1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

van 12 k2 co ban

85 397 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vợ Chồng A Phủ
Tác giả Tô Hoài
Trường học Trường Trung Học Phổ Thông
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại bài soạn
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 85
Dung lượng 727 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Nắm được những đóng góp của nhà văn trong việc khắc hoạ tính cách nhân vật, sự tinh tế trong diễn tả cuộc sống nội tâm, sở trường quan sát những phong tục tập quán và lối sống của ngườ

Trang 1

Tiết 55,56 VỢ CHỒNG A PHỦ (TÔ HOÀI )A- Mục tiêu cần đạt:

- Hiểu được cuộc sống cực nhục, tối tăm và quá trình đồng bào các dân tộc vùng cao Tây Bắc vùng lên tự giải phóng khỏi áp bức kìm kẹp của bọn thực dân và chúa đất thống trị

- Nắm được những đóng góp của nhà văn trong việc khắc hoạ tính cách nhân vật, sự tinh tế trong diễn tả cuộc sống nội tâm, sở trường quan sát những phong tục tập quán và lối sống của người HMông

- Cách trần thuật linh hoạt, lời văn tinh tế mang màu sắc dân tộc và giàu chất thơ B- Phương tiện thực hiện: SGK+ SGV+Bài soạn

C-Cách thức tiến hành: Giáo viên hướng dẫn học sinh thảo luận và trả lời câu hỏi

D- Tiến trình lên lớp:

1- Kiểm tra bài cũ

2- Giới thiệu bài mới

- Năm 1943, Tô Hoài bí mật tham gia hội văn hoá cứu quốc Khángchiến chống thực dân Pháp bùng nổ, Tô Hoài làm báo cứu quốc và hoạt động văn nghệ ở Việt Bắc

Trang 2

-Năm 1947 Hội nhà văn Việt Nam được thành lập, Tô Hoài làm Tổng thư kí, pphó tổng thư kí Ông từng là chủ tịch Hội văn học nghệ thuật Hà Nội (1986-1996)

về nhà văn Tô

Hoài ?

-Một nhà văn viết rất khoẻ Một trong những cây bút văn xuôi hàng đầu của nền văn học hiện đại Việt Nam, có gần 200 đầu sách thuộc thể loại khác nhau

+Cộng am hiểu nhiều, vừa cụ thể, tỉ mỉ, vừa phong phú về đời sống

-?

c- Chủ đề -Miêu tả một đoạn đời bất hạnh của mị và A Phủ, khẳng định sức sông tiềm ẩn mãnh liệt ở Mị và sự vùng lên dù chỉ là tự phát Đồng thời làm rõ quá trình giác ngộ đứng lên tiêu diệt kẻ thù dưới sự lãnhđạo của Đảng

II- Đọc –hiểu

(phần trích dẫn –

II- Đọc –hiểu

Trang 3

- “Tảng đá” là hiện thân nỗi đau khổ đè nặng lên cuộc đời người con gái, điển hình cho bao số phận bất hạnh -“Tàu ngựa” sự so sánh cuộc đời cua Mị cũng chẳng khác gì con trâu con ngựa cảu nhàgiàu, còn khổ hơn kia “ Con trâu, con ngựa ngày đi làm, đêm còn được đứng gãi chân, nhai cỏ Đàn bà, con gái nhà này phải vùi đầu vào việc cả đêm lẫn ngày” và “ Đời người con gái lấy chồng nhà giàu ở Hồng Ngài là một đời phải đi sau lưng con ngựa của chồng”.-Khuôn mặt là diện mạo của tâm hồn Đôi mắt là cửa sổ tâm hồn lúc nào cũng “buồn rười rượi” trời ơi !

* Những dòng đầu truyện, giúp người ta nhận thức được cuộc đời của Mị Đó là số phận bất hạnh đầy đau khổ

-Vì sao Mị phải lấy

-Vì món nợ truyền kiếp (Chao ôi ! Thế là cha mẹ ăn bạc nhà giàu

từ kiếp trước Bây giờ người ta bắt bán con trừ nợ”) Cuộc đời còn

có nỗi khổ đau nào hơn thế

- Mị là một cô gái trẻ, đẹp, hồn nhiên và khao khát hạnh phúc Nhưng Mị không lấy được người mình yêu Có mấy tháng đầu “ đêm nào Mị cũng khóc”- nước mắt của đời đắng cay mặn chát, của nỗi uất nghẹn, dồn tụ Mị về trình cha để đi chết Nhưng lòng hiếu thảo đã ngăn Mị lại Vì cha, vì món nợ mà Mị cắn răng chịu đựng kiếp sống tôi đòi, nhục nhã

- Kiếp sống nô lệ triền miên - Mị tê liệt mọi sức phản kháng và chỉ còn cam chịu số phận, sống mà như chết “ ở lâu trong cái khổ, Mị quen khổ rồi Bây giờ Mị tưởng mình cũng là con trâu, con ngựa”

Mị không còn ý niệm về thời gian, không hi vọng, mong đợi, suốt ngày “ lùi lũi như con rùa nuôi trong xó cửa” Mị chỉ còn biết với công việc “ Mỗi năm, mỗi mùa, mỗi tháng lại làm đi làm lại Tết xong thì lên núi hái thuốc phiện, giữa năm thì giặt đay xe đay, đến mùa thì đi nương bẻ bắp, và dù lúc đi hái củi, lúc bung ngô, lúc nào cũng gài bó đay trên tay để tước thành sợi” Mị chỉ là thứ công cụ Đau xót biết nhường nào

-Căn buồng Mị ở “kín mít, có một chiếc cửa sổ một lỗ vuông bằng bàn tay Lúc nào trông ra cũng chỉ thấy trăng trắng, không biết là sương hay nắng”-Cuộc sống hiện tại tăm tối Nhìn về tương lai không rõ ràng “mờ mờ trăng trắng” Căn buồng ấy gợi không khí của một nhà tù, của cuộc đời người con gái không có tự do, không hạnh phúc, tuyệt nhiên cũng không có niềm vui nào ?

-Có bận Mị còn bị A Sử trói đứng trong buồng tối: “Nó xách cả

Trang 4

một thúng sợi đay ra trói đứng Mị vào cột nhà Tóc Mị xoã xuống,

A Sử cuốn luôn tóc lên cột, làm cho Mị không cúi, không nghiêngđược đầu nữa” Lúc ấy “ Mị thổn thức nghĩ mình không bằng conngựa”, trói đứng là hình phạt nặng nề dã man của chế độ phongkiến thời trung cổ

-Tác giả giới thiệu

về A Phủ như thế

nào ? Em có suy

nghĩ gì ?

b, nhân vật A phủ-Mồ côi cả cha lẫn mẹ, anh, em A Phủ cũng vì dịch mà chết, bị bán

A Phủ cho người Thái ở dưới núi A Phủ không chịu được bỏ trốn lên núi cao, lưu lạc đến Hồng Ngài sống bằng nghề làm mướn

- A Phủ đã lớn “ biết đúc lưỡi cày, đục cuốc, lại cày giỏi và đi săn

bò tót rất bạo A phủ khoẻ, chạy nhanh như ngựa Con gái trong làng nhiều người mê, nhiều người nói “ Đứa nào được A Phủ cũng bằng được con trâu tốt trong nhà, chẳng mấy lúc mà giàu” Nhưng

A Phủ không có bố mẹ, không có ruộng, không có bạc “A phủ không thể lấy nổi vợ”

- Nhưng A Phủ cũng là người khao khát hạnh phúc: “ Ngày tết, A Phủ chẳng có quần áo mới như nhiều trai làng khác A phủ chỉ có một chiếc vòng Vìa trên cổ, A Phủ cũng cứ cùng trai làng đem sáo, khèn, đem con quay và cả quả pao, quả yến đi tìm người yêu ở các làng trong vùng”

- A Phủ có sức sống mạnh mẽ, khao khát tự do Thuở nhỏ nhiều bất hạnh Nhưng đã biết sống tự lập mặc dù nghèo khổ Anh cũng là người lao động giỏi, nhiều người yêu quý Nhưng a Phủ chỉ biết kiếm sống bằng bán rẻ sức lao động của mình Đây cũng là nạn nhân của chế độ phong kiến miền núi

+ “Lũ phá đám ta đêm qua đây rồi + “ A Phủ đâu ! A Phủ đánh chết nó đi -Hàng loạt những động tác được miêu tả: chạy vụt ra, vung tay ném, xốc tới, nắm, kéo, dập đầu, xé, đánh tới tấp A phủ thật mạnh

mẽ, hiên ngang, ham chuộng tự do, gan góc Trận đòn áp đảo, khiếnngười đọc hả hê Vì người ta chỉ thấy con quan đánh người chưa thấy người dân đánh lại con quan bao giờ Đủ thấy A Phủ là người không biết sợ cho dù đó là cường quyền bạo lực

-Vụ sử kiện được

miêu tả như thế

nào ?

-Người bị sử tội bị quỳ giữa nhà, chịu đòn

“ A Phủ ra quỳ giữa nhà Mặt A phủ xưng lên, môi và đuôi mắt dập chảy máu Người thì đánh, người thì quỳ lạy, kể lể, chửi bới Xong một lượt đánh, kể, chửi lại hút Khói thuốc phiện ngào ngạt

Trang 5

tuôn qua các lỗ cửa sổ Rồi Pá Tra lại ngóc cổ lên vuốt tóc gọi A Phủ …Cứ như thế suốt chiều, suốt đêm, càng hút, càng tỉnh, càng gọi càng đánh, càng chửi, càng hút …”

Một trận đòn phũ phàng A Phủ phải gánh chịu và gánh chịu luôn

cả sự luận tội: “ Thằng a Phủ đánh người thì làng xử mày phải nộp

… Bao giờ hết nợ tao mới thôi”

-Em có suy nghĩ gì

về APhủ ? - A Phủ là người đi ở không công truyền kiếp, “ đốt rừng, cày nương, cuốc nương, săn bò tót, bẫy hổ, chăn bò, chăn ngựa quanh

năm một thân một mình rong ruổi ngoài gò”

-Sức sống tiềm ẩn

của nhân vật Mị

được miêu tả như

thế nào ?

2-Sức sống tiềm ẩn mãnh liệt của nhân vật Mị

-Nhân vật Mị trong đoạn trích chỉ có hai lần tham gia vào đối thoại + Lần thứ nhất nói với cha “ Con nay đã biết cuốc nương làm ngô Con phải làm nương ngô giả nợ thay cho bố Bố đừng bán con cho nhà giàu”

+Lần thứ hai nói với a Phủ ở đoạn cuối “ đi ngay …A Phủ cho tôi

đi …Ở đây thì chết mất”

Mị sống hầu như câm lặng Điều ấy chứng tỏ Mị có sức sống nội tâm Nó dồn nén, tích tụ âm thầm, mạnh mẽ

-Sức sống ấy bộc lộ ngay từ lúc mới bị bắt về làm dâu nhà thông lí

Mị đã phản ứng một cách quyết liệt định ăn lá ngón ý định này là tiêu cực Nhưng với Mị sống như thế thà chết còn hơn

- Sức sống được dồn nén, tích tụ từ lâu trong ý nghĩ, tâm trạng Nhất định, có dịp, nó sẽ bùng lên Đấy là buổi sáng mùa xuân khi cái tết về với đất Hồng Ngài “ Mị nghe tiếng sáo vọng lại thiết tha bồi hồi”

+ “ Mị ngồi nhẩm thầm bài hát người đang thổi:

Mày có con trai con gái Mày đi làm nương

Ta không có con trai con gái

Ta đi tìm người yêu”

Mị từ nghe đến nhẩm thầm theo lời bài hát người đang thổi Khát vọng hạnh phúc tình yêu đôi lứa như ngọn lử đang nhen nhóm lên trong lòng cô gái tội nghiệp

+ “ Mị lén lấy hũ rượu cứ uống ừng ực từng bát Rồi say…Lòng

Mị thì đang sống về ngày trước Tai Mị văng vẳng tiếng sáo gọi bạn ở đầu làng Ngày trước Mị thổi sáo giỏi …Mị uốn chiếc lá trên môi, thổi lá cũng hay như thổi sáo Có biết bao nhiêu người mê ngày đêm thổi sáo đi theo Mị” Men rượu hay men cuộc đời, men

Trang 6

hạnh phúc, men tình yêu đã khiến Mị sống với quá khứ Vì quá khứđời Mị đẹp lắm Tiếng sáo hay là âm thanh của cuộc đời ngày ấy Tiếng sáo gọi bạn cũng là tình yêu thuở xa đang trỗi dậy trong lòng

Mị Tác giả như không muốn để mất cơ hội, vì thế mạnh kể không

rẽ sang chi tiết nào ngoài tâm trạng của Mị

+ “ Đã từ nãy, Mị thấy phơi phới trở lại, trong lòng đột nhiên vui sướng như những đêm tết ngày trước Mị trẻ lắm Mị vẫn còn trẻ

Mị muốn đi chơi Bao nhiêu người có chồng cũng đi chơi ngày tết Huống chi ASử với Mị không có lòng mà vẫn phải ở với nhau” Niềm vui như hiện hình phơi phới trở lại Người con gái ấy như nhìn thấy, cảm thấy sức dào dạt của tuổi thanh xuân, tới hai lần khẳng định ( Mị trẻ lắm, Mị còn trẻ lắm )

Mị không hề mặc cảm, cứ như bùn lầy tăm tối màvươn lên ánh sáng Một khi sức sống đã khẳng định, nó mạnh mẽ lắm Nó có thể ngang bằng sổ ngay mà đấu lí Mị không bằng lòng A Sử, không yêu A Sử thì tại sao Mị cứ phải sống cam chịu mãi đến bao giờ Giữa lúc ấy tiếng gọi của tình yêu, khát vọng hạnh phúc vẫn “lơ lửng bay ở ngoài đường:

Anh ném Pao em không bắt

Em bắt Pao nào”

Tiếng gọi ấy như giục giã lòng Mị Khát vọng và sức sống đã chuyển từ tâm trạng sang cử chỉ hành động: “ Mị sắn mỡ bỏ thêm vào ống đèn cho sáng” Cho sáng lên căn buồng vốn dĩ tối tăm này, cho mở mày mở mặt, cho chút hi vọng loé sáng Mị quyết định đi chơi Trong đầu mị lúc này “ đang rập rờn tiếng sáo Những cử chỉ: + “ quấn lại cái tóc, với tay lấy cái váy hoa vắt ở phía trong vách

…Mị rút thêm cái áo” Những cử chỉ lạ, hiếm thấy ở Mị từ khi về làm dâu gạt nợ đến giờ Dường như những cử chỉ ấy chuẩn bị cho

sự bùng phát + A Sử đã dập tắt ý định đi chơi của Mị Bị trói trong buồng tối: “ Trong bóng tối, Mị đứng im lặng như không biết mình đang bị trói

… Mị vẫn nghe tiếng sáo đưa Mị theo những cuộc chơi” Trái tim

Mị vẫn thổn thức nghe lời bài hát đang thổi Mị vẫn sống với khao khát cháy bỏng Nó chỉ chờ thời cơ là vùng lên

-Sức sống của Mị

Trang 7

+ Lúc đầu ngọn lửa trong lò bốc cao cũng là lúc ngọn lửa trong lòng Mị lịm tắt Mị chẳng còn nghĩ tới chuyện đi chơi xuân nữa “

A Sử còn muốn bắt nhiều người con gái về làm vợ, Mị cũng chẳng nói gì” “ A Phủ dẫu có là cái xác không hồn cũng thế thôi” Nhưngcũng nhờ ngọn lửa “ Mị lé mắt trông sang thấy hai mắt A Phủ cũngvừa mở Một dòng nước mắt lấp lánh bò xuống hai hõm má đã xám đen lại” Mị nghĩ đến cảnh mình cũng đã từng bị trói như thế “ nhiềulần khóc Nước mắt chảy xuống miệng, xuống cổ không biết lau đi được” Mị nghĩ tới người đàn bà bị trói chết trong cái nhà này Mị nghĩ về quân ác “ Trời ơi ! nó bắt trói đứng người ta đến chết … Chúng nó thật độc ác” Mị nghĩ đến kết cục thảm thương của A Phủ “ Cơ chừng này chỉ đêm mai là người kia chết, chết đau, chết đói, chết rét phải chết” Cả những lí lẽ giản đơn của người trong cuộc “ Ta là đàn bà bị nó bắt trình ma nhà nó rồi chết đã đành Người kia việc gì phải chết” Cái lí ấy cũng xuất phát từ khát vọng sống tự do

+ Ngọn lửa trong lò không còn bốc cao nữa “ đám than đã vạc hẳn lửa”cũng là lúc ngọn lửa cuộc đời trong lòng Mị rực sáng Mị nghĩ đến chuyện của A Phủ Nhưng người nô lệ dù dũng cảm đến đâu cũng nơm nớp lo sợ:

“ Lúc ấy bố con Pá Tra sẽ bảo là Mị đã cởi trói cho nó Mị liền phải trói thay vào đấy Mị phải chết trên cái cọc ấy” Đây là chi tiết không phải là mềm yếu của Mị Đó là những chi tiết rất thật Nếu Tô Hoài để cho Mị cứu A Phủ ngay từ đầu thì không đảm bảo tính lô gíc của nội tâm nhân vật

+ Mị đã quyết định cứu A Phủ: “ Mị cầm dao cắt nút dây mây Cởitrói cho A Phủ và cởi trói luôn cả cuộc đời mình Mị tình nguyện theo A Phủ “ A Phủ ! cho tôi đi với ở đây thì chết mất” Mị đã chạy

ra “ Trời tối lắm! Mị vẫn băng đi đuổi kịp a Phủ”

độ nào đó, con người đã vụt đứng dậy

- Phải dẫn ba chi tiết:

+ Một là sự cảm thông chia sẻ với số phận bất hạnh của con người

* Mị và a Phủ đều là nạn nhân của chế độ phong kiến miền núi

* Nạn cho vay lãi là hình thức bức tử người lao động +Hai là khẳng định phẩm chất tốt đẹp của con người

* Mị và A Phủ có những phẩm chất: khao khát hạnh phúc, tự do, lao động giỏi, có lòng hiếu thảo

Trang 8

+Ba là lên án hành vi vô nhân đạo

* Vụ xử kiện

* Hành động trói vợ của A Sử

-Hai nhân vật có phần giống nhau về hoàn cảnh sống đều là người

nô lệ trong chế độ phong kiến miền núi

-Nhưng có tính cách khác nhau + Mị được miêu tả và xây dựng tính cách chủ yếu qua dòng suy nghĩ, tâm trạng nhiều hơn

+ A Phủ gan góc, bộc trực, táo bạo được thể hiện ở hành động +Ngòi bút tác giả rất tinh tế khi soi vào nội tâm nhân vật Mị diễn tảdiễn biến của tâm trạng

*Ngòi bút tinh tế trong phân tích tâm trạng *Miêu tả hành động nhân vật để khẳng định sự mạnh mẽ, táo bạo (A Phủ)

*Nhân vật A Sử lạnh lùng ác độc (Hành động trói Mị )-Hai là tả cảnh thiên nhiên và phong tục tập quán

*Thiên nhiên có những nét riêng qua đương nét và màu sắc “ Trong các làng Mỡo đỏ, những chiếc váy hoa đã đem ra phơi trên mỏm đá xoè như con bướm sặc sỡ” và “ Tiêng chó sủa xa xa những đêm tình mùa xuân đã đến” và “Tết đến giữa lúc gió thổi vào cỏ gianh vàng ửng”

*Phong tục tập quán cũng có nét riêng + “ Ở mỗi đầu làng đều có mỏm đất phẳng làm cái sân chơi chung ngày tết Trai, gái, trẻ con ra sân chơi ấy tụ tập đánh Pao, đánh quay, thổi sáo, thổi khèn và nhảy”

+ “ Ở Hồng Ngài người ta thành lệ cứ ăn tết khi gặt hái vừa xong không kể ngày tháng nào Ăn tết như thế cho kịp mưa xuân xuống thì đi vỡ nương mới”

+ “ ở đầu núi lấp ló đã có tiêng ai thổi sáo rủ bạn đi chơi” hoặc “

Cả nhà thống lí Pá Tra vừa ăn xong bữa cơm tết cúng ma Xung quanh chiêng đánh ầm ĩ Người ấp đồng vẫn còn nhảy lên xuống

Trang 9

run bần bật Hết bữa cơm lại tiếp ngay bữa rượu bên bếp lửa” + “ Trên sườn núi các nương ngô, nương lúa gặt xong Ngô lúa đã xếp yên đầy nhà kho Trẻ con đi hái bí đỏ đã tinh nghịch đốt những lều canh nương để sưởi lửa”

III- Củng cố Ghi nhớ SGK

E Tài liệu tham khảo

Tiết 57,58 Viết bài số 5 ( Nghị luận văn học)

A- Mục tiêu cần đạt:

-Củng cố cách viết bài văn nghị luận, ứng dụng kiến thức đã học vào bài viết

B- Phương tiện thực hiện: SGK+SGV+Bài soạn

C- Cách thức tiến hành: Học sinh thực hành

D- Tiến trình lên lớp:

1- kiểm tra bài cũ

2- Giới thiệu bài mới

Đề bài: Phân tích sức sống tiềm tàng trong nhân vậy Mị ( Vợ Chồng A Phủ- Tô Hoài) Đáp án: - Giới thiệu về tác giả, tác phẩm

-Giới thiệu về số phận nhân vật

-Sức sống tiềm ẩn mãnh liệt của nhân vật Mị

-Nhân vật Mị trong đoạn trích chỉ có hai lần tham gia vào đối thoại

+ Lần thứ nhất nói với cha “ Con nay đã biết cuốc nương làm ngô Con phải làm nương ngô giả nợ thay cho bố Bố đừng bán con cho nhà giàu”

+Lần thứ hai nói với a Phủ ở đoạn cuối “ đi ngay …A Phủ cho tôi đi …Ở đây thì chết mất”

Mị sống hầu như câm lặng Điều ấy chứng tỏ Mị có sức sống nội tâm Nó dồn nén, tích

tụ âm thầm, mạnh mẽ

-Sức sống ấy bộc lộ ngay từ lúc mới bị bắt về làm dâu nhà thông lí Mị đã phản ứng một cách quyết liệt định ăn lá ngón ý định này là tiêu cực Nhưng với Mị sống như thế thà chết còn hơn

- Sức sống được dồn nén, tích tụ từ lâu trong ý nghĩ, tâm trạng Nhất định, có dịp, nó sẽ bùng lên Đấy là buổi sáng mùa xuân khi cái tết về với đất Hồng Ngài “ Mị nghe tiếng sáo vọng lại thiết tha bồi hồi”

+ “ Mị ngồi nhẩm thầm bài hát người đang thổi:

Mị từ nghe đến nhẩm thầm theo lời bài hát người đang thổi Khát vọng hạnh phúc tình yêu đôi lứa như ngọn lử đang nhen nhóm lên trong lòng cô gái tội nghiệp

Trang 10

+ “ Mị lén lấy hũ rượu cứ uống ừng ực từng bát Rồi say…Lòng Mị thì đang sống về ngày trước Tai Mị văng vẳng tiếng sáo gọi bạn ở đầu làng Ngày trước Mị thổi sáo giỏi

…Mị uốn chiếc lá trên môi, thổi lá cũng hay như thổi sáo Có biết bao nhiêu người mê ngày đêm thổi sáo đi theo Mị” Men rượu hay men cuộc đời, men hạnh phúc, men tình yêu đã khiến Mị sống với quá khứ Vì quá khứ đời Mị đẹp lắm Tiếng sáo hay là âm thanh của cuộc đời ngày ấy Tiếng sáo gọi bạn cũng là tình yêu thuở xa đang trỗi dậy trong lòng Mị Tác giả như không muốn để mất cơ hội, vì thế mạnh kể không rẽ sang chi tiết nào ngoài tâm trạng của Mị

+ “ Đã từ nãy, Mị thấy phơi phới trở lại, trong lòng đột nhiên vui sướng như những đêm tết ngày trước Mị trẻ lắm Mị vẫn còn trẻ Mị muốn đi chơi Bao nhiêu người có chồng cũng đi chơi ngày tết Huống chi ASử với Mị không có lòng mà vẫn phải ở với nhau” Niềm vui như hiện hình phơi phới trở lại Người con gái ấy như nhìn thấy, cảm thấy sức dào dạt của tuổi thanh xuân, tới hai lần khẳng định ( Mị trẻ lắm, Mị còn trẻ lắm )

Mị không hề mặc cảm, cứ như bùn lầy tăm tối màvươn lên ánh sáng Một khi sức sống

đã khẳng định, nó mạnh mẽ lắm Nó có thể ngang bằng sổ ngay mà đấu lí Mị không bằng lòng A Sử, không yêu A Sử thì tại sao Mị cứ phải sống cam chịu mãi đến bao giờ Giữa lúc ấy tiếng gọi của tình yêu, khát vọng hạnh phúc vẫn “lơ lửng bay ở ngoài đường: Anh ném Pao em không bắt

Em bắt Pao nào”

Tiếng gọi ấy như giục giã lòng Mị Khát vọng và sức sống đã chuyển từ tâm trạng sang

cử chỉ hành động: “ Mị sắn mỡ bỏ thêm vào ống đèn cho sáng” Cho sáng lên căn buồng vốn dĩ tối tăm này, cho mở mày mở mặt, cho chút hi vọng loé sáng Mị quyết định đi chơi Trong đầu mị lúc này “ đang rập rờn tiếng sáo Những cử chỉ:

+ “ quấn lại cái tóc, với tay lấy cái váy hoa vắt ở phía trong vách …Mị rút thêm cái áo” Những cử chỉ lạ, hiếm thấy ở Mị từ khi về làm dâu gạt nợ đến giờ Dường như những cử chỉ ấy chuẩn bị cho sự bùng phát

+ A Sử đã dập tắt ý định đi chơi của Mị Bị trói trong buồng tối: “ Trong bóng tối, Mị đứng im lặng như không biết mình đang bị trói … Mị vẫn nghe tiếng sáo đưa Mị theo những cuộc chơi” Trái tim Mị vẫn thổn thức nghe lời bài hát đang thổi Mị vẫn sống với khao khát cháy bỏng Nó chỉ chờ thời cơ là vùng lên

- Nêu giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo

E E Tài liệu tham khảo

Trang 11

D- Tiến trình lên lớp:

1- kiểm tra bài cũ

2- Giới thiệu bài mới

Hoạt động của giáo

viên và học sinh Yêu cầu cần đạt

- Đoạn văn của Kim Lân trong truyện ngắn “Vợ Nhặt”

+ Có hai nhân vật giao tiếp chủ yếu + Có lứa tuổi ngang nhau

+ Một trai, một gái + Đều là những người nông dân nghèo khổ trong xã hội cũ

Phần b-SGK -Hai nhân vật chuyển vai lúc nói, lúc nghe người kia nói

- Lời đầu tiên của Thị hướng tới mấy cô gái cùng tỏng lúc đi làm thuê Sau đó hướng tới Tràng

Phần c-SGK Các nhân vật giao tiếp đều bình đẳng về vị thế trong xã hội

Phần d-SGK -Với mấy cô gái đi làm thuê cùng với mình thì Thị ( người con gái

theo Tràng làm vợ ) thân thuộc gần gũi Nhưng với Tràng thì xa lạ Phần e-SGK -Tuổi tác, thân, sơ, vị trí xã hội, nghề nghiệp đã quyết định chi phối

lời nói của nhân vật + Nói đùa vẻ tán tỉnh trêu trọc “ Nhà tôi ơi !”

+ Câu thiếu chủ ngữ ( thường xảy ra ở người trong cuộc ) “Thật đấy

-Đoạn trích trong truyện ngắn “Chí Phèo” của Nam Cao

+ Đoạn trích có nhiều nhân vật giao tiếp Nhưng chủ yếu có hai nhân vật Bá Kiến và Chí Phèo Còn chủ yếu chỉ nghe Bá Kiến + Nói với những bà vợ là cho nhiều người nghe để chứng tỏ mình công minh chính trực Nói với một người nghe là Bá Kiến nói với Chí Phèo

Phần b-SGK - Vị thế xã hội chênh lệch Cụ Bá là bề trên, tất cả mọi người đều sợ,

đều nể Điều đó chi phối cáhc dùng từ ngữ trong giao tiếp của Bá Kiến

Trang 12

- Với các bà vợ thì quát, đuổi gọi “ các bà” tỏ vẻ mình không thiên lệch

- Để giãn người đến xem (không có lợi cho mình ) và cũng muốn cô lập Chí Phèo cụ Bá hạ thấp giọng và dùng lời có vẻ bình đẳng “ Cả các ông, các bà nữa”

Phần c-SGK - Đối với Chí Phèo, Bá Kiến đã thực hiện được ý định trong giao tiếp:

kết hợp tất cả các phương án trả lời: A-B-C-D A- Đuổi hết mọi người chỉ để đối thoại riêng với Chí Phèo ( đuổi nhưthế nào - đuổi khéo Đuổi để cô lập Chí Phèo )

B- Bá Kiến hạ nhiệt cơn tức giận của Chí Phèo bằng cả hành động này Chí Phèo dậy, giong nói Anh Chí ơi ! cười nhạt, cái anh này Cụ đổi giọng

C- Nâng vị thế của Chí Phèo ngang với mình bằng cách nói trổng thiếu chủ ngữ “ Về bao giờ thế ? sao không vào nhà chơi? Đi vào nhà uống nước” Còn nhận Chí Phèo là họ hàng thân thiện Cụ ra vẻ bình đẳng: khổ quá giá có tôi ở nhà thì đâu đến nỗi Người lớn cả chỉ một câu với nhau là đủ

D-Bá Kiến kết tội Lí Cường và yêu cầu Lí Cường sai người nhà đun nước để tiếp đón Chí Phèo Mục đích của việc làm này là để xoa dịu mâu thuẫn, vô hiệu hoa sChí phèo, dần dần dùng cáhc chinh phục ChíPhèo, biến chí phèo thành tay sai cho Bá Kiến

Phần d-SGK -Với cáhc giao tiếp như trên, bá kiến đã đạt được mục đích Người

như Chí Phèo dễ mắc lừa Người hiểu biết thì cho bá Kiến là kẻ lọc lõi, khôn ngoan nên cảnh giác

Câu 2-SGK -Vị thế xã hội đều là người dân nhưng do tuổi tác, nghề nghiệp, bản

chất nên có sự hiểu biết khác nhau +Tuổi tác khác nhau ( già có, trẻ có ) + Nghề nghiệp khác nhau (Trí thức, người làm ruộng, cu lơ xe có ) + văn hoá khác nhau (Người có học sinh viên, nhà nho, người không

có học )

Trang 13

Câu 3- SGK

Phần a-SGK

-Bà lão láng giềng và Chị Dâu có vị thế như nhau nên gắn bó, chia sẻ,yêu thương nhau Điều đó thể hiện ở ngôn ngữ trong giao tiếp cũng như thái độ và giọng điệu

+ Gọi bác trai ( khi nói với vợ ) người vắng mặt + Gọi anh ấy ( khi nói với vợ) người vắng mặt

Tỏ thái độ gần gũi thân tình

- Kết hợp với ngôn ngữ là giọng giục và lật đật chạy sang, chạy về với vẻ băn khoăn

Phần b- SGK Bà láng giềng thể hiện sự quan tâm

+Bác trai đã đỡ rồi chứ + Này bảo bác ấy có trốn đi đâu thì trốn Chị Dậu đáp lại sự quan tâm ấy

+ Cám ơn cụ nhà cháu đã tỉnh táo + Vâng cháu cũng nghĩ như cụ Phần c-SGK -Cách giao tiếp của những người bình dân mộc mạc nhưng có lối

sống văn hoá lịch sự đáng kính trọng và làm theo

Tiết 61,62 VỢ NHẶT ( KIM LÂN )A- Mục tiêu bài học:

* Thấy được số phận vô cùng bi thảm của người nông dân nước ta trong nạn đói khủng khiếp năm 1945 Vượt lên tất cả là sức sống kì diệu , niềm khát khao tổ ấm gia đình và tình thương giữa những con người nghèo khổ ngay trên bờ vực thẳm của cái chết

* Tất cả đã được xây dựng bằng tình huống truyện độc đáo , nghệ thuật kể truyện hấp dẫn, dựng cảnh và miêu tả tâm trạng nhân vật đặc sắc của tác giả

B- Phương tiện thực hiện: SGK+SGV+Bài soạn

C-Cách thức tiến hành: Giáo viên hướng dẫn học sinh thảo luận và trả lời câu hỏi

D- Tiến trình lên lớp:

1- Kiểm tra bài cũ:

2- Giới thiệu bài mới:

Hoạt động của

giáo viên và học

sinh

Yêu cầu cần đạt

Trang 14

của Kim Lân?

Nguồn gốc: - Sinh năm 1920 và mất năm 2007

-Tên khai sinh là Nguyễn văn Tài

- Làng Phù Lưu-Xã Tân Hồng – Huyện Từ Sơn- Tỉnh Bắc Ninh

Quá trình tiến thân:

- học hết bậc tiểu học Năm 1941 viết văn đăng ở tiểu thuyết thứ bảy Trung bắc chủ nhật năm 1944 , tham gia hội văn hoá cứu quốc- lấy sự nghiệp văn học phục vụ kháng chiến và xây dựng Chủ Nghĩa Xã hội

- Đặc điểm trong sáng tác của Kim Lân: Chuyên viết về truyện Thế giới nghệ thuật của ông chỉ tập trung ở khung cảnh nông thônvà hình tượng người nông dân

- Ông viết rất hay về những thú chơi gọi là phong lưu đồng ruộng của người nông dân sau luỹ tre làng ( chó săn, đánh vật, chọi gà, chim bồ câu đang bay)

- Ông viết chân thật và xúc động về cuộc sống và con người ở nông thôn mà ông hiểu sâu sắc về họ Những con người gắn bó thathiết với quê hương và cách mạng

- Kim Lân đã xuất bản tập truyện ngắn “Nên vợ nên chồng”

Miêu tả cái đói và cái chết đe doạ cuộc sống con người ở xóm ngụ

cư Đồng thời khẳng định khát vọng hạnh phúc và niềm tin vào mối quan hệ của người nông dân với cách mạng

-Chủ đề đặt ra mấy

nội dung ? -Chủ đề là nội dung cuộc sống được phản ánh trong tác phẩm Ở tác phẩm này gồm ba nội dung

+ Cái đói, cái chết đe doạ cuộc sống conngười + Khát vọng hạnh phúc và tình thương con người + Niêm tin vào mối quan hệ của người nông dân với cách mạng

Trang 15

chi tiết nào ?

- Tình huống là tất cả những sự kiện, chi tiết xảy ra trong cuộc sống của con người Nhà văn không thể miêu tả tất cả mà phải chọn lọc Kim Lân đã tạo được tình huống độc đáo Đó là anh Tràng con bà cụ Tứ ở xóm ngụ cư làm nghề kéo xe thuê vừa xấu, vừa dở hơi tự nhiên nhặt được vợ ( có người theo về làm vợ )giữa những ngày đói kém, cái chết đe doạ con người Tình huống này chi phối cả nội dung truyện

+ Cái đói và cái chết đang đe doạ con người ở xóm ngụ cư + Khát vọng hạnh phúc và tình yêu thương của họ ( Bà cụ Tứ, Tràng và người con gái theo Tràng làm vợ )

+ Niềm tin và mối quan hệ của người nông dân với cách mạng tháng Tám

- Chỉ có hai lần gặp gỡ mà nên vợ, nên chồng

* Lần thứ nhất nghe Tràng hò bâng quơ khi kéo xe bò thóc lên dốc:

“Muốn ăn cơm trắng với giò này Lại đây mà đẩy xe bò với anh này”

(Mấy cô gái đùn đẩy, rồi một cô cười như nắc nẻ chạy lại chỗ Tràng “Có ối cơm trắng với giò đấy này nhà tôi ơi Nói thật hay nói khoác đấy”

* Lần thứ hai gặp lại, vẫn cô gái ấy, không khí câu chuyện cũng rất tự nhiên:

- “Đấy người thế mà điêu ! Hôm ấy hẹn xuống mà mất mặt ……

-Em có suy nghĩ gì

về tình huống gặp

gỡ tự nhiên này ?

- Có cái gì rất vui mà cũng thật cám cảnh Vui vì con người nên

vợ, nên chồng Đây cũng là tình cảm tự nhiên của con người Nhưng cũng thật cám cảnh Cái đói đa xlàm cho con người chẳng còn biết ý tứ, xấu hổ là gì Chỉ có bốn bát bánh đúc lúc đói mà nhặt được vợ, giá trị con người thật rẻ rúng Đây là điều thật tâm đắc Con người tự suy nghĩ về số phận của chính mình

- Mặt khác tình huống tự nhiên này cũng tạo ra sự ngạc nhiên Ngạc nhiên ở người đọc và ngạc nhiên của cả những người trong cuộc Vì vào cái thời buổi đến cái thân mình biết có nuôi nổi

Trang 16

không, lại còn đèo bòng Kim Lân muốn đưa người đọc trở về với thực tế cuộc sống lúc ấy, từ tình huống này Đó là cái đói, cái chết đang bủa vây con người

- Nhà văn thuật lại bằng những chi tiết, hình ảnh:

“ Những gia đình… lũ lượt bồng bế, dắt díu nhau lên xanh xám như những bóng ma, và nằm ngổn ngang khắp lều chợ, đi làm đồng không gặp ba, bốn cái thây nằm còng queo bên đường

Không khí vẩn lên mùi ẩm thối của rác rưởi và mùi gây của xác người”… bóng những người đói dật dờ đi lại lặng lẽ như bóng ma.Tiếng quạ trên mấy cây gạo ngoài bãi cứ gào lên từng hồi tha thiết”, “ Bữa cơm đón nàng dâu thật thảm hại chỉ có rau chuối thái rối ăn với cháo loãng và cháo cám nữa”

-Em có nhận xét gì

về chi tiết này ?

- Nhà văn không miêu tả nhiều, chỉ vài nét nhưng đã gợi ra được cái đói:

+ Những đoàn người rời bỏ quê hương đi cầu thực để mong kiếmđược miếng ăn Nét mặt họ “xanh xám” họ “bồng bế, dắt díu nhau” hẳn là có cả cụ già và trẻ em Họ đói và mệt” Nằm ngổn ngang khắp lều chợ” Không ánh sáng, không tiếng cười, nói gợi niềm vui Ánh lửa chiều bên bếp không có Tất cả chìm trong bóngtối Không phải tự nhiên, hai lần tác giả gợi lên bóng ma Họ còn sống, một cuộc sống ngắc ngoải để rồi dự báo một thế giới của cô hồn ( Hồn người chết không nơi thờ cúng )

+ Cái chết đã hiện ra “Người chết như ngả rạ” Sự so sánh này diễn tả khắp nơi nhiều người chết nằm la liệt” Ba, bốn cái xác nằmcòng queo” Người đọc tưởng tượng không khỏi rùng mình

+ Thiên nhiên cũng góp phần làm cho không gian, cảnh vật ảm đạm Gió thì” ngăn ngắt” làm rõ cái đói và cái rét thấm vào tận xương Đường làng, ngõ xóm thì “xơ xác, heo hút” Chẳng ai còn

đủ sức để đi lại, chơi bời Tiếng quạ thì gào lên “thê thiết” Loài chim này đã đánh hơi được xác người chết ở đâu đó Nghe thật rùng rợn, thật buồn

+ Nhà văn không hề tố cáo mà những trang, những dòng ấy tự nhiên là bản luận tội bọn Pháp vàNhật, thủ phạm chính gây lên nạnđói này Tác phẩm vừa như cảm thông chia sẻ với số phận bất hạnh của con người, vừa tố cáo những gì vô nhân đạo mà đế quốc pháp, Phát xít Nhật cùng chính quyền tay sai phong kiến lúc ấy gây ra Gia trị của tác phẩm là ở chỗ ấy Tình huống truyện đã góp phần làm rõ chủ đề

c- Tập trung hơn

cả tình huống

-Bằng cách miêu tả tâm trạng của nhân vật trước hoàn cảnh thực tế:

Trang 17

+ Tràng và cô gái thật táo bạo và liều lĩnh

*Bản thân Tràng biết “mình cũng chưa chắc nuôi nổi mình

mà còn đèo bòng” Nhưng anh ta “ tặc lưỡi” và “mặc kệ” Mặc kệ

có nghĩa là liều lĩnh mặc cho hoàn cảnh đưa đẩy Tràng chẳng lo

sợ gì, tính toán gì, miễn là mình có vợ

* Cô gái theo Tràng về làm vợ càng táo bạo hơn Một người đàn ông xa lạ, không hề biết một tí gì về gốc tích, hoàn cảnh sống của anh ta mà chỉ vì bốn bát bánh đúc lúc đói đã liều lĩnh theo người ta để gọi bằng chồng Ngưopừi ta lấy chồng phải có tiền cưới, tiền treo Người con trai phải “ Năm lần ra ba lần vào” quen

cả ngõ, mòn cả lối cổng Đằng này …Chao ôi! thật buồn cho sự liều lĩnh ấy

-Tâm trạng bà cụ

Tứ được miêu tả

như thế nào ?

- Sâu sắc nhất là miêu tả tâm trạng bà cụ Tứ

+ Bắt đầu bằng những cử chỉ bên ngoài quan sát được: “ phấp phỏng bước theo con” “ Đến giữa sân bà lão đứng sững lại Bà lão ngạc nhiên hơn Quái, sao lại có người đàn bà nào ở trong ấy nhỉ Người đàn bà nào lại đứng ở ngay đầu giường thằng con mìnhthế kia Sao lại chào mình bằng u? Không phải con cái Đục mà Aithế nhỉ?” Từ “phấp phỏng” đến “đứng sững lại” rồi “ngạc nhiên”

và hết ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác Nó bật lên thành câu hỏi Đây là cách nhà văn dẫn người đọc dần đến với tâm trạng nhân vật Ta như cảm thấy giữa nhà văn và nhân vật như không hề

có khoảng cách Sự hoà đồng ấy chỉ có ở nhà văn thực sự hiểu biết

và cảm thông sâu sắc với cuọc sống con người

+Sau câu nói giãi bày của Tràng: “ Nhà tôi nó mới về làm bạn vớitôi đấy u ạ Chúng tôi phải duyên, phải kiếp với nhau Chẳng qua

nó cũng là cái số cả …”, bà cụ Tứ cúi đầu nín lặng” Bà cụ không nói Nhưng lại có bao điều diễn ra trong tâm trạng: “ Thấy con mình có vợ, bà cụ Tứ thấy không biết nên buồn hay nên vui” Vui

Trang 18

vì con mình có vợ “Người ta có gặp bước khó khăn đói khổ này, người ta mới lấy đến con mình Mà con mình mới có vợ được” Bà

cụ Tứ cũng buồn vì “hiểu ra biết bao nhiêu cơ sự, vừa ai oán, vừa xót thương cho số kiếp đứa con mình” Bà cụ buồn vì gia cảnh nhàmình: “ Người ta dựng vợ gả chồng cho con là lúc trong nhà ăn nên làm nổi…còn mình thì không biết chúng nó có nuôi nổi nhau sống qua được cái đói khát này không” Bà cụ nghĩ tới trách nhiệmcủa mình “ bổn phận bà làm mẹ, bà chẳng lo lắng được cho con”

Bà cụ nghhĩ đến ông lão, nghĩ đến đứa con gái út Bà lão nghĩ đến cuộc đời cực khổ dài dằng dặc của mình” Bà cụ khóc “ Trong kẽ mắt kèm nhèm của mình rỏ xuống hai dòng nước mắt” Đây là giọtnước mắt chảy ra sau bao suy nghĩ của bà mẹ nghèo Đó là giọt nước mắt của cả cuộc đời chua cay, mặn chát

+ “May ra mà qua khỏi được cái tao đoạn này”

+ “Vợ chồng chúng nó lấy nhau, cuộc đời chúng nó liệu có hơn

bố mẹ trước kia không”

-Từ niềm hi vọng mong manh còn nặng tin vào số mệnh, bà cụ nghĩ tới triết lí muôn thuở “ Ai giàu ba họ, ai khó ba đời Có ra thìđời con cái chúng mày về sau”

- Từ hi vọng chỉ là mong manh “ Bà lão khẽ đằng hẵng một tiếng nhẹ nhàng nói với nàng dâu mới”

“ Thì các con phải duyên phải kiếp với nhau u cũng mừng lòng” “Mừng lòng” nghĩa là bà cụ chấp thuận, vui vẻ nhận dâu, nhận con Trong tâm trạng cử chỉ, lời nói mang những hi vọng cũng có nghĩa là khát vọng ở bà cụ Tứ Niềm tin và khát vọng ấy

là một phát hiện sâu sắc ở Kim Lân Sống bên cái chết, sống giữa cái chết, cái chết hàng ngày đang thò bannnf tay gân guốc đến từng nhà, mẹ con Tràng vẫn tin ở sự sống Chỉ có nguồn sống hết mình mới có niềm tin như thế

Trang 19

từ yếu tố nào ? cảm

+ “ Các con lấy nhau”

+ “ Con cái chúng mày sau này”

+ “ Con ngồi xuống đây, ngồi xuống đây cho đỡ mỏi chân”

+ “ Bà lão nhìn người đàn bà lòng đầy thương xót Nó bây giờ là dâu là con trong nhà này rồi”

+ “Thấp giọng xuống thân mật: Nhà mình thì nghèo con ạ … cốt làm sao chúng mày hoà thuận là u mừng rồi … Chúng mày lấy nhau lúc này u thương quá”

Bà cụ tứ vui vẻ nhận dâu, nhận con Đó là xuất phát từ lòng yêu thương con người, từ khát vọng hạnh phúc Điều mà nhà văn muốn khẳng định

đã kín đầy ăm ắp Đống rác mùn tung bành ngay lối đi đã hót sạch”

Ta nhận ra dường như mẹ con Tràng trước đó chỉ sống tạm bợ, sống cho qua ngày đoạn tháng Nhặt được vợ gia đình khác hẳn Thay đổi nhất là Tràng “ Tràng thương yêu và gắn bó với cái nhà của hắn lạ lùng Hắn đã có một gia đình, hắn sẽ cùng vợ sinh con

đẻ cái ở đấy Cái nhà như tổ ấm che mưa che nắng Một niềm vui sướng phấn chấn đột ngột tràn ngập trong lòng”

là sự phát hiện, đồng cảm và sự trân trọng niềm vui sướng rất Người này ở tầng lớp nông dân nghèo trong xã hội thối nát

Trang 20

+ Tràng nhặt được vợ góp phần thức tỉnh ý thức của mọi người vàcủa chính mình, làm cho gia đình thực sự là tổ ấm

+ Tràng nhặt được vợ còn làm cho những khuôn mặt ở xóm ngụ

cư u tối “ bỗng rạng rỡ hẳn lên”

Nhặt là tính từ chứ không phải là động từ như người ta nhặt cái rơm cái rác Nhặt mang tư tưởng nhân văn và ý nghĩa xã hội d- Đoạn kết

- Em có suy nghĩ

gì ?

- Cũng chỉ có ba nhân vật Thêm vào đó là tiếng trống thúc thuế từđình vọng vào tạo không khí căng thẳng Vợ Tràng giữ vị trí quan trọng trong đoạn kết Vợ Tràng kể một cách rất tự nhiên “ Trên mạn Thái Nguyên, Bắc Giang người ta không chịu đóng thuế nữa đâu Người ta còn phá cả kho thóc của Nhật chia cho người đói nữa đấy” Vô hình lời nói ấy của vợ Tràng đã khơi dậy những gì rất lớn lao của thực tế đời sống Nhất là câu hỏi của Tràng “Việt Minh phải không” và lời đáp của người vợ “ ừ, sao nhà biết” Hình ảnh cuối truyện dù chỉ là hiện lên trong suy nghĩ của Tràng: “ Trong ý nghĩ của hắn vụt hiện ra cảnh những người nghèo đói ầm

ầm kéo nhau đi trên đê Sộp Đằng trước có lá cờ đỏ to lắm… Trong

óc Tràng vẫn thấy đám người đói và lá cờ đỏ bay phấp phới”

- Chi tiết cuối truyện có được cũng là nhờ vợ nhặt Tình huống truyện có ảnh hưởng suốt từ đầu đến cuối truyện

- Vợ chồng Tràng có tham gia Việt minh hay không, ta không thể khẳng định được Nhưng ta tin rằng mối quan hệ giữa người nông dân nghèo khổ với cách mạng tháng Tám là một điều chắc chắn III- Củng cố Phần ghi nhớ SGK

+ Cái tài miêu tả tâm trạng

+ Suy cho cùng là cái tình của Kim Lân Đó là sự cảm thông và

Trang 21

gắn bó của nhà văn với cuộc sống người lao động nghèo khổ Câu 2-SGK - Đoạn kết cả ba nhân vật ( ba mẹ con bà cụ Tứ ) đều xuất hiện

+ Tiền trống thúc thuế tạo không khí căng thẳng, nơm nớp lo sợ + Câu hỏi của người con dâu với mẹ chồng, cách kể tự nhiên những gì vợ Tràng thấy đã khoiư dậy hiện thực lớn lao Bão táp cáhc mạng của quần chúng nổi dậy Tình huống truyện chỉ đạo suốt từ đầu đến cuối truyện

+ Cách hỏi của Tràng và nhớ lại sự việc đã chứng kiến như là sự ủnén những gì của khát vọng con người để chờ dịp vùng lên

+ Hình ảnh lá cờ đỏ tung bay với đoàn người đi trên đê Sộp như là

sự vẫy gọi

E Tài liệu tham khảo

Tiết 63 NGHỊ LUẬN VỀ MỘT TÁC PHẨM, MỘT TRÍCH ĐOAN VĂN XUÔI

A-Mục tiêu cần đạt: -Củng cố và nâng cao tri thức về nghị luận văn học

-Hiểu và biết cách làm bài nghị luận về tác phẩm truyện và một trích đoạn truyện B-Phương tiện thực hiện:

SGK+SGV+Bài soạn

C-Cách thức tiến hành: Nêu vấn đề, gợi ý trả lời, hướng dẫn thảo luận

D-Tiến trình thực hiện bài dạy:

1-Kiểm tra bài cũ

-Qua đọc hiểu em nghĩ như thế nào là “ vợ nhặt”?

ĐA: + Cái đói, cái chết đang đe doạ con người Những chi tiết tiếng hờ khóc, mùi khói đống rấm, mùi ẩm thối của rác rưởi và xác người

+ Khát vọng hạnh phúc, niềm tin vào cuộc đời, lòng yêu thương con người

+ Tràng nhặt được vợ góp phần thức tỉnh ý thức của mọi người và của chính mình, làm cho gia đình thực sự là tổ ấm

+ Tràng nhặt được vợ còn làm cho những khuôn mặt ở xóm ngụ cư u tối “ bỗng rạng rỡ hẳn lên”

=>mang tư tưởng nhân văn và ý nghĩa xã hội

2-Giới thiệu bài mới

Hoạt động của giáo

viên và học sinh

Yêu cầu cần đạt

Trang 22

ví dụ: Đề 1- SGKvừa đặt ra nội dung và nghệ thuật

Đề 2- SGK đặt ra vấn đề về nghệ thuật-Phân tích nhân vật có

Ví dụ: Qua truyện ngắn “Chí Phèo” Nam Cao đã phát hiện

ra vấn đề mới mẻ ở nông thôn giai đoạn (1930-1945) Đó là mâu thuẫn gay gắt không thể giải quyết một cách đơn giản mà quyết liệt bằng máu Suy nghĩ của anh(chi)về vấn đề này qua nhân vật Chí Phèo

-Sau khi vào đề bài viết cần đạt được các ý:

+Mâu thuẫn gay gắt nhất, quyết liệt nhất ở nông thôn giaiđoạn(1930-1945)là mâu thuẫn nào?

+Tại sao mâu thuẫn đó không giải quyết đơn giản mà phải quyết liệt và cả bằng máu ? Nó được thể hiện như thế nào qua nhân vật Chí Phèo ?

*Bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người của Chí Phèo(…)

*Chí Phèo chỉ có thể đâm chết kẻ thù và tự sát +Nhận định của đề ra đúng hay sai?

+Mở rộng vấn đề (Bằng cách đào sâu thêm một khía cạnh)

*Cuộc đấu tranh quyết liệt đẫm máu qua kết cục thảm thương của Chí Phèo là một dự báo của Nam Cao (…)

+Nêu ý nghĩa tác dụng của vấn đề đặt ra

Trang 23

II-Những yêu cầu đặt

1- Xác định được yêu cầu của đề nghĩa là nghị luận về vấn

đề gì của tác phẩm (nội dung tư tưởng hay nghệ thuật, hoặc cả nội dung, nghệ thuật )

2-Xác định được thao tác chính của đề (giải thích hay bình luận, so sánh hay phản bác, phân tích hay chứng minh…) 3-Tuy nhiên muốn làm tốt bài nghị luận về truyện, một đoạn trích truyện phải là sự kết hợp của nhiều thao tác làm văn nghị luận Miễn sao làm rõ, làm sâu để cho người đọc đồng tìnhvới mình

4-Phải chú ý tới bố cục bài viết Bài viết gồm 3 phần: a-Mở bài:giới thiệu một cách tư nhiên vấn đề cần nghị luận

b-Thân bài: Thực hiện các thao tác nghị luận để làm

-Mở bài: Nguyễn Công Hoan là một trong tác giả đặt nền móng cho nền văn xuôi hiện đại Việt Nam Tác phẩm của ông “có giá trị như một bách khoa toàn thư, sống động về xã hội niệt Nam và thời Pháp thuộc” Truyện ngắn “tinh thần thể dục”đăng trên báo tiểu thuyết thứ bảy số 251 ra ngày 25-3-

1939 Đây là thời kì mà chính quyền thực dân pháp đã lơi lỏng

sự kiểm duyệt Nguyễn Công Hoan đã vạch rõ tính chất bịp bợm của cái gọi là “Tinh thần thể dục”mà thực dân pháp cổ động để đánh lạc hướng thanh niên Truyện đã miêu tả mâu thuẫn giữa một bên là chính quyền thực dân và chức dịch kì hào với một bên là tình cảnh khốn khổ của người dân nghèo để làm bật lên tiếng cười mỉa mai châm biếm

-Thân bài: 1-Qua truyện người đọc nhận biết điều gì? +Người đọc tiếp nhận tờ trát của quan trihuyện Lê Thăng Sức hương lí làng Ngũ Vọng lời lẽ tờ trát vừa

có sự nghiêm ngặt của lệnh vừa đề cao tinh thần thể dục Hàng loạt các từ Hán Việt (Thừa lệnh, tinh đường, chỉnh tề, sẵn sàng, tuân lệnh, cữu, sức, khiếm diện, quan khách) đã thể hiện

rõ tinh thần tờ trát Chúng lôi kéo thanh niên vào con đường vui khoẻ, trẻ trung ở thời nào cũng cần đến sức khoẻ Nhưng

Trang 24

với lúc này, nhiệm vụ cứu nước phải đặt lên hàng đầu Từ đó tacàng thấy âm mưu của thực dân Pháp Chúng muốn thanh niên ham mê với phong trào vui vẻ, trẻ trung sẽ xa rời nhiệm vụ cứunước

+Chen vào tờ trát là lời lẽ “Nhiều chiến tướng đá rất hay mọi nhẽ” Đọc những câu này ta tưởng khi đặt bút viết tác giả nhếch mép mỉa mai cái tinh thần thể dục mà chính quyền thực dân và tay sai đặt ra

+Đối với tinh thần nội dung nghiêm ngặt của tờ trát là tâm trạng của những người dân nghèo buộc phải đi xem đá bóng Đây là lời van xin của:

*Anh Mịch: “Lạy ông, ông làm phúc tha cho con, mai con phải đi làm trừ nợ cho ông nghị, kẻo ông ấy đánh chết”và

“cắn cỏ con lạy ông trăm nghìn mớ lạy”, đến năn nỉ “ông thương phận nào con nhờ phận ấy”

*Có người mang lễ vật đến xin ông Lí: “bác phô gái dịu dàng đặt cành cau lên bàn: Lạy thầy, nhà con thì chưa cắt cơn

…lạy thầy, quyền phép trong tay thầy, thầy tha cho nhà con đừng bắt nhà con đi xem đá bóng vội”

*Bà cụ Phó Bính mắt kèm nhèm: “Thì lòng thành ông Lí

cứ nhận đi cho cháu”

Họ là những nạn nhân của tinh thần thể dục Ngôn ngữ của

kẻ yếu, thấp cổ bé họng kêu cũng chẳng thấu Đối lập với ngôn ngữ của họ là lời lẽ của ông Lí

*Đáp lại những lời van xin của những người khốn khổ là sự

đe lạt, doạ dẫm của ông Lí “Kệ mày, chết đói hay chết no đây tao không biết” và “Tao thương chúng bay nhưng ai tương tao” Thì ra cái tinh thần thể dục kia vui vẻ đến mức nào khôngbiết, chỉ thấy bao nhiêu người đã khốn khổ vì nó Ngay đến cả ông Lí cũng lo sốt vó

Cái đáng cười là người ốm cũng không được tha Vẫn là lời của ông Lí: “ốm gần chết cũng phải đi, lệnh quan như thế Ai cũng lấy ốm yếu mà không đi thì người ta đá bóng cho chó xemà” Thật khốn khổ cho người ốm và nực cườicho cái tinh thần thể dục mà chính quyền thực dân đặt ra

Bốn trường hợp:anh Mịch, bác Phô gái, bà cụ phó Bính, thằng Cò chỉ là đại diện cho người dân có danh sách phải đi xem đá bóng Tinh thần, thái độ của họ đối lập với tinh thần thểdục mà thực dân tay sai đặt ra Những người nông dân ấy chẳnghào hứng gì Bởi cái tinh thần thể dục kia chẳng đem lại cho họcái gì, chỉ gây cho họ phiền toái và trực tiếp làm cho họ phải đói cơm, rách áo Dựng lên hoàn cảnh này và qua những lời

Trang 25

thoại của các nhân vật, Nguyễn Công Hoan chĩa tiếng cười châm biếm đầy mỉa mai vào chính quyền thực dân và bọn phong kiến tay sai mặt khác nhà văn chia sẻ với những nạn nhân của tinh thần thể dục

2-kết quả thật đáng cười như thế nào?

Đến giờ xuất phát, làng Ngũ Vọng cũng tập hợp được 94 người mặc dù còn thiếu 6 người theo quy định Cảnh tượng diên ra ở sân đình hôm ấy thật đáng chú ý Những người

bị bắt đi xem không một lời Họ lẳng lặng như tù binh giải trại

ta chỉ thấy tiếng quát tháo của ông Lí “94 thằng ở đây xếp hàng năm lại đi cho đều bước tuần chúng bay phải kèm chung quanh giúp tao Đứa nào trốn về thì ông bảo” và ‘Mẹ bố chúng nó, cho đi xem bóng đá chứ ai giết chết mà phải trốn nhưtrốn giặc” Cái lo lắng, buồn phiền sự chửi bới của ông Lí đã chứng minh cho sự thảm hại của cái gọi là tinh thần thể dục kia Đọc đoạn này người ta chỉ thấy bật lên tiếng cười châm biếm

3-Tiếng cười ấy là kết quả của những mâu thuẫn nhà văn

đã tạo ra cụ thể như thế nào?

+Giữa chính quyền thực dân tay sai với người dan nghèo

+Giữa cách tổ chức, yêu cầu nghiêm ngặt với khó khăn của người dân

+Giữa sự khuếch trương với xin được ở nhà và trốn tránh

Các mâu thuẫn này tạo ra rất tự nhiên như chính đời sống Nó làm cho truyện vừa chân thật mà chứa đầy cái đáng cười, đáng mỉa mai Giá trị hiện thực gắn liền với giá trị phê phán

4-Đánh giá về cái nhìn và sự lựa chọn cũng như sử dụng ngôn ngữ của nhà văn qua so sánh

Nguyễn Công Hoan là nhà văn hiện thực Cái nhìn cuộc đời của Nguyễn Công Hoan khác với Vũ Trọng Phụng

-Vũ Trọng Phụng nhìn vào sự thật để chửi thẳng vào xã hội chó đểu

-Nguyễn Công Hoan nhìn vào hiện thực, phát hiện ra những mâu thuẫn tự nhiên để làm bật lên tiếng cười hài hước -Vũ Trọng phụng có tài chụp nhanh những cảnh người thật việc thật để có những trang phóng sự nóng hổi nguyễn Công Hoan có biệt tài trong kết cấu của của tryện ngắn qua dựng cảnh, dựng người, qua đối thoại

Trang 26

Kết bài : Nguyễn Công Hoan không chỉ đối thoại với người đọc còn định hướng cho một cách sáng tác cục thể Bất luận, dù ai viết về truyện ngắn không thể bỏ qua các bước:dựngcảnh, tạo tình huống đối thoại, lựa chọn chi tiết Đặc biệt tạo ra mâu thuẫn chung, riêng để góp phần làm rõ chủ đề truyện ở mỗi thời đại một khác

Đề 2-SGK Hướng dẫn học sinh về nhà làm

Sau khi vào đề, bài viết cần đạt được các ý:

1- Một trong những thành công của truyện “Chữ người

tử tù”là sử dụng ngôn ngữ, tạo không khí cổ xưa

-phiến trát –tờ lệnh của cấp trên truyền xuống -Sơn Hưng Tuyên đốc bộ đường –Dinh quan tổng đốc Sơn Hưng Tuyên

từ làng xa đưa lại mấy tiếng chó sủa ma Một ngôi sao hôm nhấp nháy như muốn chụt xuống phía chân giời không định” Tác giả như đẩy thời gian về quá khứ, tạo một không gian tĩnh lặng

3-tuy nhiên cũng cần nhận ra tác giả đã làm sống lại, đúng hơn là phục chế cái cổ xưa bằng kĩ thuật hiện đại

*Đó là sự phân tích tâm trạng con người (Huấn Cao, Quản Ngục )trong khi văn học trung đại thiên về kể, ít tả

và không thể hiện diễn biến tâm trạng

4-So sánh với “Hạnh phúc của một tang gia”

-Nếu Nguyễn Tuân sử dụng nhiều từ Hán Việt, câu văn có nhịp điệu chậm rãi, tạo không khí tĩnh lặng, đẩy thời gian về quá khứ thì Vũ Trọng Phụng sử dụng ngôn ngữ hiện đại (Min đơ, Min toa, TYPN, Phán dây thép )Cách so sánh của Vũ Trọng phụng : “Buồn như nhà buôn vỡ nợ”, “nghĩa là như diễn viên trên sân khấu” giọng văn Vũ Trọng Phụng mangtính trào phúng vì xen váo đó là lời nói hài hước, lời nói ngược : “Cái chết kia làm cho nhiều người sung sướng lắm”,

Trang 27

“Thành thử trong tang gia ai cũng vui vẻ cả” Cách diễn đạt vừa

có lí lại vừa vô lí: “phải chết một cách bình tĩnh” hoặc “ vô tình gây ra cái chết của ông già đáng chết”

5-So sánh không phải để khẳng định ai hơn ai mà mang lại ý nghĩa thực tế

-Mỗi nhà văn đều có những biệt tài khác nhau trong

sử dụng ngôn ngữ -Ngôn ngữ là yếu tố thứ nhất của văn học Nhưng

nó chỉ có giá trị văn học khi được bàn tay sàng lọc và cách sử dụng của người nghệ sĩ

-Ngôn ngữ văn học thật phong phú đa dạng

-Mỗi nhà văn đều để cho ta học tập được nhiều điềusâu sắc lí thú

E Tài liệu tham khảo

Tiết 64,65 RỪNG XÀ NU (NGUYỄN TRUNG THÀNH)A-Mục tiêu bài học:

*Nắm được tư tưởng cơ bản mà tác giả gửi gắm qua những hình tượng của thiên truyện –sự lựa chọn con đường đi của dân tộc trong cuộc đấu tranh chống lại âm mưu, hànhđộngtàn ác của kẻ thù

*Thấy được vẻ đẹp của chất sử thi và nét đặc sắc của Tây Nguyên trong tác phẩm *Nhận thức được ý nghĩa và giá trị của tác phẩm trong hoàn cảnh chiến đấu chống đế quốc Mĩ lúc bấy giờ và cả trong thời đại ngày nay

B- Phương tiện thực hiện: SGK+SGV+Bài soạn

C- Cách thức tiến hành: Giáo viên hướng dẫn học sinh thảo luận và trả lời câu hỏi D-Tiến trình lên lớp:

1-Kiểm tra bài cũ

Thực hiện yêu cầu của SGK- câu1

2-Giới thiệu bài mới

Hoạt động của Giáo

viên và học sinh Yêu cầu cần đạt

I-Đọc –tìm hiểu -Sinh năm 1932 Tên khai sinh là Ngyễn Văn Báu, tập kết ra bắc

Trang 28

về Tây Nguyên bất khuất

-Năm 1954 tập kết ra Bắc Năm 1962 tình nguyện trở về chiến trường Miền Nam, hoạt động ở khu v, là Chủ tịch chi hội văn nghệ giải phóng miền Trung Trung bộ, phụ trách tạp chí văn nghệ Quân giải phóng của Quân khu v

-Sau năm 1975, Nguyễn Trung Thành ra Hà Nội là phó tổng thư kí Hội nhà văn khoá III và IV

-Tác phẩm chính: + “ Đất nước đứng lên” (1955)-giải nhất Hội văn nghệ Việt Nam 1954-1955

+ “ Rẻo cao” (1961) + “Trên quê hương những anh hùng Điện ngọc” (1969) + Tiểu thuyết “ Đất Quảng” ( 2 tập- 1971-1974 )

Văn Nguyễn Trung Thành đậm chất sử thi và cảm hứng lãng mạn Ông được nhà nước tặng thưởng văn chương Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật năm 1996

-Thông thường là dựa vào chủ đề

- Cũng có thể dựa vào chi tiết đậm nhất của truyện: đó là hình ảnh mười đầu ngón tay T Nú bị đốt cháy Theo sơ đồ dưới đây, chúng ta nắm được cách đọc –hiểu theo cách thứ hai:

Cây xà nu Những ngày đi ở tù về, xây dựng gia đìnhtrúng đạn đi liên lạc nuôi , lập làng chiến đấu, mài Con người cán bộ Bị địch vũ khí đợi ngày nổi dậy

bị sát hại bắt Cây xà nu vươn lên

Trang 29

T Nú sau khi đi giải phóng về T Nú lên đường -Chỉ nổi lên nhân vật T Nú Song làm nên sức mạnh của T Nú còn có

lũ làng mà tiêu biểu là cụ già Mết Đặc biệt không có điều kiện để nhấn mạnh ý nghĩa một rừng ccây, một rừng người

+ “Trong rừng có hàng vạn cây, không cây nào là không bị thương”

Đó là hình ảnh khái quát nỗi đau của cả miền nam phải chịu đựng Đến những hình ảnh cụ thể:

+ “ Có những cây bị chặt đứt ngang nửa thân mình, đổ ào ào như một trận bão Ở chỗ vết thương, nhựa ứa ra tràn trề, thơm ngào ngạt, long lanh nắng hè gay gắt, rồi dần dần bầm lại, đen đặc quyện thành từng cục máu lớn”

+ “ Có những cây con vừa lớn ngang tầm ngực người, lại bị đại bác chặt đứt làm đôi ở những cây đó nhựa còn trong, chất dầu còn loãng, vết thương không lành được cứ loét mãi ra, năm mười hôm thì cây chết”

Ta thấy như con người đang bị đau đớn, cái chết đang vây lấy, đang

đe doạ Đằng sau hình ảnh ấy là những con người của dân làng Xô Man bị sát hại

T Nú còn nhỏ đi liên lạc cho cán bộ bị chúng bắt được Chúng tra tấn

dã man “ lưng dọc ngang những vết chém”

- Chúng bắn doạ Dít: “ lên đạn tòm xông từ từ bắn từng phát một”

- Chúng giết mẹ con Mai ( vợ, con T Nú )bằng trận mưa cây gậy sắt

- Chúng đốt mười ngón tay T Nú bằng nhựa xà nu Nói sao hết những đau thương mà đông bào ta ngày ấy phải chịu đựng Ta đã bắt gặp nỗi đau ấy trong thơ Nguyễn Bính (gửi vợ miền Nam ) đặc biệt là thơ Tố Hữu ( Thù muôn đời muôn kiếp không tan,

Lá thư Bến Tre ) Ta làm sao quên:

Trang 30

+ Ở cuối truyện , chúng ta bắt gặp sức sống và sự lớn dậy: “ Ba người đứng ở đấy nhìn ra xa Đến hút tầm mắt cũng không thấy gì khác ngoài những rừng xà nu nối tiếp chạy đến chân trời”

=> Sức sống của cây xà nu tạo thành rừng mỗi ngày một sinh sôi, nảy

nở Nó tương trưng cho sức lớn mạnh không ngừng của cách mạng miền Nam, cho con người miền Nam trung kiên, bất khuất, anh dũng tuyệt vời

+ “ T Nú không kêu một tiếng, anh trợn mắt nhìn thằng Dục”

+ “ T Nú nhắm mắt lại rồi mở mắt ra trừng trừng”

=>Đôi mắt của lòng quả cảm, của sự bình tĩnh, dồn nén những uất ức đau thương để trút tất cả căm thù trước lũ giặc

-Đến những con người cụ thể trong truyện:

Cụ già Mết: có “ bàn tay nặng trịch như một kìm sắt” Đôi mắt

“quắc thước”, “ râu dài tới ngực và đen bóng, mắt sáng xếch ngược”,

“ ông ở trần ngực căng như một cây xà nu lớn” Cụ là một già bản, là linh hồn của cả lũ làng Xô Man Cụ Mết và T Nú đã vận động dân làng gùi đã về mài vũ khí, dựng làng chiến đấu, chờ ngày nổi dậy Cụ nói với lũ làng : “ Chúng nó đã cầm súng mình phải cầm giáo” Lời nói ấy vừa là sự sống, chết quyết tử vừa khẳng định con đường đúng đắn của cách mạng miền Nam Đó là dùng bạo lực của quần chúng cách mạng đè bẹp bạo lực phản cách mạng Lời cụ Mết như một chân

lí sáng ngời Ta nhớ tới câu nói của chị Út Tịch trong tác phẩm

“Người mẹ cầm súng” của Nguyễn Thi “ Mình đánh lại nó để nó không đánh được mình” Giản đơn là vậy

Cả tiểu đội ác ôn bị giết gọn “ Thằng Dục gục dưới lưỡi mác cụ Mết” T Nú được cứu sống Cuộc tập kích nhanh, bất ngờ của cụ Mết

Trang 31

và lũ thanh niên vào tiểu đội giặc là một trận đánh: “ Lửa đã tắt trên mười đầu ngón tay T Nú Nhưng đống lửa xà nu lớn ở giữa nhà vẫn

đỏ Xác mười tên lính ngổn ngang quanh đống lửa đỏ” Đống lửa cháy rực giúp ta nhận ra gương mặt của cụ Mết, của đám thanh niên trong làng “ Mỗi người một cảng rựa sáng loáng, những cây rựa mài bằng đá T Nú mang từ núi Ngọc Linh về” Sức mạnh của quần chúng

đã nhất tề nổi dậy Ta không thể quên hình ảnh cụ Mết: “ Chống giáo xuống nhà, tiếng nói vang vang Thế là bắt đầu rồi ! Đốt lửa lên Tất

cả người già, người trẻ, người đàn ông, người đàn bà, mỗi người phải tìm lấy một cây giáo, một cây mác, một cây dụ, một cây rựa Ai không có thì vót chông, năm trăm cây chông, năm trăm cây chông” Miền Nam nhất tề nổi dậy, đánh giặc bằng mọi thứ vũ khí có trong tay

-Nhân vật chính trong truyện là T Nú:

+T Nú mồ côi cả cha lẫn mẹ, được dân làng cưu mang Cụ Mết bảo

“ Đời nó khổ, nhưng bụng nó sạch như nước suối làng ta” Thuở nhỏ

đã biết đi nuôi cán bộ thay cho thanh niên bị giết Học chữ thì khó vào “ Học chữ ô thì quên mất chữ o” nhưng đi đường thì lanh lẹn như con sóc và rất thạo Bị địch bắt tra tấn dã man, T Nú không khai nửa lời Nó còn kịp nuốt bức thư vào bụng Khi địch hỏi “ Cộng sản

ở đâu?” T Nú trỏ vào bụng mình: “ Cộng sản ở đây” Tuổi nhỏ mà chí lớn Lúc ấy T Nú chỉ biết bảo vệ bức thư như bảo vệ cán bộ + Đôi bàn tay T Nú bị giặc đốt bằng nhựa xà nu “ Cháy như mười ngọn đuốc” là hình ảnh mang đậm tính thẩm mĩ Vì sao ?

* Người đọc thấy được tội ác của giặc dã man, tàn ác đến tột cùng

mà sức chịu đựng của con người cũng đến mức tột cùng

* T Nú không thấy bỏng rát Lửa cháy trong lồng ngực Trong đôi mắt anh bây giờ là hai cục lửa lớn” “ T Nú nằm suy nghĩ Mai chết rồi, đứa bé cũng đã chết rồi T Nú cũng sẽ chết T Nú không tiếc, chỉ tiếc rằng không sống đến ngày nổi dậy” Ngọn lửa trong mắt, trong trái tim anh Đó là ngọn lửa của tình yêu thương, căm thù cháy bỏng Anh không tiếc đời nên càng không sợ chết, chỉ tiếc không có mặt trong ngày nổi dậy Con người đã từng giáp mặt với kẻ thù, đã từng

bị bắt, bị tra tấn mới có được phẩm chất ấy Đó là con người nửa đời lửa đạn Anh không hề kêu van vì với anh “ Người cộng sản không biết van xin”

* Đôi bàn tay T Nú giúp người đọc nhận ra quá trình trưởng thành của anh Đó là bàn tay của con người biết nhận thức về mình, khi học cái chữ không vào đã càm đã đập vào đầu “ Đầu tôi ngu quá” và chỉ vào bụng mình trả lời thằng giặc “ Cộng sản ở đây”

* Đó là đôi bàn tay của tình cảm con người, khi thổ lộ tình yêu: “ Năm slấy bàn tay Mai lúc ở tù về” và “ Đôi cánh tay như hai gọng

Trang 32

kìm ôm lấy vợ con”

* Đó là đôi bàn tay của hành động “ rẽ cây rừng đi liên lạc”, bàn tay nhặt đá về mài rựa, dụ giáo, mác … Bàn tay cụt mười đốt vẫn bắnđược súng, bóp cổ thằng giặc dưới hầm sâu, lập nhiều chiến công xuất sắc

Đó là đôi bàn tay của người anh hùng trên quê hương của Đam Săn, Xinh Nhã, của anh hùng Núp thời đánh Pháp Là hiện thân của con người miền Nam kiên cường

là Đảng Đảng còn thì núi nước này còn” Đấy là sức mạnh của Đảng

đã gieo niềm tin vào cuộc sống Đảng chăm lo cho dân Đảng bày chodân học cái chữ ( Anh Quyết dạy T Nú, Mai học chữ ), Đảng hướng dẫn dân tổ chức làng chiến đấu Vì thế dân càng tin yêu, càng ra sức bảo vệ Đảng Người già đi nuôi cán bộ bị bắt, bị giết thì thanh niên đithay Thanh niên đi nuôi cán bộ bị bắt, bị giết thì con nít đi thay Ba thế hệ dân làng, con người Xô Man nối tiếp nhau bảo vệ Đảng Nhiều đêm T Nú và Mai phải ở lại rừng vì “ không nỡ để cán bộ ở một mình Nếu giặc lùng lấy ai dẫn cán bộ chạy” Đảng và dân gắn bókhông rời

+ Đó là mối quan hệ giữa lũ làng với T Nú Hai chi tiết thật cảm động Người ta đón T Nú sau ba năm đi giải phóng về như đón người thân yêu ruột thịt Những tiếng gọi “ Anh T Nú”, “ T Nú”, “ Thằng

T Nú”, đến tiếng chửi của một cụ già “ Cha đẻ mẹ con cháu ! Sao mày không chờ tao chết rồi về một thể có được không” Chi tiết thứ hai cả lũ làng ai cũng chăm sóc T Nú Những câu hỏi: “ Thằng T Nú đâu rồi ? Cho ăn no rồi chứ ông Mết ?” “ Cũng có người, các bà cụ cầm cả cây đuốc còn cháy rực đi thẳng vào soi lên mặt T nú nhìn đi nhìn lại thật kĩ” Cả lũ làng nghe cụ Mết kể về cuộc đời T Nú Người

ta chăm chú nghe, rất tự hào về T Nú như tự hào về người anh hùng của lũ làng mình Khi Dít, bí thư chi bộ kiêm xã đội trưởng hỏi: “ Đống chí về có giấy không” Mọi người đang ồn ào bỗng im lặng chờđợi Người ta tin mà cũng lo Nhưng rồi tiếng nói, tiếng cười lại vang lên vì T Nú có giấy phép “ Có chữ kí của người chỉ huy” Tình yêu thương và sự gắn bó không vượt ra ngoài nguyên tắc Tình cảm ở thờiđại ta là vậy

-Ngoài tình cảm

chung, còn phải kể

tới tình cảm riêng

như thế nào ?

-Tác giả không miêu tả nhiều Trong chiến tranh dường như cái riêng

ít nói tới Vì người ta phải tập trung cho cái lớn hơn Vả lại nếu có nóitới tình riêng cũng phải gắn liền với cách mạng

+ Mối tình giữa T Nú và Mai đầy ắp những kỉ niệm Kỉ niệm của

Trang 33

tuổi thơ cùng đi nuôi cán bộ Có những sự việc giữa hai người mà làm cho người ta nhớ mãi Đấy là chuyện học chữ “ Mai học giỏi hơn T Nú Ba tháng đọc được, viết được cái ý của bụng mình muốn nói, sáu tháng làm được toán hai con số T Nú học chậm hơn lại hay nổi nóng Nó hay quên” Có lần thua Mai nó lấy đá đập vào đầu chảy máu ròng ròng Có lần T Nú hỏi Mai “ Mai nói cho tôi hcữ o có móc

là chữ chi đi … chữ gì có cái bụng to” Người mất, người còn thì những kỉ niệm ấy nhớ mãi Họ đã trở thành đôi bạn đời của nhau Mối tình ấy cũng để lại cho lòng người thân thương thêm nhớ Một người đã ngã xuống vì kẻ thù Một người còn đó Hẳn là người sống mang tình yêu đi đến trọn đời Đấy cũng là bao câu chuyện tình của bao lứa đôi thời đánh Mĩ trên đất nước mình

+ Khuynh hướng sử thi của truyện

- Chuyện của một đời được kể trong một đêm + Tác giả rất có tài trong trần thuật Đó là sự kết hợp hai mạch truyện về cuộc đời T Nú và sự nổi dậy của dân làng Xô Man

* Vì thế phải rất khéo trong sự kết hợp hai mạch truyện

* Sắp xếp các lớp thời gian

* Tạo dựng tình huống

Cụ thể là: kể về cuộc đời T Nú nhưng không đơn lập mà gắn với cuộ sống của lũ làng:

- Người kể theo kết cấu kiểu cuối -đầu –giữa

- Cuối truyện Vì thế thời gian rất linh hoạt Sự sắp xếp để tình huốngtruyện rất phù hợp Người đọc hoàn toàn chấp nhận được

Đặc biệt lồng ghép chuyện của một đời T Nú với cuộc nổi dậy củadân làng Xô Man không chỉ tài trong trần thuật, sắp xếp các lớp thời gian, tạo dựng tình huống mà làm nổi bật chân lí:

- Người anh hùng sinh ra từ nhân dân, không phải xa lạ

- Trong thời đại chúng ta không có số phận cô dơn

- Phản ánh cuộc chiến tranh nhân dân ( Chiến tranh toàn dân) đánh địch bằng vũ khĩ có trong tay, khẳng định chân lí lớn lao “ Chúng nó đã cầm súng mình phải cầm giáo mác”

- Hãy phân tích yếu

tố nghệ thuật thứ

- Xây dựng hệ thống nhân vật

Trang 34

hai ? + Mỗi nhân vật xuất hiện có diện mạo riêng, gắn với tình tiết cụ thể

+ Trước kẻ thù miêu tả đôi mắt “ mở to” của Mai, “Bình thản” của Dít

+ Hình dáng đôi mắt xếch, bộ dâu dài đen bóng, ngực nở căng và giọng nói ồm ồm của cụ già Mết

+ T Nú gắn với đôi bàn tay bị giặc đốt cháy như mười ngọn đuốc + Sức mạnh của lũ làng qua chi tiết “ đất dưới chân rùng rùng chuyển động” và câu nói của cụ già Mết bắt đầu cho một giai đoạn mới “ Thế là bắt đầu rồi ! đốt lửa lên…”

+ Có nhiều câu nói thể hiện chân lí lớn lao:

* “ Đời nó khổ, bụng nó sạch như nước suối làng ta”

* “ Cụ Mết bảo Đảng là cán bộ, Đảng còn thì núi nước này còn”

* “ Chúng nó đã cầm súng mình phải cầm giáo mác”

Sức sống mạnh mẽ của dân làng được thể hiện qua sức sống cây xà

nu Miêu tả nhân vật, tác giả đã thẻ hiện tính sử thi, tái hiện được những con người mang cốt cách của cả cộng đồng

-Chi tiết nghệ thuật

thứ ba được thể

hiện như thế nào ?

Khuynh hướng sử thi của truyện + Tái hiện được những sự kiện quan trọng của miền Nam trước và sau ngày Đồng Khởi

* Trước ngày Đồng Khởi “ Tiếng súng và tiếng chó sủa vang khắpnúi rừng” Chúng đi lùng bắt cán bộ và những người kháng chiến cũ Chúng giết những người đi nuôi cán bộ, bắn giết người dã man Bà Nhan, anh Xút, mẹ con Mai … đều bị sát hại Hành động dã man đốt mười đầu ngón tay T Nú

* Sau ngày Đồng Khởi: Dân làng Xô Man vùng lên + Xây dựng nhân vật mang cốt cách cộng đồng ( như trên ) + Ngôn ngữ: trang trọng, phù hợp với sắc thái của đồng bào dân tộc Tây Nguyên qua lời nói tượng trưng so sánh

“ Đố nó giết hết được cây xà nu của đất này đấy”, qua ngôn ngữ miêu

tả cây xà nu

III- Củng cố Ghi nhớ SGK

E Tài liệu tham khảo

ĐỌCTHÊM: Tiết 66

Trang 35

BẮT SẤU RỪNG U MINH HẠ(TRÍCH HƯƠNG RỪNG CÀ MAU )

Quá trình tiến thân: Học hết bậc trung học, Sơn Nam tham gia cáchmạng từ năm 1945 và hoạt động văn nghệ chống Pháp ở khu IX Từ

1954 đến 1975 Ông làm báo ở Sài Gòn Sau năm 1975 ông là Hội viên Hội nhà văn Việt Nam, uỷ viên BCH Hội liên hiệp văn học nghệ thuật thành phố Hồ Chí Minh

Tác phẩm chính:

* Thời kì chống Pháp: Tây đầu đỏ, Bên rừng cù lao Dung

* Thời chống Mĩ: Hương rừng Cà Mau, Hai cõi U Minh, Vọc nước giỡn trăng, Bà chúa Hàn, Chim quyên xuống đất (tiểu thuyết ),Tìm hiểu đất Hởu Giang văm minh miệt vườn ( khảo cứu )

* Thời kì sau 1975: Bến Nghé xưa, Đất Gia Định xưa, Đồng bằng sông Cửu Long –Nét sinh hoạt xưa

“ Hương rừng Cà Mau” gồm 18 truyện ngắn viết về những con người lao động, có sức sống, đậm sâu ân nghĩa, tài ba trí dũng, gan góc can trường Bộc lộ tình yêu quê hương, đất nước Cách dựng truyện nhiều chi tiết li kì, nhân vật giàu chất sống, ngôn ngữ đậm sắc thái địa phương Nam Bộ

1- ông Năm Hên

-Người thợ già chuyên bắt sấu ở Kiên Giang đạo ( huyện Kiên Giang ) đã chủ động tìm đến ngọn rạch Cái Tàu Ông là người nôngdân nghèo vì nhìn trong thuyền ba lá ( thuyền nhỏ ) có “ vẻn vẹn

Trang 36

-Ông Năm Hên

được miêu tả như

thế nào ?

một lọn nhang trần” (loại nhang chỉ có người nghèo dùng )

- Bài hát gọi hồn của ông nghe thật ảo não rùng rợn Đó là gọi những cô hồn ( người chết không nơi chôn cất vì sa vào miệng hùm beo, cá sấu Những con người xáu số thiệt phận ấy chỉ vì miếng cơm, manh áo mà phải lìa bỏ gia đình người thân “ xa cây xa cối /

xa cội xa nhành” Bài hát thể hiện nỗi lòng thương tiếc của người sống với những người xấu số thiệt phận, thể hiện tình cảm của người nông dân

- Bài hát ấy cũng thể hiện ông Năm Hên là người có cái khác thường Đúng ông là người có cái khác thường

+ Nhận mình là người thợ bắt sấu trên khô, không cần lưỡi như người đi câu cá sấu Mà lại “ bắt bằng tay không” và “ sấu ở ao giữarừng tôi bắt nhiều lần rồi” Ông còn giảng giải cho người ta biết “ Theo người khác thì họ nói đó là bùa phép để kiếm tiền Ngề bắt sấu có thể làm giàu được Nhưng tôi không mong thứ phú quái đó” -Tài bắt sấu của

ông Năm Hên

được miêu tả như

thế nào ?

+ Chỉ cần người dẫn đường + Dùng mưu bắt sấu

Ao cá sấu ở Rạch do ông Năm Hên và Tư Hoạch đào cho cạn dần nước ở trong ao

+ Đốt lửa cho bén xuống lau sậy loại to trong ao Nước cạn Cá sấu

bị nóng buộc theo rạch đào sẵn lên rừng

+Sấu há miệng đớp người bị ông Năm Hên đút vào miệng sấu khúc mướp làm dính chặt hai hàm răng Cắt cái gân đuôi làm đuôi sấu bị

tê liệt Lấy dây thừng trói hai chân sau quặt về phía sau Càn chân trước để sấu tự bơi sau thuyền

-Em có suy nghĩ gì

về cách bắt sấu của

ông Năm Hên ?

-Mưu mẹo thật tài ba Đúng là tay không mà bắt sấu Người đọc người nghe chứng kiến mọi sự việc đều rất hợp lí Mới hay người nông dân ở xứ rừng sông nước Cà Mau này trần trụi với thiên nhiên, hiểu biết thiên nhiên, dẫu có phải đối mặt với hiểm nguy vẫn sáng tạo mọi cách để vượt qua và chiến thắng

- Đó là người nông dân sống chất phác, thuần hậu, ngay thẳng, không lợi dụng để kiếm tiền, lừa người khác Ông Năm Hên bắt cá sấu như loại trừ một thảm hoạ của thiên nhiên đối với con người Trong khó khăn, ác nghiệt con người đã nảy sinh ra sáng kiến Đâycũng là đặc điểm của người dân Nam Bộ ở vùng cực nam tổ quốc nói riêng và đất nước ta nói chung

Trang 37

- Có sức khoẻ mà vô mưu cũng không làm được việc gì Phải suy nghĩ để tìm ra kế sách Ông năm Hên bắt sấu đã giúp ta rút ra bài học ấy

- Ngôn ngữ địa phương giàu yếu tố thổ ngữ

E Tài liệu tham khảo

Tiết 67,68 NHỮNG ĐỨA CON TRONG GIA ĐÌNH

NGUYỄN THIA- Mục tiêu bài học:

* Hiểu được sự gắn bó sâu nặng giữa tình cảm gia đình, yêu nước và yêu cách mạng, giữa truyền thống gia đình với truyền thống dân tộc đã tạo nên sức mạnh tinh thần to lớn của con người Việt Nam, dân tộc Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước

* Nắm được những đặc sắc về nghệ thuật thiên truyện Nghệ thuật trần thuật đặc sắc, khắc hoạ tính cách và miêu tả tâm lí sắc sảo, ngôn ngữ đậm chất Nam Bộ

B-Phương tiện thực hiện: SGK + SGV + Bài soạn

C- Cách thức tiến hành: Giáo viên hướng dẫn học sinh thảo luận và trả lời câu hỏi

D- Tiến trình lên lớp:

1- Kiểm tra bài cũ

-Nghệ thuật kể chuyện của tác giả và cách sử dụng ngôn ngữ có gì đáng lưu ý ?

-ĐA: - Nghệ thuật kể chuyện rất ngắn gọn mà nghe như không khí huyền thoại Cốt truyện thì như cổ tích Nhân vật không hề bộc lộ tâm trạng và diễn biến tâm trạng, nói là làm Nói như thế nào thì làm như thế Nói tóm lại nhân vật không bộc lộ nọi tâm, không

có đời sống phức tạp

- Ngôn ngữ địa phương giàu yếu tố thổ ngữ

2- Giới thiệu bài mới

Hoạt động của giáo viên

Trang 38

Quá trính tiến thân:

- Năm 1943 vào Sài gòn, vừa đi làm, vừa tự học

- 1945 tham gia cách mạng và sung vào lực lượng vũ trang Nguyễn thi vừa chiến đấu vừa hăng hái hoạt động văn nghệ, làđội trưởng đội văn công sư đoàn 330 Ông làm thơ, vẽ tranh, soạn bài hát và sáng tác điệu múa

- Đầu năm 1955, Nguyễn Thi tập kết ra Bắc, công tác tại tạp chí văn nghệ quân đội với bút danh Nguyễn Ngọc Tấn với tập

“ Trăng Sáng” ( 1960 ) và “ Đôi Bạn” ( 1962 ) đã dự báo triểnvọng của một tài năng

- Năm 1962, ông tình nguyện trở lại chiến trường công tác tại cục chính trị quân giải phóng miền Nam, phụ trách tạp chí văn nghệ quân giải phóng Ông đã có mặt ở những vùng đất

ác liệt nhất như Bến Tre, Đồng Tháp Mười

- Năm 1968, tổng tấn công Mậu Thân, Nguyễn Thi đã hi sinh anh dũng ở ngã bảy Sài gòn, giữa lúc tài năng đang độ chín

- Sáng tác của Nguyễn thi gồm nhiều thể loại : Bút kí, truyện ngắn, tiểu thuyết Những tác phẩm in trong “ Truyện

và kí” Nguyễn Thi ( 1978 ) Năm 1996 Nhà xuất bản văn học cho ra đời Nguyễn Ngọc Tấn – Nguyễn Thi Toàn tập ( 4 quyển ) Nguyễn Thi được tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật năm 2000

-Nguyễn Thi có biệt tài phân tích tâm lí nhân vật Văn của Nguyễn Thi vừa giàu hiện thực, vừa đậm chất trữ tình Đặc biệt sử dụng ngôn ngữ đậm chất Nam Bộ, tạo nên nhân vật có

cá tính mạnh mẽ

2- Văn bản

a- Tóm tắt truyện

- Tóm tắt truyện ?

Trang 39

Ba, Má, phát huy truyền thống gia đình

II- Đọc –hiểu

1- Chiến và Việt là

những đứa con sinh ra

trong một gia đình có

thù sâu với đế quốc và

phong kiến Một gia

-Đó là chi tiết cuốn sổ gia đình Đây là cuốn gia phả -ghi chép

hệ thống và thứ bậc trong gia đình Ta thường thấy ở nhiều giađình có nền nếp sống Nội dung gia phả thường ghi

+ Họ tên khai sinh + Tên huý ( đặt trước lúc mất ) + Mất ngày ( cúng giỗ )

+ Nơi an táng

Cuốn sổ chú Năm ghi tuy không đầy đủ như thế nhưng cũng khá tường tận:

+ “ Thím Năm đi xuồng dọc lá chuối bị ca nông Mỏ Cày bắn

bể xuồng chết còn mặc cái quần mới, trong túi còn hai đồng bạc, giỗ nhằm ngày …”

+ “ Ông nội nghe súng nổ sợ bò đứt dây ra nắm giàm ( dây xỏmũi bò ), lính tổng phòng vào nói “ mày là du kích” rồi bắn vào giữa bụng ộng nội, giỗ nhằm ngày …”

+ “ Ngày 29 tháng chạp âm ( tháng 12) đại diện Toả cho lính đến cắt lúa của bác Hai nói là ruộng của Việt Minh cấp, có chửi “ đù mẹ”, rồi đập bể cái trã kháp rượu ( nồi cất rượu) Ngày quận Sơn dắt lính Mỏ Cày về bao nhà hỏi bà nội chú Năm trốn đâu, bà nội nói không biết Quận Sơn bắt bà nội cúixuống giữa sân đánh bà nội ba roi … Ngày ba mươi tháng sáunhằm trời tối, Týa của Việt ôm đệm đi ngủ ngoài bờ bị lính Tây bốt Kinh Ngang bắt chặt đầu, má Việt ôm rổ đi đòi đầu lượm được hai ngàn đồng của chi bộ, tía Việt giấu ở bờ ruộng

… Tất nhiên cả má Việt sau này bị đại bác bắn chú Năm cũng sẽghi

+ Sau đó chú Năm có ghi một số công tác của gia đình

- “ ông nội đi đóng đáy ( đóng cọc giăng lưới bắt cá ) ở sông Bình khánh có mò được hai cây mút mát ( loại súng tay )dưới tàu chìm”

- “ Thằng hai con chú Năm đi về phép, lúc ngang lộ Giồng Trôm thấy cốt ngã ba (lô cốt giặc ) liền bò vào đặt trái ( mìn ),lấy cốt xong bó năm cây súng vác về xã nhà”

Trang 40

“ Dưới câu này chú Năm có ghi còn nhiều việc thỏn mỏn ( nhỏ ) tôi ghi không hết, để rồi sắp nhỏ nó ghi thêm Kế câu

đó là chiến công của chị em Việt và Chiến trên sông Định Thuỷ

-Em có nhận xét gì về

cuốn sổ gia đình ?

-Một việc dù chỉ là ghi chép không đầy đủ nhưng nó thiêng liêng lưu giữ cho con, cháu, các thế hệ đời sau biết được đôi nét về cụ kị, cha ông mình đời trước

- Đây là một gia đình có thù sâu với phong kiến và đế quốc Đông thời đó còn là gia đình có truyền thống cách mạng Tuykhông làm đến cấp nọ, cấp kia nhưng trực tiếp tham gia chiến đấu, gom góp vũ khí cho đằng mình

- Người trực tiếp ghi cuốn sổ này là chú ruột ( chú Năm ) của Chiến Việt hiện còn đầu đạn trên bả vai Cả má của Chiến, Việt nữa Chồng hi sinh thắt lưng buộc bụng làm mướn nuôi con “ Đôi bắp chân má tròn vo lúc nào cúng dính đất Má lội hết đồng này sang bưng khác, con mắt tìm việc, bàn chân dọ đường Má xin đi làm công cấy, công gặt” để nuôi các con khôn lớn Đến cả những việc “ đi dọ tình thế bọn lính” ( gác cho các cô chú họp Nếu có lính thì báo để các cô, các chú xuống hầm ) Những ngày địch lùng sục, bao nhà chúng hỏi “

Vợ Tư Năng đâu” Má ra trước cửa trả lời “ vợ Tư Năng đây”

Má không hề run sợ Dường như cả cuộc đời vất vả của má,

cả những nguy hiểm gian lao mà má trải qua tất cả được gom lại, dồn lại ở ý nghĩ: Mong con mau khôn lớn

Má nhàn bọn lính với đôi mắt sắc ánh lên, đôi mắt của người

đã từng vượt sông vượt biển”

- “ Má đi đấu tranh ở Mỏ Cày về Ca nông nó bắn đuổi theo Một trái rơi bịch trên lộ, trước mặt má không nổ Má đến dòmdòm rồi bỏ luôn vào rổ cắp về Một trái khác đã văng miếng trúng má khi má về tới đầu xóm Má chết Trái ca nông lép trong rổ vẫn còn nóng hổi”

Đúng là gia đình có truyền thống cách mạng Đây là cơ sở tạo nên bản chất kiên cường không sợ địch của Việt và Chiến Ở đất nước ta nói chung ở miền Nam nói riêng có bao gia đình như thế Chúng ta rất tự hào

-Đó là Việt nhớ lại câu nói của chú Năm:

“ Chú thường ví chuyện gia đình nhà ta nó dài như sông để rồi chú sẽ chia cho mỗi người một khúc mà ghi vào đó .biển thì rộng lắm, chị em Việt lớn lên rồi sẽ biết, rộng bằng cả nước ta và ngoài cả nước ta”

Đây là đoạn kể tự nhiên qua lời độc thoại Truyền thống gia

Ngày đăng: 27/07/2013, 01:28

Xem thêm

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình ảnh thu nhỏ - van 12 k2 co ban
nh ảnh thu nhỏ (Trang 29)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w