1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Tuần 22. Tràng giang

55 228 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 55
Dung lượng 16,75 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp,Con thuyền xuôi mái nước song song, Thuyền về nước lại, sầu trăm ngả; Củi một cành khô, lạc mấy dòng.. Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp, Con thuyền

Trang 1

Tràng Giang Huy Cận

Trang 2

Tiể u d

ẫn

Trang 3

(1919 – 2005)

Quê ở làng

Ân Phú , huyện

Hương Sơn, tỉnh

Hà Tĩnh

H

U Y C

cách mạng ở nước ta

Trang 4

Huy Cận là một nhà thơ lớn, một đại biểu xuất sắc của phong trào Thơ Mới với hồn thơ ảo não…

Trang 5

Hồn xuân

Mai sau

Trang 7

Cô đơn, sầu muộn khó hoá giải

Trang 10

B uồn thương về cuộc đời, kiếp người, về quê hương đất nước

Trang 11

Hồn thơ "ảo não", bơ vơ cố tìm được sự hài hòa và mạch sống âm thầm trong tạo vật và cuộc đời

Trang 12

Thơ Huy Cận thiên về suy tưởng triết lý hơn là giãi bày, bộc lộ

Trang 13

Nghệ Thuật

Trang 14

chủ nghĩa

tượng trưng

trong thơ Pháp kết hợp và dung hoà cái hàm súc, sâu lắng của

thơ Đường

Trang 15

vẻ đẹp cổ điển

mà hiện đại

Trang 16

Sau CMT8

Trang 17

Huy Cận rưng rưng chân thành trở về hòa nhập với cuộc sống.

Nhà thơ mở rộng tâm hồn cho cuộc sống ùa vào

Trang 18

Phát hiện chất thơ biểu hiện tinh

vi, phong phú trong đời thường

Anh tặng em buổi sáng hôm nay

Có hoa sen nở hồ Tây trắng hồng

Tặng em trời mát như sông

Trong veo chảy giữa đôi dòng cây xanh

(Buổi sáng hôm nay)

Trang 19

Tiếng thơ Huy Cận trong tập thơ

“Hai bàn tay em” rất hồn nhiên, ngộ nghĩnh nên dễ đi vào tâm trí trẻ thơ

Bé gọi con dế Quen nấp đầu hồi

Dế kêu the thé Giật mình bưởi rơi

Trang 21

Từ sau Cách mạng tháng Tám, tiếng thơ trở nên đằm thắm, sâu nặng nghĩa tình; cảnh sắc thiên nhiên ấm áp, xôn xao hơn nhiều

Trang 22

TÁC P H M Ẩ

Trang 23

Hoàn cảnh sáng tác: viết vào mùa thu năm 1939 khi đứng trước sông Hồng mênh mông sóng nước

Trang 24

Tràng giang Hán Việt

Gợi một không gian cổ kính,trang trọng và bát ngát như trong Đường thi

“Duy kiến trường giang

thiên tế lưu”

Trang 26

Tác phẩm mang âm hưởng của thơ mới với nhiều cách tân hiện đại ở phong thái và nghệ thuật , tuy nhiên hồn thơ vẫn thấm đượm mạch đập truyền thống với những

ti nh hoa của văn chương trung đại

Cái tôi mạnh mẽ ở ngòi bút hiện đại của Huy Cận trong “Trường giang” đã thu mình ẩn sau thiên nhiên hùng vĩ của một vũ trụ bao la rộng lớn “Trường giang” là mối giao tuyệt mỹ giữa vẻ đẹp cổ điển

và hơi thở hiện đại trong văn học.

Trang 27

Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp, Con thuyền xuôi mái nước song song, Thuyền về nước lại, sầu trăm ngả; Củi một cành khô lạc mấy dòng.

Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu,Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều.Nắng xuống, trời lên sâu chót vót;Sông dài, trời rộng, bến cô liêu

Bèo dại về đâu, hàng nối hàng;Mênh mông không một chuyến đò ngang.Không cầu gợi chút niềm thân mật,Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng

Lớp lớp mây cao đùn núi bạc,Chim nghiêng cánh nhỏ : bóng chiều sa.Lòng quê dợn dợn vời con nước,Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà

Tràng Giang

Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài

H.C

Trang 28

trời rộng sông dài

Cái vô biên của vũ trụ bất tận

Trang 29

Khi đối diện với cái vô cùng, vô tận của không gian và cái vô thuỷ, vô chung của thời gian, con người cảm nhận một cách thấm thía nỗi cô đơn, sự nhỏ nhoi của chính mình , thấy mình bơ vơ, lạc lõng

Trang 30

Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp,

Con thuyền xuôi mái nước song song, Thuyền về nước lại, sầu trăm ngả;

Củi một cành khô, lạc mấy dòng.

Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp,

Con thuyền xuôi mái nước song song, Thuyền về nước lại, sầu trăm ngả;

Củi một cành khô, lạc mấy dòng.

Những vòng xoáy đang lan ra, gối lên nhau, xô đuổi nhau đến vô tận tựa nỗi buồn âm thầm mà da diết, khôn nguôi.

Trang 31

Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp, Con thuyền xuôi mái nước song song, Thuyền về nước lại, sầu trăm ngả;

Củi một cành khô, lạc mấy dòng.

Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp, Con thuyền xuôi mái nước song song, Thuyền về nước lại, sầu trăm ngả:

Củi một cành khô, lạc mấy dòng.

Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp,

Con thuyền xuôi mái nước song song, Thuyền về nước lại, sầu trăm ngả:

Củi một cành khô, lạc mấy dòng.

Cảm giác những con sóng cứ nối nhau đến tận cùng trời sông nước và cùng với nó là nỗi “buồn điệp điệp”.

Trang 32

Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp,

Con thuyền xuôi mái nước song song, Thuyền về nước lại, sầu trăm ngả;

Củi một cành khô, lạc mấy dòng.

Con thuyền bất lực với mái chèo của mình, lênh đênh cho dòng nước cuốn đi.

Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp,

Con thuyền xuôi mái nước song song,

Thuyền về nước lại, sầu trăm ngả:

Củi một cành khô, lạc mấy dòng.

Trang 33

Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp,

Con thuyền xuôi mái nước song song,

Thuyền về nước lại, sầu trăm ngả;

Củi một cành khô, lạc mấy dòng.

Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp,

Con thuyền xuôi mái nước song song,

Thuyền về nước lại, sầu trăm ngả:

Củi một cành khô, lạc mấy dòng.

Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp ,

Con thuyền xuôi mái nước song song ,

Thuyền về nước lại, sầu trăm ngả:

Củi một cành khô, lạc mấy dòng.

Không gian như rộng ra, dàn trải theo hai tiếng “điệp điệp” rồi vươn dài theo

âm điệu của “song song” để hồn thơ gợi lên cái không cùng của vũ trụ vô biên

Trang 34

Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp,

Con thuyền xuôi mái nước song song,

Thuyền về nước lại, sầu trăm ngả;

Củi một cành khô, lạc mấy dòng.

Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp,

Con thuyền xuôi mái nước song song,

Thuyền về nước lại , sầu trăm ngả;

Củi một cành khô, lạc mấy dòng.

 Xa cách, hững hờ

 Mỗi sự vật gắn với một động từ, kéo

hai chủ thể tách rời nhau  chuyển động trái chiều

Trang 35

Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp, Con thuyền xuôi mái nước song song, Thuyền về nước lại, sầu trăm ngả;

Củi một cành khô, lạc mấy dòng.

Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp, Con thuyền xuôi mái nước song song, Thuyền về nước lại, sầu trăm ngả;

Củi một cành khô, lạc mấy dòng.

“Buồn”  “sầu”: nỗi buồn có sự tăng cấp,

Tâm hồn thi nhân hòa vào cảnh vật

Trang 36

Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp, Con thuyền xuôi mái nước song song, Thuyền về nước lại, sầu trăm ngả;

Củi một cành khô, lạc mấy dòng.

Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp, Con thuyền xuôi mái nước song song, Thuyền về nước lại, sầu trăm ngả;

Củi một cành khô, lạc mấy dòng.

Đảo ngữ  Cái khô của củi, cái bé nhỏ, gầy guộc của cành

Triết lý nhân sinh

sâu sắc

Trang 37

Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp,

Con thuyền xuôi mái nước song song,

Thuyền về nước lại, sầu trăm ngả;

Củi một cành khô, lạc mấy dòng.

Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp,

Con thuyền xuôi mái nước song song,

Thuyền về nước lại, sầu trăm ngả;

Củi một cành khô, lạc mấy dòng.

Đấy là thân phận của những kiếp phù sinh bé nhỏ, nổi trôi giữa dòng đời vô định, là hiện thân của cái tôi cá nhân tự

ý thức nỗi cô đơn giữa cuộc đời và trở thành tha hương trên chính quê hương mình.

Trang 38

Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu,

Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều.

Nắng xuống, trời lên sâu chót vót;

Sông dài, trời rộng, bến cô liêu.

 Từ láy “lơ thơ”: gợi cảm giác hoang

vắng, cô tịch

 Từ láy “đìu hiu”: như càng khắc sâu

thêm nỗi buồn hiu hắt

 “Đâu” là “đâu rồi?”, không xác định

 ”tiếng làng xa”: âm thanh của ngày

tàn

Không gian chìm đắm trong

sự tĩnh lặng, ngột ngạt Con người như lạc giữa cõi hư vô

Trang 39

 “xuống” và “lên” đem lại cảm giác

chuyển động rõ rệt

 “chót vót”: từ láy đặc tả chiều cao

nhưng được dùng để chỉ chiều sâu.

 ”sâu”: vừa tả được độ cao vừa gợi được

tâm trạng con người  Đó chính là sự rợn ngợp của hồn người trước cái vô cùng của vũ trụ.

 “Bến cô liêu” chính là cái tôi mang nỗi

“sầu vạn kỉ” của Huy Cận

Trang 40

Khổ thơ là hình ảnh của một

“chàng Huy Cận khi xưa hay buồn lắm” với những nỗi buồn của thế nhân…nỗi buồn của thi

sĩ khi đứng trước thiên nhiên bất tận.

Trang 41

Bèo dạt về đâu hàng nối hàng,

Mênh mông không một chuyến đò ngang Không cầu gợi chút niềm thân mật,

Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng.

Hiện thân của những kiếp phù sinh bé nhỏ sống phụ thuộc vào ngoại vật và cuộc đời chúng cứ lửng lờ trôi mãi trên dòng nước

Một sự vô định, mơ hồ về kiếp người…

Trang 42

Bèo dạt về đâu hàng nối hàng,

Mênh mông không một chuyến đò ngang Không cầu gợi chút niềm thân mật,

Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng.

Cấu trúc phủ định “không…không”: phủ định mọi kết nối của con người

Cảm giác về cuộc đời vắng tình người

Từ láy “lặng lẽ”: không hình ảnh hay tiếng động, lột tả chuyển động của dòng nước khi chảy qua “bờ xanh”, “bãi vàng”

Trang 43

Các sự vật đặt cạnh nhau nhưng tất cả đều không có một mối dây liên hệ, không cần nhau, không tìm nhau

Tất cả gợi nên cảm giác buồn bã, hiu quạnh, trống vắng.

Trang 44

Thi sĩ đang khao khát một sự sống, một người tri âm tri kỉ, nhưng tất cả rồi cũng như dòng nước lửng lờ kia, trôi mãi về vô định, nỗi tuyệt vọng cũng vì thế

mà khắc khoải trong lòng…

Trang 45

Lớp lớp mây cao đùn núi bạc,

Chim nghiêng cánh nhỏ óng chiều sa Lòng quê dợn dợn vời con nước,

Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.

Đường Thi

Trang 46

Lớp lớp mây cao đùn núi bạc,

Chim nghiêng cánh nhỏ óng chiều sa.

Lòng quê dợn dợn vời con nước,

Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.

Lớp lớp mây cao đùn núi bạc,

Chim nghiêng cánh nhỏ óng chiều sa.

Lòng quê dợn dợn vời con nước,

Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.

Cánh chim là biểu tượng của cái tôi nhỏ nhoi, cô độc trước cuộc đời ảm đạm Cánh chim vốn là dấu hiệu của sự sống nhưng cái mầm sống ấy xuất hiện khi hoàng hôn đang tàn

và nỗi sầu dậy khắp bầu trời

Trang 47

 Mối sầu của “Tràng giang” không chỉ là “nỗi sầu vạn lý” mà còn là

“mối sầu vạn kỉ “

 Tâm trạng và lòng yêu quê hương sâu kín của nhà thơ.Tình  yêu đó mang nỗi buồn sông núi, nỗi buồn về đất nước.

Trang 48

"dợn dợn" là từ láy nguyên sáng tạo của Huy Cận, hô ứng cùng cụm từ “vời con nước” cho thấy một nổi niềm bâng khuâng, cô đơn của “lòng quê”

Lớp lớp mây cao đùn núi bạc,

Chim nghiêng cánh nhỏ óng chiều sa.

Lòng quê dợn dợn vời con nước,

Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.

Trang 49

Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai

(Thôi Hiệu)

Lớp lớp mây cao đùn núi bạc,

Chim nghiêng cánh nhỏ óng chiều sa

Lòng quê dợn dợn vời con nước,

Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.

Trang 50

Cảm giác về “một chiếc linh hồn nhỏ, mang

mang thiên cổ sầu “ (Huy Cận ) được thể

hiện rõ ở khổ thơ này hơn bất kì khổ thơ

nào khác Và như thế, nỗi buồn vũ trụ càng trở nên hoàn chỉnh hơn, nỗi khắc khoải

không giang càng đầy đủ hơn Kết thúc khổ thơ, nỗi buồn đầy đủ và trọn vẹn được mở

ra trên ba chiều không gian và cả chiều thời gian, khiến cho “Tràng giang” càng thêm

đậm đà phong vị Đường thi, hương vị thơ

cổ điển ở ngay khổ cuối

Trang 51

TỔN

Trang 52

Nội dung:

Cảm hứng chủ đạo của bài thơ là nỗi

buồn mênh mang, sâu lắng của một cái tôi cô đơn trước vũ trụ được bộc lộ một cách trực tiếp qua một cách diễn đạt cô đọng và hàm súc.

Tâm trạng nhớ quê hương ngay khi

đứng giữa quê hương, nét tâm trạng hiện đại của các nhà tri thức muốn đóng góp sức mình cho đất nước mà đành bất lực.

Trang 53

Vẻ đẹp cổ điển được thể hiện qua lối

thơ bảy chữ mang đậm phong vị Đường thi, qua cách dùng từ láy nguyên, qua việc sử dụng các thi liệu

cổ điển quen thuộc Và trên hết là cách vận dụng các tứ thơ cổ điển, gợi cho bài thơ không khí cổ kính, trầm mặc của thơ Đường

Nghệ thuật:

Trang 54

Vẻ đẹp hiện đại lan toả qua các câu

chữ sáng tạo, độc đáo của nhà thơ

Tâm trạng của một cái tôi lãng mạn đó

lại được thể hiện bằng bút pháp tả thực vừa phá vỡ qui tắc ước lệ truyền thống vừa đem đến một phong cách trữ tình mới

Nghệ thuật:

Trang 55

Thanks for

listening!

Ngày đăng: 12/12/2017, 15:42

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN