Các chất hóa học nói chung và các chất hữu cơ nói riêng là một thành phần quan trọng trong sự phát triển của nền công nghiệp hiện nay. Với ứng dụng đa dạng, các chất hữu cơ là nguồn nguyên liệu không thể thiếu để sản xuất những sản phẩm phục vụ nhu cầu dân sinh cũng như phục vụ các hoạt động sản xuất, từ giày dép, túi nilon, các sản phẩm nhựa, keo xịt, chất bảo quản, chất bảo vệ thực vật… cho tới các sản phẩm công nghệ cao như chất bán dẫn, chất dẻo siêu bền, vật liệu màng… Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực, các hóa chất cũng tồn tại nhiều mặt tiêu cực, mà điển hình là gây độc cho môi trường và con người.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ MÔI TRƯỜNG
TIỂU LUẬN
KỸ THUẬT KIỂM SOÁT Ô NHIỄM KHÔNG KHÍ
Đề tài:
Nguồn gốc, tác hại và phương pháp kiểm soát
Benzen trong không khí
Lớp: Kỹ thuật Kiểm soát Ô nhiễm không khí - 88678 Giảng viên hướng dẫn: TS Lý Bích Thủy
Nhóm sinh viên thực hiện
3 Nguyễn Việt Trường 20134228 KT Môi trường 01 K58
Hà Nội, tháng 4 năm 2016
Trang 2Lời nói đầu
Các chất hóa học nói chung và các chất hữu cơ nói riêng là một thành phần quan trọng trong sự phát triển của nền công nghiệp hiện nay Với ứng dụng đa dạng, các chất hữu cơ là nguồn nguyên liệu không thể thiếu để sản xuất những sản phẩm phục vụ nhu cầu dân sinh cũng như phục vụ các hoạt động sản xuất, từ giày dép, túi nilon, các sản phẩm nhựa, keo xịt, chất bảo quản, chất bảo vệ thực vật… cho tới các sản phẩm công nghệ cao như chất bán dẫn, chất dẻo siêu bền, vật liệu màng… Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực, các hóa chất cũng tồn tại nhiều mặt tiêu cực, mà điển hình là gây độc cho môi trường và con người
Thông qua bài tiểu luận “Nguồn gốc, tác hại và phương pháp kiểm soát Benzen trong không khí”, chúng em hy vọng có thể làm rõ được một số “mặt nguy hiểm” của
benzen trong môi trường không khí nhằm cung cấp thêm thông tin tới các bạn sinh viên ngành môi trường - một ngành tiếp xúc nhiều với các loại hóa chất và chất thải – cũng như những người thường xuyên phải tiếp xúc với benzen trong không khí ở nồng
độ cao để có những đề phòng nhất định trong sử dụng và bảo quản benzen Bài tiểu luận được thực hiện trong thời gian ngắn, không tránh khỏi những sai sót, chúng em kính mong các thầy cô giáo và các bạn sinh viên thông cảm và góp ý cho chúng em
Chúng em xin được gửi lời cảm ơn tới cô giáo, giảng viên TS Lý Bích Thủy đã truyền đạt kiến thức và tạo điều kiện cho chúng em thực hiện bài tiều luận này
Nhóm sinh viên thực hiện
1 Phùng Trà My 20132636 KT Môi trường 01 K58
2 Trần Trọng Thanh 20133493 KT Môi trường 01 K58
3 Nguyễn Việt Trường 20134228 KT Môi trường 01 K58
4 Nguyễn Anh Vũ 20134652 KT Môi trường 01 K58
Trang 3MỤC LỤC
Lời nói đầu 2
Đặt vấn đề 4
Chương 1 Giới thiệu chung về benzen 4
1.1 Đặc điểm 4
1.2 Phân loại 5
1.3 Ứng dụng 5
1.4 Độc tính benzen 7
1.5 Một số quy chuẩn quy định về nồng độ benzen trong không khí 7
Chương 2 Nguồn gốc và tác hại của benzen trong không khí 7
2.1 Nguồn gốc của benzen 7
2.2 Tác hại của benzen trong không khí 8
Chương 3 Giải pháp kiểm soát benzen 11
3.1 Phát thải từ quá trình sản xuất benzen 11
3.2 Phát thải từ một số quá trình sử dụng benzen làm nguyên liệu 12
3.3 Phát thải từ các nguồn khác 13
3.4 Phát thải từ các nguồn đốt 16
3.5 Phát thải benzen từ các nguồn di động 16
Kết luận 17
Tài liệu tham khảo 17
Trang 4Đặt vấn đề
Chúng ta đều biết, benzen là một trong những chất rất quan trọng trong nhiều ngành công nghiệp, là một nhân tố góp phần thúc đẩy sự phát triển chung của các ngành công nghiệp hiện nay Benzen là dung môi quan trọng, là hóa chất được sử dụng nhiều để điều chế các dẫn xuất cơ bản trong công nghiệp, cũng như để sản xuất nhiều loại nguyên liệu quan trọng cho các ngành công nghiệp khác Bên cạnh những lợi ích
to lớn, giống như nhiều hóa chất khác, benzen cũng tồn tại nhiều mặt hạn chế, và mặt hạn chế lớn nhất làm con người bắt buộc phải cân nhắc khi sử dụng đó là độc tính của benzen, những biến chứng nguy hiểm - thậm chí cả ung thư
Với khả năng bay hơi tốt, sự hiện diện của benzen trong không khí đã và đang ảnh hưởng trực tiếp tới sức khỏe con người và động vật Tuy nhiên, do có nhiều tính chất quan trọng và có ích trong công nghiệp, việc thay thế benzen là việc gần như không thể thực hiện được ở 100% các ngành công nghiệp Vậy nên, sự hiểu biết đầy
đủ về những ảnh hưởng của benzen trong môi trường không khí là điều kiện tiên quyết
để con người có thể tự bảo vệ sức khỏe của chính bản thân mình
Chương 1 Giới thiệu chung về benzen
1.1 Đặc điểm
Benzen có công thức là C6H6, là hợp chất
hydrocacbon thơm Ở điều kiện phòng là chất lỏng dễ
cháy, dễ bay hơi, không màu, mùi dễ chịu Benzen là hợp
chất vòng 6 cạnh đều có 3 liên kết đôi và 3 liên kết đơn
Góc liên kết giữa các nguyên tử trong benzen đều là 120o,
các liên kết C-C đều như nhau (139 pm) [1]
1.1.1 Tính chất vật lý
- Khối lượng phân tử 78,11 g/mol [2]
- Không màu, có mùi thơm đặc trưng [2]
- Trạng thái vật lý trong điều kiện thường (25oC, 1 atm): lỏng [2]
- Nóng chảy ở 5,5oC, sôi ở 80,1oC (ở ấp suất 1 atm) [2]
- Giới hạn cháy trong không khí từ 1.3% đến 7,1% Tự bốc cháy nhiệt độ 580oC [2]
- Độ hòa tan trong nước là 1800 mg/L (ở 25oC) Tan tốt trong ancol, chloroform, ete, cacbon đisunfit, axeton, dầu, [2]
- Khối lượng riêng (ở 15oC) 0,8787 g/mL [2]
- Hệ số phân bố logKow: 2,13; 2,15 [2]
1.1.2 Tính chất hóa học
- Phản ứng thế electrophyl: Benzen phản ứng thế với halogen(X2) khi có Fe hoặc AlCl3 tạo phenyl halogenua (C6H5X), phản ứng với axit nitric đặc có xúc tác
H2SO4 đậm đặc tạo nitro benzen, phản ứng với H2SO4 đậm đặc chưng cất nước thành axit benzosulfonic [1]
Trang 5- Phản ứng cộng: Benzen trong điều kiện có xúc tác Ni, nhiệt độ cao cộng với H2
tạo ra xiclohexan Khi có chiếu sáng, benzen tác dụng với khí clo tạo
ra hexacloran C6H6Cl6 [1]
1.2 Phân loại
Phân loại theo Tiêu chuẩn NFPA 704 (Hệ thống tiêu chuẩn xác định mối nguy hiểm của vật liệu cho các trường hợp ứng cứu khẩn cấp) của Hiệp hội phòng cháy quốc gia Hoa Kỳ [1]
Chỉ số Giá
trị Miêu tả
Sức khỏe 2 Có thể gây mất sức tạm thời hoặc
gây tổn thương lâu dài
Khả năng
Có thể bắt lửa ở hầu hết điều kiện nhiệt độ môi trường xung quanh Tính bất ổn 0 Khá ổn định, thậm chí cả khi bị
cháy
Tính chất
Phân loại theo IARC (Cơ quan nghiên cứu quốc tế về ung thư) của WHO, benzen được phân loại vào nhóm 1 - tác nhân gây ung thư ở người [3]
Phân loại theo GHS (Hệ thống phân loại và ghi nhãn hóa chất toàn cầu) [4]
- H225: chất lỏng rất dễ cháy
- H304: Có thể gây tử vong nếu nuốt phải hay đi vào đường hô hấp
- H315: Gây kích ứng da
- H319: Gây kích ứng mắt nghiêm trọng
- H340: Có thể gây ra khuyết tật di truyền
- H350: Có thể gây ung thư
- H372: Gây thiệt hại cho các cơ quan thông qua tiếp xúc kéo dài hoặc lặp lại
- H401: Độc cho sinh vật dưới nước
1.3 Ứng dụng
Benzen được sử dụng chủ yếu như một dung môi trong các ngành công nghiệp hóa chất và dược phẩm, nó cũng được dùng như một nguyên liệu ban đầu và trung gian trong quá trình tổng hợp của rất nhiều hóa chất, và trong xăng Benzen được sử
Trang 6dụng trong tổng hợp etylbenzen (được sử dụng để sản xuất styren), cumen (được sử dụng để sản xuất phenol và axeton), cyclohexan, nitrobenzen (được sử dụng để sản xuất anilin và các hóa chất khác), chất tẩy rửa alkylate (sulfonat alkylbenzen tuyến tính), clobenzen và các sản phẩm khác Benzen được sử dụng như một chất phụ gia trong xăng, nhưng nó cũng có mặt tự nhiên trong xăng, bởi nó có trong dầu thô và là một sản phẩm phụ của quá trình lọc dầu Tỷ lệ phần trăm của benzen trong xăng không chì là khoảng 1% đến 2% theo thể tích.Một số sản phẩm/ngành sử dụng benzen có thể nói đến như ngành hóa dược, sản xuất thuốc nhuộm, sơn, nhựa tổng hợp, lốp xe, giày dép, mực in, thuốc tẩy rửa, thuốc bảo vệ thực vật…
Ứng dụng của benzen (U.S International Trade Commission, 2003)
1.4 Độc tính benzen
Trang 7Hít phải hoặc ăn uống thực phẩm nhiễm benzen ở nồng độ rất cao có thể gây tử vong Nhẹ hơn, và nếu chỉ trong thời gian ngắn có thể bị liệt, hôn mê, lú lẫn, choáng, buồn ngủ, tim đập nhanh, nặng ngực, khó thở, nôn ói [5]
Nếu sống, làm việc ở nơi có quá nhiều vật dụng chứa benzen, hít thở không khí chứa nhiều benzen lâu ngày có thể bị tổn thương não không hồi phục, mờ mắt, nhức đầu kinh niên hay ngất xỉu Nhiễm benzen thời gian dài còn làm giảm hồng cầu gây ra thiếu máu, có thể gây xuất huyết nhiều, giảm miễn dịch nên dễ bị nhiễm trùng [5]
Benzen dính vào da thì làm da khô, ngứa, sưng đỏ Nếu rơi vô mắt sẽ gây kích thích đau rát và tổn thương giác mạc [5]
1.5 Một số quy chuẩn quy định về nồng độ benzen trong không khí
Nồng độ tối đa cho phép của benzen trong không khí xung quanh là 22 µg/m3
tính trong 24h và 10 µg/m3 tính trong 1 năm (QCVN 06:2009/BTNMT)
Nồng độ tối đa cho phép của benzen trong khí thải công nghiệp phát thải vào môi trường không khí là 5 mg/Nm3 (QCVN20:2009/BTNMT)
Chương 2 Nguồn gốc và tác hại của benzen trong không khí
2.1 Nguồn gốc của benzen
Benzen là chất dễ bay hơi nên con đường tiếp xúc chủ yếu với benzen là con đường hô hấp Trong môi trường không khí, benzen thường nhanh chóng bị phân hủy, một lượng nhỏ benzen có thể được ngưng tụ bởi mưa, làm ô nhiễm nước mặt và đất Tuy nhiên, benzen cũng không tồn tại lâu trong nước mặt hay đất, mà thường bay hơi trở lại không khí hoặc bị phân hủy bởi vi khuẩn [6]
2.1.1 Trong công nghiệp
Benzen thường xuất hiện trong dầu thô với nồng độ có thể lên đến 4 g/l, vậy nên con người hoạt động trong những ngành sử dụng dầu khí thường dễ tiếp xúc với benzen Những ngành sử dụng dầu khí bao gồm chế biến và sử dụng các sản phẩm từ dầu mỏ; sản xuất của toluene, xylene và các hợp chất thơm khác; các ngành sản xuất các sản phẩm công nghiệp và tiêu dùng sử dụng benzen làm nguyên liệu trung gian
Sự hiện diện của benzen trong xăng và việc sử dụng rộng rãi benzen như một dung môi công nghiệp có thể dẫn đến phơi nhiễm nghề nghiệp đáng kể và phát thải benzen vào không khí trên diện rộng Phương tiện giao thông cá nhân (ô tô, xe máy) là nguồn
xả benzen lớn nhất trong môi trường Hơi vật liệu xây dựng, quá trình cháy vật liệu, chất thải công nghiệp, nước rỉ rác cũng là nguồn thải benzen đáng kể [6]
2.1.2 Không khí trong nhà
Benzen đã được phát hiện ở nồng độ cao trong không khí trong nhà Bên cạnh một số nguồn benzen nhỏ như hơi thoát ra từ vật liệu xây dựng (sơn, keo dán, ) thì nguồn phát thải benzen lớn nhất hiện nay là từ khói thuốc lá, ở cả nhà riêng và nơi công cộng Những ngôi nhà để xe bên trong cũng ghi nhận nồng độ benzen cao hơn so với những ngôi nhà không để xe Nồng độ benzen trong không khí cũng tăng lên với
Trang 8những ngôi nhà gần xăng trạm xăng Những người dành nhiều thời gian ở trong nhà, như là trẻ nhỏ, có thể có nguy cơ tiếp với benzen cao hơn [6]
2.1.3 Không khí trong xe
Benzen đã được phát hiện có trong không khí trong xe ô tô ở mức cao hơn so với không khí xung quanh, nhưng thấp hơn đáng kể so với không khí xung quanh trạm xăng dầu [6]
2.2 Tác hại của benzen trong không khí
Ảnh hưởng chủ yếu của benzen trong không khí là tác động tới con người và các loại động vật khi tiếp xúc qua đường hô hấp
2.2.1 Ảnh hưởng tới các hệ cơ quan trong cơ thể
a Ảnh hưởng đến hệ hô hấp
Ảnh hưởng đến hệ hô hấp sau khi tiếp xúc ngắn hạn với hơi benzene đã được biết đến từ nhiều năm nay (Avis và Hulton 1993; Midzenki et al 1992; ) Viêm mũi
và đau họng đã được báo cáo bởi các công nhân khi tiếp xúc với hơi benzene ở nồng
độ tương ứng 33 ppm và 59 ppm trong hơn 1 năm Xuất hiện tình trạng kích thích màng nhầy và khó thở ở 80% và 67% số công nhân khi tiếp xúc với nồng độ trên 60 ppm trong 3 tuần [7]
b Ảnh hưởng đến hệ tuần hoàn
Benzene tác động mạnh nhất vào hệ tuần hoàn Khi tiếp xúc với hơi benzene trên 60 ppm trong 2 ngày gây ra giảm bạch cầu và hồng cầu trong máu, tắc mạch máu, Tiếp xúc với hơi benzene vượt quá ngưỡnglàm việc liên tục trong vài tháng làm giảm lượng máu lưu thông, nếu tiếp tục tiếp xúc với benzene sẽ gây ra bệnh thiếu máu hoặc bệnh bạch cầu Tiếp xúc với nồng độ nhỏ benzene làm giảm một hoặc một vài loại máu (bao gồm hồng cầu, bạch cầu, tiểu cầu) được thấy trong nhóm 44 người khỏ mạnh cho tiếp xúc với benzene nông độ trung bình 8 tiếng là 31 ppm trong thời gian trung bình 6.3 năm Trong 22 người cho tiếp xúc với benzene trong 5 ngày với nồng độ trung bình 8 tiếng TWA (time-weight average) là 13.6 ppm và nồng độ không vượt 31 ppm cho thấy lượng tiểu cầu và hồng cầu rõ rệt Trong một nhóm khác gồm
11 người tiếp xúc với benzene trung bình 8 tiếng TWA là 7.6 ppm, nồng độ không vượt quá 31 ppm chỉ cho thấy giảm lượng tiểu cầu [7]
Một nghiên cứu mới đây được thực hiên với 250 công nhân (năm 2004) trong ngành sản xuất giầy ở Trung Quốc Lấy 140 công nhân cùng tuổi và giới tính trong ngành may mặc không tiếp úc với benzene (nồng độ benzene dưới 0.04 ppm) làm chuẩn.Nghiên cứu được thực hiện trong thời gian trung bình là 6.1+2.9 năm.Những người tiếp xúc với benzene đươc chia làm 4 nhóm (kiểm soát,<1, 1-10, >10 ppm) phụ thuộc vào lượng benzene tiếp xúc trước khi lấy mâu máu 1 tháng Số lượng tế bào bạch cầu và tiểu cầu của các đối tượng nghiên cứu đều giảm so với nhóm kiểm chứng (giảm từ 8-15% ở nhóm tiếp xúc với nồng độ thấp nhất , giảm từ 15-36% ở nhóm tiếp xúc với nồng độ cao nhất) [7]
Tiếp xúc với benzene dù nồng độ thấp hơn nhưng trong thời gian dài nguy hiểm hơn tiếp xúc với nồng độ cao và thời gian ngắn [7]
Trang 9Khả năng hồi phục sau khi tiếp xúc với benzene phụ thuộc vào nồng độ và thời gian tiếp xúc: tiếp xúc với hơi benzene nồng độ 316 ppm trong thời gian dài trên chuột khiến chuột không còn khả năng phụ hồi thương tổn máu nhưng cho chuột tiếp xúc hơi benzene nồng độ cao hơn 10 lần trong thời gian ngắn hạn thì vẫn thấy chuột có khả năng hồi phục lại (Cronlite et al 1989) [7]
c Ảnh hưởng đến hệ cơ
Ruiz cùng cácđồng nghiệp đã báo cáo có ảnh hưởng đến hệ cơ (đau nhức các cơ) cùng với thiếu bạch cầu do benzene gây ra cho các công nhân làm việc trong một nhà máy sản xuất thép ở Cubatao, Saint Paulo, Brazil Bệnh nhân là những công nhân
là việc trong nhà máy (trong khoảng thời gian 7 năm và 4 tháng) và những công nhân được thuê để sửa chữa nhà máy (trong thời gian 5 năm và 5 tháng) [7]
d Ảnh hưởng tới gan
Chưa có báo cáo cụ thể nào về ảnh hưởng nghiêm trọng tới ganngười khi tiếp xúc với hơi benzene nhưng đã có những thí nghiệm trên động vật về ảnh hưởng của benzene tới gan [7]
Chuột CFY được cho tiếp xúc liên tục với hơi benzene nồng độ 125 ppm trong
7 ngày cho thấy khối lượng gan tăng (4.67% khối lượng cơ thể) so với mẫu kiểm chứng (4.25% khối lượng cơ thể) nhưng chênh lệch quá ít nên không được coi là ảnh hưởng nghiêm trọng Trong một nghiên cứu khác, chuột CFY cho tiếp xúc liên tục với hơi benzene trong 7 ngày với nồng độ là 0, 141, 470, 939 ppm (Taitrei at el 1980), kết quả cho thấy từ nồng độ benzene 141 ppm trở lên thì tỷ lệ khối lượng gan so với cơ thể tăng lên rõ rệt [7]
e Ảnh hưởng đến hệ miễn dịch
Ảnh hưởng của benzene lên hệ thống miễn dịch của con người đã được biết tới Benzene tác động lên hệ thống miễn dịch thông qua tác động lên bạch cầu đã được nói
ở phần trên.Rất nhiều nghiên cứu đã chỉ ra ảnh hưởng tới hệ miễn dịch khi tiếp xúc với hơi benzene: giảm lượng bạch cầu và tế bào tủy xương khi cho chuột tiếp xúc với nồng
độ từ 100 ppm trở lên trong suôt 8 ngày (Gill et al 1980); giảm lượng bạch cầu và tế bào tủy xương khi cho chuột DBA/2 tiếp xúc với nồng độ tới 900 ppm trong 2 tuần (Chertkov et al 1992); giảm số lương tế bào lympho (một loại bạch cầu) trong lá lách, tuyến ức (giảm từ 25 đếm 43% so với kiểm chứng) khi cho chuột tiếp xúc với hơi benzene nồng đồ trên 100 ppm trong 6 giờ/ngày, 5 ngày/tuần, và rất nhiều các của Ward (1985), Li (1986), Snyder (1978,1980,1984), cũng chỉ các kết quả tương tự [7]
f Ảnh hưởng đến hệ thần kinh
Khi con người bị phơi nhiễm với benzene nồng độ cao (từ 300 đến 3000ppm) xuất hiện một số triệu chứng như buồn ngủ, đau đầu, chóng mặt, run rẩy, mê sảng, bất tỉnh, và có thể gây tử vong nếu nồng độ tiếp xúc quá cao Những triệu chứng trên giống các triệu chứng khi bị phơi nhiễm với nhiều chất dung môi hữu cơ khác và có thể hồi phục nếu cho các nạn nhân ra khỏi vùng phơi nhiễm [7]
2.2.2 Tử vong
Trang 10Nguyên nhân gây tử vong ở người là do ngạt thở, suy giảm chức năng thần kinh trung ương, suy giảm chức năng tim Đã có các báo cáo từ những năm 1900 về các vụ
tử vong do tiếp xúc với benzene Flury đã ước tính sau khi tiếp xcus với hơibenzene nồng độ 20,000 ppm trong 5 – 10 phút gây tử vong [7]
2.2.3 Ung thư
US-EPA đã xếp benzen là chất độc nhóm A, tức là các chất được đánh giá có thểgây ung thư ở người [7]
US-EPA đã ước tính tỷ lệ phát triển ung thư ở người hít thở liên tục với khôngkhí có chứa benzen ở nồng độ khoảng từ 0,13 đến 0,45 μg/m3 trong suốt cuộcg/m3 trong suốt cuộc đờilà dưới 1/1.000.000 Con số này tăng lên là 1/100.000 đối với nồng độ benzen là1,3 đến 4,5 μg/m3 trong suốt cuộcg/m3 [7]
Từ lâu đã có những nghiên cứu chỉ ra khả năng gây ung thư của hơi benzene tuy nhiên đa số các nghiên cứu có hạn chế là có nhiều chất gây độc, thiếu sự kiểm soát nồng độ phơi nhiễm và có ít số liệu do có ít vụ nhiễm độc Nhưng các nghiên cứu vẫn chỉ ra benzene là yếu tố gây nên bệnh bạch cầu Có hai nghiên cứu đối tượng là các công nhân bị phơi nhiễm với benzene ở Ohio (Mỹ) và ở Trung Quốc là có các số liệu chắc chắn về benzene làm gia tăng khả năng bị bệnh bạch cầu [7]
Ở Ohio, đối tượng nghiên cứu là các công nhân làm việc tại ba nhà máy sản xuất Pliofilm Trong báo cáo của Rinsky và các đồng nghiệp (1987), một nhóm gồm
1165 nam công nhân da trắng được tuyển dụng từ 1940 và 1965 làm việc đến 1981 cho thấy số lượng người chết do bệnh bạch cầu tăng (9 người chết so với 2.7 người) và
u tủy (4 người chết so với 1 người) Tỷ lệ chết trong nhóm đối tượng theo dõi được so sánh với tỷ lệ chết của nam da trắng cùng tuổi ở Mỹ trong cùng một khoảng thời gian Khả năng bị bệnh bạch tạng tăng rõ rệt khi ta tăng nồng độ tích tụ với benzene trên
200 ppm/năm [7]
Ở Trung Quốc,các nghiên cứu trên đối tượng là 74828 công nhân bị phơi nhiễm với benzene và 35805 công nhân không tiếp xúc với benzene làm việc trong 672 nhà máy ở 12 thành phố đã được tiến hành (Hayes 1996, 1997,2001; Linet et al 1996) Các công nhân làm việc trong trung bình 12 năm ở nhiều loại ngành nghề khác nhau
sử dụng benzene làm dung môi như sản xuất sơn, keo, áo khoác và các sản phẩm khác cho thấy các đối tượng còn tiếp xúc với nhiều loại hóa chất khác Các công nhân đều thấy khản năng bị bệnh bạch cầu tăng (xác suất tăng phụ thuộc vào ngành nghề) Nghiên cứu theo nồng độ phơi nhiễm benzene trung bình (<10, 10 – 24, >25 ppm) và lượng benzene tích tụ (<40, 40 – 99, >100 ppm/năm) cho thấy nguy cơ bị bệnh về hồng cầu tăng rõ rệt dù ở mức độ phơi nhiễm thấp nhất (<10 ppm và <40 ppm/năm) Nguy cơ bị bệnh bạch cầu tăng khi nồng độ phơi nhiễm trung bình là 10 – 24 ppm và nồng độ tích tụ là 40 – 99 ppm Nghiên cứu theo thời gian phơi nhiễm cho thấy nguy
cơ bị nhiễm bệnh không tăng theo thời gian phơi nhiễm [7]
Chương 3 Giải pháp kiểm soát benzen