với khát vọng lên đường đến những miền đất mới mà thực chất là trở về với nhân dân, đất nước, ngọn nguồn hồn thơ và những sáng tạo... Ra đi đến với cuộc đời, nhân dân, đất nước cũng chín
Trang 1Bài thuyết trình của tổ 5
Trang 3I Tìm hiểu chung
1 Tác giả
- Chế Lan Viên tên thật
là Phan Ngọc Hoan, sinh
- Sau khi tốt nghiệp trung
học: dạy học ở trường tư,
làm báo ở Sài Gòn, tham
gia cách mạng ở Quy
Nhơn…
Trang 4- Ông cùng với Hàn Mặc Tử, Yến Lan, Quách
Tấn được người đương thời gọi là "Bàn thành tứ hữu” của Bình Định
Hàn Mặc
Tử
Chế Lan Viên
Yến Lan
Quách Tấn
Trang 5- Sau năm 1945: về Hà Nội tiếp
tục hoạt động văn học, nhiều
năm tham gia lãnh đạo Hội
Nhà Văn Việt Nam
- Sau năm 1975: Vào Thành
phố Hồ Chí Minh tiếp tục hoạt
động cho đến lúc qua đời
- Năm 1996, ông được trao
tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh
về văn học nghệ thuật
Trang 6- Các tập thơ: Điêu tàn (1937),
Ánh sáng và phù sa (1960), Hoa ngày thường, Chim báo bão (1967), Những bài đánh giặc (1972), Đối thoại mới
(1973), Hái theo mùa (1977),
Hoa trên đá (1984), Di cảo thơ: tập I (1992), tập II
(1993), tập III (1996)
Trang 7Điêu tàn (1937) Hoa ngày thường, chim
báo bão (1967)
Trang 8- Tập thơ đầu tay Điêu tàn mang giọng buồn ảo não,
Trang 9- Các tập tiểu luận phê
bình: Vào nghề (1962),
Phê bình văn học
(1962), Suy nghĩ và
bình luận (1972), Từ gác Khuê Văn đến quán Trung Tân
(1981), Nghĩ cạnh dòng
thơ (1981).
Trang 10- Con đường thơ Chế Lan Viên trải qua nhiều
chặng đường với những bước ngoặt đánh dấu
sự chuyển biến tư tưởng và những tìm tòi đổi
mới nghệ thuật của nhà thơ
- Thơ Chế Lan Viên có một phong cách độc đáo:
có vẻ đẹp trí tuệ, luôn có ý thức khai thác triệt để những tương quan đối lập, giàu chất suy tưởng triết lí với thế giới hình ảnh đa dạng, phong phú, đầy sáng tạo
Trang 11- Trích bài thơ A và H
A tên em và H tên anh
Chữ đầu tên, trăng non đầu tháng mới
Chùm hoa lạ dấu lưng chừng mặt gối
Tiếng yêu riêng, mình chỉ bẻ trao mình
A ao xuân lặng sóng áo đầm hương
An Tỉnh trời quê sao bạc rắc
Hơi thở đôi ta dệt thành tiếng hát
Nửa sông Hồng pha nửa sóng sông Hương
Tình yêu tập đánh vần lần thứ nhất
Mỗi bước đời ta ghép một vần thương
Chằng còn tên anh chẳng phải tên em
Chúng nó treo trên đầu ta bom A bom H
Tên đôi ta sao bỗng thành giết chóc
Mặt trời đau vì tội ác ban đêm
Trang 12Gia đình Chế Lan Viên: Phan Ngọc Hoan, Vũ Thị Thường, Phan Thị Thắm, Phan Thị Vàng Anh
Trang 13Nhà văn Phan Thị Vàng Anh
Trang 142 Tác phẩm
- Bài thơ rút từ tập Ánh sáng
thơ xuất sắc, kết tinh tư
tưởng và nghệ thuật thơ Chế Lan Viên trên con đường thơ
cách mạng.
- Bài thơ được gời cảm hứng
từ một sự kiện kinh tế - chính trị, xã hội: cuộc vận động
đồng bào miền xuôi lên xây
dựng kinh tế ở miền núi Tây
Bắc vào những năm 1958 –
1960
Trang 15II Tìm hiểu bài thơ
1 Tiêu đề bài thơ
tượng cho khát vọng lên đường (Lúc bấy giờ chưa có đường tàu lên Tây Bắc)
tin yêu và tự hào
với khát vọng lên đường đến những miền đất mới mà thực chất là trở về với nhân dân, đất nước, ngọn nguồn hồn thơ và những sáng tạo
Trang 162 Lời đề từ
- Địa danh Tây Bắc: vùng đất phía Tây Tổ quốc (nghĩa
cụ thể) đồng thời là đất nước, nhân dân (nghĩa biểu tượng)
- Sức khái quát và ý nghĩa bao trùm: nhữ từ “Tây Bắc”,
“lòng ta”, “Tổ quốc”, “tiếng hát”, đặc biệt là “âm hồn ta
là Tây Bắc chứ còn đâu” mang ý nghĩa biểu tượng và triết luận: tâm hồn ta thuộc về đất nước, nhân dân
Nhìn vào tâm hồn ta thấy nhân dân, đất nước Soi vào đất nước, nhân dân thấy lòng mình Ra đi đến với
cuộc đời, nhân dân, đất nước cũng chính là tìm đến tâm hồn mình với những tình cảm trong sáng, những nghĩa tình sâu nặng
- Câu hỏi tu từ tạo nên ấn tượng sâu sắc trong lòng
người đọc từ một địa danh cụ thể là Tây Bắc đến với
Trang 17- Giọng điệu và âm hưởng bài thơ biến đổi theo mạch
cảm xúc, tâm trạng :
+ Phần đầu mang tính giục giã với hàng loạt câu hỏi hối thúc theo chiều tăng tiến
+ Phần giữa bày tỏ tình cảm trực tiếp với dòng hoài
niệm thiết tha, cảm động đồng thời trầm lắng với
những chiêm nghiệm Đó cũng là sự thủy chung, sự tri
ân đối với nhân dân
+ Phần cuối mang âm hưởng của khúc hát lên đường dồn dập, lôi cuốn, bay bổng lãng mạn kết hợp với
những suy tưởng và cảm xúc lắng đọng
Trang 183 Bố cục, giọng điệu, âm hưởng
- Bài thơ được bố cục theo trình tự diễn biến tâm trạng trước một cuộc ra đi :
+ Hai khổ thơ đầu là những trăn trở trước lời mời gọi lên đường
+ Chín khổ giữa thể hiện khát vọng về với nhân dân, đất nước, gợi lại những kỉ niệm kháng chiến nặng nghĩa tình
+ Bốn khổ cuối là khúc hát lên đường đầy sôi nổi tin yêu
Trang 194 Phân tích hai khổ thơ đầu
- Một loạt câu hỏi giục giã, hối thúc : "anh đi chăng",
"anh có nghe", "sao chửa ra đi",…
- Một loạt hình ảnh thuộc về không gian đất nước cao rộng có giá trị vẫy gọi : con tàu, Tây Bắc, gió ngàn, vành trăng, đất nước mênh mông,…
- Hàng loạt những đối lập : "bạn bè đi xa"- "anh giữ trời
Hà Nội", "đất nước mênh mông"- "đời anh nhỏ hẹp",
"tàu gọi anh đi"- "sao chửa ra đi",…
- Sự phân thân của chủ thể trữ tình (cái tôi trữ tình và
"anh") để tự đối thoại, từ bỏ chủ nghĩa cá nhân vị kỉ, những "buồn rớt", "mộng rớt" mà ra đi đến với cuộc đời rộng lớn, đất nước mênh mông
Trang 205 Phân tích 9 khổ thơ tiếp theo
- Hai khổ 3 và 4 : Tây Bắc và cuộc kháng chiến 10 năm
có một ý nghĩa lớn lao, vĩ đại nhất là đối với các văn nghệ sĩ tiền chiến
+ Hai tiếng "Tây Bắc" điệp lại trong một câu cảm thán
(Trên Tây Bắc! Ôi mười năm Tây Bắc).
+ Một loạt những liên tưởng : xứ thiêng liêng, rừng núi
anh hùng, nơi máu rỏ, chín trái đầu xuân.
+ Hai câu : "Ơi kháng chiến mười năm qua như ngọn lửa/ Nghìn năm sau còn đủ sức soi đường" với cách
so sánh (mười năm/ nghìn năm; kháng chiến/ ngọn
lửa soi đường) lắng đọng chất suy ngẫm, triết luận.
Trang 21- Khổ thứ 5 diễn tả niềm hạnh phúc khi trở về với "Mẹ", trở về với nhân dân bằng một loạt so sánh với những
hình ảnh xâu chuỗi tầng tầng, lớp lớp (Con gặp lại
nhân dân- nai về suối cũ/ cỏ đón giêng hai/ chim én gặp mùa/ đứa trẻ thơ đói lòng gặp sữa/ chiếc nôi
ngừng bỗng gặp cánh tay đưa) Những hình ảnh có
sức gợi tả, gợi cảm, những từ trong một trường
nghĩa như gặp, đón, gặp như sự trở về hợp với quy
luật tự nhiên, quy luật tình cảm có chiều sâu của
những suy nghĩ sâu sắc và tình cảm chân thành đậm chất trí tuệ
Trang 22+ Cách xưng hô : con- Mẹ với chữ Mẹ viết hoa cùng
cách triết lí : đã đi- cần vượt nữa- cho con về- gặp lại
Mẹ… đã diễn tả một ý thơ vô cùng sâu sắc đầy trí
tuệ : Con đã đi theo cách mạng nhưng con cần vượt qua rất nhiều trở ngại đặc biệt là vượt qua chính mình
Ra đi lần này thực chất là trở về vì trước đây con đã đi quá xa (vào thế giới siêu hình) Con về để gặp Mẹ -
cuộc đời- nhân dân - Tổ quốc Đó là ngọn nguồn của nghệ thuật đích thực
Trang 23- 6 khổ tiếp theo : tác giả gợi lại những kỉ niệm, những hình ảnh tiêu biểu cho sự hi sinh và nghĩa tình thắm thiết của nhân dân trong kháng chiến với giọng thơ
chậm rãi, lắng đọng tha thiết
+ Cách xưng hô thân tình ruột thịt của một đại gia đình
kháng chiến : "con nhớ anh con", "con nhớ em con",
"con nhớ mế", "anh bỗng nhớ em".
+ Những chi tiết, hình ảnh cụ thể, cảm động về sự hi
sinh thầm lặng lớn lao : "chiếc áo nâu", "lửa hồng soi tóc bạc", "hòn máu cắt", "đông về nhớ rét", "cánh kiến hoa vàng", "chim rừng lông trở biếc", "bữa xôi đầu còn tỏa nhớ mùi hương".
.
Trang 24Khi ta đi đất bỗng hóa tâm hồn
Tình yêu làm đất lạ hóa quê hương
Trang 256 Đoạn cuối
- Hình ảnh kì ảo + ẩn dụ + biểu tượng + tàu vỗ cánh.
- Câu hỏi tu từ “Đất…gọi”.
- Điệp từ + giọng điệu thơ sôi nổi + hình ảnh trùng điệp.
⇒ Tiếng gọi của nhân dân, đất nước thôi thúc bên trong.
⇒ Nỗi khát khao, bồn chồn chính lòng mình không thể cưỡng được.
- Nhân hóa: mùa nhân dân + hình ảnh: cơn mơ, mộng tưởng, rẽ người, vịn tay + điệp liên hoàn.
⇒ Năm tháng gian khổ, hy sinh trong chiến tranh.
⇒ Kết tinh kết quả tốt đẹp, ngọn nguồn cảm hứng của hồn thơ.
- Khổ thơ liền mạch, trùng điệp Âm hưởng sôi nổi, lôi cuốn.
- Hình ảnh biểu tượng: mặy hồng, con tàu Ẩn dụ: vàng ta.
⇒ Khát khao mời gọi tâm hồn nhà thơ cảm hứng sáng tạo.
Trang 26III Tổng kết
1 Nội dung:
Bài thơ là lời giục giã, là khúc hát lên đường say mê, náo nức đến với những miền đất xa xôi đang cần xây dựng của đất nước, đến với cuộc đời rộng lớn Đồng thời, bài thơ đã khơi dậy những kỉ niệm sâu sắc, thắm thiết nghĩa tình khi gặp lại nhân dân trong những năm kháng chiến chống Pháp gian lao và thể hiển khát
vọng của một hồn thơ muốn vượt ra khỏi những giới hạn nhỏ hẹp riêng tư để đến với chân trời rộng lớn, về với nhân dân và đất nước Về với nhân dân, với
những kỉ niệm sâu nặng nghĩa tình trong những năm kháng chiến gian khổ cũng là con đường tìm về ngọn
Trang 272 Nghệ thuật:
Bài thơ hấp dẫn người đọc bởi nghệ thuật sử
dụng ngôn từ, hình ảnh, bởi cách nói sáng tạo độc đáo của tác giả Nhà thơ đã xây dựng nhiều
hình ảnh giàu tính biểu tượng như con tàu, Tây
Bắc, vầng trăng, Những hình ảnh này liên kết
với nhau rất phong phú và biến hóa Các thủ
pháp xây dựng hình ảnh, lối so sánh, biện pháp trùng điệp, giọng điệu thiết tha, chân thành,
chứng tỏ chất trí tuệ sắc sảo của nhà thơ