Thể loại: Thể thơ hát nói Thơ hát nói là văn bản ngôn từ, phần lời ca của bài hát nói.. + Hình thức thể loại: Thơ hát nói là loại tổng hợp nhiều thể thơ lục bát, ngũ ngôn, thất ngôn,
Trang 1Tuần
4
Tiết 13: Đọc văn
Bài ca ngất
Trang 2Đền thờ Nguyễn Công Trư
Trang 3I Đọc hiểu tiểu dẫn:
1 Tác giả:
Nêu vài nét về cuộc đời của
Nguyễn Công Trư?
Trang 4BÀI CA NGẤT NGƯỞNG
I Đọc hiểu tiểu dẫn:
1 Tác giả:
a Cuộc đời:
- Nguyễn Công Trứ : 1778 – 1858, tự là Tồn Chất, hiệu là Ngộ Trai, biệt hiệu là Hi Văn.
- Quê : Uy Viễn, Nghi Xuân, Hà Tĩnh.
- Sinh ra trong gia đình Nho học Ông học giỏi, tài hoa, văn võ song toàn
- Năm 1819 thi đỗ Giải nguyên và được bổ làm quan NCT có nhiều tài năng và nhiệt huyết trên nhiều lĩnh vực hoạt động xã hội: văn hóa, kinh tế, quân sự.
- Con đường làm quan của NCT không bằng phẳng
Trang 5Chân dung Nguyễn Công Trư Tượng Nguyễn Công Trư bằng đồng
Trang 6b Sự nghiệp thơ văn.
- Sáng tác hầu hết bằng chữ Nôm Thể loại yêu
thích là Hát nói.
- NCT là người đầu tiên đem đến cho Hát nói
một nội dung phù hợp với chức năng và cấu trúc của nó.
2 Văn bản:
a Hoàn cảnh sáng tác: Viết sau khi về hưu.
Nêu vài nét về sự nghiệp thơ văn của
Nguyễn Công Trư?
Trang 7Bài ca ngất ngưởng được
làm theo thể thơ gì?
Đ c điểm cua thể thơ đo ? ă
Trang 8b Thể loại: Thể thơ hát nói
Thơ hát nói là văn bản ngôn từ, phần lời ca của bài hát nói Hát nói là làn điệu chủ đạo của lối hát ca trù (còn gọi là hát ả đào, hát nhà trò, hát nhà tơ…)
Thơ hát nói có những đặc điểm sau đây:
+ Nội dung thể loại: chứa những tư tưởng tình cảm tự do phóng khoáng
+ Hình thức thể loại: Thơ hát nói là loại tổng hợp nhiều thể thơ (lục bát, ngũ ngôn, thất ngôn, câu đối, câu chữ Hán…) Câu thơ có câu dài, câu ngắn khác
nhau, vần và nhịp tự do, lời thơ mang ngữ điệu nói với giọng buông thả tự do
+ Thơ hát nói có hai dạng: dạng chính cách và dạng biến cách
Ở dạng chính cách thì một bài thơ hát nói có mười một câu, chia làm ba khổ: khổ đầu bốn câu, khổ giữa bốn câu, khổ xếp chỉ có ba câu và câu cuối cùng chỉ có sáu chữ
Ở dạng biến cách thì một bài thơ hát nói có thể thiếu khổ hoặc dôi khổ ở giữa bài
Bài ca ngất ngưởng của NCT thuộc loại biến cách, dôi khổ, cụ thể là dôi hai
khổ giữa Bài thơ gồm năm khổ: khổ đầu bốn câu, ba khổ giữa mỗi khổ bốn câu
và khổ xếp ba câu, tổng số mười chín câu
Trang 9Bài ca ngất ngưởng Nguyễn Công Trứ
Vũ trụ nội mạc phi phận sự,
Ông Hi Văn tài bộ đã vào lồng.
Khi Thủ khoa, khi Tham tán, Khi Tổng đốc Đông,
Gồm thao lược đã nên tay ngất ngưởng
Lúc bình Tây, cờ đại tướng,
Có khi về Phủ doãn Thừa Thiên.
Đô môn giải tổ chi niên,
Đạc ngựa bò vàng đeo ngất ngưởng
Kìa núi nọ phau phau mây trắng,
Tay kiếm cung mà nên dạng từ bi.
Gót tiên theo đủng đỉnh một đôi dì,
Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng.
Được mất dương dương người tái thượng,
Khen chê phơi phới ngọn đông phong.
Khi ca, khi tửu, khi cắc, khi tùng,
Không Phật, không Tiên, không vướng tục.
Chẳng Trái, Nhạc cũng vào phường Hàn, Phú.
Nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ chung,
Trong triều ai ngất ngưởng như ông!
Trang 10
Bài ca ngất ngưởng có thể được chia làm mấy phân? N i dung cua ô
từng phân?
Trang 11c Bố cục:
- Phần 1 (6 câu đầu): Nguyễn Công Trứ tự hào về cái
“ngất ngưởng” của ông khi còn làm quan.
- Phần 2 (câu 7 → 16): Nguyễn Công Trứ tự hào về cái
“ngất ngưởng” của ông khi về hưu.
- Phần 3 (câu 17 → 19): Nguyễn Công Trứ tự hào vì trước sau ông đều giữ trọn nghĩa vua tôi
d Giải thích từ khó và điển cố (xem chú thích)
Trang 12Từ ngất ngưởng xuất hiện mấy lần
trong bài thơ? Xác định nghĩa cua từ
ngất ngưởng qua các văn cảnh sử
dụng đo.
Trang 13II Đọc hiểu văn bản:
1 Cảm hưng chủ đạo: Tập trung vào từ ngất ngưởng- xuất hiện
4 lần trong bài thơ
Theo cuốn Từ điển tiếng Việt (Viện nghiên cứu ngôn ngữ,
1992) từ “ngất ngưởng” có hai nghĩa: “1 Ở tư thế không vững, lắc lư nghiêng ngả như chực ngã 2 cao và gây cảm giác không
vững, dễ đổ”
Nhưng ở bài thơ này, từ “ngất ngưởng” có nghĩa là chỉ một kiểu người, một lối sống Đó là lối sống có bản lĩnh, phá cách, coi thường công danh phú quý, coi thường cả dư luận khen chê, sống với tài năng và phẩm chất của mình, sống với những cái mình ưa thích.
→ Ngất ngưởng: Là phong cách sống nhất quán của Nguyễn
Công Trứ: kể cả khi làm quan, ra vào nơi triều đình, và khi đã nghỉ hưu Tác giả có ý thức rất rõ về tài năng và bản lĩnh của
mình.
Trang 14
Xác định nghĩa của câu thơ đầu? Câu thơ đầu thể hiện quan niệm gì
của NCT?
Ngôn ngữ trong câu 2 có gì đặc biệt? Dựa
vào văn bản Bài ca ngất ngưởng em hãy
giải thích vì sao Nguyễn Công Trư biết
rằng làm quan là gò bó, mất tự do nhưng ông vẫn ra làm quan?
Trang 152 Lối sống ngất ngưởng của Nguyễn Công Trư:
a Nguyễn Công Trư ngất ngưởng khi làm quan
(6 câu đầu)
- Câu thơ chữ Hán hết sức trang trọng: Vũ trụ nội
mạc phi phận sư → quan niệm làm trai của NCT
Ông có ý thức rất rõ về vai trò, trách nhiệm làm
trai trong XHPK
- Ngôn ngữ tự xưng: Ông Hi Văn + tài bộ → thái
độ tự tôn cá nhân, bộc lộ cái ngông.
- vào lồng: NCT coi công danh là lồng, bị ràng
buộc, mất tự do nhưng ông vẫn ra làm quan vì đó
là con đường để ông thực hiện hoài bão.
Trang 16
NCT ôn lại những công tích gì cua mình
trong cu c đơi làm quan cho nhà ô
Nguyễn? Các từ khi, co khi được sử
dụng noi lên điều gì?
gì?
Trang 17- NCT tự cho rằng cái hơn người của ông là ở tài năng, là đa tài từ văn tới võ: Thủ khoa, Tham tán, Tổng đốc đông, chiến công “bình Tây, cờ đại tướng”, Phủ doãn Thừa Thiên, có tài thao lược.
* Âm điệu nhịp nhàng của bài hát nói + cách ngắt nhịp linh hoạt + từ Hán Việt + điệp từ, nghệ thuật liệt kê… → gợi ra từng bước đường vinh quang
mà ông đã trải qua => niềm tự hào của tác giả về
trở nên ngất ngưởng.