Nguyễn Hoàng TríTrung tâm Nghiên cứu và Giáo dục Môi trường, Trường ĐHSP Hà Nội Ủy ban Quốc gia “Chương trình Con người và Sinh quyển” Việt Nam ỨNG DỤNG TƯ DUY HỆ THỐNG TRONG PHÁT TRIỂN
Trang 1Nguyễn Hoàng Trí
Trung tâm Nghiên cứu và Giáo dục Môi trường, Trường ĐHSP Hà Nội Ủy ban Quốc gia “Chương trình Con người và Sinh quyển” Việt Nam
ỨNG DỤNG TƯ DUY HỆ THỐNG TRONG PHÁT TRIỂN
CÁC KHU DỰ TRỮ SINH QUYỂN THẾ GIỚI TẠI VIỆT NAM
GIỚI THIỆU
Theo quan điểm hệ thống, các khu sinh quyển thế giới đều là các hệ thống bao gồm nhiều thành phần
và thể hiện rất rõ các mối quan hệ đa dạng phức tạp, kết nối các thành phần tự nhiên với kinh tế-xã
hội, cấu trúc và kiến trúc vật chất với các giá trị nhân văn, không gian văn hóa và cảnh quan tự nhiên,
sinh thái học chính trị và sinh thái học sáng tạo Tư duy hệ thống là cách tiếp cận toàn cảnh trước khi
đi sâu phân tích các mối liên hệ giữa các thành phần Tư duy hệ thống là công cụ hữu hiệu giúp các nhà
quản lý và hoạch định chính sách có những giải pháp thích hợp trước các vấn đề thực tế vốn luôn luôn
vận động, phức tạp và thay đổi theo không gian và thời gian
Nếu không được trang bị cách tư duy hệ thống, chúng ta sẽ không thể lý giải những lợi ích trực tiếp
cũng như gián tiếp về mặt kinh tế, môi trường và các giá trị tồn tại mà các danh hiệu thế giới mang
lại Một số vấn đề trong thực tế đặt ra như tại sao trong những năm đầu lượng khách du lịch thăm
quan các khu sinh quyển thế giới tăng nhanh sau đó chậm dần và đôi khi gặp khó khăn rất lớn Một
số khu sinh quyển thế giới không phát huy mà thậm chí còn bị xuống cấp nghiêm trọng, hoặc ngay cả
khi được thế giới công nhận rồi mà các cán bộ quản lý còn thờ ơ không thấy hết giá trị của chúng
Bản báo cáo này sẽ trình bày những nguyên lý cơ bản, những cơ sở khoa học phân tích giá trị kinh tế
của danh hiệu UNESCO, đồng thời phân tích một số bài học thành công cũng như thất bại trong quản
lý những tài sản vô giá này
ABSTRACT
This presents a new approach of system thinking to be applied in practices of establishing and
managing 8 biosphere reserves in Vietnam With direction of “System thinking - Landscape
planning - Inter-sectoral coordination - Quality economy”, all of Vietnam’s biosphere reserves
are directly coordinated by People’s Committees of provinces or cities This creates relevant
conditions for carrying out activities regarding intersectoral and multi-disciplinary issues, but
there are a lot of difficulties and challenges in the mechanisms of scrotal coordination and
administrative management at present The report also introduces UNESCO titles and their
promotion for socio-economic value through activities of “Conservation for Development
and Development for Conservation” Lessons learnt from international and domestic
experi-ences are introduced to facilitate analysis, implement and enhance the effectiveness of
man-agement in each of Vietnam’s biosphere reserves
Trang 2KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ CÁC DANH HIỆU UNESCO VÀ MỘT SỐ TỔ CHỨC QUỐC TẾ KHÁC
Các danh hiệu UNESCO
Danh hiệu di sản thiên nhiên thế giới: Các khu di sản thiên nhiên phải thể hiện được giá trị nổi tiếng thế giới trên quan điểm mỹ học hoặc khoa học về đặc điểm tự nhiên được hình thành từ những quần thể hoặc nhóm quần thể sinh học và vật lý, hoặc giá trị nổi tiếng thế giới trên quan điểm khoa học hoặc bảo tồn về các cấu trúc địa chất, địa vật lý, nơi cư trú của các loài động thực vật quý hiếm, cũng như giá trị nổi tiếng thế giới trên quan điểm khoa học, bảo tồn hoặc vẻ đẹp tự nhiên Khu Di sản Thiên nhiên Vịnh Hạ Long và Phong Nha - Kẻ Bàng đều là những kiệt tác của tự nhiên cả về địa chất địa mạo,
đa dạng sinh học Việt Nam có 2 di sản thiên nhiên (Hạ Long, Phong Nha - Kẻ Bàng)
Danh hiệu di sản văn hóa thế giới: Hình thức di sản văn hóa bao gồm di sản vật thể và phi vật thể Đó là các công trình kiến trúc, hội họa, khảo cổ có giá trị nổi tiếng toàn cầu theo quan điểm lịch sử, nghệ thuật và khoa học, hoặc nhóm quần thể kiến trúc tiếp nối hoặc tách rời có giá trị nổi tiếng toàn cầu theo quan điểm lịch sử, nghệ thuật và khoa học Đôi khi bao gồm cả các công trình do con người sáng tạo hoặc kết hợp với thiên nhiên có giá trị nổi tiếng toàn cầu theo quan điểm lịch sử, mỹ thuật, nhân chủng hoặc dân tộc Di sản văn hóa phi vật thể bao gồm những diễn cảm sống và những truyền thống mà các cộng đồng hoặc những nhóm người được thừa hưởng từ cha ông họ sau đó truyền lại cho con cháu dưới dạng truyền khẩu Việt Nam hiện có 3 di sản văn hóa vật thể (Huế, Hội An, Mỹ Sơn) và 2
di sản văn hóa phi vật thể (Nhã nhạc cung đình Huế, Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên) Khu sinh quyển thế giới: Đây là mô hình cho phát triển bền vững mà chúng ta để lại cho các thế hệ mai sau với phương châm bảo tồn cho phát triển và phát triển để bảo tồn Các khu sinh quyển phải là đại diện cho các hệ sinh thái đại diện, vùng địa lý sinh học có ý nghĩa bảo tồn đa dạng sinh học, có cơ hội cho phát triển bền vững vùng và có diện tích đủ lớn để thực hiện 3 chức năng: bảo tồn, phát triển, trợ giúp với sự tham gia của cộng đồng và có cơ chế quản lý, chính sách, quản trị rõ ràng: nghiên cứu, giáo dục, giám sát Tính đến năm 2009, Việt Nam đã có 8 khu sinh quyển thế giới (Cần Giờ, Cát Tiên, Châu thổ sông Hồng, Cát Bà, Kiên Giang, Tây Nghệ An, Cù Lao Chàm - Hội An, và Mũi Cà Mau) Công viên địa chất: Một số quốc gia hình thành “Mạng lưới các công viên địa chất quốc gia”, sau đó gia nhập mạng lưới các công viên địa chất quốc tế Các khu công viên địa chất phải thể hiện những nét đặc trưng về địa chất, có diện tích đủ lớn với sự tham gia của cộng đồng địa phương và quản lý thống nhất cho phát triển du lịch, các hoạt động kinh tế xã hội và gìn giữ di sản này cho các thế hệ mai sau Các công viên địa chất là nơi tổ chức các hoạt động bảo vệ môi trường, giáo dục kiến thức và hành vi bảo tồn di sản cho thế hệ trẻ, triển khai các hoạt động nghiên cứu, giám sát và điều phối trong mạng lưới toàn cầu các công viên địa chất Việt Nam hiện chưa có hình thức này
Các danh hiệu khác
Khu Ramsar: Đây là các khu bảo vệ các vùng đất ngập nước với các loài chim di cư có tầm quan trọng quốc tế Các quốc gia (trong đó có Việt Nam) đã ký vào Công ước này tại thành phố Ramsar, nước Cộng hòa Hồi giáo Iran và công ước này mang tên là Công ước Ramsar và các khu bảo vệ cũng có tên là khu Ramsar Các khu Ramsar thuộc nhóm A là những vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế Nhóm B bao gồm khu vực có tầm quan trọng quốc tế về đa dạng sinh học: Nơi ở, kiếm ăn cho những loài, quần xã quý hiếm; Đại điện cho một vùng địa lý sinh học; Trợ giúp vòng đời, nơi di cư cho một số loài; Trợ giúp cho 20.000 chim nước trở lên; Trợ giúp 1% số cá thể trong 1 quần thể của 1 loài hoặc loài phụ chim nước; Trợ giúp cho các loài bản địa, đa dạng toàn cầu; Cung cấp nguồn thức ăn quan trọng cho các loài thủy hải sản, chim ; Trợ giúp 1% số cá thể của 1 loài hoặc phân loài sống phụ thuộc vào đất ngập nước, không thuộc lớp chim Việt Nam đã có 2 khu Ramsar là: Xuân Thủy (Nam Định) và Bàu Sấu (Cát Tiên, Đồng Nai)
Công viên di sản Asean: Loại hình này chỉ nằm trong phạm vi các nước Asean, với các khu bảo tồn được công nhận về mặt pháp lý và có kế hoạch quản lý được phê chuẩn với đặc trưng về tính toàn vẹn hệ sinh thái, tính đại diện, tính tự nhiên và tầm quan trọng bảo tồn cao Các khu vực này sẽ được đánh giá cao nếu nó có thêm các tiêu chí về tính duy nhất, liên vùng, có tầm quan trọng đối với đa dạng sinh học các loài quý hiếm và có ý nghĩa về sinh học dân tộc
Trang 3CÁC KHU DỰ TRỮ SINH QUYỂN Ở VIỆT NAM
Chỉ trong vòng 9 năm (2000-2009), Việt Nam đã gia nhập các hoạt động quốc tế trong Chương trình
“Con người và Sinh quyển”, viết tắt là MAB của Tổ chức Văn hóa, Khoa học và Giáo dục của Liên Hợp
Quốc (UNESCO) với sự đóng góp 5 khu dự trữ sinh quyển thế giới (DTSQ), đó là:
l Khu Dự trữ Sinh quyển Rừng ngập mặn Cần Giờ, TP Hồ Chí Minh (Khu DTSQ Cần Giờ): được thế
giới công nhận ngày 21/01/2000 Tổng diện tích: 71.370 ha; dân số: 57.403 người
l Khu Dự trữ sinh quyển Cát Tiên (Khu DTSQ Cát Tiên), thuộc các tỉnh Đồng Nai, Bình Phước, Lâm
Đồng và Đăk Lăk: được thế giới công nhận ngày 10/11/2001 Tổng diện tích:728.756 ha; dân số:
khoảng 170.500 người
l Khu Dự trữ sinh quyển Quần đảo Cát Bà (Khu DTSQ Cát Bà), TP Hải Phòng: được thế giới công
nhận ngày 02/12/2004 Tổng diện tích 26.241 ha; dân số: 10.673 người
l Khu Dự trữ Sinh quyển Đất ngập nước Ven biển Liên tỉnh Châu thổ sông Hồng (Khu DTSQ Châu
thổ sông Hồng), thuộc 5 huyện Thái Thụy, Tiền Hải (tỉnh Thái Bình), Giao Thủy, Nghĩa Hưng (tỉnh
Nam Định) và Kim Sơn (tỉnh Ninh Bình): được thế giới công nhận ngày 02/12/2004 Tổng diện tích:
105.557 ha; 128.075 người
l Khu Dự trữ Sinh quyển Kiên Giang, Tỉnh Kiên Giang: được thế giới công nhận ngày 27/10/2006
Tổng diện tích: 1.188.105 ha; dân số: 352.893 người
l Khu Dự trữ Sinh quyển Tây Nghệ An, tỉnh Nghệ An: được thế giới công nhận ngày 18/09/2007
Tổng diện tích: 1.303.285 ha; dân số: 473.822 người
l Khu Dự trữ Sinh quyển Cù Lao Chàm, Hội An, tỉnh Quảng Nam: được thế giới công nhận ngày
26/05/2009 Tổng diện tích: 33.146 ha; dân số: 83.792 người
l Khu Dự trữ Sinh quyển Mũi Cà Mau, tỉnh Cà Mau: được thế giới công nhận ngày 26/05/2009 Tổng
diện tích: 371.506 ha; dân số: 170.321 người
Áp lực từ các hoạt động kinh tế do phải đáp ứng nhu cầu phát triển của đất nước, các vấn đề môi trường
đang trở nên nghiêm trọng đối với các nguồn tài nguyên, đặc biệt là đất và nước, làm giảm đi trông thấy đa
dạng số loài động thực vật, cảnh quan và các hệ sinh thái Sự suy giảm đa dạng sinh học lại đang tác động
trở lại đối với cuộc sống hàng ngày của người dân như lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, nguyên liệu
cho công nghiệp, xây dựng Vai trò của đa dạng sinh học trong cuộc sống của con người là không thể thay
thế được nhất là đối với các hoạt động giáo dục, nghiên cứu khoa học Các vùng lõi và vùng đệm của các
khu dự trữ sinh quyển đang được xem như các phòng thí nghiệm sống về đa dạng sinh học cho các vùng
địa lý sinh học chính trong nước và quốc tế Các khu dự trữ sinh quyển đang góp một phần quan trọng
trong sự cân bằng sinh thái như hạn chế xói lở, làm cho đất đai màu mỡ, điều hoà khí hậu, hoàn thiện các
chu trình dinh dưỡng, hạn chế ô nhiễm nước và không khí và còn nhiều chức năng khác nữa
TƯ DUY HỆ THỐNG: BẢO TỒN ĐỂ PHÁT TRIỂN VÀ PHÁT TRIỂN ĐỂ BẢO TỒN
Chúng ta đều biết rằng, dù là bất cứ danh hiệu nào thì chúng vẫn chỉ là danh hiệu, đôi khi chúng còn bị
xuống cấp theo thời gian nếu chúng ta không thấy hết giá trị của chúng và không biết khai thác chúng cho
phát triển kinh tế và nâng cao hiệu quả bảo tồn Giá trị danh hiệu UNESCO nói chung và giá trị di sản và
sinh quyển thế giới nói riêng thể hiện sự đồng tiến hóa giữa kinh tế và sự hiểu biết về bảo tồn của con người
Lĩnh vực này ngày càng được quan tâm nghiên cứu do những tác động nhiều mặt của các quá trình phát
triển kinh tế lên các hệ thống bảo tồn Sự hiểu biết đó sẽ mang lại kiến thức về cấu trúc tự nhiên, văn hóa
và xã hội, cũng như mối liên hệ về mặt chức năng giữa kinh tế và các danh hiệu UNESCO (UNESCO, 2005) Làm rõ giá trị danh hiệu UNESCO nói chung và giá trị di sản và sinh quyển thế giới nói riêng chính là
góp phần tìm ra những giải pháp kinh tế thích hợp để bảo tồn các danh hiệu UNESCO Điều này là cơ
sở khoa học giúp cho việc đề xuất các chính sách, thể chế, hành vi và giải pháp kinh tế-xã hội một cách
bền vững thông qua các nghiên cứu liên ngành giữa bảo tồn và phát triển kinh tế, cũng như tương tác
của các hệ thống này với nhau
Trang 4Tổng giá trị kinh tế và khung phân tích các giá trị
Một trong những khái niệm đang được sử dụng rộng rãi trong đánh giá giá trị di sản và sinh quyển thế giới là tổng giá trị kinh tế Riêng khái niệm về tổng giá trị kinh tế cũng có rất nhiều định nghĩa, khái niệm và cách giải thích khác nhau Chúng ta chọn một trong những khái niệm hợp lý nhất và lý giải về tổng giá trị kinh tế về di sản và sinh quyển được nhiều tác giả sử dụng trong những năm gần đây Tổng giá trị kinh tế bao gồm hai loại giá trị sử dụng (use value) và giá trị chưa sử dụng (non-use value) Điều này có nghĩa là mặc dù các khu di sản và sinh quyển chưa được sử dụng về mặt kinh tế thì nó vẫn có giá trị (UNESCO, 1996) Có thể tóm tắt tổng giá trị kinh tế như sau:
TEV = UV + NUV = (DUV + IUV) + EV
Trong đó, TEV: Tổng giá trị kinh tế; UV: Giá trị sử dụng; NUV: Giá trị chưa sử dụng; DUV: Giá trị sử dụng trực tiếp; IUV: Giá trị sử dụng gián tiếp; EV: Giá trị tồn tại cho tương lai
l Giá trị sử dụng (use value) bao gồm giá trị sử dụng trực tiếp và giá trị sử dụng gián tiếp
l Giá trị sử dụng trực tiếp (direct use values): bao gồm các nguồn thu từ du lịch, dịch vụ tham quan, nghiên cứu từ các khu di sản, các nguồn gỗ củi, thủy sản (tôm, cua, cá, sò ), du lịch, vận tải thủy# từ các khu sinh quyển
l Giá trị sử dụng gián tiếp (indirect use values): bao gồm các giá trị về niềm tự hào, trách nhiệm trước nhân loại, nâng cao trình độ dân trí, giáo dục, nghiên cứu, tuyên truyền Đối với các khu sinh quyển là các lợi ích bảo vệ đê biển, hạn chế gió bão, ngập lụt, hạn chế khí thải gây hiệu ứng nhà kính, cacbon, chu trình dinh dưỡng, lọc chất thải, tăng lượng trầm tích, cung cấp nước ngầm#
l Giá trị tồn tại: bản thân sự tồn tại của di sản và sinh quyển đã có giá trị, các danh hiệu UNESCO để lại cho thế hệ mai sau bao gồm các lợi ích mà hiện nay chưa sử dụng hoặc chưa biết sử dụng nhưng sẽ được sử dụng trong tương lai
Hiệu quả của tổng giá trị kinh tế được đo bằng tỷ lệ giữa lợi ích và chi phí Thông thường, khi mới được công nhận danh hiệu, các hoạt động du lịch, dịch vụ tăng cao, ô nhiễm còn ít lợi ích cao hơn chi phí Nhưng chỉ một vài năm sau, nếu không quản lý tốt thì di sản sẽ xuống cấp nghiêm trọng, ô nhiễm đất, nước và không khí, nét đẹp bị xuống cấp, tệ nạn xã hội tăng, làm cho chi phí tăng gấp bội và sẽ dẫn đến thất bại Việc nghiên cứu sức chứa của các khu di sản và sinh quyển là hết sức cần thiết để xây dựng các kế hoạch quản lý phù hợp
Bảo tồn làm công cụ để phát triển kinh tế-xã hội
Những giá trị của bảo tồn phải được khai thác khôn khéo, vừa tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập cho người dân địa phương, nhất là các địa phương nghèo khó, vùng sâu vùng xa Hầu hết các khu di sản và sinh quyển đều tạo ra cơ hội hấp dẫn khách du lịch trong và ngoài nước Đây là ngành công nghiệp không khói, nếu biết cách đầu tư với đa dạng loại hình, đa dạng dịch vụ sẽ tạo ra nhiều nguồn thu nhập khác nhau Từ phát triển du lịch sẽ kéo theo phát triển cơ sở hạ tầng, phát triển giáo dục đào tạo ngành nghề mới Nguồn thu nhập từ các hoạt động du lịch sẽ có được những giá trị gia tăng nếu biết cách phát triển kinh tế chất lượng, bao gồm việc đăng ký nhãn mác sản phẩm và chỉ dẫn địa lý cho các sản vật của địa phương, các nhãn hiệu hàng hóa có chất lượng cao, được gọi là kinh tế chất lượng Cùng với sự nổi tiếng của khu di sản và sinh quyển các loại hàng hóa này dễ dàng được nhiều người biết đến và mang lại những lợi ích kinh tế rất lớn ở một số quốc gia
Phát triển kinh tế để nâng cao hiệu quả bảo tồn
Khi kinh tế phát triển thì cuộc sống sẽ được cải thiện, phần lớn bộ phận dân cư có cuộc sống ổn định và trình độ nhận thức, dân trí tăng theo, các doanh nghiệp và người dân sẵn sàng và tự nguyện chi trả cho các dịch vụ như phí khi sử dụng nguồn nước sạch, nguồn tài nguyên, chi trả cho các dịch vụ sinh thái và tuân theo các nguyên tắc chi trả từ nguồn phát thải Nhà nước sẽ có nhiều nguồn thu từ thuế, phí dịch vụ và tái đầu tư cho các hoạt động bảo tồn Đặc biệt, khi ý thức người dân được nâng cao, thì áp lực lên khu di sản và sinh quyển cũng sẽ giảm đi
Trang 5Một trong các giá trị của khu sinh quyển là khả năng hấp thu các chất thải khí nhà kính, hạn chế hiện
tượng nóng lên toàn cầu và biến đổi khí hậu Các công ước quốc tế về giảm thiểu khí thải gây hiệu ứng
nhà kính sẽ tạo ra các hoạt động thương mại và thị trường cacbon Họ sẽ mua các tín chỉ cacbon của
các khu sinh quyển và trong tương lai đây sẽ là nguồn thu rất lớn của loại hình danh hiệu này
NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM TRONG NƯỚC VÀ QUỐC TẾ
Những bài học thành công
l Càng nhiều danh hiệu, càng nhiều cơ hội đầu tư cho bảo tồn và phát triển: Khu Sinh quyển Shang
Kou (Trung Quốc) có những danh hiệu: Vườn quốc gia, Khu Ramsar, Khu bảo tồn biển, Khu sinh
quyển và trạm nghiên cứu khoa học Khu Mao Lan (sinh quyển, di sản thiên nhiên, vườn quốc gia)
Các danh hiệu này được đưa vào các kế hoạch đầu tư hàng năm mà khi so sánh với những địa phương
khác không có các danh hiệu này thì họ luôn chiếm phần thắng thế Ở Việt Nam có các điển hình
như Cát Tiên, Xuân Thủy (vườn quốc gia, khu sinh quyển, khu Ramsar), Cát Bà (vườn quốc gia, khu
sinh quyển, khu bảo tồn biển) Đặc biệt, Khu Sinh quyển Cát Bà đã được UNESCO/MAB chọn để
triển khai dự án thí điểm cho khu vực Đông Nam Á và thế giới “sử dụng khu sinh quyển như những
phòng thí nghiệm học tập cho PTBV” với sự tham gia của các cơ quan ban ngành, hiệp hội, các thành
phần kinh tế tư nhân như Tổng Công ty Thép Việt Nhật, Quỹ Hỗ trợ Sáng kiến PTBV Khu Sinh
quyển Cát Bà dưới sự chỉ đạo trực tiếp của UBND thành phố
l Đăng ký nhãn hiệu hàng hóa và chỉ dẫn địa lý: tại Khu Sinh quyển Noosa, Ôxtrâylia sự nổi tiếng về
địa danh với những di sản thiên nhiên cảnh đẹp độc đáo đã được nâng cao bởi các nghệ sĩ nhiếp ảnh
và các họa sĩ của các trường phái hội họa khác nhau bên cạnh các sản vật địa phương Tại CHLB
Đức, các mô hình phát triển kinh tế dựa trên danh hiệu rất phát triển, đặc biệt ở các khu sinh quyển
Rhon, Rugen Ở Việt Nam, Khu Sinh quyển Cát Bà đã đăng ký nhãn hiệu hàng hóa với hình ảnh biểu
tượng (logo) con voọc Cát Bà cho các sản phẩm và dịch vụ của địa phương như: nhà hàng, khách
sạn, nước mắm Cát Hải, mật ong gà Liên Minh
l Kiểm soát ô nhiễm và khống chế số lượng du khách: Một số khu sinh quyển ở Trung Quốc đã xây
dựng mạng lưới kiểm soát số lượng du khách (các sensors) Tuy nhiên, có một số ý kiến cho rằng
điều này gây phản cảm cho du khách Các nhà khoa học ở đây tập trung khai thác các đề tài nghiên
cứu cơ sở khoa học về các yếu tố cấu thành sức chứa như: không gian, cơ sở hạ tầng, tiện nghi Việc
kiểm soát ô nhiễm được tổ chức rất chặt chẽ, các hệ thống giám sát và cảnh báo ô nhiễm cũng được
nâng cấp để duy trì độ bền của các công trình kiến trúc cũng như hạn chế du khách khi cần thiết
l Mô hình bốn nhà: khoa học, quản lý, doanh nghiệp và người dân địa phương: Đây là mô hình rất
thành công ở các khu sinh quyển Donana, Udaibai (Tây Ban Nha) hay Lac Saint-Pierre (Canađa)
Các kết quả nghiên cứu về các giống cây trồng, cây ăn trái, sản phẩm rượu nho, phomat được
chuyển giao cho các doanh nghiệp và đưa vào kinh doanh sau khi dán nhãn mác khu sinh quyển với
sự tham gia tự nguyện của các chủ trang trại, cộng đồng địa phương
Những bài học chưa thành công
l Sức chứa và “thảm họa sinh thái”: Một số di sản đã xuống cấp nghiêm trọng do thời gian, các bức
tượng bị xói mòn, tượng đá, đồng, các bức họa bị NOx và SOx ăn mòn do ô nhiễm không khí Tuy
nhiên, sự xuống cấp do ý thức của con người còn nghiêm trọng hơn Số lượng du khách quá cao và
xả rác, khói thuốc gây ô nhiễm nghiêm trọng đã buộc một số khu vực trong khu di sản tạm thời
đóng cửa trong một số thời gian nhất định Đối với các khu sinh quyển, các du khách từ mọi nơi
đến mang theo nhiều mầm bệnh dịch, một số loài sinh vật lạ được mang đến, gây thảm họa sinh thái
cho một vùng rộng lớn của khu sinh quyển
l Nguyên lý “tảng băng ngầm” và sự thất bại do thiếu hiểu biết: Hầu hết các giải pháp mà các nhà
quản lý ứng phó khi bảo tồn các khu di sản và sinh quyển hiện nay đều mang tính “chữa cháy”, có
nghĩa là khi sự việc xảy ra rồi người ta mới ra tay cứu chữa Việc di chuyển đàn voi được bảo tồn
Trang 6sang một cánh rừng khác mà người ta cho là phù hợp đã gây ra tai họa khủng khiếp cho người dân địa phương Đàn voi không thể kiếm ăn trên những cánh rừng khô hạn mà môi trường cũ chúng thích hợp phải là rừng mưa ẩm, chúng ra sức tàn phá hoa màu và gây chết chóc cho người dân địa phương Mâu thuẫn đã trở nên đỉnh điểm, toàn bộ chúng bị đánh bả độc trước khi lực lượng bảo tồn kéo đến Thất bại này cảnh báo hậu quả khôn lường của sự thiếu hiểu biết trong quản lý
KẾT LUẬN
Danh hiệu di sản, sinh quyển nói riêng và các hình thức tôn vinh nói chung đều mang lại những giá trị kinh tế hay còn gọi là tổng giá trị kinh tế Tuy nhiên, các loại danh hiệu này chỉ trở thành công cụ hữu hiệu làm động lực cho phát triển kinh tế của địa phương, như trường hợp Di sản Thiên nhiên Phong Nha - Kẻ Bàng, khi cán bộ quản lý và người dân địa phương nhận thức và hiểu rõ giá trị và biết cách làm cho các giá trị này thành các hoạt động kinh tế Tuy nhiên, việc xả thải rác không đúng quy định, khói thuốc lá, dẫm đạp lên các vật thể di sản trong các hang động đang là những mầm mống của sự đổ vỡ trong tương lai không xa Tư duy hệ thống đóng vai trò quan trọng trong các quá trình xây dựng kế hoạch quản lý, điều hành và vận động quần chúng tham gia Từ một hoạt động thúc đẩy du lịch hay đăng ký nhãn hiệu sản phẩm, hay chỉ dẫn địa lý thông qua danh hiệu đã được thế giới công nhận, sẽ kéo theo các thành phần khác của toàn bộ hệ thống vận động theo như nâng cấp cơ sở hạ tầng, nông nghiệp, điện, giáo dục Một chuyên gia UNESCO đã kết luận rằng “chỉ có những con người lười suy nghĩ, ít hành động thì mới bị chết đói trên những di sản mà cha ông để lại cho họ và họ cũng chẳng có
gì để lại cho con cháu mai sau”
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Socialist Republic of Vietnam, 2004 Decision of PM on Issuing the Vietnam#s Strategy for Sustainable Development (Vietnam Agenda 21) No.153/2004/QD-TTg, on17/8/2004
Socialist Republic of Vietnam, 2006 The Plan of Socio-economic Development for 5 Years 2006-2010, Hanoi, November 2006 Sustainable Development Office/Vie Project/01/021/2006, 2006 Sustainable Development in Vietnam Hanoi.
UNESCO, 1996 The Seville Strategy and the Statutory Framework of the World Network UNESCO, Paris.
UNESCO, 2005 Promotion of a Global Partnership for the UN Decade of Education for Sustainable Developmemt (2005-2014).