Sau cùng xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè và các bạn sinh viên
đã luôn động viên, giúp đỡ tôi trong quá trình làm luận luận văn
Một lần nữa, xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 09 tháng 05 năm 2018
Sinh viên
Nguyễn Thị Huệ
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi Các số liệu sử dụng phân tích trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng,
đã công bố theo đúng quy định Các kết quả nghiên cứu trong luận văn do tôi
tự tìm hiểu, phân tích một cách trung thực, khách quan Các kết quả này chƣa từng đƣợc công bố trong bất kỳ nghiên cứu nào khác
Hà Nội, ngày 09 tháng 05 năm 2018
Sinh viên
Nguyễn Thị Huệ
Trang 5Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
Bộ Tài nguyên và Môi trường Bảo vệ môi trường
Mêtan Carbon Dioxide Quy trình thực hành chăn nuôi tốt Hydro-sunfua
A-mô-ni-ắc Nitrite Nitrate Phát triển Nông nghiệp Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Sinh hoạt và vệ sinh môi trường
Sở Tài nguyên và Môi trường Vườn – Ao – Chuồng
Vườn – Ao – Chuồng – Biogas
Tổ chức Y tế Thế giới
Trang 6MỤC LỤC
PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Lý do chọn đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.3 Phạm vi nghiên cứu: 2
1.4 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn 2
PHẦN 2 NỘI DUNG 4
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Tình hình phát triển chăn nuôi ở Việt Nam 4
1.2 Ô nhiễm môi trường do chăn nuôi 5
1.2.1 Chất thải chăn nuôi 5
1.2.2 Ô nhiễm môi trường do chăn nuôi 6
1.3 Chăn nuôi nông hộ và quản lý, bảo vệ môi trường chăn nuôi 8
1.4 Một số nghiên cứu về ô nhiễm và quản lí chất thải chăn nuôi 9
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG - NỘI DUNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 15 2.1 Đối tượng nghiên cứu 15
2.2 Nội dung nghiên cứu 15
2.2.1 Khảo sát thực trạng công tác quản lí môi trường trong chăn nuôi tại phường Nam Viêm 15
2.3 Phương pháp nghiên cứu 15
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 16
3.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội phường Nam Viêm, TP Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc 16
3.2 Tình hình phát triển chăn nuôi tại phường Nam Viêm năm 2017 17
3.2.1 Quy mô chăn nuôi 17
3.2.2 Chăn nuôi nông hộ ở Nam Viêm 19
3.3 Bảo vệ môi trường trong chăn nuôi nông hộ ở Nam Viêm 20
Trang 73.3.1.Quy hoạch, thiết kế chuồng trại chăn nuôi 20
3.3.2 Phương thức thu gom chất thải chăn nuôi và vệ sinh chuồng trại 22
3.3.3 Hình thức quản lý và xử lý chất thải chăn nuôi 24
3.4 Thuận lợi và khó khăn đối với công tác bảo vệ môi trường trong chăn nuôi tại phường Nam Viêm 26
3.4.1 Thuận lợi 26
3.4.2 Khó khăn 29
3.4.3 Giải pháp khắc phục 30
3.4.4 Đề xuất phương thức phù hợp dối với Nam Viêm 32
PHẦN 3 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 35
3.1 Kết luận 35
3.2 Kiến nghị 35
TÀI LIỆU THAM KHẢO 36 PHỤ LỤC
Trang 81
PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1.1 Lý do chọn đề tài
Phát triển chăn nuôi vừa đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của cộng đồng, vừa góp phần giúp người dân tăng thu nhập, xoá đói giảm nghèo Theo Quyết định
số 10/2008/QĐ- TTg ngày 16/01/2008 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược phát triển chăn nuôi đến năm 2020, ngành chăn nuôi sẽ phát triển thành ngành sản xuất hàng hóa, từng bước đáp ứng nhu cầu thực phẩm cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu.[1] Mặc dù vậy, một trong những hạn chế lớn của ngành chăn nuôi là gây ô nhiễm môi trường do chất thải
từ vật nuôi (phân, nước tiểu) và một lượng lớn nước, rác thải từ vệ sinh chuồng trại
Theo Uỷ ban Khoa học Công nghệ và Môi trường (2018) [16], cả nước hiện có khoảng 12 triệu hộ gia đình có hoạt động chăn nuôi và 23.500 trang trại chăn nuôi tập trung Trong đó, phổ biến là chăn nuôi lợn (khoảng 4 triệu hộ) và gia cầm (gần 8 triệu hộ), với tổng đàn khoảng 362 triệu con gia cầm,
29 triệu con lợn và 8 triệu con gia súc, mỗi năm khối lượng nguồn thải từ chăn nuôi ra môi trường là một con số khổng lồ - khoảng 84,5 triệu tấn chất thải rắn và 50 triệu m t khối chất thải l ng Tuy nhiên chỉ có khoảng 60 được xử lý, c n lại 40 lượng chất thải chăn nuôi vẫn được thải trực tiếp ra môi trường gây ô nhiễm Việc quản lý môi trường chăn nuôi c n nhiều bất cập, công nghệ xử lý chất thải chăn nuôi quy mô trang trại c n thô sơ, thiếu
sự quan tâm th a đáng của các cấp chính quyền, thói quen lao động chưa gắn chặt với việc bảo vệ môi trường; Phương thức và tập quán chăn nuôi vẫn c n
nh l , phân tán xả thải tự nhiên ra môi trường và nguy cơ gây ô nhiễm môi trường trực tiếp, phạm vi, quy mô rộng lớn
Các nhà khoa học đã cảnh báo rằng nếu không có biện pháp thu gom và
xử lý chất thải chăn nuôi hợp lý và th a đáng sẽ ảnh hưởng rất lớn đến sức
Trang 92
kh e cộng đồng, bùng phát dịch bệnh trên vật nuôi, gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng và gây tổn hại đến sức kho con người Để giải quyết tình trạng này, ngoài các biện pháp kỹ thuật xử lý chất thải, vệ sinh chuồng trại thì sự tham của cộng đồng đóng vai tr quan trọng Người dân cần phải hiểu biết về những tác hại của ô nhiễm môi trường do chăn nuôi đến sản xuất và sức
kh e của chính họ, đồng thời nhận thức được quyền và trách nhiệm của mình đối với công tác bảo vệ môi trường để có thể thay đổi hành vi và thói quen lạc hậu trong chăn nuôi
Nhằm góp phần khuyến cáo nông dân vừa phát triển sản xuất chăn nuôi đạt hiệu quả kinh tế vừa đảm bảo về vệ sinh môi trường, ngăn ngừa những
tác động tiêu cực đến sức kh e, chúng tôi triển khai nghiên cứu đề tài: Bảo vệ
môi trường trong chăn nuôi quy mô nông hộ tại xã Nam Viêm, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc – thuận lợi, khó khăn và giải pháp thực hiện
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Đánh giá được thực trạng, những thuận lợi và khó khăn của công tác bảo vệ môi trường trong chăn nuôi quy mô nông hộ, từ đó tìm kiếm những giải pháp khả thi để góp phần bảo vệ môi trường
1.4 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn
- Ý nghĩa khoa học
+ Cung cấp hệ thống cơ sở lí luận về quản lí môi trường trong chăn nuôi
- Ý nghĩa thực tiễn
Trang 103
+ Phản ánh được thực trạng hoạt động bảo môi trường trong chăn nuôi hộ gia đình tại khu vực nghiên cứu; Phân tích được thuận lợi, khó khăn của hoạt động này
+ Đề xuất và triển khai được những giải pháp phù hợp để nâng cao hiệu quả công tác quản lí môi trường trong chăn nuôi quy mô hộ gia đình tại xã Nam Viêm
+ Nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm bảo vệ môi trường trong chăn nuôi của các cơ quan chuyên môn, người chăn nuôi và cộng đồng dân cư
Trang 11
4
PHẦN 2 NỘI DUNG Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tình hình phát triển chăn nuôi ở Việt Nam
Ngày 16/01/2008, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 10/2008/QĐ- TTg về việc phê duyệt Chiến lược phát triển chăn nuôi đến năm
2020 [13], trong đó nêu mục tiêu chung của phát triển chăn nuôi đến năm 2020:
- Đến năm 2020 ngành chăn nuôi cơ bản chuyển sang sản xuất phương thức trang trại, công nghiệp, đáp ứng phần lớn nhu cầu thực phẩm đảm bảo chất lượng cho tiêu dùng và xuất khẩu;
- Tỷ trọng chăn nuôi trong nông nghiệp đến năm 2020 đạt trên 42 , trong đó năm 2010 đạt khoảng 32 và năm 2015 đạt 38 ;
- Đảm bảo an toàn dịch bệnh và vệ sinh an toàn thực phẩm, khống chế có hiệu quả các bệnh nguy hiểm trong chăn nuôi;
- Các cơ sở chăn nuôi, nhất là chăn nuôi theo phương thức trang trại, công nghiệp
và cơ sở giết mổ, chế biến gia súc, gia cầm phải có hệ thống xử lý chất thải, bảo vệ và giảm ô nhiễm môi trường
Chiến lược phát triển chăn nuôi đến năm 2020 cũng nhấn mạnh đến giải pháp quy hoạch trong chăn nuôi để vừa đảm bảo phát triển sản xuất vừa bảo vệ môi trường Quy hoạch chăn nuôi phải phù hợp với đặc điểm và lợi thế của từng vùng sinh thái, nhằm khai thác tối đa tiềm năng của từng loại vật nuôi trong từng vùng sinh thái, đảm bảo phát triển bền vững, an toàn sinh học và bảo vệ môi trường
Tại Việt Nam, ngành chăn nuôi đang đóng vai tr hết sức quan trọng cho sự phát triển của nền kinh tế quốc dân Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT), hiện Việt Nam có khoảng 12 triệu hộ gia đình có hoạt động chăn nuôi với 23.500 trang trại chăn nuôi tập trung Trong
đó, chăn nuôi lợn có khoảng 4 triệu hộ, chăn nuôi gia cầm khoảng 8 triệu hộ
Trang 125
với tổng đàn khoảng 362 triệu con gia cầm, 29 triệu con lợn và 8 triệu con gia súc [16]
1.2 Ô nhiễm môi trường do chăn nuôi
1.2.1 Chất thải chăn nuôi
- Hàng ngày, gia súc và gia cầm thải ra một lượng phân và nước tiểu rất lớn Khối lượng phân và nước tiểu được thải ra có thể chiếm từ 1,5 – 6 khối lượng cơ thể gia súc Thống kê cho thấy trung bình b thải ra 15 kg chất thải/con/ngày; lợn thải 1,5 - 2,5 kg chất thải/con/ngày và gia cầm thải 100 -
120 g chất thải/con/ngày.[9]
- Khối lượng chất thải chăn nuôi tùy thuộc vào giống, độ tuổi, giai đoạn phát triển, khẩu phần thức ăn và thể trọng gia súc và gia cầm Riêng đối với gia súc, lượng phân và nước tiểu tăng nhanh theo quá trình tăng thể trọng Nếu tính trung bình theo khối cơ thể thì lượng phân thải ra mỗi ngày của vật nuôi rất cao, nhất là đối với gia súc cao sản
- Ngoài phân và nước tiểu, lượng thức ăn thừa, ổ lót, xác súc vật chết, các vật dụng chăm sóc, nước tắm gia súc và vệ sinh chuồng nuôi cũng đóng góp đáng
kể làm tăng khối lượng chất thải Nước thải chăn nuôi là hỗn hợp bao gồm cả nước tiểu, nước tắm gia súc, rửa chuồng Nước thải chăn nuôi c n có thể chứa một phần hay toàn bộ lượng phân được gia súc, gia cầm thải ra Nước thải là dạng chất thải chiếm khối lượng lớn nhất trong chăn nuôi Thành phần của nước thải rất phong phú, chúng bao gồm các chất rắn ở dạng lơ lửng, các chất
h a tan hữu cơ hay vô cơ, trong đó nhiều nhất là các hợp chất chứa nitơ và photpho Nước thải chăn nuôi c n chứa rất nhiều vi sinh vật, ký sinh trùng, nấm, nấm men và các yếu tố gây bệnh sinh học khác Do ở dạng l ng và giàu chất hữu cơ nên khả năng bị phân hủy vi sinh vật rất cao Chúng có thể tạo ra các sản phẩm có khả năng gây ô nhiễm cho cả môi trường đất, nước và không khí
Trang 136
- Bên cạnh phân, nước tiểu và nước thải, chăn nuôi c n tạo ra nhiều loại khí thải nhất Có tới trên 170 chất khí có thể sinh ra từ chăn nuôi, điển hình là các khí CO2, CH4, NH3, NO2, N2O, NO, H2S, …và hàng loạt các khí gây mùi khác Theo Bùi Hữu Đoàn, Nguyễn Xuân Trạch, Vũ Đình Tôn (2013),[10], hầu hết các khí thải chăn nuôi có thể gây độc cho gia súc, cho con người và môi trường Ở những khu vực chăn nuôi có chuồng trại thông thoáng k m thường dễ tạo ra các khí độc ảnh hưởng trực tiếp, gây các bệnh nghề nghiệp cho người chăn nuôi và ảnh hưởng tới sức kh e của người dân xung quanh khu vực chăn nuôi Trừ khi chất thải chăn nuôi được thu gom sớm, lữu trữ và
xử lý hợp quy cách, ở điều kiện bình thường, các chất bài tiết từ gia súc , gia cầm như phân và nước tiểu nhanh chóng bị phân giải tạo ra hàng lọat chất khí
có khả năng gây độc cho người và vật nuôi nhất là các bệnh về đường hô hấp, bệnh về mắt, tổn thương các niêm mạc, gây ngạt thở, xẩy thai và ở trường hợp nặng có thể gây tử vong
1.2.2 Ô nhiễm môi trường do chăn nuôi
Hầu hết các nghiên cứu về ô nhiễm môi trường do chăn nuôi tại các địa phương khác nhau (Hoàng Kim Giao, Bùi Thị Oanh, Đào Lệ Hằng (2008) [10]; Trương Thanh Cảnh (2010) [4]… trên các mô hình chăn nuôi khác nhau
và đối tượng vật nuôi khác nhau đều có chung một số nhận x t:
- Việc phát triển chăn nuôi đã k o theo sự gia tăng về mức độ ô nhiễm môi trường ở các vùng nông thôn Phát triển sản xuất chăn nuôi với qui mô ngày càng lớn, với mật độ nuôi cao có thể gây ô nhiễm từ bên trong chuồng trại, ô nhiễm từ hệ thống lưu trữ chất thải và ô nhiễm từ nguồn nước thải sinh ra trong việc dội chuồng và tắm rửa gia súc
- Trang trại, gia trại và hàng vạn hộ chăn nuôi nh l đã trở thành tâm điểm về tình trạng ô nhiễm môi trường
Trang 14- Chăn nuôi là một trong những nguồn gây ô nhiễm không khí lớn nhất Trên toàn cầu, có 4 nguồn phát thải lớn nhất khí nhà kính: sử dụng năng lương hóa thạch, sản xuất công nghiệp, chăn nuôi (bao gồm cả sử dụng phân bón từ chăn nuôi) và khí sinh ra từ công nghiệp lạnh Chăn nuôi sản sinh ra tới 18 tổng
số khí nhà kính của thế giới tính quy đổi theo CO2, trong khi đó ngành giao thông chỉ chiếm 13,5 Chăn nuôi sinh ra 65 tổng lượng NO, 37 tổng lượng CH4 hay 64 tổng lượng NH3 do họat động của loài người tạo nên Chăn nuôi đóng góp đáng kể đến việc làm tăng nhiệt độ trái đất do sản sinh các khí gây hiệu ứng nhà kính như CH4, CO2, NH3…, gây nhiều hậu quả nghiêm trọng cho sản xuất, sinh hoạt và biến đổi khí hậu toàn cầu.[12]
Hội thảo “Quản lý bảo vệ môi trường chăn nuôi, xử lý chất thải chăn nuôi - Thực trạng và giải pháp” do Uỷ ban Khoa học Công nghệ và Môi
trường của Quốc hội tổ chức tháng 3/2018 [16] đã xác nhận ô nhiễm môi
trường trong ngành chăn nuôi đang ngày càng trầm trọng khi đa phần nông dân không có biện pháp để xử lý chất thải mà xả trực tiếp ra môi trường, gây
ô nhiễm đất đai, nguồn nước và không khí, đe dọa trực tiếp tới cuộc sống của người dân Chỉ tính riêng nước thải chăn nuôi ra môi trường mỗi ngày đã lên đến 680 triệu m3 Đáng chú ý, trong số đó, chỉ có 60 được xử lý nhưng không đạt chuẩn cho ph p; c n lại 40 không qua xử lý, thải thẳng ra môi trường Đây là nguyên nhân khiến nguồn nước mặt, nước ngầm, đất và cả không khí xung quanh khu vực có hoạt động chăn nuôi bị ô nhiễm và ảnh hưởng đến sức kh e người dân
Trang 158
1.3 Chăn nuôi nông hộ và quản lý, bảo vệ môi trường chăn nuôi
Theo Cục Chăn nuôi, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn [17], năm 2014, cả nước hiện có 8,5 triệu hộ chăn nuôi quy mô gia đình, 18.000 trang trại chăn nuôi tập trung quy mô lớn Ngoài sản phẩm trứng, thịt, sữa mang lại giá trị kinh tế cao cho bà con thì các hoạt động sản xuất chăn nuôi của bà con c n gây phát thải lượng chất thải lớn Theo tính toán của Viện Môi trường Nông nghiệp, hoạt động chăn nuôi của bà con mỗi năm gây phát sinh trên 85 triệu tấn chất thải rắn (phân, lông, da) và hàng trăm triệu tấn nước thải (nước tiểu, nước rửa chuồng) Mặc dù có lượng phát sinh chất thải lớn nhưng mới chỉ có 8,7 hộ chăn nuôi có sử dụng hầm khí sinh học, tổng lượng chất thải rắn chăn nuôi được xử lý chiếm chưa đầy 10 Kết quả khảo sát của Viện Môi trường Nông nghiệp cũng cho thấy chỉ có 10 chuồng trại chăn nuôi của bà con đạt yêu cầu về vệ sinh và chỉ 0,6 số hộ chăn nuôi có cam kết bảo vệ môi trường và c n nhiều hộ, ước tính trên 40 không áp dụng bất
kỳ hình thức hoặc phương pháp xử lý chất thải nào trong chăn nuôi
Mới đây, tại hội thảo “Quản lý bảo vệ môi trường chăn nuôi, xử lý chất thải chăn nuôi - Thực trạng và giải pháp” [16] Phó Tổng Cục trưởng Tổng cục Môi trường, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Tiến sĩ Hoàng Văn Thức cho biết: Hiện nay tại Việt Nam có khoảng 12 triệu hộ gia đình có hoạt động chăn nuôi
và 23.500 trang trại chăn nuôi tập trung Trong đó, chăn nuôi lợn có khoảng 4 triệu hộ, chăn nuôi gia cầm khoảng 8 triệu hộ, với tổng đàn khoảng 362 triệu con gia cầm, 29 triệu con lợn và 8 triệu con gia súc
Việc chăn nuôi quy mô nh , không tận dụng và xử lý chất thải sẽ gây hậu quả xấu về môi trường và ảnh hưởng đến sức kh e của bà con Cụ thể:
- Chất thải chăn nuôi thải ra các ao hồ, kênh mương hoặc đường thoát nước sẽ gây tắc nghẽn d ng chảy, bốc mùi và gây ô nhiễm nước mặt, nước ngầm, không khí, đất và các sản phẩm nông nghiệp khác Khi mức độ ô nhiễm cao
Trang 169
sẽ gây ra nhiều căn bệnh về hô hấp, tiêu hóa, ngoài da và gây cảm giác rất khó chịu, ảnh hưởng đến tình làng nghĩa xóm, xáo trộn các hoạt động sản xuất, sinh hoạt của bà con
- Chất thải chăn nuôi, nhất là ở các vùng có dịch bệnh, các khu giết mổ tập trung c n chứa nhiều loại vi sinh vật gây bệnh như e-coli, salmonella gây bệnh tiêu chảy, đường ruột, các loại giun, sán gây bệnh, các loại vi-rút như
H5N1, vi-rút gây bệnh tai xanh ở lợn,
- Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và nhiều nhà khoa học ở Việt Nam đã cảnh báo rằng nếu không có biện pháp thu gom và xử lý chất thải chăn nuôi hợp lý
và th a đáng sẽ ảnh hưởng rất lớn đến sức kh e cộng đồng, bùng phát dịch bệnh trên vật nuôi, gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng và gây tổn hại đến sức kho con người Đặc biệt là các virus biến thể nguy hiểm như vi-rút H5N1, vi-rút lở mồm long móng, vi-rút gây bệnh tai xanh ở lợn tồn tại trong chất thải
và môi trường có thể lây lan nhanh chóng gây bùng phát dịch bệnh không chỉ làm chết vật nuôi mà c n đe dọa đến sinh mạng của loài người
- Thực tế ở Việt Nam, kết quả nghiên cứu của Viện Chăn nuôi Quốc gia cũng cho thấy nồng độ khí H2S và NH3 trong chất thải chăn nuôi cao hơn mức cho
ph p khoảng 30-40 lần Hiện trạng môi trường xung quanh các khu vực chăn nuôi bị ô nhiễm nghiêm trọng, gây nhiều khó khăn cho hoạt động sản xuất, sinh hoạt và tác động tiêu cực đến sức kh e cộng đồng không chỉ ở khu vực chăn nuôi mà c n lan rộng ra cả các khu vực phụ cận
1.4 Một số nghiên cứu về ô nhiễm và quản lí chất thải chăn nuôi
Quản lý chất thải chăn nuôi không chỉ đơn thuần là áp dụng các công nghệ để xử lý những chất thải sau khi vật nuôi đã thải ra để hạn chế ô nhiễm môi trường Một mặt, nó phải bắt đầu từ việc thiết kế khẩu phần ăn, đến việc xem x t (và có thể điều khiển) các quá trình tiêu hoá, hấp thu và trao đổi chất
để cho con vật có thể sử dụng được tối đa các chất dinh dưỡng ăn vào và thải
Trang 1710
ra môi trường ít chất thải nhất, đặc biệt là những chất thải gây ô nhiễm Mặt khác, quản lý chất thải chăn nuôi c n bao hàm cả việc sử dụng các chất thải (kể cả được xử lý và không xử lý) vào các mục đích có ích như làm phân bón cho cây trồng, làm thức ăn nuôi trồng thuỷ sản, làm chất đốt, sản xuất biogas, điện v.v… nhằm vừa hạn chế được việc sử dụng tài nguyên đồng thời hạn chế được ô nhiễm môi trường
Hầu hết những nghiên cứu của các cá nhân, đơn vị trong nhiều năm trở lại đây đều phản ánh thực trạng quản lí, xử lí chất thải chăn nuôi trong nông
hộ c n nhiều bất cập dẫn đến những hậu quả ảnh hưởng đến môi trường sinh thái, hệ sinh vật, đời sống và sức kh e của người chăn nuôi, của cộng đồng dân cư
Các nghiên cứu cũng triển khai giải pháp để cải thiện ô nhiễm môi trường, nâng cao nhận thức và trách nhiệm của người chăn nuôi, của chính quyền địa phương và các cơ quan hữu quan về bảo vệ môi trường trong chăn nuôi, hướng tới chăn nuôi bền vững
Nguyễn Phú Ngọc, Nguyễn Huy Khiết, Nguyễn Ngọc Sơn (2007), [ 9] trong kết quả điều tra Thực trạng chăn nuôi lợn và vệ sinh môi trường, thú y các nông hộ thuộc ngoại thành Hà Nội, Hà Tây cho thấy chỉ có 29,7 cơ sở chăn nuôi tiến hành xử lí chất thải
Vũ Thị Thanh Hương và cs (2013) [9], trong báo cáo kết quả điều tra hiện trạng quản lý môi trường trong chăn nuôi tại 6 tỉnh Thái Nguyên, Hà Nội, Bắc Giang, Bắc Ninh, Hải Dương và Hà Nam cho biết: tỷ lệ chất thải chăn nuôi được xử lý ước tính đối với phân gia súc là 52%, nước thải gia súc 61,1%, phân gia cầm khoảng 23,3% Một số tồn tại trong quản lý môi trường chăn nuôi ở các tỉnh điều tra như: chưa có các qui chế, biện pháp chế tài để huy động và bắt buộc người chăn nuôi thực hiện Nhận thức của người dân về trách nhiệm trong bảo vệ môi trường chăn nuôi c n hạn chế Việc sử dụng
Trang 1811
chế phẩm vi sinh để khử mùi hôi, xử lý chất thải chăn nuôi làm phân bón nông nghiệp chưa được chú trọng…
Báo cáo “Điều tra lượng thải và đánh giá mức độ ô nhiễm môi trường tại các
cơ sở chăn nuôi trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc” từ năm 2009 - 2011 cho biết trên địa bàn toàn tỉnh có khoảng 110.131 hộ chăn nuôi gia súc; số hộ có chuồng trại chăn nuôi hợp vệ sinh là 43.000 hộ chiếm 39 , trong đó có khoảng 20.000 hộ có hệ thống xử lý chất thải chăn nuôi bằng hầm Biogas,
c n lại không có hệ thống xử lý chất thải chăn nuôi, đây là một trong các nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường ở nông thôn tạo nên bức xúc ở các khu vực dân cư [18]
Kết quả điều tra môi trường nông thôn năm 2014, tỉnh Vĩnh Phúc có hơn 90.000 hộ dân nông thôn chăn nuôi gia súc, gia cầm trong đó: Đàn lợn 550 nghìn con; đàn trâu 30 nghìn con; đàn b 145 nghìn con; đàn gia cầm: 7.500 nghìn con Mặc dù tỉnh đã có chính sách quy hoạch các khu chăn nuôi tập trung, tuy nhiên vẫn c n nhiều hộ chăn nuôi tại gia đình, xen kẽ trong khu dân
cư như nên không tránh kh i tình trạng ô nhiễm môi trường nông thôn do lượng chất thải từ đàn vật nuôi chưa được xử lý gây ra Ước tính, lượng chất thải từ chăn nuôi hàng năm khoảng 1.700 nghìn tấn, lượng chất thải này nếu không được xử lý sẽ là nguồn gây ô nhiễm nghiêm trọng đến môi trường sống, nguồn nước [18]
Tại Vĩnh Phúc, để ngành chăn nuôi trên địa bàn phát triển theo hướng bền vững, những năm qua, UBND tỉnh Vĩnh Phúc đã có nhiều cơ chế, chính sách, giải pháp trong việc hỗ trợ xử lý chất thải tại nhiều địa phương Đây là yếu tố quan trọng góp phần cải thiện tình trạng ô nhiễm môi trường và từng bước nâng cao chất lượng sống của người dân và các hộ chăn nuôi trên địa bàn tỉnh.[18]
Trang 1912
- Triển khai các mô hình điểm nhân rộng xử lý chất thải chăn nuôi bằng các chế phẩm sinh học như: TB - E2 5%; thảm sinh học cho hơn 10.000 hộ chăn nuôi có quy mô vừa và nh tham gia; đặc biệt là xử lý chất thải chăn nuôi bằng hầm biogas đến nay đã có hơn 30.000 hộ đã ứng dụng lắp đặt hầm biogas xử lý chất thải chăn nuôi đạt hiệu quả đã hạn chế ô nhiễm môi trường, nguồn nước đặt biệt là nước sinh hoạt Phấn đấu hết năm 2015 đạt 40.000 hộ chăn nuôi lắp đặt hầm biogas để xử lý chất thải chăn nuôi Mỗi hộ lắp đặt được hỗ trợ 2.000.000 đồng/ hầm từ dự án Đồng thời tạo khí đốt góp phần nâng cao và cải thiện đời sống cho các hộ dân ở khu vực nông thôn [18]
- Trung tâm Nước SH&VSMT nông thôn đã và đang triển khai dự án xử lý chất thải chăn nuôi bằng hầm biogas Composite giai đoạn 2012 - 2016 cho khoảng 4.000 hộ chăn nuôi, đây là công nghệ có nhiều ưu điểm: Thi công, lắp đặt đơn giản; độ bền cao; Mức độ sinh khí nhanh, sản lượng khí gas cao, ổn định; có thể lắp đặt trong mọi địa hình; Có khả năng tự điều hóa áp suất trong hầm, tự phá váng; di chuyển thay đổi vị trí thuận lợi [18]
- Năm 2015, đề tài “Ứng dụng công nghệ tách rắn, l ng để xử lý chất thải chăn nuôi” được Sở KH&CN Vĩnh Phúc nghiên cứu, thử nghiệm mô hình tại 2 trang trại: phường Hoàng Lâu, huyện Tam Dương – Hộ ông Nguyễn Văn Thu
và xã Cao Minh, thị xã Phúc Yên – Công ty TNHH Phát Đạt cho kết quả rất tích cực [18]
UBND tỉnh Vĩnh Phúc, quyết định Số: 04/2014/QĐ-UBND, ngày 23 tháng 01 năm 2014 [15], trong quy định Bảo vệ môi trường trong hoạt động chăn nuôi trong khu dân cư đã nêu rõ: hộ gia đình, cá nhân có hoạt động chăn nuôi gia súc, gia cầm và các vật nuôi khác trong khu dân cư phải thực hiện đầy đủ các yêu cầu về vệ sinh thú y, ph ng, chống dịch bệnh theo quy định của pháp luật
về thú ý và những yêu cầu sau:
Trang 2013
- Không được chăn nuôi quá 20 đầu lợn quy đổi trở lên đối với các phường ở đồng bằng; không quá 50 đầu lợn trở lên đối với các phường trung du và miền núi (1Lợn nái bằng 1,5 đầu lợn thịt; 1 con Trâu, B , Ngựa bằng 3 đầu Lợn thịt quy đổi; 50 con gia cầm bằng một đầu Lợn quy đổi)
- Trường hợp chăn nuôi vượt quá số đầu Lợn quy đổi nêu trên hộ gia đình, cá nhân phải xây dựng chuồng trại, xử lý chất thải theo quy định như hoạt động chăn nuôi quy mô kinh tế trang trại theo quy định tại Thông tư
số 27/2011/TT-BNNPTNT ngày 13/4/2011 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
- Phải đảm bảo quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia điều kiện chăn nuôi lợn an toàn sinh học theo QCVN 01-14:2010/BNNPTNT; Quy chuẩn Quốc gia điều kiện trại chăn nuôi gia cầm an toàn sinh học theo QCVN 01-15:2010/BNNPTNT
và các quy định của pháp luật có liên quan
- Chuồng trại chăn nuôi phải xây dựng đạt yêu cầu sau:
+ Chuồng được làm bằng nguyên vật liệu bền chắc Nền chuồng phải được lát gạch, đá, hoặc xi măng đảm bảo không để chất thải thẩm thấu xuống đất; + Phải có rãnh thoát chất thải thải l ng có độ dốc phù hợp, từ Rãnh (cống) thu gom chất thải l ng từ chuồng nuôi đến khu xử lý chất thải phải kín, dễ tiêu, thoát nước và không trùng với đường thoát nước khác;
+ Khoảng cách cách ly giữa chuồng trại chăn nuôi của hộ gia đình, cá nhân đến ranh giới khu đất xây dựng các các công trình công cộng như: Trụ sở cơ quan, Trường học, Trạm Y tế, Đình, Chùa, Nhà văn hóa và nơi sinh hoạt công cộng khác ít nhất mười (10) m t
- Về xử lý chất thải:
+ Chuồng trại chăn nuôi phải có hệ thống xử lý chất thải bằng các biện pháp xử
lý thích hợp để không có mùi hôi, thối làm ảnh hưởng đến môi trường xung quanh Hộ chăn nuôi với quy mô từ 6 đầu lợn quy đổi trở lên bắt buộc phải có
Trang 21+ Không sử dụng chất thải rắn, chất thải l ng chưa qua xử lý (phân tươi) để tưới, bón cho cây trồng, làm thức ăn nuôi trồng thủy sản hoặc sử dụng trực tiếp cho các mục đích khác
+ Nghiêm cấm việc vứt xác gia súc, gia cầm làm ô nhiễm môi trường, gây nguy
cơ lây lan, phát tán dịch bệnh
Trang 2215
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG - NỘI DUNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu
Hoạt động bảo vệ môi trường trong chăn nuôi quy mô hộ gia đình và các yếu tố chi phối
2.2 Nội dung nghiên cứu
2.2.1 hảo sát thực trạng công tác quản l môi trường trong chăn nuôi tại xã Nam Viêm
- Tình hình phát triển chăn nuôi tại xã Nam Viêm
- Thực trạng quản lí và xử lí chất thải chăn nuôi đối với mô hình chăn nuôi quy mô hộ gia đình
- Hoạt động bảo vệ môi trường trong chăn nuôi quy mô hộ gia đình
2.2.2 Phân t ch thuận lợi và khó khăn của công tác bảo vệ môi trường trong
chăn nuôi
2.2.3 Đề xuất và lựa chọn nhóm giải pháp quản l , bảo vệ môi trường trong chăn nuôi phù hợp với thực tế
2.3 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Áp dụng để thu thập và nghiên cứu tài
liệu (sơ cấp, thứ cấp)
- Phương pháp phỏng vấn, điều tra: Áp dụng để thu thập số liệu, bao gồm:
+ Điều tra bằng bảng h i - phương pháp ph ng vấn viết - được thực hiện cùng một lúc với nhiều người theo một bảng h i in sẵn
+ Ph ng vấn trực tiếp đối tượng khảo sát
+ Quan sát trực tiếp trên đối tượng khảo sát
- Phương pháp chuyên gia: Tham khảo ý kiến chuyên gia để xây dựng và triển
khai nội dung tuyên truyền, khuyến nông
- Phương pháp toán thống kế: để lượng hóa, đo lường, phản ánh và diễn giải
các kết quả nghiên cứu