Tuần 22. Tràng giang tài liệu, giáo án, bài giảng , luận văn, luận án, đồ án, bài tập lớn về tất cả các lĩnh vực kinh tế...
Trang 1Huy Cận
Tràng
giang
Bâng khuâng trời rộng nhớ
sông dài
Trang 2Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp,
Con thuyền xuôi mái nước song song,
Thuyền về, nước lại sầu trăm ngả;
Củi một cành khô lạc mấy dòng
Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu,
Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều
Nắng xuống, trời lên sâu chót vót;
Sông dài trời rộng, bến cô liêu
Bèo dạt về đâu hàng nối hàng, Mênh mông không một chuyến đò ngang, Không cầu gợi chút niềm thâm mật,
Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng
Lớp lớp mây cao đùn núi bạc, Chim nghiêng cánh nhỏ: bóng chiều sa Lòng quê dợn dợn vời con nước,
Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà
Trang 3I Giới thiệu chung:
a Cuộc đời:
- Quê quán: Hương Sơn – Hà Tĩnh.
- Gia đình: Nhà nho nghèo.
- Bản thân:
• 1939: đậu tú tài tại Huế
• 1942: Tham gia mặt trận Việt Minh
• Sau 1945: Giữ nhiều chức vụ quan trọng trong
chính phủ.
• 1996: Ông được tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về
văn học và nghệ thuật
1 Tác giả: Cù Huy Cận (1919)
Trang 4b Sự nghiệp: Các tập thơ tiêu biểu
- Trước CMT8: tập “Lửa thiêng” (1940)
- Sau CMT8: “Trời mỗi ngày lại sáng” (1958),
“Đất nở hoa” (1960)…
Trang 52 Bài thơ “Tràng giang”:
a Nhan đề:
“Tràng giang” : từ Hán - Việt: Sông dài.
b Xuất xứ:
In trong tập “Lửa thiêng” là một trong những bài thơ tiêu biểu nhất của Huy Cận.
c Chủ đề
Mượn cảnh “Tràng Giang” nói lên nỗi buồn cô đơn lạc lõng của nhà thơ Qua đó gởi gắm tâm
sự nhớ nhà, nhớ quê hương da diết cũng như nỗi buồn trước cảnh loạn li của đất nước.
Trang 61 Âm điệu chung của bài thơ:
Bài thơ được viết theo âm điệu của thể thơ thất ngôn hài hoà giữa nhịp và thanh.
- Nhịp thơ 2/2/3 hoặc 4/3.
- Thanh điệu: dựa trên nền thanh điệu bằng/trắc của
thể thơ cổ + sáng tạo của từ láy nguyên âm (điệp điệp, song song) + cách sắp xếp ngôn từ theo nguyên tắc
song song trùng điệp (nắng xuống, trời lên, hàng nối hàng)
mênh mang, xao xuyến.
II Đọc-hiểu văn bản:
Trang 72 Bức tranh thiên nhiên:
- Đầu đề “Tràng giang” (láy âm): Sông dài,
mênh mang
- “Điệp điệp” (láy âm): Sông nước nối tiếp nhau
loang xa tới tận chân trời.
- “Song song” (láy âm): Luồng nước rong ruổi
kéo dài mãi về phía vô tận.
Mênh mông vô biên của sông nước.
Trang 8Lớp lớp mây cao >< lơ thơ cồn nhỏ
Đùn núi bạc >< củi một cành khô
Bóng chiều sa >< chim nghiêng cánh nhỏ
Sự tương phản giữa cái vô hạn và hữu hạn càng làm nổi bật lên cái nhỏ bé, đơn côi, lạc lõng
đất trời, tạo vật
Trang 9Với thủ pháp nghệ thuật tương phản đã tạo nên sự xuất thần của hồn thơ, mở ra một không gian vô biên với chiều cao, chiều
rộng, chiều dài “sâu” Ánh mắt của tác giả như xuyên vào đáy của vũ trụ để cảm nhận được chiều sâu “chót vót” (từ láy) - chỉ
chiều cao, bầu trời dường như mỗi lúc một sâu hơn, chót vót hơn.
Trang 10- Không có chợ chiều
đò ngang cầu gợi chút niềm thân mật
- Bến cô liêu (gợi hình ảnh mang nét cổ kính)
điệp từ
lặng lẽ, đìu hiu.
Trang 113 Tâm trạng của tác giả trước buổi chiều hoàng hôn:
- Cô đơn, lạc lõng, bơ vơ trước đất trời bao la
“Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa”
- Mang nỗi buồn cô đơn trước cuộc đời bế tắc
“`Củi một cành khô lạc mấy dòng”
- Lòng nhớ quê hương da diết, cháy bỏng
“Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”
Trang 12=>Tâm trạng buồn bế tắc, vì mất nước, mất tự do của người thanh niên trí thức ở
giai đoạn 1930 – 1945
Trang 13Nghệ thuật:
- Bài thơ mang âm hưởng cổ kính Đường thi:
“Bến cô liêu”, “đùn núi bạc”…
- Tác giả đã khai thác và sử dụng tinh tế vốn
từ ngữ tiếng Việt : láy âm, điệp từ, nhân hoá, tương phản, gợi hình…
- Hình ảnh mới lạ độc đáo ảnh hưởng của
văn học phương Tây: “sâu chót vót” Tất cả những yếu tố ấy đã giúp cho Huy Cận thành công khi sáng tác “Tràng giang”.
Trang 14III Tổng kết:
“Tràng giang” là một trong những bài thơ hay nhất trong tập “Lửa thiêng”
Thi sĩ đã chọn thể thơ thất ngôn để vẽ
lên bức tranh thiên nhiên đẹp mà đượm buồn, thấm đẫm một nỗi nhớ quê hương
da diết.