1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

LOGIC BIỆN CHỨNG

10 625 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 174,65 KB
File đính kèm LOGIC BIỆN CHỨNG.zip (162 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Một tư tưởng rất tiến bộ của A đó là: sự thống nhất giữa cái phổ biến và cái đơn nhất trong lý luận và khái niệm, lý luận về sự phán đoán trong tam luận, và thừa nhận sự thống nhất giữ

Trang 1

LOGIC BIỆN CHỨNG

Câu 1: Phân tích những cố gắng đổi mới logic của Arixtot qua một số triết gia tiêu biểu? ( Giới thiệu triết gia, logic arixtot)

*ARXITOT (384-322 TCN)

- Là nhà triết học Hy Lạp cổ đại, là “Khối óc toàn diện, bộ óc bách khoa toàn thư”, đã biết kế thừa thành quả nghiên cứu của các bậc tiền bối về hình thức và kết cấu của tư duy, biết khái quát có phê phán các di sản tinh thần khá đồ sộ cà

có giá trị lúc bấy giờ để xây dựng logic học

- Nhờ có trí tuệ uyên thâm, lý trí sắc bén và đời sống thực tiễn sâu rộng nên Arixtot đã khám phá ra các hình thức và quy luật của tư duy logic (hình thức) đồng thời ông cũng là người đã vạch ra được các vấn đề cơ bản của logic học

- A có rất nhiều tác phẩm, nhưng tp quan trọng nhất là Organon (công cụ nhận thức), có thể nói một cách chắc chắn rằng toàn bộ những luận điểm cơ bản của logic hình thức đều đã được Arixtot trình bày đầy đủ Những cống hiến đó của Arixtot có giá trị rất lớn trong lịch sử logic học lẫn trong thực tiễn đời sống XH của con người

- Lần đầu tiên trong lịch sử triết học cổ Hy Lạp, Arixtot đã làm cho những hình thức suy nghĩ cùng những quy tắc của nó trở thành đối tượng nghiên cứu, và người ta vận dụng chúng nâng cao trình độ suy nghĩ của chính mình

- Về mặt triết học, do dự giữa CNDV và CNDT nên Arixtot không phân biệt rõ quy luật khách quan vủa tồn tại với quy luật logic của tư duy Điều này đã bị

TH kinh viện lợi dụng bằng cách gột rửa những yếu tố duy vật của logic Arixtot

và cho rằng, các quy luật logic học tiên nghiệm, rằng người ta phải tuân theo các quy luật đó không phải do XH ràng buộc mà là do thượng đế

- Một tư tưởng rất tiến bộ của A đó là: sự thống nhất giữa cái phổ biến và cái đơn nhất trong lý luận và khái niệm, lý luận về sự phán đoán trong tam luận, và thừa nhận sự thống nhất giữa các mặt đối lập và đây là những tư tưởng ban đầu của phép BC, nhưng rất tiếc là vào thời Trung Cổ, người ta từ bỏ cách hiểu hợp

lý đó, mà ra sức phát triển quan điểm siêu hình của A

 Như vậy việc chúng ta gọi logic học A là logic học truyền thống là hợp lý & chính xác, bởi vì trong học thuyết logic của ông còn có 1 số yếu tố của phép biện chứng

=> Vào thời Trung Cổ, logic truyền thống cảu A đã bị bóp méo và xuyên tạc

Nó đã bị biến thành những cách thúc suy nghĩ thuần tuý hình thức, thậm chí chủ quan Do đó sang thời Phục Hưng nó không được giới khoa học ủng hộ Hơn nữa sự thongs trị cùa TGQ tôn giáo kìm hãm đời sống tinh thần đã gây ra tâm lý chán ngán của giới khoa học tiên bộ đối với nhà thờ, lại thêm ác cảm vs logic học Vì thế, vào tk 16-18, nhiều nhà TH tránh dung từ logic học để chỉ khoa học vè tư duy, về lý tính, về tri thức,…mà thay vào đó là những cụm từ ví

Trang 2

dụ như: suy ngẫm về phương pháp luận về sự hoàn thiện trí lực, sự tìm tòi chân

lý, những kinh nghiệm mới về lý tính,…

- Ở khía cạnh khác, dù bản thân chưa thấy được hết tác dụng của logic học đối với hình thức và kết cấu của suy nghĩ nhưng ông cho rằng, sự vận dụng chúng

là có giới hạn Vd, đối với quy luật đồng nhất, tuy chưa thấy được sự đồng nhất của đối tượng đồng nhất, trong thời gian đồng nhất và quan hệ đồng nhất chứ không phải bất cứ sự đồng nhất nào

- Chính Arixtot đã nghiên cứu sự thống nhất của vật chất và hình thức, cho dù sau đó ông có tuyệt đối hoá hình thức, ngoài ra ông còn nghiên cứu sự thống nhất giữa cái phổ biến và cái đơn nhất trong lý luận và khái niệm, lý luận về sự phán đoán trong tam luận, và thừa nhận sự thống nhất giữa các mặt đối lập

* PHƠRANXIT BECON (1561-1626)

- Là ông tổ của CNDV Anh và khoa học thực nghiệm hiện đại

- Là người đầu tiên nhận thấy được hạn chế của logic diễn dịch tam đoạn luận của Axitot trong việc đáp ứng nhu cầu nhận thức cho khoa học tự nhiên Cho nên, một mặt Becon phê phán logic này là mang tính hình thức và kinh viện, tách rời hiện thực, mặt khác ông đòi hỏi phải xây dựng một công cụ mới hữu ích hơn, đáp ứng được nhu cầu khoa học lúc bấy giờ Và tác phẩm “Arganon mới” được ra đời vs mục đích như thế

- B cho rằng, nhiệm vụ quan trọng trong nhận thức khoa học là xây dựng các khái niệm dựa trên cơ sở thực nghiệm, quan sát Nhưng đây lại là nhiệm vụ của phép quy nạp, vì chỉ có phép quy nạp mới cho phép xây dựng được những khái niệm chung, những tiền đề, định nghĩa quan trọng và cơ bản có liên hệ lẫn nhau

từ những quan sát, thực nghiệm, riêng lẻ Sau khi thực hiện xong những nhiệm

vụ này thì logic diễn dịch trong tam đoạn luận A ms có ích Và B cho rằng phép quy nạp của ông sẽ xd các khái niệm chung, còn logic diễn dịch tam đoạn luận của A sẽ xây dựng các hình thức suy luận để rút ra các kết luận từ các khái niệm chung do phép quy nạp xd được Từ đây ông yêu cầu k đc sử dụng tuỳ tiện logic A mà phải tuân thủ trật tự như trên

- Cống hiến của B cho kho tang logic rất lớn Trong “công cụ mới” , khi dựa quan điểm thống nhất giữa nhận thức với thực tiễn, ông k chỉ khôi phục lại những yếu tố duy vật trong logic A mà còn bổ sung them tư tưởng chủ đạo là:

“Tự nhiên chỉ có thể chinh phục đc bằng các phụ thuộc vào nó” nghĩa là con người chỉ có thể hiểu đc tn và chinh phục tự nhiên khi tuân theo những quy luật của tự nhiên Mọi sv,ht trong tự nhiên đều bị chi phối bởi luật nhân quả Mục đích trước mắt của nhận thức là khám phá ra các định luật tự nhiên, khám phá

ra tính nhân quả chi phối chúng, còn mục đích cuối cùng của nhận thức là vận dungj kết quả nhận thức vào phục vụ cho hđ thực tiễn, bởi vì chúng ta nhận thức để thành động Vì vậy khầu hiệu “tri thức là sức manh” là câu thường ns của ông

Trang 3

* RƠNE ĐỀCAC (1595-1650)

- Cũng thấy đc những hạn chế của logic hình thức và cũng có những bức xúc là phải xây dựng một logic học để dung làm công cụ nhằm đạt những tri thức mới

- Ông bàn về phương pháp phê phán mạnh mẽ logic truyền thống nhưng k phủ nhận nó Ông thấy đc vai trò to lớn của phép diễn dịch trong việc tìm kiếm tri thức khoa học tự nhiên, nhưng ông đòi hỏi phái tẩy sạch nhữn gì còn sót lại bám vào chúng Vì vậy ông đã bổ sung vào logic học phép diễn dịch toán học, đồng thời tư duy, lý tính phải tuân thủ bốn nguyên tắc nhận thức sau đây để tiếp cận chân lý:

+ Một là, “chỉ thừa nhận là chân thực những điều là rõ ràng, rành mạch, nghĩa

là đã đc tường tận là có thể tránh khỏi nhầm lẫn, sai lầm, và chỉ dựa vào phán đoán điều mà trí tuệ chúng ta coil à rõ ràng, rành mạch và chính xác để không thể ngờ vực”

+ Hai là, “phải phân chia vấn đề thành nhiều bộ phận có thể phân chia đc để tiện lợi trong xem xét”

+ Ba là, “phải bắt đầu tư tưởng theo thứ tự từ nhận thức những đối tượng đơn giản dần dần để nhận thức những đối tượng phức tạo hơn”

+ Bốn là, “phải xem xét một cách toàn diện và tổng quát để có thể tin chắc là k

bỏ sót một điều gì trong quá trình nghiên cứu cả”

 4 nguyên tắc này xuất phát từ lý thuyết về trực giác và luận điểm đc ưa thích của Đềcac “tôi suy nghĩ tức là tôi tồn tại” Ông coi trọng lý trí, coil ý trí là cái bẩm sinh k phạm sai lầm Nhận thức chỉ sai lầm khi nào nó coi thường những nguyên tắc của lý trí, khi nào nó nhầm lẫn cái mình mong muốn với lý trí Với ông trực giác không chủ là hình thức cao nhất của nhận thức mà còn là nguồn gốc của nhận thức, nó k phụ thuộc vào cảm tính, lý trí của con ng Tri thức mà trực giác mang lại là chân lý vì nó thoã mãn nguyên tắc thứ 1, tức là rõ ràng, rành mạch và nó không bị ràng buộc vs cảm tính

- Là một nhà duy lý, Đềcac đề cao phéo diễn dịch và phân tích Dù k phủ nhận vai trò của quy nạp và tổng hợp trong nhận thức nhưng ông cho rằng cảm giác, tri thức, biểu tượng dễ dẫn đến sai lầm vì nó thường bị chi phối bởi ý chí chứ k phải bởi lý trí

- Việc Đềcac hạ thấp nhận thức cảm tính và đề cao nhận thức lý tính lúc bấy giờ

có ý nghĩa tích cực: nó khẳng định sức mạnh của tư duy con người và chống lại những tư tưởng giáo điều, cổ hủ

*GỐTPHORIET VINHEM LÉPNIT (1646-1716)

- Là một trong những nhà TH trong nền TH cổ điển Đức Ông cố gằng vượt lên logic truyền thống bằng học thuyết về hai loại chân lý: chân lý lý thuyết và chân lý sự kiện

+ Chân lý lý thuyết: đc xây dựng trên cơ sở logic truyền thống, cụ thể là tuân theo quy luật phi mâu thuẫn, tức là k để mâu thuẫn xuất hiện trong lập luận Theo Lépnit, muốn tìm kiếm chân lý loại này thì chỉ cần tuân theo logic truyền

Trang 4

luật loại trừ cái thứ 3 là đủ Ông cho rằng do chân lý lý thuyết gắn liền vs lý trí

và mang tính tất nhiên nên nó k thể xác định bằng kinh nghiệm

+ Chân lý sự kiện: đc xác định bằng con đường kinh nghiệm và phép quy nạp Đối vs các chân lý loại này thì những quy luật logic Axitot trình bày là k đủ mà cần phải có một quy luật khác nữa: quy luật lý do đầy đủ-quy luật này giúp thực hiện thao tác tổng hợp logic trong quá trình quy nạp Lépnit đã bổ sung quy luật mới đó vào logic truyền thống

- Việc Lépnit phân chia chân lý ra thành hai loại đã nói lên yêu cầu hợp lý của ông là logic phải nghiên cứu trình độ xác thực của tri thức, phải vạch rõ được điều kiện để rút ra kết luận gần đúng hay tất đúng, nghĩa là ông đã tiếp cận cách giải quyết BC quan hệ giữa chân lý tương đối và chân lý tuyệt đối

=> Tóm lại, Becon, Đecac, Lepnit đã thấy đc những hạn chế của logic A và cố gắng tìm kiếm một logic mới, mặc dù đã không hoàn thành đc nhiệm vụ ấy nhưng họ đều đã có những cống hiến to lớn cho KH logic

Câu 2: Phân tích sự ra đời logic biện chứng (heghen, macxit)

*LOGIC BC HEGHEN (1770-1831)

- Ông đã kế thừa trên tinh thần phê phán toàn bộ khoa học logic trước đó, nhất

là logic tiên nghiệm Canto để xây dựng một logic hoàn toàn mới – logic biện chứng

- Heghen cho rằng, cũng như ý niệm tuyệt đối, nhận thức là một quá trình tự phát triển BC Ông cho rằng con ng có thể nhận thức đc thế giới, có khả năng đạt đc chân lý Ông xem xét chân lý một cách biện chứng, đối vs ông chân lý k phải là cái cứng đờ, bất động mà về thực chất, nó nằm trong quá trình nhận thức chứa đầy mâu thuẫn biện chứng Mâu thuẫn BC là điều kiện đề nhận thức chân

lý, là nguồn gốc phát triển của mọi chân lý khoa học

Theo Heghen, tư duy hình thức vẫn có thể “cảm nhận” dc mâu thuẫn BC trong qt nhận thức, nhưng do bị chi phối bởi quy luật phi mâu thuẫn mà nó buộc phải bỏ qua hay xem xét những mâu thuẫn này một cách trừu tượng

- Heghen đã vượt lên trên các bậc tiền bối của mình khi đưa ra khái niệm thực tiễn, và đánh giá đúng mực khía cạnh chủ quan trong quá trình nhận thức

- Luận điểm của Heghen xem logic học như lý luận về nhận thức chân lý là một đóng góp cho lịch sử logic học Heghen k chỉ thấy logic học thực hiện chức năng nhận thức mà logic học còn đồng nhất vs bản thể luận

Khi kế thừa quan điểm của Canto về tính năng động và độc lập của tư duy đồng thời khi nhận quan điểm của Canto cho rằng tư duy mang tính chủ quan, Heghen đòi hỏi phải xem tư duy là tư duy nói chung, tư duy trừu tượng,

tư duy thuần tuý bên ngoài nhân loại, còn logic học chính là “cách để thượng đế thể hiện sự tồn tại của mình trong bản chất bất diệt của mình trước khi sang tạo

ra thế giới tự nhiên và mọi linh hồn hữu hạn khác”

Trang 5

- Như vậy đối vs Heghen tư duy là từ nhận thức, còn khách thể của tư duy nhận thức thì đồng nhất vs chủ thể của nó Việc đồng nhất khách thể vs chủ thể tư duy, tư duy vs tồn tại…k chỉ cho phép Heghen bác bỏ thuyết bất khả tri của Canto, mà còn cho phép xd quan niệm về tính thống nhất giữa nội dung và hình thức tư duy

- Heghen xem các khái niệm, phạm trù khoa học k phải là những điểm nút cảu

qt nhận thức TG xung quanh mà là những cơ sở để TG tồn tại, và tư duy là cái tồn tại khách quan đích thực Như vậy, khi xd hệ thống, k/n, phạm trù chuyển hoá lẫn nhau Heghen xem chúng là những cái khách quan tồn tại vs tư cách là những định nghĩa về sự vật, chứ k phải là cái vỏ trống rỗng Heghen còn muốn vạch rõ những thiếu sót của logic học cũ và cả logic tiên nghiệm Canto

- Sự thống nhất logic học vs bản thể luận đã làm cho logic của Heghen mất hết tính hình thức thuần tuý, ông đòi hỏi những hình thức phải có nội dung thực tế sinh động

- Nếu logic hình thức chỉ đề cập đến những hình thức tư duy là: khái niệm, phán đoán, suy luận, thì Heghen mở rộng thêm một hình thức tư duy nữa là phạm trù, tức khái niệm phổ biến, đồng thời ông nhấn mạnh phạm trù là hình thức tư duy quan trọng nhất là logic học

* LOGIC BC MACXIT

Có thể nói Canto và Heghen đã đưa logic học thoát khỏi “khung trời” hạn hẹp của logic hình thức truyền thống để bước vào một TG mới, TG cảu sự vận động và phát triển Tuy nhiên, logic BC của Heghen vẫn chưa trở thành logic học thật sự cùa quá trình nghiên cứu và nhận thức KH hiện đại vì nó còn chìm đắm trong lớp vỏ duy tâm và ít nhiều còn mang tính tự biện

C.Mac và Angghen sớm nhìn thấy bên trong lớp vỏ thần bí của TH

Heghen cái hạt nhân hợp lý Tuy nhiên Mac k thể đáp ứng ngay cho các nhà

KH một logic mới, logic học mới phải ra đời từ trong triết học mới TH ms đó

là CNDV ms hay phép BCDV Chỉ có 1 hệ thống TH mới “dung nạp” đc KHTN trước đã, rồi sau đó ms cung cấp cho KHTN cái bản than KH này cần-logic BCDV

Như vậy phép BC macxit đã mang trong mình chức năng logic bên cạnh những chức năng quan trọng khác như chức năng TGQ, c/n nhận thức luận, c/n

pp luận, c/n hệ tư tưởng,… và các chức năng này k tách biệt nhau mà thống nhất bổ sung lẫn nhau

a Các quan điểm về logic biện chứng: việc xác lập logic BCDV gặp hai khó khăn lớn:

+ Thứ 1, có quan điểm cho rằng chỉ có logic hình thức hiện đại và logic toán ms

là khoa học logic duy nhất về các hình thức, quy luật tư duy Theo hướng

nghiên cứu khác nhau thì việc tồn tại nhiều định nghĩa khác nhau k phải là một nhược điểm, mà là một ưu điểm lớn nhằm tiến tới việc hiểu chính xác, định hình rõ ràng khoa học này để có đc một sự phân định rõ ranh giới của nó vs các

Trang 6

+ Thứ 2, có những cách tiếp cận khác nhau các vấn đề logic của phéo BC và

KH hiện đại mà nhiều nhà TH Macxit chưa thống nhất vs nhau về đối tượng, chức năng, nội dung… và về cách trình bày của logic BCDV, về mqh giữa logic

BC vs hình thức truyền thống và hiện đại,…

 Nếu bỏ qua khó khăn thứ nhất và dừng lại ở khó khăn thứ 2 thì chúng ta thấy có một số định nghĩa về logic BCDV như sau:

+ Đn 1 : Logic BC dựa vào các quy luật của phép BCDV có đối tượng nghiên cứu là tính quy luật của quă trình tự nhận thức của tư duy

+ Đn 2 : Logic BC Mác xit là sự vận dụng phép BCDV vào học thuyết về các quy luật , các hình thức của tư duy bằng cách vận dụng các quy luật của phép BC để xd những yêu cầu mang tính nguyên tắc của pp nhận thức BC

+ Đn 3 : Chỉ có 1 bộ phận nhất định của TH Mác -Lenin thực hiện vai trò pp luận phổ quát, bộ phận ấy chính là lý luận về pp BC nghĩa là logic BC

+ Đn4 : logic BC là KH ng/cứu các quá trình hđ của tư duy nhằm

xd những nd tư tưởng

+ Đn 5 : logic bc không chỉ ng/cứu phép bc của tư duy mà còn ng/cứu tư duy bc

 Việc có nhiều đn khác nhau như vậy không có gì là lạ nhưng tiểu chung lại thì logic học bc về cơ bản trùng lập với lý luận nhận thức của

CNDVBC, do đó trung tâm chú ý của logic học bc là các vấn đề chân lý,

về con đường, cách thức phát hiện tri thức mới

 Tóm lại, logic bc là KH về pp tư duy lý luận hiện đại cho phép thiết lập

và giải quyết hiệu quả những vấn đề phức tạp do quá trình nhận thức KH

và thực tiễn CM, cải tạo thực tiễn đặt ra

b Logic BC là logic học của KH hiện đại: để phát triển KH, mỗi thời đại cần xây dựng một thứ logic học dung hợp vs trình độ phát triển KH của thời đại mình.

- Theo cách hiểu rộng rãi, logic của KH có đối tượng là những tính quy luật chi phối mối quan hệ qua lại giữa sự phát triển của tri thức khoa học vs những phương pháp khoa học chung Tuy nhiên, có quan điểm xem xét logic của KH

là lý luận về những pp của KH chuyên ngành Lại còn có ng ns rằng logic của

KH chính là logic toán, hay ít lắm thì nó là một thứ sản phẩm đặc biệt đc rút ra

từ logic hình thức truyền thống, logic toán và logic BC

- Ngày nay, KH đã khám phá ra logic nội tại chi phối sự hình thành, phát triển

lý thuyết KH, thấy đc vai trò to lớn của logic toán trong sự hình thành và phát triển đó cho nên sự khuếch đại vai trò của logic toán cũng chỉ là logic hình thức bậc cao, vì mang tính chất hình thức nên nó k thể giải quyết đc mọi vấn đè mà nhận thức KH hiện nay đặt ra cho lý luận chung về KH

Trang 7

- Còn nhiều quan điểm thừa nhận hay k thừa nhận logic BC là logic của KH, nhưng theo quan điểm của chúng tôi, k có một loại logic của KH hiện đại

nàobieetj lập vs phép BCDV và khác biệt so vs logic BC cả

=> Vậy logic của qt nghiên cứu và nhận thức KH hay gọi tắt là logic của KH chính là logic biện chứng Chỉ có LGBC ms thiết lập và giải quyết những vấn

đề về: bản chất, kết cấu của qt hình thành, phát triển của lý thuyết KH ns riêng, của nhận thức KH ns chung

Tóm lại LGBC là logic kiểu ms, là KH phổ quát về phương thức tư duy

lý luận hiện đại, cho phép giải quyết những vấn đề của tư duy do nhận thức KH hiện đại đặt ra, giải quyết những vấn đề của thực tiễn cách mạng cải tạo hiện thực mang lại

Câu 3: Phân tích nội dung nguyên tắc toàn diện trong xem xét sự vật? Cho

vd minh hoạ.

- Nguyên tắc này được xd dựa trên nd nguyên lý về mối liên hệ phổ biến Yêu cầu cơ bản của nó đv chủ thể tư duy là : Phải bao quát đối tượng từ mọi phía, mọi phương diện, phải làm sáng tỏ tính đa dạng, tính nhiều vẻ của mối liên hệ, quan hệ, thuộc tính của đối tượng

- Nguyên tắc kquan trong xem xét đòi hỏi xem xét sv tự nó Nhưng sv tự nó không có nghĩa là sv cô lập, mà là sv trong những điều kiện tồn tại tất yếu của

nó, trong những mối quan hệ, liên hệ qua lại giữa nó với những sv khác

- Quan điểm về tính phổ biến của mối liên hệ, quan hệ không chỉ dừng lại trong khuôn khổ triết học mà đã thâm nhập vào mọi ngành khoa học Các nhà KH xem bản chất, thuộc tính cơ bản của sv, hiện tượng là tổng hòa tinh vẻ của quan

hệ quan hệ là đk tất yếu, là phương thức tồn tại của mọi sv, do đó « muốn thực

sự hiểu được sự vật, cần phải nhìn bao quát và nghiên cứu tất cả các mặt, tất cả các mối liên hệ và « quan hệ gián tiếp » của sv dó »

- Tuy nhiên đòi hỏi nhận thức phải bao quát toàn bộ các mặt, các thuộc tính của

sv, phải xem xét nó trong tất cả các mối liên hệ và quan hệ là điều không thể làm được một cách đầy đủ.Yêu cầu toàn diện trong xem xét chỉ mang tính chất định hướng để chủ thể có thể nhận nhiều thông tin về sv càng tốt

- Việc tìm ra thuộc tính, tính chất cơ bản chưa phải là mục tiêu cuối cùng của nhận thức mà chỉ là bắt đầu xuất phát của 1 gđ nhận thức tiếp theo : chủ thể bắt đầu lý giải, mổ xẻ các tinh chất, các thông tin, tài liệu như những trạng thái biểu hiện khác nhau của nó

- Việc tìm ra tính chất cơ bản là bắt đầu chuyển sự xem xét từ các mối liên hệ, quan hệ bên ngoài, thậm chí ngẫu nhiên sang sự xem xét những tác động qua lại

Trang 8

đưa đến việc tách cái tất nhiên ra khỏi cái ngẫu nhiên, tìm ra những thuộc tính tất yếu khác trong sự liên hệ ràng buộc, nghĩa là phát hiện ra bản chất sv Ở mức độ này chủ thể nhận thức tuân thủ theo yêu cầu toàn diện không phải là thu tóm mọi tính chất, xem xét mọi mặt, mọi mối liên hệ, quan hệ mà yêu cầu toàn diện thể hiện bằng việc chủ thể phải nắm bắt những mối liên hệ, những mặt tất yếu trong tính chỉnh thể Chính bản chất sv là tổng hợp những thuộc tính,

những mối liên hệ tất yếu của sv trong sự phụ thuộc quy định lẫn nhau

 Tóm lại, nguyên tắc toàn diện liên hệ mật thiết với nguyên tắc khách quan và các nguyên tắc khác của logic bc Nó thể hiện bằng những yêu cầu sau : Đầu tiên chủ thể nhận thức phải tìm ra càng nhiều tính chất ( mối liên hệ, quan hệ) càng tốt Sau đó, tách ra một hay một vài tính chất

cơ bản Tiếp theo xem xét toàn bộ các tính chất của sv nhưng không phải cái nọ cạnh cái kia mà là liên hệ hữu cơ với nhau và với tính chất cơ bản Sau cùng tiến đến xd hình ảnh chỉnh thể về sv như một hệ thống những mối liên hệ, những mặt tất yếu, bản chất, nội tại gắn bó hữu cơ với nhau

 Chúng ta không chỉ xem xét sv một cách kquan và bao quát sv từ mọi phía, mọi mặt, phản ánh được mọi khía cạnh, mọi mối liên hệ, quan hệ của nó mà chúng ta cần phải xem xét nó trong trạng thái luôn vận động

và phát triển của nó, tức là xem xét lịch sư phát sinh, phát triển của nó Chỉ khi những qkhu của sv, ng/cứu ls ra đời và phát triển của nó chúng ta mới có thể hiểu rõ được thực trạng hiện tại và khám phá ra được những quy luật, những xu hướng phát triển trong tương lai

 Ví dụ, khi phân tích bất cứ một đối tượng nào, chúng ta cũng cần vận dụng lý thuyết hệ thống, tức là: xem xét nó được cấu thành nên từ những yếu tố, bộ phận nào với những mối quan hệ ràng buộc và tương tác nào, từ đó có thể phát hiện ra thuộc tính chung của hệ thống vốn không có ở mỗi yếu tố (thuộc tính “trời”); mặt khác, cũng cần phải xem xét sự vật ấy trong tính mở của nó, tức là xem xét nó trong mối quan hệ với các hệ thống khác, với các yếu tố tạo thành môi trường vận động, phát triển của nó

 Ví dụ về quan điểm toàn diện: " Khi xem xét đánh giá một con người phải đánh giá toàn diện các mặt đức, trí, lao, thể, mĩ trong mối quan

hệ biện chứng với nhau"

Câu 4: Phân tích nội dung nguyên tắc thống nhất giữa phân tích và tổng hợp? Cho vd minh hoạ.

Trang 9

- Để xd khái niệm về một đối tượng nào đó nhất thiết phải tiến hành thao tác phân tích và tổng hợp Phân tích là thao tác của tư duy phân chia một cách tưởng tưởng sv ra thành các thành tố - yếu tố, tính chất, liên hệ, quan hệ của sv

để ng/cứu chúng Nhưng để có quan niệm đúng về sv nhất thiết phải xem xét nó trong tổng thể, phải tái hiện trong tư tưởng những mối liên hệ, quan hệ giữa các yếu tố, tính chất bộ phận hợp thành sv như cái thống nhất toàn vẹn, nghĩa là phải tiến hành thao tác tổng hợp Vì vậy khi xem xét bộ phận ta phải thực hiện đồng thời 2 thao tác phân tích và tổng hợp : Phân tích để tổng hợp, tổng hợp để phân tích sâu hơn

- Phân tích không đòi hỏi phải có tổng hợp (để tạo ra khả năng phát sinh phân tích) mà còn kèm theo tổng hợp phân tích hiện tượng nào đó không chỉ là phân chia chúng ra thành các thành tố - yếu tố, tính chất, liên hệ, quan hệ - riêng biệt

mà còn hợp nhất một số chúng thành các bộ phận khi thấy ở chúng có những đặc điểm chung Sự hợp nhất thành những cái bộ phận và mô tả những cái bộ phận bằng những khái niệm chung đó dựa trên cs tổng hợp Tóm lại trong phân tích có tổng hợp

- Bản thân quá trình tổng hợp cũng kèm theo sự phân tích Khi hợp nhất những

bộ phận, mặt, khía cạnh thành cái chỉnh thể, đồng thời cũng phải xác định vị trí, c/năng của chúng trong hệ thống chỉnh thể đó, nghĩa là tách những cái bộ phận

ra thành những cái hiện thực tương đối ổn định của hệ thống

- Trong phân tích có tổng hợp và trong tổng hợp có phân tích không có nghĩa là xóa đi sự khác biệt, sự độc lập tương đối của chúng Sự phân chia cái chỉnh thể

ra thành các thành tố chủ yếu dựa trên phân tích, và sự hợp nhất các thành tố thành cái chỉnh thể trong tư duy chủ yếu dựa trên tổng hợp Cái chỉnh thể trước hết phân tích và chỉnh thể sau khi tổng hợp sau khi tổng hợp trong tư duy là khác nhau do kiến thức mới thu nhận Tổng hợp không loại bỏ phân tích mà tạo những tiền đề để đổi mới phân tích Tương tự như vậy, phân tích cũng không loại bỏ tổng hợp mà là tạo đk để đổi mới tổng hợp

 Tổng hợp và phân tích hiện diện trong suốt quá trình nhận thức từ cảm tính đến lý tính, nhưng ở mỗi mức độ nhận thức, tổng hợp và phân tích thể hiện dưới dạng những hình thức khác nhau

 Nhận thức bắt đầu từ tri thức về các sv của thế giới xung quanh ( trực quan sinh đông) : ở mức độ nhận thức này thì đây là dạng phân tích và tổng hợp thẳng Sự kết hợp giữa phân tích và tổng hợp ở mức độ nhận thức này là sự kết hợp máy móc, để khám phá cái chung, cái riêng, cái đơn nhất, nhưng chưa phân biệt được cái

cơ bản với không cơ bản Cái tất nhiên với cái ngẫu nhiên…

Trang 10

 Ở mức độ nhận thức quá độ từ cảm tính sang lý tính (tư duy trừu tượng) : Phân tích và tổng hợp thẳng không phù hợp và được thay thế bằng phân tích và tổng hợp hồi qui – phân tích và tổng hợp quyện vào nhau nhằm tìm kiếm nguyên nhân của hiện tượng, vạch

rõ những mối liên hệ nhân quả chi phối sv

 Để khám phá ra bản chất đích thực của sv cần thực hiện thao tác phân tích và tổng hợp cấu trúc di truyền – tức phân chia chỉnh thể

ra thành cái bộ phận và việc liên kết các cái bộ phận lại thành 1 hệ thống hoàn chỉnh Tại đây tiến trình phân tích và tổng hợp trong tư duy xuôi thao tiến trình phát triển ls của sv Sự vận động của tư duy chính là sự tái tạo các gđ của sv trong mối liên hệ lẫn nhau Tư duy biện chứng là tư duy vừa có tính phân tích và vừa có tính tổng hợp

 Nếu phân tích và tổng hợp thẳng vốn đặc trưng cho tư duy thường ngày, phân tích và tổng hợp hồi qui đặc trưng cho tư duy quy nạp của logic hình thức thì phân tích và tổng hợp cấu trúc di truyền gắn với pp đi từ cái trừu tượng đến cái cụ thể trong tư duy

 Ví dụ, một phân tích tổng hợp có thể được tiến hành đối với vài thử nghiệm lâm sàng cho việc chữa trị bệnh nhằm hiểu phương pháp chữa trị đó hiệu quả như thế nào

Ngày đăng: 08/12/2017, 20:37

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w