1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

Tiểu luận về Giá dầu thế giới

35 216 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 35
Dung lượng 470,15 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

I. THỊ TRƯỜNG DẦU MỎ VÀ LÝ THUYẾT VỀ GIÁ DẦU: 1. Các đặc trưng riêng trong việc định giá dầu mỏ: Về phương diện vật lý, dầu mỏ là nguồn tài nguyên không tái sinh. Phân bố tài nguyên dầu mỏ là không đều.Dầu mỏ là dạng năng lượng quan trọng (năng lượng chỉ đạo) và giữ vai trò chỉ đạo hệ thống năng lượng. Dầu mỏ là loại hàng hóa có tính thương mại quốc tế lớn nhất. Ngành công nghiệp dầu mỏ là một ngành mang tính tổng hợp và đa dạng cao. Là ngành đòi hỏi vốn đầu tư lớn, rủi ro nhiều và lợi nhuận cao. Là ngành công nghiệp đòi hỏi công nghệ cao. Việc thăm dò khai thác dầu mỏ là ngành khai thác khoáng sản nằm sâu trong lòng đất được hình thành từ các trầm tích từ hàng ngàn năm trước đòi hỏi công nghệ khai thác hiện đại, chi phí vô cùng lớn so với các ngành công nghiệp khác. Là ngành mang tính quốc tế cao, khác với than đá, việc thăm dò, khai thác, chế biến và phân phối đã nhanh chóng mang tính chất toàn cầu. Tính quốc tế còn thể hiện ở chỗ vì sử dụng công nghệ cao nên hầu như mọi công ty không thể tự mình thực hiện toàn bộ chuỗi công việc.

Trang 1

I THỊ TRƯỜNG DẦU MỎ VÀ LÝ THUYẾT VỀ GIÁ DẦU:

1 Các đặc trưng riêng trong việc định giá dầu mỏ:

Về phương diện vật lý, dầu mỏ là nguồn tài nguyên không tái sinh Phân bố tài nguyên dầu mỏ là không đều.Dầu mỏ là dạng năng lượng quan trọng (năng lượng chỉ đạo) và giữ vai trò chỉ đạo hệ thống năng lượng Dầu mỏ là loại hàng hóa

có tính thương mại quốc tế lớn nhất

Ngành công nghiệp dầu mỏ là một ngành mang tính tổng hợp và đa dạng cao

Là ngành đòi hỏi vốn đầu tư lớn, rủi ro nhiều và lợi nhuận cao

Là ngành công nghiệp đòi hỏi công nghệ cao Việc thăm dò khai thác dầu

mỏ là ngành khai thác khoáng sản nằm sâu trong lòng đất được hình thành từ các trầm tích từ hàng ngàn năm trước đòi hỏi công nghệ khai thác hiện đại, chi phí vô cùng lớn so với các ngành công nghiệp khác

Là ngành mang tính quốc tế cao, khác với than đá, việc thăm dò, khai thác, chế biến và phân phối đã nhanh chóng mang tính chất toàn cầu Tính quốc tế còn thể hiện ở chỗ vì sử dụng công nghệ cao nên hầu như mọi công ty không thể tự mình thực hiện toàn bộ chuỗi công việc

2 Các hệ thống giá dầu mỏ quốc tế điển hình:

2.1 Hệ thống giá FOB thống nhất (giá độc quyền 7S)

- Thời kỳ hình thành công nghiệp dầu mỏ (1859-1914), dầu mỏ là hàng hóa thông thường

- Thời kì tăng trưởng (1915-1960) là giai đoạn các hoạt động dầu mỏ bị thâu tóm bởi nhóm 7 công ty dầu mỏ khối Anh quốc

- Các công ty hợp tác phân chia thị trường, các thỏa thuận điều chỉnh cung và đưa

ra một hệ thống giá chung duy nhất cho toàn thế giới

2.2 Hệ thống giá OPEC

- Áp dụng trong thời kỳ 1973-1985, OPEC thống trị thị trường dầu mỏ quốc tế GiáOPEC áp đặt là giá quốc tế (là cơ sở để tính toán giá cả trong các giao dịch về dầu mỏ)

Ngô Mạnh Hùng - KTCN K58 1 / 35

Trang 2

- OPEC gây áp lực hạn chế nguồn cung cấp trong khi nhu cầu tăng mạnh OPEC kiểm soát tới 60% thị trường, giữ vai trò điều tiết thị trường và định giá dầu mỏ quốc tế.

- Giá dầu không ổn định vì các quyết định “phi thị trường” của OPEC (hai khủng hoảng thiếu và một khủng hoảng thừa)

2.3 Hệ thống giá netback

- Áp dụng trong thời kỳ mà OPEC gần như không còn sự gắn kết trong các hoạt động xuất khẩu dầu mỏ (1985-1986)

- Giá tính ngược từ giá các sản phẩm dầu được thị trường chấp nhận

- Ý tưởng đưa ra giá netback là nhằm khôi phục thị trường, tính đến cả quyền lợi của người tiêu thụ dầu trong việc tính giá

2.4 Hệ thống giá spot

- Thị trường spot: dung lượng chỉ dao động từ 8-15% giao dịch dầu mỏ quốc tế

- Những giao dịch trực tiếp bù đắp những thiếu hụt có tính chất tức thời của cầu dầu mỏ

cung Vai trò của giá và thị trường spot chỉ thực sự có ý nghĩa sau 1986 khi OPEC không còn giữ được khả năng điều tiết thị trường

- Giá dầu mỏ quốc tế ngày nay điều chỉnh dựa trên những dao động của giá spot

=> Thị trường dầu mỏ thế giới là một hình thức ĐỘC QUYỀN NHÓM- giá dầu docác nhà độc quyền nhóm quyết định, có sự phụ thuộc lẫn nhau

Ngô Mạnh Hùng - KTCN K58 2 / 35

Trang 3

II XU HƯỚNG BIẾN ĐỘNG GIÁ DẦU:

1 Các cuộc khủng hoảng lớn ảnh hường đến giá dầu trước năm 2000:

1.1 Khủng hoảng năm 1973:

Cuộc khủng hoảng dầu mỏ nghiêm trọng chưa từng có bùng nổ rồi nhiều cuộc khủng hoảng kinh tế ,tài chính,tiền tệ …tiếp diễn ngay sau đó mở đầu cho cuộc khủng hoảng của toàn thế giới,đặt ra những vấn đề bức thiết cần phải giải quyết :sự cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên,yêu cầu đổi mới,thích nghi với tình hình kinh tế,hợp tác quốc tế…

- Nguyên nhân:

+Liên quân Ai Cập và Syria bất ngờ tấn công Israel trong ngày lễ sám hối của người do thái,cuộc chiến vùng vịnh bùng nổ với 1 bên là Ai Cập-Syria cùng các đồng minh thuộc thế giới Ả Rập với 1 bên là Israel cùng các đồng minh chính là Mỹ,Nhật và 1 số nước trong EU hiện nay

- Diễn biến

+Bắt đầu từ ngày 17/10/1973 các nước thuộc tổ chức quốc gia ả rập xuất khẩu dầu mỏ( các nước ả rập trong opec cùng ai cập và syria) ngừng cung cấp dầu mỏ sang các nước ủng hộ Israel

=>giá dầu thế giới tăng cao đột ngột và gây ra cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu 1973-1975

+ Ngày 16/10/1973 OPEC quyết định nâng giá dầu mỏ từ 3,01 USD lên

5,11USD/thùng ,biên độ dao động lên đến 70%,ngày hôm sau OPEC tuyên bố ngừng xuất khẩu dầu mỏ sang Mỹ và Hà lan.cho đến lúc này cuộc khủng hoảng dầu lửa lần thứ nhất làm chấn động lịch sử thế giới bùng phát toàn diện

*Tác động

+Trong thời gian khủng hoảng,tại nhiều bang người dân chỉ đc mua một số lượng xăng dầu nhất định ,giá xăng trung bình tại Mỹ cũng tăng 86% chỉ trong vòng 1 năm từ 1973 đến 1974

Ngô Mạnh Hùng - KTCN K58 3 / 35

Trang 4

+Làm thay đổi lớn trong các chính sách của phương tây trong đó chú trọng đến tìmkiếm và bảo tồn các năng lượng tự nhiên,đặt ra các quy định tiền tệ chặt chẽ hơn để chống lạm phát

+Làm thay đổi đáng kể vị trí chính trị,kinh tế của các nước xuất khẩu dầu,đặc biệt

là các quốc gia ả rập tại trung đông

+Tác động đến chứng khoán toàn cầu :chỉ số Dow Jones của sở giao dịch chứng khoán London mất 73% giá trị khiến đồng đola mỹ mất giá và làm cuộc khủng hoảng them trầm trọng

Kết quả

Dầu mỏ khan hiếm ở các nươc phương tây mà nhu cầu thì quá lớn cho sự phát triểnkinh tế xã hội là nguyên nhân chính gây ra cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu

1.2 Khủng hoảng dầu mỏ giai đoạn 1979 – 1980

1) Nguyên nhân, Diễn biến.

− Kể từ cuộc khủng hoảng dầu lửa lần đầu tiên năm 1973, giá dầu chỉxấp xỉ 3 USD/thùng Tuy nhiên khi cuộc cách mạng khoa học côngnghệ đang được đẩy mạnh, nhu cầu về năng lượng tăng lên qua cácnăm, lại cộng them nguồn cung dầu từ các nước Trung Đông giảmmạnh do bất ổn chỉnh trị, giá dầu thế giới đã có những bước chuyểnmình lớn

− Năm 1978, ở Iran diễn ra cuộc cách mạng Hồi giáo nhằm lật đổ chếđộ quân chủ, thành lập nên quốc gia Cộng hòa Hồi giáo Cuộc cáchmạng này được mệnh danh cuộc cách mạng lớn thứ 3 trong lịch sửnhân loại, sau Cách mạng Pháp, Tháng Mười Nga Sau khi thành lậpchính quyền mới, xã hội còn nhiều bất ổn nên nền kinh tế Iran gặp rấtnhiều khó khăn

− Vào đầu 1978, Iran xuất khẩu 5,4 triệu thùng dầu mỗi ngày, chiếm17% tổng sản lượng của OPEC Nhưng khi cách mạng Iran lật đổchính quyền quân chủ , ngành công nghiệp vàng đen của nước nàydưới chế độ mới đã giảm mạnh bởi sự tàn phá của các lực lượng đốilập Nguồn cung dầu từ Iran đã giảm xuống

− Nguồn cung từ Iran giảm, các nước OPEC đồng loạt tăng sản lượng,nên lượng cung chỉ giảm 4% trước khung hoảng Mặc dù nguồn cungvẫn ổn, tuy nhiên dưới sự lo ngại về viễn cảnh bất ổn ở Iran cộng

Ngô Mạnh Hùng - KTCN K58 4 / 35

Trang 5

them việc Mỹ cấm nhập khảu dầu từ Iran đã khiến cho giá dầu bốc lênngất ngưởng Khủng hoảng giá dầu lần thứ 2 chính thức bắt đầu.

+ Lợi dụng tình hình này, các nước OPEC đã đẩy giá dầu từ 15,5 lênthành 24 USD/ thùng Đặc biệt Libya, Angiêri, Irap còn đòi đến 30USD/ thùng

+ Chỉ trong vòng 12 tháng từ năm 1979, giá dầu đã tăng 250%, từ15,85 lên 39,5 USD/thùng

− Tuy nhiên đến năm 1980, do không thể chịu được áp lực từ giádầu, các nền kinh tế đã đồng loạt giảm nhịp độ tăng trưởng Lượngcầu đã giảm đến 13%, giá dầu thế giới tụt thê thảm từ 35 xuốngcòn 10 USD/thùng

− Các nước OPEC đã bị ảnh hường nghiêm trọng, một số nước nhưMexico, Nigiêria, Venexuela đứng bên bờ vực phá sản do nguồnlợi thu lại không bù đắp được các chi phí bỏ ra Nhưng trong lúc

đó, Ả Rập Saudi vẫn tiếp tục duy trì sản lượng làm cho giá dầu tiếptục giảm sâu Điều này đã gây khiến cho nội bộ OPEC xảy ranhững xung đột

2) Tác động của cuộc khủng hoảng dầu lửa lần 2.

− Cuộc khủng hoảng dầu lửa lần 2 đã giáng một đòn mạnh vào nền kinh

tế các nước phát triển, phụ thuộc nhiều vào nguồn dầu lửa nhập khẩu

− Tại Mỹ - đầu tàu của nền kinh tế thế giới, ảnh hưởng là vô cùngnghiêm trọng:

+ Đây chính là tiền đề cho cuộc khủng hoảng kéo dài 30 tháng tại

Mỹ Giá năng lượng đi lên kéo theo lạm phát gia tăng, đạt đỉnh13,5% trong năm 1980, buộc Cục Dự trữ Liên bang (FED) phảithực hiện hàng loạt chính sách thắt chặt tiền tệ

+ Không chỉ lạm phát, do giá dầu cao, các cty hoặc là phá sản hoặcphải giảm sản lượng khiến cho tỷ lệ lạm phát gia tăng đáng longại, từ 5,6% của tháng 5/1979 lên 7,5% một năm sau đó Dù kinh

tế bắt đầu hồi phục trong năm 1981, tỷ lệ thất nghiệp vẫn được duytrì ở mức cao 7,5% và đạt kỷ lục 10,8% vào 1982

+ Hậu quả của suy thoái tồi tệ đến nỗi các ngành công nghiệp xe hơi,nhà đất, và sản xuất thép đều liên tục sụt giảm trong 10 năm sau,cho tới tận khi cuộc khủng hoảng giá dầu tiếp theo kết thúc

Ngô Mạnh Hùng - KTCN K58 5 / 35

Trang 6

− Tuy nhiên cuộc khủng hoảng nào cũng có 2 mặt của nó Với việc giádầu tăng cao, các nước OPEC đã kiếm được một khoản lợi nhuậnkhổng lồ Với việc có một trữ lượng dầu mỏ lớn, các nước OPEC chủyếu ở vùng Vịnh đã ngồi trên kho ngoại tệ khổng lồ - chỉ riêng năm

1980 họ đã tích được 102 tỷ đôla

− Nếu như giá dầu lên cao thường ảnh hưởng nghiêm trọng đến kinh tếHoa Kỳ, thì với Nhật Bản tình hình lại khác Nước này đã vượt quanhững “cú sốc tăng giá dầu mỏ” bởi những thành tựu kinh tế thần kỳ.Người Nhật đã chuyển hướng nền kinh tế từ sử dụng nhiều nguyênliệu hóa thạch sang hướng sản xuất công nghệ cao, như điều khiển học– điện tử, quang học, công nghệ sinh học, sử dụng những nguồn nhiênliệu sạch

− Công nghiệp thép, công nghiệp đóng tàu, người Nhật chuyển sang cácnước Hàn Quốc, Trung Quốc, Đài Loan: Thép Pohang (Pohang Steel),Tập đoàn thép Trung Quốc (China Steel); Đóng tàu Hyundai, Daewoo(Hyundai Heavy Industries, Daewoo Shipbuilding)… Cách mà ngườiNhật vượt qua “cú sốc dầu mỏ” tuy thế chưa mở ra cho nhân loại nóichung một cái nhìn mới, hướng tới phát triển những công nghệ sửdụng năng lượng “xanh”, ngày càng ít phụ thuộc vào năng lượng hóathạch

3) Thế giới sau cuộc khủng hoảng dầu lửa lần 2.

− Cuộc khủng hoảng giá dầu lần 2 đã có những tác động đến thế giới, cảtiêu cực lẫn tích cực

− Tiêu cực: Nó làm cho nền kinh tế nhiều nước lâm vào cảnh khó khăn,phá sản

− Tích cực: Nó đã mở ra những hướng đi mới trong việc sử dụng nănglượng, thế giới dần chuyển qua sử dụng các nguồn năng lượng sạch,năng lượng tái tạo

− Nó cũng tạo ra một bước ngoặt về chính trị trên thế giới:

+ Sức mạnh của giá dầu và sự sụp đổ của Liên Xô: Vào thập niên

80 của thế kỉ trước, dầu mỏ là thứ duy nhất mà thế giới muốnmua của người Liên – Xô Biết được điều này, Mỹ đã cùng với

Ngô Mạnh Hùng - KTCN K58 6 / 35

Trang 7

Arap Saudi và một số thành viên khác của OPEC đã nhất trítăng sản lượng dầu mỏ lên làm cho giá dầu giảm xuống, nềnkinh tế của Liên – Xô bị ảnh hưởng nghiêm trọng Do khôngthể cạnh tranh được với các nước này trong thời gian dài, đếnnăm 1991, liên bang Xô Viết chính thức tan rã.

1.4 Cơn sốt giá dầu năm 1990:

a.bối cảnh lịch sử :

Cuộc chiến tranh vùng Vịnh giữa Iraq và liên quân hơn 30 quốc gia do Mỹ lãnh đạo để giải phóng Kuwait

Sau cuộc chiến, Liên Hợp Quốc áp dụng lệnh cấm xuất khẩu dầu toàn phần đối với Iraq và Kuwait Chính lệnh cấm vận này đã lấy đi của thị trường dầu mỏ thế giới gần 5 triệu thùng mỗi ngày, khiến giá tăng cao

Cơn sốt lần này kéo dài trong 9 tháng và giá không vượt đỉnh các cuộc khủng hoảng trước (hồi 1973 và 1979 - 1980) Tại thời điểm đó, mỗi thùng dầu đắtgấp đôi chỉ trong vòng 2 tháng, từ 17 USD lên 36 USD mỗi thùng Chỉ khi lực lượng Liên quân do Mỹ lãnh đạo đưa quân vào giải phóng Kuwait, tình trạng thiếu nguồn cung mới chấm dứt và giá bắt đầu hạ

Khủng hoảng này phần nào là nguyên nhân dẫn tới cuộc suy thoái kinh tế ở

Mỹ với sự sụp đổ của thị trường tín dụng Một loạt cường quốc chịu nhiều ảnh hưởng gián tiếp như Canada, Australia, Nhật, hay Anh cũng bị cuốn vào vòng xoáysuy thoái

b.Tình hình giá dầu

Trong khoảng thời gian này, vào cuối năm 1990, giá dầu tăng vọt từ 30 USD/thùng lên 55 USD/thùng nhưng rất nhanh trở về mức bình thường 30

USD/thùng vào đầu năm 1991, nên chỉ xem là sự tăng đột biến, không ảnh hưởng lớn và trầm trọng như các cuộc khủng hoảng trước

Nguyên nhân chính là do nhu cầu tăng quá cao ở những nền kinh tế mới đang phát triển, có sự tăng trưởng kinh tế mạnh và liên tục trong nhiều năm liền, trong đó 2/3 mức tăng lên là do nhu cầu của hai nền kinh tế lớn là Trung Quốc và

Ngô Mạnh Hùng - KTCN K58 7 / 35

Trang 8

Ấn Độ, 1/3 còn lại là do nhu cầu của các nền kinh tế đang phát triển trong thời kỳ hội nhập kinh tế toàn cầu

- Yếu tố ảnh hưởng đến giá dầu

- yếu tố mang tính chính trị

- hạn chế liên quan đến pháp luật

c Tác động của việc tang giá dầu đến nền kinh tế

Suy thoái kinh tế ở Mỹ năm 1990-1991

Thị trường trái phiếu: lãi suất trái phiếu 10 năm của kho bặc hoa kỳ được giao dịch ở mức 8% tại thời điểm xâm lược của irac; đợt tang giá trong thời gian ngắn tại thời điểm này có ảnh hưởng đến thị trường trái phiếu; lãi suất ở mức cao nhất ở tháng 9/1990 sau đó dao động chậm dần trước thời điểm chuẩn bị cho chiến dịch và sau khi chiến dịch thành công

Thị trường cổ phiếu: trái ngược với thị trường trái phiếu; thị trường cổ phiếusụt giảm đáng kể vào giữa thời điểm cuộc xâm lược; tuy nhiên thị trường nhanh chóng hồi phịc lại ngay sau khi mọi ng nhận thức chiến dịch sẽ thành công

Tiền tệ: Đồng mác và đồng yên nhật thực tế đã mạnh lên trong suốt thời gian giá dầu tang và chỉ bình ổn trở lại khi các hoạt động thù địc chấm dứt và giá dầu giảm xuống

2 Các cuộc khủng hoảng lớn ảnh hưởng đến giá dầu sau năm 2000:

2.1 Giá dầu xuống dốc 2001:

a.Bối cảnh lịch sử:

Sau năm 2000, kinh tế toàn cầu giảm sút, đặc biệt là từ sau sự kiện khủng bố11/9 tại Mỹ, giá dầu thế giới càng giảm mạnh hơn

Nhu cầu nhiên liệu giảm mạnh cũng góp phần vào sự giảm giá dầu

b.Tình hình giá dầu

Ngô Mạnh Hùng - KTCN K58 8 / 35

Trang 9

Năm 2001 mỗi thùng dầu chỉ còn 20 USD một thùng, giảm 35% so với trước

-yếu tố ảnh hưởng đến giá dầu:

xuất phát từ kinh tế Mỹ, nơi tăng trưởng đang phục hồi, trong khi các nơi khác lại đang chậm lại

triển vọng ảm đạm của hai nền kinh tế lớn là Đức và Nhật; Tốc độ tăng trưởng của Đức đã giảm khoảng 1% và kinh tế nước này có dấu hiệu bất ổn hơn khi thất bại trong chính sách năng lượng, trong khi chính phủ bị ám ảnh bởi các mục tiêu cải cách cơ cấu.Trong khi đó, Nhật Bản đã lặp đi lặp lại các lỗi từng xảy

ra trong năm 1997, cản trở thoát khỏi tình trạng trì trệ mặc dù chính phủ của ông Abe đã rất nỗ lực

vì giá dầu giảm mạnh khiến Ghana đã phải cầu cứu IMF Trong khi đó, nhiều công ty của Brazil đang mắc nợ nặng nề bằng đô la

2.2 Khủng hoảng giá dầu nghiêm trọng năm 2007-2008:

a Nguyên nhân:

USD mất giá nghiêm trọng, nhiều nước có dự trữ USD lớn, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến nền kinh tế Nhu cầu và cung ứng dầu mỏ giảm nên đẩy giá dầu lên cao vào năm 2007: 100USSD/thùng

b Diễn biến:

Ngô Mạnh Hùng - KTCN K58 9 / 35

Trang 10

2008- năm lịch sử của thị trường dầu thô, khi mà giá có lúc đạt đỉnh 147,27 USD/thùng vào tháng 7, sau đó rớt giá một mạch hơn 100USD/thùng,giảm 70% trong vòng 4 tháng, về ngường 40USSD/thùng.

Biểu đồ : giá dầu thế giới tính từ ngày 3/12/2007 đến 15/12/2008( nguồn WTRG)

Biểu đồ giá dầu thế giới đầu năm 2008 có hình thù một đỉnh núi nhọn Hai bên đỉnh núi là hai sườn núi khá dốc: bên trái là sự đi lên của giá dầu liên tục trong

7 tháng đầu năm nhưng không quá nhanh, bên phải là sự lao dốc mạnh mẽ của giá dầu trong những tháng cuối năm

GIAI ĐOẠN 1: TĂNG GIÁ LIÊN TỤC:

- Đầu tiên là hoạt động đầu cơ dầu lửa Đây là lý do mà các nhà quan sát và các nước xuất khẩu dầu mỏ cho là có ảnh hưởng lớn nhất đến sự leo thang của giá dầu Các nhà đầu tư cho rằng giá dầu còn tăng cao nên họ tiếp tục găm giữ 1 lượngdầu lớn

- giá dầu lần lượt tăng và chạm các mốc 110USD/thùng,120USD/thùng, 130USD/ thùng và rồi đạt gần 150USD/thùng thì các nước tiêu thụ dầu đã liên kết

Ngô Mạnh Hùng - KTCN K58 10 / 35

Trang 11

lại với nhau và đề nghị OPEC tăng sản lượng để giá dầu giảm=> OPEC phớt lờ vì cho rằng TG đã được cung cấp đủ lượng dầu, giá giảm là do hoạt động đầu cơ.

- Do giá dầu được định giá bằng USD nên khi giá USD càng thấp thỳ giá dầu càng cao

GIAI ĐOẠN 2: Giá dầu lao xuống dốc:

- Ngay sau ngày lên đỉnh 147,27USD/thùng giá dầu bắt đầu lao đấy nhanh chóng

- Trong vòng 4 tháng, giá dầu đã sụt hơn 100USD/thùng

Nguyên nhân:

- Thời kỳ đầu cơ kết thúc Cuộc khủng hoảng tài chính leo thang và lan rộng từ nước Mỹ ra toàn thế giới( trong quý 4/2008 MỸ,NB, Châu Âu lần đầu tiên rơi vào suy thoái)

- Sự phục hồi của đồng USD

- Các dự báo giá dầu lúc trước đã được điều chỉnh giảm mạnh Các nền kinh

tế hàng đầu rơi vào suy thoái, một số nền kinh tế khác nổi lên như Trung Quốc, Ấn Độ, Nga, cũng đang trong tình trạng lao đao như sản xuất công nghiệp và xuất khẩu giảm mạnh

=> Trong giai đoạn này, giá dầu giảm là một tín hiệu tốt 1 thùng dầu cứ giảm 10USD/thùng thì chi tiêu cho nhiên liệu của Mỹ sẽ giảm 70 tỷ USD/năm

Giá dầu giảm thì OPEC lại bị thiệt hại nhất Khi giá dầu giảm xuống dưới 100 USD/thùng hồi đầu tháng 9, nhóm này đặt mục tiêu giá sàn của dầu phải là 100 USD/thùng Nhưng sau đó, giá dầu liên tục trượt và trong cuộc họp hồi tháng 10, các quan chức của OPEC lại tuyên bố, họ sẽ làm mọi cách để giữ giá dầu ở mức 75USD/thùng Tuy nhiên, sang đầu tháng 12, giá dầu chỉ còn có 40 USD/thùng.=> Vai trò của OPEC đối với giá dầu trong giai đoạn này chỉ còn rất hạn chế

Sự tăng giá mạnh mẽ đạt đỉnh và lại giảm không phanh như thế ảnh hưởng rất lớn đến các nước xuất khẩu dầu mỏ như OPEC và Nga nói riêng; cả thế giới nói chung

c Tác động của giá dầu:

Ngô Mạnh Hùng - KTCN K58 11 / 35

Trang 12

+ đối với chính trị: Với việc giá dầu tăng mạnh , nguy cơ cạn kiệt nên đã bùng lên cuộc chiến tranh giữa các cường quốc về chủ quyền đối với những giếng dầu lớn

và đáy biển ở Bắc Cực và Nam cực

+ Đối với tài chính:

Làm giảm tốc độ phát triển kinh tế và thậm chí dẫn tới suy thoái khi mà sản lượng nền kinh tế tăng trưởng âm; Làm tăng tỷ lệ lạm phát Các hành động kìm hãm giá dầu của các nước nhập khẩu như tăng thuế tiêu thụ dầu sẽ làm lợi cho các nhà sản xuất dầu lớn hơn là cho chính phủ các nước này

Sản xuất công nghiệp Mỹ chỉ tăng 2,7% trong tháng 5,6 so với mức 4,8% năm ngoái Nhật bản con số này tương ứng là 0,6% và 8,3%

Các nước như Brazil, Hàn Quốc và Singapore chứng kiến mức tăng từ 1-4% cuả ngành công nghiệp trong khi con số này cùng kỳ năm ngoái là từ 12 đến 22% Với châu Âu, sản xuất công nghiệp giảm 0,1% Anh và Mexico, hai nước xuất khẩu dầu, giảm tương ứng 1,9% và 4,7%

Tất cả các nền kinh tế lớn ngoài Mỹ thuộc Tổ chức phát triển và hợp tác kinh tế OECD cùng với Mêxicô chiếm 13,7% kim ngạch xuất khẩu của Mỹ Các chỉ số tiêu biểu của các nền kinh tế OECD tính trong xu hướng 6 tháng đã tăng trưởng 7,5% vào đầu năm 2004, trong khi đó tháng 4/2008, các chỉ số này giảm 0,5%.+ Đối với Việt Nam:

FDI tăng kỷ lục: FDI cam kết của cả năm 2008 đã đạt con số kỷ lục 64,011 tỷ

USD, tăng gấp 3 lần so với năm 2007 Lượng giải ngân của các doanh nghiệp FDI tại Việt Nam lên con số 11,5 tỷ USD, tăng 43,2% so với năm 2007

Công nghiệp và xây dựng chiếm tỷ trọng lớn nhất trong lượng vốn đăng ký, với

572 dự án chiếm 54,12% về vốn đầu tư đăng ký Trong đó, các dự án thăm dò và khai thác dầu tại Việt Nam thu hút 17,5% tổng vốn FDI

Ngô Mạnh Hùng - KTCN K58 12 / 35

Trang 13

CPI tăng phi mã: 2008 là năm chỉ số giá tiêu dùng (CPI) có tốc độ tăng cao nhất

so với 16 năm trước đó (năm 1992 tăng 17,5%, năm 1993 tăng 5,2%, năm 1994 tăng 14,4%, năm 1995 tăng 12,7%, năm 1996 tăng 4,5%, năm 1997 tăng 3,6%, năm 1998 tăng 9,2%, năm 1999 tăng 0,1%, năm 2000 giảm 0,6%, năm 2001 tăng 0,8%, năm 2002 tăng 4%, năm 2003 tăng 3%, năm 2004 tăng 9,5%, năm 2005 tăng8,4%, năm 2006 tăng 6,6%, năm 2007 tăng 12,63%)

Tuy nhiên, chỉ số CPI lại giảm liên tục trong 3 tháng cuối năm Tính chung cả quý

4 CPI đã giảm 1,06% trong khi 3 tháng cùng kỳ năm trước tăng 4,95%

Ngô Mạnh Hùng - KTCN K58 13 / 35

Trang 14

Thị trường chứng khoán suy giảm mạnh: Năm 2008, diễn biến thị trường chứng

khoán Việt Nam được xem là xấu nhất trong suốt hơn 8 năm hoạt động, do chịu ảnh hưởng từ những biến động lớn của kinh tế thế giới và trong nước

Suy giảm trong 6 tháng đầu năm, rồi hồi phục trong 3 tháng tiếp theo và đột ngột giảm mạnh ngay sau đó cho đến tháng 12

Cũng trong năm 2008, việc huy động vốn qua thị trường chứng khoán cũng giảm tới 75 - 80% trên cả 3 kênh: phát hành tăng vốn của doanh nghiệp, cổ phần hóa phát hành trái phiếu Tính thanh khoản - khối lượng giao dịch giảm khoảng 70% sovới năm trước

Ngô Mạnh Hùng - KTCN K58 14 / 35

Trang 15

=> Năm 2008 là năm suy thoái kỷ lục nhất, mục tiêu cổ phần hóa thất bại, ảnh hưởng sâu sắc từ thị trường thế giới

2.3 Khủng hoảng giá dầu năm 2011:

a Nguyên nhân:

Các cuộc bạo loạn tại Trung Đông, Bắc phi và Libya(quốc gia sở hữu trữ lượng dầu mỏ lớn nhất Châu Phi) hồi đầu năm đe dọa nguồn cung dầu toàn cầu và kéo giá tăng vượt 100USD/thùng

nguyên nhân trực tiếp của biến động giá dầu vừa qua là việc Saudi Arabia nâng lượng cung

b Diễn Biến:

Một lần nữa, OPEC đang ngồi ở ghế tài xế, lái chiếc xe chở năng lượng thế giới, chứng tỏ quyền lực gần như tuyệt đối của mình trong thị trường dầu Được trợgiúp bằng quan hệ nồng ấm giữa các nước Arập và Iran, OPEC – chiếm khoảng 40% nguồn cung cấp dầu thế giới – có thể làm châu Âu và Mỹ sính vính, ở thời điểm mùa đông đến gần và sinh hoạt bắt đầu bùng nổ sau những tháng hè

Giá dầu thô tăng 15% ở mức $120 một thùng dầu vào 24 tháng 2, khi bạo loạn ở Libya nổ ra

Ngô Mạnh Hùng - KTCN K58 15 / 35

Trang 16

Nhưng lời hứa tăng sản lượng dầu từ phía Saudi Arabia đã làm giá dầu giảm

1 lần nữa Vào 2/3, giá dầu là $ 116, cao hơn 20% so với đầu năm, nhưng vẫn nằm ở dưới mức đỉnh của giá dầu năm 2008

Trong quý IV, giá dầu thô Mỹ tăng 25%, đánh dấu là quý tăng mạnh nhất kể từ tuần cuối tháng 6/2009 Giá dầu thô đã tăng 8,2% trong năm 2011.Tại London, giá dầu Brent giao cùng kì hạn giảm 63 cent, xuống 107,38 USD/thùng Trong tuần này, giá dầu Brent giảm 0,5%, giảm 2,8% trong tháng 12 và tăng 4,5% trong quý

IV Năm 2011, giá dầu Brent biển Bắc tăng 13%

Như vậy, kể từ khi khủng hoảng tài chính năm 2008 kết thúc, giá dầu thế giới liên tục tăng

c Tác động:

+ Năm 2011 là một rong những năm giá dầu thô thế giới biến động mạnh nhất Giádầu biến động là một trong những nhân tố ảnh hưởng tiêu cực đến kinh tế thế giới.+ Lạm phát tăng cao, tình trạng nợ công khủng hoảng

+ Thị trường dầu mỏ tiếp tục tăng vào t2/2012 sau khi phương Tây áp đặt các lệnh cấm vận lên Iran liên quan đến chương trình hạt nhân của nước này

Ngô Mạnh Hùng - KTCN K58 16 / 35

Trang 17

* Đối với Việt Nam: Việt Nam là một trong những nước xuất khẩu dầu thô và nhậpkhẩu xăng nên giá dầu tăng giảm đều có ảnh hưởng đến Việt Nam với cả hai mặt thuận lợi và khó khăn Giá dầu thế giới tăng thì giá dầu xuất khẩu và giá xăng nhậpkhẩu của Việt Nam đều tăng.

2.4 Cuộc khủng hoảng giá dầu năm 20014- 2015:

1.KHỦNG HOẢNG GIÁ DẦU NĂM 2007-2008:

1.1 Nguyên nhân:

USD mất giá nghiêm trọng, nhiều nước có dự trữ USD lớn, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến nền kinh tế Nhu cầu và cung ứng dầu mỏ giảm nên đẩy giá dầu lên cao vào năm 2007: 100USSD/thùng

1.2 Diễn biến:

2008- năm lịch sử của thị trường dầu thô, khi mà giá có lúc đạt đỉnh 147,27 USD/thùng vào tháng 7, sau đó rớt giá một mạch hơn 100USD/thùng,giảm 70% trong vòng 4 tháng, về ngường 40USSD/thùng

Ngô Mạnh Hùng - KTCN K58 17 / 35

Ngày đăng: 17/12/2017, 14:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w