1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Hiệu quả điều trị viêm niệu đạo do lậu không biến chứng bằng uống Cefixim 400mg liều duy nhất

46 42 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 46
Dung lượng 2,27 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu nghiên cứu của bài viết này đánh giá hiệu quả thật sự của uống Cefixim liều duy nhất trong điều trị bệnh viêm niệu đạo do lậu.

Trang 1

HIỆU QUẢ ĐIỀU TRỊ VIÊM NIỆU ĐẠO DO LẬU KHÔNG BIẾN CHỨNG BẰNG UỐNG CEFIXIM 400MG LIỀU DUY NHẤT

Đào Hữu Ghi * , Trần Lan Anh *,**

TÓM TẮT

Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả điều trị viêm niệu đạo (VNĐ) do lậu không biến chứng bằng uống

cefixim 400mg liều duy nhất

Phương pháp nghiên cứu: Thử nghiệm lâm sàng có đối chứng so sánh.

Kết quả: Hiệu quả lâm sàng sau 3 ngày điều trị VNĐ do lậu không biến chứng bằng cefixim liều duy

nhất kém hơn ceftriaxon, nhưng kết quả sau 5-7 ngày điều trị là như nhau 100% các trường hợp VNĐ do lậu, không biến chứng uống cefixim 400mg liều duy nhất khỏi bệnh sau 7 ngày điều trị Tác dụng không mong muốn gặp tỉ lệ thấp: Tiêu chảy 6,25%, buồn nôn 9,4% Uống cefixim 400mg liều duy nhất an toàn, tiện dụng và kinh tế hơn tiêm ceftriaxon

Từ khóa: Viêm niệu đạo (VNĐ), lậu, cefixim.

* Bệnh viện Da Liễu Trung ương

** Trường Đại học Y Hà Nội

Phản biện khoa học: PGS TS Nguyễn Duy Hưng

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Nhiễm lậu cầu khuẩn là một trong những

nguyên nhân thường gặp nhất trong các viêm

niệu đạo (VNĐ) ở nam giới Nếu không điều trị

kịp thời, bệnh có thể để lại các di chứng như chít

hẹp niệu đạo, viêm tinh hoàn - mào tinh hoàn dẫn

đến vô sinh [1] Theo hướng dẫn của TCYTTG và

hướng dẫn QG về chẩn đoán và điều trị các bệnh

lây truyền đường tình dục (LTQĐTD) của BYT, có

nhiều thuốc kháng sinh được sử dụng để điều trị

VNĐ do lậu, trong đó với các trường hợp lậu không

biến chứng, thuốc được chọn lựa đầu tiên là uống

cefixim 400mg liều duy nhất [2] Tuy nhiên, thực tế

Việt Nam hiện nay cho thấy đây mới là liều khuyến

cáo Các thầy thuốc lâm sàng ít sử dụng phác

đồ này do chưa thật sự tin tưởng vào hiệu quả điều trị của nó, thay vào đó cho bệnh nhân tiêm Ceftriaxon hoặc cho uống Cefixim liều cao hơn, kéo dài hơn Với phương pháp điều trị như vậy, có thể làm cho người bệnh phải sử dụng nhiều thuốc hơn, tốn kém hơn và tạo điều kiện cho vi khuẩn kháng thuốc Gần đây tại một số nước như Nhật Bản, Thụy Điển, Na Uy… đã có thông báo về một

số trường hợp lậu kháng thuốc với cefixim

Với mong muốn đánh giá hiệu quả thật sự của uống cefixim liều duy nhất trong điều trị bệnh VNĐ do lậu, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài

với mục tiêu: Đánh giá hiệu quả điều trị VNĐ do lậu

(không biến chứng) bằng uống cefixim 400mg liều duy nhất.

II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1 Đối tượng

Bệnh nhân nam được chẩn đoán là VNĐ do

Trang 2

lậu không biến chứng đến khám tại Bệnh viện Da

liễu Trung ương từ 9/2012- 8/2013

* Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân

+ Bệnh nhân nam được chẩn đoán VNĐ do

lậu không biến chứng, không nhiễm đồng thời

Chlamydia và các nguyên nhân khác.

+ Không mắc các bệnh suy giảm miễn dịch,

hoặc không dùng thuốc gây suy giảm miễn dịch

+ Bệnh nhân VNĐ do lậu có biến chứng,

nhiễm đồng thời các nguyên nhân khác, có HIV

2 Phương pháp

- Thiết kế: Nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng

ngẫu nhiên có đối chứng so sánh

2 2 2 1 1 2

/ 1

) (

) 1 ( ) 1 ( )

1 ( 2

P P

P P P P Z P P Z

− +

− +

n1: cỡ mẫu của nhóm nghiên cứu (NC)

n2: cỡ mẫu của nhóm đối chứng (ĐC)

Z1-a/2: hệ số tin cậy 95% (= 1,96)

Thực tế trong nghiên cứu chọn được 64 bệnh

nhân đủ tiêu chuẩn chia 2 nhóm nghiên cứu: n1 =

n2 = 32 bệnh nhân

- Vật liệu nghiên cứu

- Thuốc cefixim (biệt dược: cefibiotic), viên

nén 200mg, do công ty cổ phần dược Trung ương MEDIPHARCO-TENAMYD sản xuất, sản xuất nhượng quyền của TENAMID CANADA tại Việt Nam

- Thuốc ceftriaxon (biệt dược: Rocephin), lọ 1g

do hãng La Roche Thụy Sĩ sản xuất

Các bước tiến hành

* Phỏng vấn và thăm khám làm bệnh án

nghiên cứu

Xác định lậu cầu [3]

- Phương pháp xét nghiệm nhuộm Gram soi trực tiếp

- Phương pháp nuôi cấy

* Chọn ngẫu nhiên bệnh nhân vào 2 nhóm bao gồm nhóm nghiên cứu và nhóm đối chứng: các bệnh nhân đủ tiêu chuẩn của VNĐ do lậu không biến chứng và không đồng nhiễm các nguyên nhân khác (đã xét nghiệm loại trừ)

- Nhóm 1: bệnh nhân được uống cefixim

200mg, uống 2 viên liều duy nhất

- Nhóm 2: Bệnh nhân được tiêm ceftriaxon

250 mg, liều duy nhất

* Đánh giá kết quả sau điều trị

- Khỏi bệnh: hết các triệu chứng lâm sàng, sau

7 ngày lấy dịch niệu đạo nuôi cấy không thấy vi khuẩn lậu

- Không khỏi: không hết triệu chứng lâm sàng, sau 7 ngày lấy dịch niệu đạo nuôi cấy còn vi khuẩn lậu

- Khảo sát tác dụng không mong muốn

3 Xử lý số liệu: được xử lí theo thống kê y học

4 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

Tại khoa Khám bệnh và khoa Xét nghiệm của

Trang 3

Bệnh viện Da liễu Trung ương từ 9/2012- 8/2013.

III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Trong thời gian nghiên cứu có 1904 bệnh

nhân nam có tiết dịch niệu đạo đến khám tại bệnh

viện, trong đó có 451 bệnh nhân bị VNĐ do lậu Đã trực tiếp phỏng vấn và làm bệnh án cho 77 bệnh nhân, trong đó có 64 bệnh nhân đủ tiêu chuẩn và đồng ý tham gia nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng

1 Đánh giá hiệu quả điều trị VNĐ do lậu bằng uống cefixim

* So sánh kết quả điều trị của 2 nhóm

Bảng 1 Kết quả sau điều trị 3 ngày ở 2 nhóm bệnh nhân

Khỏi triệu chứng lâm sàng

Nhóm 1

Đái buốt, đái dắt 11 34,4 23 71,9 (p=0,005)p<0,01Nóng dọc niệu đạo 12 37,5 22 68,8 (p=0,023)p<0,05

Tiết dịch niệu đạo 20 62,5 27 84,4 (p=0,88)p>0,05

Nhận xét bảng 1: hết triệu chứng đái buốt, nóng dọc niệu đạo sau 3 ngày điều trị ở nhóm 1 thấp hơn

nhóm 2, sự khác biệt ý nghĩa thống kê với p<0,05

Bảng 2 Kết quả sau điều trị 5 ngày ở bệnh nhân 2 nhóm

Khỏi triệu chứng lâm sàng

Nhóm 1

Nóng dọc niệu đạo 25 78,1 27 84,4 p>0,05

Nhận xét bảng 2: sau điều trị 5 ngày: 100% số bệnh nhân cả hai nhóm hết các triệu chứng tiết dịch

niệu đạo, đái buốt, viêm đỏ miệng sáo Hết triệu chứng nóng dọc niệu đạo ở 78,1% nhóm 1 và 84,4% nhóm 2; sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê với p>0,05

Trang 4

Bảng 3 Kết quả nuôi cấy tìm vi khuẩn lậu sau

điều trị 7 ngày ở 2 nhóm

Kết quả

Nhóm 1 n=32 Nhóm 2 n=32

Âm tính 32 100 32 100

Nhận xét bảng 3: sau điều trị 7 ngày, lấy dịch

niệu đạo ở 2 nhóm nuôi cấy tìm vi khuẩn lậu cho

thấy 100% bệnh nhân ở cả 2 nhóm đều cho kết

Nhận xét bảng 4: sau điều trị 7 ngày, 100%

bệnh nhân ở cả 2 nhóm đều hết các triệu chứng

lâm sàng và nuôi cấy đều không thấy vi khuẩn lậu

Như vậy, ở cả 2 nhóm bệnh nhân đều khỏi bệnh

Nhận xét bảng 5: tác dụng không mong muốn

sau khi dùng thuốc ở 2 nhóm nghiên cứu là không đáng kể Sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê p>0,05

* So sánh tiêu chí đảm bảo sử dụng thuốc

an toàn, hợp lý của cefixim và ceftriaxon

Bảng 6 So sánh tiêu chí đảm bảo sử dụng thuốc

an toàn, hợp lý của 2 thuốc

Hiệu quả điều trị Khỏi bệnh Khỏi bệnh

An toàn, tiện dụng Uống TiêmKinh tế 30.000 đ 200.000 đ

- Đái buốt

Nhóm 1 (uống cefixim 400mg liều duy nhất)

có 34,4% hết đái buốt, trong khi nhóm 2 (nhóm tiêm ceftriaxon 250mg liều duy nhất) có 68,8% hết triệu chứng này Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p<0,01

- Nóng dọc niệu đạo

Nhóm 1 có 37,5% bệnh nhân hết triệu chứng nóng dọc niệu đạo, trong khi nhóm 2 có 68,8% hết triệu chứng này Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê

Trang 5

với p<0,05.

- Tiết dịch niệu đạo

Nhóm 1 có 62,2% bệnh nhân hết tiết dịch

niệu đạo, nhóm 2 có 84,4% bệnh nhân hết triệu

chứng này Tuy nhiên, sự khác biệt không có ý

nghĩa thống kê với p>0,05

- Sau 5 ngày

Kết quả cho thấy sau 5 ngày (bảng 2) 100%

các triệu chứng tiết dịch niệu đạo, đái buốt, viêm

đỏ miệng sáo đã hết hoàn toàn ở cả 2 nhóm Hết

triệu chứng nóng dọc niệu đạo ở 78,1% nhóm 1

và 84,4% nhóm 2; Sự khác biệt không có ý nghĩa

thống kê với p>0,05

- Sau 7 ngày

100% bệnh nhân ở cả 2 nhóm đều hết các

triệu chứng (bảng 4) và nuôi cấy đều không thấy

vi khuẩn lậu (bảng 3) Cả 2 nhóm bệnh nhân đều

khỏi bệnh 100% sau điều trị 7 ngày

Như vậy không thấy sự kháng kháng sinh của

bệnh nhân 2 nhóm Tham khảo kết quả nuôi cấy

cho thấy cả 35 mẫu nuôi cấy bệnh phẩm dịch niệu

đạo có vi khuẩn lậu mọc đều nhạy cảm với cả 2

loại kháng sinh cetriaxon và cefixim

Tuy nhiên, gần đây CDC thông báo nồng độ

tối thiểu của cefixim cần thiết để ức chế sự phát

triển N.gonorrhoeae trong ống nghiệm tại Hoa Kỳ

và nhiều quốc gia khác tăng, cho thấy hiệu quả của

cefixim có thể suy yếu Với ý nghĩa đó, CDC khuyến

cáo điều trị bệnh lậu nên kết hợp với một kháng

sinh thứ 2 để hạn chế sự gia tăng kháng thuốc của

vi khuẩn lậu Khuyến cáo là sự kết hợp ceftriaxon

250mg hoặc cefixim 400mg và azithromycin 1g

uống liều duy nhất hoặc doxycyclin 100mg uống

2 lần mỗi ngày trong 7 ngày

Đối với bệnh nhân dị ứng nghiêm trọng

với cephalosporin, CDC khuyến cáo dùng

azithromycin 2g uống 1 liều duy nhất Trong cả 2

trường hợp CDC khuyến cáo cần xét nghiệm tìm vi

khuẩn lậu sau 1 tuần điều trị [4]

2 Đánh giá tác dụng không mong muốn ở 2 nhóm

Kết quả nghiên cứu (bảng 5) cho thấy tác dụng không mong muốn ở cả 2 nhóm là không đáng kể

* Nhóm 1: có 6,25% bệnh nhân bị tiêu chảy, 9,4% bị buồn nôn

* Nhóm 2: có 12,5% bệnh nhân có đau đầu chóng mặt, 3,1% bệnh nhân có buồn nôn

Theo các tài liệu cho thấy khi dùng Ceftriaxon dung nạp tốt Khoảng 8% có tác dụng phụ, bao gồm Tiêu hóa: tiêu chảy, da: nổi mày đay; Thần kinh: đau đầu, chóng mặt, phản vệ; Máu: thiếu máu, mất bạch cầu hạt, rối loạn đông máu; Quá mẫn: sốc phản vệ Cefixim cũng là thuốc dung nạp tốt, các tác dụng không mong muốn thường thoáng qua, mức độ nhẹ và vừa Ước tính tỉ lệ mắc tác dụng không mong muốn có thể lên đến 50%

số người bệnh dùng thuốc nhưng chỉ 5% số người bệnh phải ngừng dùng thuốc

Các tác dụng không mong muốn chúng tôi gặp chỉ thoáng qua, không bệnh nhân nào phải ngừng thuốc và xử lí gì thêm

3 So sánh các tiêu chí đảm bảo sử dụng thuốc hợp lý của cefixim và ceftriaxon

- Sau 7 ngày điều trị: Hiệu quả điều trị bệnh nhân của 2 thuốc là như nhau (bảng 4) Tuy nhiên, hiệu quả điều trị khỏi các triệu chứng đái buốt, đái dắt và nóng dọc niệu đạo của ceftriaxon nhanh hơn cefixim sau 3 ngày điều trị (bảng 1) Có thể

do thời gian đạt nồng độ đỉnh của ceftriaxon sau khi tiêm là 2-3 giờ sớm hơn thời gian đạt nồng

độ đỉnh của cefixim sau khi uống là 2-6 giờ Mặc

dù vậy, sau 5 ngày thì hiệu quả điều trị bệnh VNĐ của 2 thuốc là như nhau (bảng 3) Các thầy thuốc lâm sàng cần giải thích cho bệnh nhân về các triệu chứng lâm sàng của VNĐ do lậu sẽ hết sau 5 đến

7 ngày điều trị khi được uống cefixim 400mg liều duy nhất để bệnh nhân an tâm

Trang 6

- Tính an toàn và tiện dụng: dùng cefixim sẽ

tiện dụng hơn vì bệnh nhân tự uống và có thể sẵn

có, dễ mua hơn ceftriaxon Ngoài ra, thuốc có thể

điều trị cho bạn tình dễ dàng và dễ được chấp

nhận, từ đó góp phần điều trị bệnh sớm, tránh

biến chứng và cắt đứt nguồn lây

- Kinh tế: uống 2 viên cefixim chỉ mất 30.000

đồng rẻ hơn nhiều so với tiêm ceftriaxon mất

200.000 đồng

V KẾT LUẬN

- Hiệu quả lâm sàng sau 3 ngày điều trị Viêm

niệu đạo do lậu của cefixim kém hơn ceftriaxon,

nhưng kết quả sau 5-7 ngày điều trị là như nhau

- 100% các trường hợp uống Cefixim 400mg liều duy nhất khỏi bệnh sau 7 ngày điều trị

- Tác dụng không mong muốn gặp tỉ lệ thấp: tiêu chảy 6,25%, buồn nôn 9,4%

- Uống cefixim 400mg liều duy nhất an toàn, tiện dụng và kinh tế hơn tiêm ceftriaxon

Vì vậy, lựa chọn cefixim 400mg liều duy nhất

để điều trị VNĐ do lậu vẫn rất hiệu quả Tuy nhiên cần phải được giám sát thường quy sự kháng kháng sinh của vi khuẩn lậu để có sự chọn lựa kháng sinh phù hợp

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 World Healh Association/Global Program

on AIDS(1995), Global prevalences and incidences

of selected curable sexually transmitted diseases:

Overview and estimates, WHO/ GPA/STD, pp 1-26

2 Da liễu học (2012), Nhà xuất bản giáo dục

Việt Nam, tr 132

3 Viện Da liễu Việt Nam (2003), Tài liệu tập

huấn kỹ thuật xét nghiệm chẩn đoán các nhiễm khuẩn LTQĐTD tr 48-53.

4 CDC report (2012), Update to CDC sexully

transmitted diseases treatment guidelines, 2010: oral Cephalosporins no longer a recommended treatment for gonococcal infection.

SUMMARY

EFFECTIVE TREATMENT OF URETHRITIS DUE TO GONORRHEA

WITH ORAL CEFIXIM 400 MG SINGLE DOSE Objective: To assess the effects of urethritis treatment of uncomplicated gonorrhea with oral cefixim

400 mg single dose

Research Methods: Clinical trials, comparing

Results: The clinical efficacy after 3 days of treatment urethritis treatment of uncomplicated

gonorrhea by cefixim less than ceftriaxon, but the results after 5-7 days of treatment is the same The urethritis treatment of uncomplicated gonorrhea with oral cefixim 400 mg single dose cured after 7 days of treatment Unwanted effects have low rate: diarrhea 6.25%, nausea 9.4% 400mg single dose oral cefixim is safer, more convenient and more economical than ceftriaxon injection

Keywords: urethritis, gonorrhea, cefixim.

Trang 7

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ ĐIỀU TRỊ NEVUS HORI

BẰNG LASER YAG Q-SWITCHED

Nguyễn Thế Vỹ*, Nguyễn Ngọc Yến*

TÓM TẮT

Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả điều trị nevus Hori bằng Laser Yag q-switched

Phương pháp: Thử nghiệm lâm sàng so sánh trước sau điều trị trên 24 bệnh nhân

Kết quả: sau 5 lần điều trị nevus Hori bằng laser QS Yag: 70,8% đạt kết quả mức rất tốt, 16,7% mức

tốt, 12,5% đạt mức trung bình 58,3% bệnh nhân tăng sắc tố tạm thời trong quá trình điều trị 87,5% bệnh nhân rất hài lòng và hài lòng với kết quả điều trị

Kết luận: Điều trị nevus Hori bằng laser QS Yag đạt kết quả cao, an toàn.

Từ khóa: laser Yag q-switched, nevus Hori

* Bệnh viện Da liễu Hà Nội

Phản biện khoa học: PGS TS Nguyễn Hữu Sáu

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Nevus Hori là một rối loạn sắc tố mắc phải,

được tác giả Hori mô tả lần đầu tiên vào năm 1984

Biểu hiện lâm sàng của bệnh là những đám sắc tố

màu nâu hoặc đen vùng mặt, thường gặp ở hai

bên má Nếu không được điều trị người bệnh sẽ

phải mang đám tăng sắc tố suốt đời, ngày càng

đậm lên và lan rộng trên mặt, vì thế nevus Hori

ảnh hưởng rất nhiều đến thẩm mỹ và tâm lý của

người bệnh Điều trị nevus Hori là nhu cầu chính

đáng và hết sức cấp thiết

Điều trị nevus Hori hiện nay thường dùng các

loại laser q-switched (QS) như QS Yag, QS Ruby,

QS Alexandrite, … Trong đó laser QS Yag được

sử dụng phổ biến trong những năm gần đây Tuy

nhiên, tại Việt Nam điều trị nevus Hori bằng laser

QS Yag vẫn là một kỹ thuật mới và chưa có nhiều

nghiên cứu về hiệu quả của kỹ thuật này trong

điều trị nevus Hori được công bố Vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu nhằm đánh giá hiệu quả điều trị nevus Hori bằng Laser Yag q-switched

II ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1 Đối tượng nghiên cứu

24 bệnh nhân nevus Hori điều trị tại Bệnh viện Da liễu Hà Nội từ 1/2012-5/2013

Tiêu chuẩn lựa chọn: Bệnh nhân được chẩn

đoán nevus Hori, điều trị đủ liệu trình, không đang dùng các thuốc làm da nhạy cảm ánh sáng, không mắc các bệnh ác tính, không mắc bệnh mạn tính

2 Phương pháp nghiên cứu

Thiết kế nghiên cứu: tiến cứu, thử nghiệm

lâm sàng, tự so sánh trước và sau điều trị

Cỡ mẫu: mẫu thuận tiện, lấy toàn bộ những

bệnh nhân nevus Hori đủ các tiêu chuẩn, điều trị tại Bệnh viện Da liễu Hà Nội 1/2012-5/2013: tổng

số 24 bệnh nhân

Trang 8

Vật liệu nghiên cứu:

- Máy Laser QS Yag

- Bảng thang màu của Von Luschan

Laser QS Yag

Bảng thang màu của Von Luschan

- Thuốc tê, máy ảnh, bệnh án nghiên cứu theo

mẫu

Các bước tiến hành:

Khám, tư vấn bệnh nhân, chụp ảnh, làm hồ sơ

theo dõi

Xác định liệu trình và tiến hành điều trị Chăm

sóc, theo dõi sau điều trị

Phác đồ điều trị:

Liệu trình điều trị 5 lần, khoảng cách giữa 2

lần điều trị 4-8 tuần, bước sóng 1064nm, mật độ

năng lượng 300-500mj, kích thước chùm tia 3mm,

điểm cuối lâm sàng rớm máu nhẹ

Chăm sóc sau điều trị:

Chườm lạnh, bôi kem kháng sinh tại chỗ, kem chống nắng

Phương pháp đánh giá hiệu quả điều trị:

- Đánh giá màu sắc của thương tổnKhám tổn thương, đánh giá mức độ sắc tố của tổn thương dựa vào bảng màu trên thang màu chuẩn của Von Luschan và cách phân chia mức độ tăng sắc tố của Rolfpeter-Zaumseil [3]

Độ 1: cùng màu da với da bình thường; Độ 2: tăng sắc tố nhẹ (19-24 trên bảng thang màu); Độ 3: tăng sắc tố mức trung bình 25-27 trên bảng màu);

Độ 4: tăng sắc tố đậm (28-32 trên bảng màu); Độ 5: tăng sắc tố rất đậm (33-36 trên bảng màu)

- Đánh giá kết quả điều trị sau 3-5 lần chiếu laser: Dựa vào khám, so sánh ảnh trước sau điều trị Thời điểm đánh giá sau điều trị 2 tháng

Giảm sắc tố tại thương tổn: bằng cách so màu thương tổn trên thang màu của Von Luschan xác định mức độ giảm sắc tố sau điều trị Sau đó áp dụng tiêu chuẩn đánh giá về mức độ giảm sắc tố tại thương tổn trong các bệnh da có tăng sắc tố của các tác giả Rolfpeter-Zaumseil, Klaun-Grounpe [3]:

Rất tốt: khi thương tổn giảm sắc tố được ≥ 3

mức (ví dụ trước điều trị thương tổn tăng sắc tố

ở mức rất đậm, sau điều trị mức độ tăng sắc tố là nhẹ, như vậy giảm được 3 mức) Hoặc khỏi hoàn toàn tức là da trở về bình thường sau điều trị, dù chỉ giảm được 1 mức

Tốt: thương tổn giảm sắc tố được 2 mức so với

Trang 9

Các biến số nghiên cứu: đặc điểm bệnh nhân về tuổi, khởi phát, mức độ bệnh, đánh giá hiệu quả điều

trị, đánh giá tác dụng phụ của điều trị

Xử lý số liệu: Số liệu thu thập được xử lý bằng phần mềm y học.

III KẾT QUẢ

1 Đặc điểm bệnh nhân theo tuổi và khởi phát bệnh

Bảng 1 Phân bố bệnh nhân theo nhóm tuổi (n=24)

Tuổi phát bệnh 2 8,3 3 12,5 16 66,7 3 12,5 24 100Tuổi bệnh nhân 1 4,2 3 12,5 11 45,8 9 37,5 24 100Nhận xét bảng 1: 66,7% nevus Hori khởi phát bệnh ở lứa tuổi 31-40, đây cũng là nhóm tuổi hay gặp nhất đến điều trị với tỷ lệ 45,8%

2 Đặc điểm mức độ sắc tố nevus Hori, liên quan giữa mức sắc tố với tuổi

Bảng 2 Đặc điểm mức độ sắc tố nevus Hori, liên quan giữa mức sắc tố với tuổi

3 Kết quả điều trị nevus Hori sau 3-5 lần điều trị

Bảng 3 Kết quả điều trị nevus Hori sau 3-5 lần điều trị (n=24)

Trang 10

Nhận xét bảng 3: hiệu quả điều trị nevus Hori

bằng laser Qs Yag tăng dần khi chiếu laser nhiều

lần Sau 5 lần điều trị 70,8% bệnh nhân nevus Hori

sắc tố tạm thời trong quá trình điều trị

5 Mức độ hài lòng của bệnh nhân với kết quả

Nevus Hori được mô tả từ năm 1984 bởi tác

giả Hori sau đó lấy tên ông là Nevus Hori, căn

nguyên bệnh vẫn chưa rõ ràng nhưng một số tác

giả cho rằng nevus hori là một biến thể của nevus

Ota, trong khi đó một số tác giả khác ghi nhận nevus Hori có liên quan đến nội tiết và sự lão hóa (thường xuất hiện và tăng lên ở phụ nữ sau sinh, lớn tuổi), bệnh khởi phá muộn, tăng lên theo thời gian đồng thời bệnh cũng chịu ảnh hưởng của ánh sáng mặt trời[ 2] Trong nghiên cứu của chúng tôi, 66,7% nevus Hori khởi phát bệnh ở lứa tuổi 31-

40, đây cũng là nhóm tuổi hay gặp nhất đến điều trị với tỷ lệ 45,8%

Nevus Hori tuy ít ảnh hưởng đến sức khỏe nhưng lại ảnh hưởng nhiều đến thẩm mỹ chính

là do màu sắc của thương tổn trên khuôn mặt Chúng tôi tiến hành khảo sát mức độ sắc tố của nevus Hori theo bảng màu trên thang màu chuẩn của Von Luschan và cách phân chia mức độ tăng sắc tố của Rolfpeter-Zaumseil, Klaun-Grounpe Kết quả cho thấy sắc tố mức đậm là hay gặp nhất trong nevus Hori với tỷ lệ 33,3% Những người trẻ biểu hiện sắc tố nhẹ hơn người lớn tuổi

Trước đây điều trị nevus Hori kết quả không cao, công nghệ laser Q-switched ra đời đã tạo ra bước đột phá trong điều trị nevus Hori Trong số các loại laser QS thông dụng điều trị nevus Hori, laser QS Yag được coi là loại laser điều trị hiệu quả,

ít tác dụng phụ, chi phí đầu tư thấp Tại Việt Nam, laser QS Yag cũng là loại laser QS phổ biến nhất chính vì thế chúng tôi lựa chọn đánh giá hiệu quả điều trị nevus Hori bằng laser QS Yag Trong nghiên cứu của chúng tôi, kết quả sau 3-5 lần điều trị nevus Hori bằng laser QS Yag: mức cải thiện tổn thương tăng dần khi điều trị nhiều lần, sau 5 lần chiếu laser 70,8% bệnh nhân đạt kết quả mức rất tốt, mức cải thiện tốt là 16,7%; 12,5% đạt mức trung bình Theo nghiên cứu của Woo Jin Lee 76% bệnh nhân có kết quả điều trị rất tốt và tốt sau 3-5 lần điều trị, nếu được điều trị > 6 lần, tỷ lệ này

là 90% [6] Somyos Kunachak khi nghiên cứu 68

Trang 11

bệnh nhân nevus Hori người Thái Lan nhận thấy

sau 2 lần điều trị 50% bệnh nhân có cải thiện mức

tốt, sau liệu trình điều trị ≥ 6 lần 100% bệnh nhân

đạt kết quả cải thiện ≥ 70% [4] Theo Yoon Jee Kim

> 80% nevus Hori điều trị laser QS Yag đạt cải thiện

mức tốt trở lên [5] Kết quả nghiên cứu giữa các

tác giả có thể khác nhau về tỷ lệ % cụ thể nhưng

có một điểm chung là tỷ lệ thành công trong điều

trị rất cao, đồng thời cũng phản ánh điều trị nevus

Hori bằng laser QS Yag kết quả tăng dần sau mỗi

lần điều trị và càng điều trị nhiều lần, kết quả càng

tốt Chúng tôi cho rằng điều này rất có ý nghĩa với

bệnh nhân, nhất là với những trường hợp kiên trì

trong điều trị, đồng thời cũng giúp các bác sỹ đưa

ra được sự tư vấn, phác đồ điều trị, tiên lượng phù

hợp nhất cho từng bệnh nhân cụ thể Chúng tôi

cho rằng một trong những nguyên nhân của sự

khác biệt giữa các kết quả nghiên cứu là đối tượng

bệnh nhân trong các nghiên cứu khác nhau

Những bệnh nhân thương tổn đậm, rộng sẽ đáp

ứng điều trị chậm hơn và cần nhiều lần chiếu laser

hơn bệnh nhân thương tổn nhẹ Điều này cũng

hoàn toàn phù hợp với những nghiên cứu đối

chiếu giữa kết quả điều trị với mức độ nặng của

bệnh trên lâm sàng và hình ảnh mô bệnh học

Đánh giá tác dụng không mong muốn cũng

như biến chứng sau điều trị nevus Hori bằng laser

QS Yag là hết sức cần thiết nhằm xem xét độ an

toàn của phương pháp điều trị, đây cũng là mối

quan tâm lớn của các bác sỹ điều trị lâm sàng

Theo tác giả Bangjin Lee: 63,8% bệnh nhân có

hiện tượng tăng sắc tố tạm thời trong quá trình

điều trị [1], tỷ lệ này trong nghiên cứu của Woo Jin

Lee là 40% [6], nghiên cứu của Somyos Kunachak

báo cáo tỷ lệ tăng sắc tố là 50% [4] Tăng sắc tố

tạm thời là tác dụng phụ thường được mô tả trong

các báo cáo, các biến chứng khác như giảm sắc tố

hoặc sẹo rất ít xảy ra Theo kết quả của chúng tôi tăng sắc tố tạm thời gặp ở 58,3% bệnh nhân trong quá trình điều trị Tăng sắc tố thường xuất hiện 2 tuần sau điều trị laser, giảm hoặc biến mất sau 4-6 tuần Thuốc bôi chúng tôi khuyến cáo bệnh nhân

sử dụng là Hydroquinone (Domina) và kem chống nắng Không có trường hợp nào tăng sắc tố vĩnh viễn, tạo sẹo hoặc giảm sắc tố trong nghiên cứu của chúng tôi Như vậy, các nghiên cứu đều cho thấy tăng sắc tố là tác dụng phụ rất thường gặp trong điều trị nevus Hori bằng laser QS Yag Tuy nhiên, tăng sắc tố chỉ là tạm thời, nó sẽ biến mất, không để lại biến chứng nào sau khi kết thúc điều trị Điều này hoàn toàn có thể chấp nhận được trong điều trị nevus Hori Các tác dụng không mong muốn khác như đau rát, rớm máu, xưng nề gặp ở tất cả bệnh nhân nhưng biến mất sau 1-3 ngày điều trị mà không để lại di chứng gì Điều đó chứng tỏ laser QS Yag thật sự an toàn, hiệu quả trong điều trị nevus Hori

Với những điều trị mang tính thẩm mỹ như nevus Hori, sự hài lòng của người bệnh là một tiêu chí đánh giá mức độ thành công điều trị Trong nghiên cứu của chúng tôi, 87,5% bệnh nhân rất hài lòng và hài lòng với kết quả điều trị

V KẾT LUẬN

Điều trị nevus Hori bằng laser QS Yag, sau 5 lần điều trị: tất cả các bệnh nhân đều có cải thiện trong đó 70,8% đạt kết quả mức rất tốt, 16,7% mức tốt 58,3% bệnh nhân có tăng sắc tố tạm thời trong quá trình điều trị 87,5% bệnh nhân rất hài lòng và hài lòng với kết quả điều trị

VI KIẾN NGHỊ

Điều trị nevus Hori bằng laser QS Yag nên được áp dụng tại các cơ sở điều trị, liệu trình ít nhất 5 lần

Trang 12

Objective: To assess the effects of treatment Hori’s nevus by QS Nd: Yag laser Methods: A clinical trial comparing before and after treatment in 24 patients

Results: After 5 times of treatments Hori’s nevus by QS Nd: Yag laser: 70.8% achieved a very good

result, 16.7% of good, averaging 12.5% 58.3% of patients in the temporary hyperpigmentation treatment 87.5% of patients are very satisfied and happy with the results of treatment

Conclusion: Treatment Hori’s nevus by QS Yag laser is high results and safety

Keywords: QS Nd: Yag laser, Hori’s nevus

MỘT SỐ HÌNH ẢNH ĐIỀU TRỊ

Pham Thu H 39t: Trước điều trị Sau 5 lần điều trị laser

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Bangjin Lee (2004) Comparison of

Characteristics of Acquired Bilateral Nevus of

Ota-like Macules and Nevus of Ota According to

Therapeutic Outcome J Korean Med Sci 2004

August; 19 (4) : 554–559

2 Park JM , Tsao H , Tsao S (2009) Acquired

bilateral nevus of Ota-like macules (Hori nevus):

etiologic and therapeutic considerations J Am

Acad Dermatol 2009 Jul;61(1):88-93.

3 Rolfpeter Zaumseil, Klaungroupe (1998)

Topical Hydroquinone in the treatment of melasma

Pharmacological and clinical consideration, 25-45

4 Somyos Kunachak, Panadda Leelaudomlipi (2000) Q-Switched Nd:YAG Laser Treatment for Acquired Bilateral Nevus of Ota-Like Maculae:

A Long-Term Follow-Up Lasers in Surgery and

Medicine 26:376–379

5 Yoon Jee Kim , MD, Kyu Uang Whang(2012) Efficacy and Safety of 1,064 nm Q-switched Nd:YAG Laser Treatment for Removing Melanocytic Nevi

Ann Dermatol 2012 May; 24 (2) : 162–167

6 Woo Jin Lee , Seung Seog Han (2009) Q-Switched Nd:YAG Laser Therapy of Acquired

Bilateral Nevus of Ota-like Macules Ann Dermatol

2009 August; 21 (3) : 255–260

Trang 14

ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, MÔ BỆNH HỌC BỆNH LICHEN PHẲNG TẠI BỆNH VIỆN DA LIỄU TRUNG ƯƠNG TỪ 03/2013 ĐẾN 09/2013

Nguyễn Thùy Linh*, Nguyễn Duy Hưng*

TÓM TẮT

Đặt vấn đề: Lichen là bệnh lý được xếp vào nhóm viêm da mạn tính có sự tham gia của tế bào

lympho T Lichen phẳng (LP) là một bệnh thường gặp với tổn thương ở da, niêm mạc, tóc và móng Tỉ lệ bệnh khoảng 0.14-0.8% dân số và cơ chế bệnh sinh cho đến nay còn chưa rõ ràng

Mục tiêu: Khảo sát đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và các yếu tố liên quan của bệnh LP tại Bệnh

viện Da liễu Trung ương (BVDLTW)

Đối tượng và phương pháp: phương pháp mô tả cắt ngang dựa trên 102 bệnh nhân được chẩn

đoán xác định LP bằng sinh thiết da tại BVDLTW từ 03/2013 đến 09/2013

Kết quả: Qua nghiên cứu 102 bệnh nhân LP chúng tôi thấy tuổi trung bình của bệnh nhân trong

nghiên cứu là 41.3 ± 20.2 Tỉ lệ nam và nữ khác biệt không có ý nghĩa thống kê: 1/1.3; 84.3% bệnh nhân

có tổn thương da, hình thái tổn thương da hay gặp nhất là sẩn (94.2%); 65.1% tổn thương có màu tím hoa cà; vị trí hay gặp nhất là ở chân (68.6%); 28.4% bệnh nhân có tổn thương niêm mạc trong đó hình thái hay gặp nhất là mảng trắng (69%) Triệu chứng ngứa gặp ở 83.3% bệnh nhân 14.1% bệnh nhân có HbsAg (+); không có bệnh nhân nào nhiễm virus viêm gan C Trên mô bệnh học 97% bệnh nhân là lichen phẳng kinh điển

Từ khóa: Lichen phẳng, Bệnh viện Da liễu Trung ương.

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Lichen phẳng (LP) được phân loại vào nhóm

bệnh có sẩn Đây là bệnh da viêm cấp hoặc mãn

tính có biểu hiện da, niêm mạc, tóc và móng Tổn

thương là các sẩn dẹt phẳng, hình đa giác, màu đỏ

hồng hoặc tím hoa cà, bóng, ngứa ở da và các sẩn

màu trắng sữa hình mạng lưới trong trong niêm

mạc miệng LP là do phản ứng của cơ thể đối với

tác nhân xâm phạm từ bên ngoài nhưng chưa rõ

nguồn gốc Miễn dịch qua trung gian tế bào đóng vai trò quan trọng trong việc gây ra các biểu hiện lâm sàng của bệnh Cả hai loại tế bào TCD4 + và TCD8 + đều được tìm thấy trong tổn thương da Tiến triển của bệnh có thể dẫn đến sự tăng lắng đọng của tế bào CD8 + [1] Tại Việt Nam, LP không phải là bệnh viêm da hiếm gặp, tuy nhiên còn ít các nghiên cứu về vấn đề này Do đó, chúng tôi tiến hành nghiên cứu nhằm mục đích khảo sát đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và các yếu tố liên quan của bệnh LP trong thời gian từ 03/2013 đến 09/2013 tại BVDLTW

* Bệnh viện Da liễu TW

Phản biện khoa học: PGS.TS Nguyễn Hữu Sáu

Trang 15

II ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1 Đối tượng nghiên cứu

Bệnh nhân được chẩn đoán lâm sàng LP và có

kết quả mô bệnh học chẩn đoán xác định Lichen

phẳng đến khám và điều trị tại Bệnh viện Da liễu

Trung ương từ 03/2013 đến 09/2013

2 Phương pháp nghiên cứu

- Mô tả cắt ngang: tiến cứu từ 03/2013 đến

09/2013

- Các bước tiến hành:

+ Lập phiếu nghiên cứu có các thông tin về

lâm sàng và các xét nghiệm cần cho nghiên cứu

+ Khám, chụp ảnh bệnh nhân trước sau điều

1 Các yếu tố liên quan trong bệnh LP

- Tuổi trung bình của bệnh nhân trong nghiên cứu

là 41.3 ± 20.2, ở nữ là 44.6 ± 21.4, ở nam là 37.2 ± 18

- Phân bố bệnh theo giới

Biểu đồ 1 Phân bố bệnh theo giới (n=102)

Nhận xét: bệnh LP gặp ở nữ (55.9%) nhiều

hơn nam (44.1%)

Tỉ lệ nữ:nam=1/1.3, sự khác biệt không có ý

nghĩa thống kê

- Thời điểm khởi phát bệnh theo mùa

Bảng 1 Thời điểm khởi phát bệnh theo mùa

trong năm (n=102)

Mùa Số bệnh nhân Tỷ lệ %

Xuân (tháng 2-4) 34 33.3

Hè (tháng 5-7) 22 21.6Thu (tháng 8-10) 9 8.8Đông (tháng 11-1) 37 36.3Tổng cộng 102 100Nhận xét: Tỉ lệ bệnh nhân mắc bệnh vào mùa đông (36.3%) là cao nhất

Thân mình 35 34.3Niêm mạc miệng 24 23.5Niêm mạc sinh dục 5 4.9

Trang 16

2.3 Màu sắc của tổn thương

Biểu đồ 2 Màu sắc tổn thương da (n=86)

Nhận xét: hay gặp nhất là tổn thương màu tím

hoa cà (65.1%)

2.4 Tổn thương ở niêm mạc

Tổn thương niêm mạc gặp ở 29 bệnh nhân

(28.4%) trên tổng số 102 bệnh nhân, trong đó

có 9 bệnh nhân chỉ tổn thương ở niêm mạc đơn

thuần (8.8%) và 20 bệnh nhân có phối hợp với tổn

2.5 Triệu chứng ngứa ở bệnh nhân LP

Biểu đồ 3 Triệu trứng ngứa trên lâm sàng

(n=102)

Nhận xét: 83.3% bệnh nhân có triệu chứng ngứa

3 Đặc điểm cận lâm sàng bệnh LP

3.1 Xét nghiệm virus viêm gan

Bảng 4 Xét nghiệm HBsAg và Anti-HCV

Âm tính 53% 85.9 41 100Dương tính 9 14.1 0 0

Nhận xét: 14.1% bệnh nhân có HBsAg(+)

Trang 17

Theo y văn thế giới, LP là bệnh có thể mắc

ở mọi lứa tuổi và không có sự khác biệt về giới

Qua nghiên cứu 102 bệnh nhân LP chúng tôi thấy

bệnh gặp ở nữ (55.9%) nhiều hơn nam (44.1%), tỉ

lệ nam/nữ = 1/1.3, sự khác biệt này là không có ý

nghĩa thống kê Nghiên cứu của Kyriakis KP tiến

hành trên 325 bệnh nhân từ năm 1995 đến 2002

ở Hy Lạp cũng cho kết quả tỉ lệ nam/nữ = 1/1.3 [2]

Bệnh có thể gặp ở bất kỳ lứa tuổi nào, tuổi

trung bình của bệnh nhân trong nghiên cứu là

41.3 ± 20.2, ở nữ là 44.6 ± 21.4, ở nam là 37.2 ± 18

Như vậy, nam giới có xu hướng mắc bệnh sớm hơn

nữ giới

Sự phát triển của LP có thể bị ảnh hưởng của

các yếu tố mùa vụ và môi trường, tỉ lệ gia tăng

trong tháng mười hai và tháng giêng [1] Trong

nghiên cứu của chúng tôi, tỉ lệ khởi phát bệnh vào

mùa đông là cao nhất (36.3%), tiếp theo là mùa

xuân (33.3%), mùa hè (21.6%) và ít nhất là mùa thu

(8.8%)

Tổn thương LP có thể chỉ ở da hoặc niêm mạc

nhưng cũng có thể phối hợp ở nhiều vị trí Nghiên

cứu của chúng tôi ghi nhận 86 trường hợp (84.3%)

có tổn thương ở da, tỉ lệ này theo Li J là 83.1%

[3] Tổn thương ở niêm mạc gặp ở 29 trường hợp

(28.4%) trong đó 24 trường hợp (23.5%) ở niêm mạc miệng và 5 trường hợp (4.9%) ở niêm mạc sinh dục Tổn thương của bệnh LP có thể xuất hiện

ở bất cứ vùng nào trên cơ thể, tuy nhiên thường gặp nhất ở các chi, chân (68.6%) sau đó đến tay (56.9%) Tỉ lệ bệnh nhân có tổn thương phối hợp

ở nhiều vị trí là khá cao 34.3%, các vị trí phối hợp thường gặp là tay và chân, chân và thân mình, tay chân và niêm mạc có những trường hợp tổn thương toàn thân phản ánh mức độ đa dạng và phức tạp của bệnh, đồng thời cũng là một khó khăn trong việc lựa chọn hình thức điều trị

Hình thái tổn thương da của LP chủ yếu là sẩn (94.2%), sẩn của LP là những sẩn đa giác, dẹt với nhiều kích thước khác nhau, đa phần là các sẩn

to vài centimet Các sẩn đứng riêng rẽ, rải rác trên mặt da hoặc tạo thành từng đám nhưng không liên kết với nhau Bề mặt sẩn phẳng trên đó có hình ảnh các đường kẻ trắng gọi là vạch Wickham Một số giả thiết về nguyên nhân hình thành các vạch Wickham đã được đưa ra, thứ nhất là do tăng lớp hạt của thượng bì, thứ hai là do sự tăng hoạt động của các tế bào thượng bì và thứ ba là do thiếu mạch da trong các khu vực tổn thương [4] Màu sắc của tổn thương có thể thay đổi theo thời gian và tiến triển của bệnh Tổn thương đa

số là màu tím hoa cà (65.1%) sau đó đến đỏ hồng (48.8%), đây thường là những tổn thương mới xuất hiện Các tổn thương cũ hơn có thể có màu thâm đen (20.9%) hoặc thâm nhạt (34.9%) Những sẩn lặn đi sẽ thay thế bằng những vùng nhiễm sắc

tố với hình dáng của những sẩn trước đó, màu sắc của vùng này có thể là màu hồng, màu xanh hay màu đen tùy thuộc vào thời gian Trên một bệnh nhân các sẩn có thể đồng đều về màu sắc nhưng

đa số có màu sắc khác nhau, biểu hiện sự đan xen giữa các sẩn cũ và mới

Trang 18

Trong nghiên cứu của chúng tôi hình thái hay

gặp nhất của tổn thương niêm mạc là các mảng

trắng (69%), tổn thương loét (13.8%), kết hợp cả

mảng trắng và loét (13.8%), teo (3.4%) Tổn thương

mảng trắng có thể gặp ở nhiều mức độ khác nhau

từ những đám hình lá cây dương xỉ rất rõ trong

miệng đến những sẩn mắt lưới hơi mờ ở âm

hộ-âm đạo Tổn thương loét thường gặp ở lưỡi và vị

trí tiếp xúc với vật liệu làm răng ở những người có

răng giả

Ngứa là một triệu chứng chủ yếu trong LP,

mức độ ngứa khác nhau ở từng bệnh nhân và có

nhiều trường hợp hoàn toàn không ngứa [1] Theo

Anbar TE triệu chứng ngứa gặp ở trên 50% số

bệnh nhân LP [6] Trong nghiên cứu của chúng tôi

có 85 bệnh nhân (83.3%) có biểu hiện ngứa tại tổn

thương, dao động từ nhẹ cho đến ngứa nhiều, chỉ

có 17 bệnh nhân (16.7%) không ngứa Đây cũng là

lý do chính khiến cho bệnh nhân đến khám trong

đa số các trường hợp Triệu chứng ngứa cũng được

dùng như một trong những tiêu chí để đánh giá

hiệu quả điều trị bệnh LP trong nhiều nghiên cứu

Kết quả mô bệnh học ở 102 bệnh nhân cho

thấy chỉ có 3 thể bệnh của LP trong nghiên cứu

của chúng tôi đó là LP kinh điển (97%), LP phì đại

(2%), LP thành dải (1%) Mặc dù phân loại trên lâm

sàng theo vị trí và hình thái tổn thương chúng

tôi gặp khá nhiều thể LP như LP ở niêm mạc, LP

hình nhẫn, LP tăng sắc tố, LP ở móng nhưng kết

quả mô bệnh học đều là LP kinh điển Trong các

nghiên cứu khác chiếm đa số vẫn là LP kinh điển

nhưng có nhiều thể bệnh hơn với các tỉ lệ thay đổi

khác nhau

Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu chứng

minh mối liên quan giữa LP và virus viêm gan B,

C đặc biệt là virus viêm gan C Theo Ibrahim HA

và cộng sự nghiên cứu trên 43 bệnh nhân LP thấy

12(27,9%) bệnh nhân dương tính với HBs-Ag, 9(20,9%) dương tính với kháng thể anti-HCV và 3(7%) dương tính với cả hai [7], các kết quả này không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê so với nhóm chứng là người bình thường Trong nghiên cứu của chúng tôi có 41 bệnh nhân được làm xét nghiệm chẩn đoán viêm gan virus C nhưng tất cả đều âm tính Chúng tôi cũng tiến hành xét nghiệm kết hợp với khai thác tiền sử về virus viêm gan B ở

64 bệnh nhân, HBs-Ag dương tính ở 9 bệnh nhân (14.1%) Như vậy, tỉ lệ nhiễm hai virus viêm gan B

và C trong nghiên cứu của chúng tôi đều thấp hơn

so với các nghiên cứu nước ngoài và nằm trong giới hạn nhiễm virus của người bình thường tại Việt Nam, chưa khẳng định được mối liên hệ giữa nhiễm virus viêm gan và bệnh LP

V KẾT LUẬN

Nghiên cứu 102 bệnh nhân lichen phẳng đến khám tại Bệnh viện da liễu Trung ương từ 03/2013 đến 09/2013 chúng tôi rút ra một số kết luận sau:

- Bệnh gặp ở bất kỳ lứa tuổi nào, hay gặp nhất

ở tuổi lao động, tuổi trung bình là 41.3 ± 20.2 Tỉ lệ nam/nữ = 1/1.3

- Bệnh khởi phát nhiều vào mùa đông (36.3%)

và mùa xuân (33.3%)

- 84.3% bệnh nhân có tổn thương da, hình thái tổn thương da hay gặp nhất là sẩn (94.2%), 65.1% tổn thương có màu tím hoa cà, vị trí hay gặp nhất là chân (68.6%) Triệu chứng ngứa gặp ở 83.3% bệnh nhân

- 28.4% bệnh nhân có tổn thương niêm mạc trong đó hình thái hay gặp nhất là mảng trắng (69%)

- 14.1% bệnh nhân được xét nghiệm có nhiễm virus viêm gan B, không có bệnh nhân nào nhiễm virus viêm gan C

- Trên mô bệnh học 97% bệnh nhân là lichen phẳng kinh điển

Trang 19

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Mark R Pittelkow, Mazen S Daoud (2008)

“Lichen Planus” Fitzpatrick’s dermatology in

general medecin Copyrigh 2008 by The

McGraw-Hill companies 283-293

2 KP Kyriakis and all (2006) “Sex and age

distribution of patients with lichen planus” Journal

of the European Academy of Dermatology and

Venereology, Volume 20, Issue 5, pages 625–626.

3 Li J and all (2010) “Lichhen planus in Hunan:

124 patients” Zhong Nan Da Xue Xue Bao Yi Xue

Ban. 2010 Nov;35(11):1178-82.

4 Silonie Sachdeva and all (2011) “Wickham

striae: etiopathogenensis and clinical significance”

Indian J Dermatol. 2011 Jul-Aug; 56(4): 442–443.

5 Weiss G and all (2002) “The Koebner

phenomenon: review of the literature” J Eur Acad

Dermatol Venereol. 2002 May;16(3):241-8

6 Anbar TE, Barakat M, Ghannam SF (2005)

“A clinical and epidemi-ological study of lichen planus among Egyptians of al-Minya province”

Dermatol Online J Aug 1;11(2):4.

7 Ibrahim HA et al (1999) “Should we routinely check for hepatitis B and C in patients

with lichen planus or cutaneous vasculitis?” East

Mediterr Health J; 5: 71-78.

SUMMARY

CLINICAL AND SUBCLINICAL MANIFESTATIONS OF LICHEN PLANUS AT VIETNAM NATIONAL HOSPITAL OF DERMATOLOGY AND VENEREOLOGY FROM 03/2013 TO 09/2013

Background: Lichen planus is a chronic dermatitis with involvement of T lymphocytes Lichen planus

(LP) is a kind of lichenoid reactions with lesions of the skin, mucous membranes, nails and hairs The prevalence of LP is estimated between 0.14-0.8% of the population

Objective: to investigate clinical and subclinical manifestations of LP at The Vietnam National

Hospital of Dermatology and Venereology (NHDV)

Material and method: the cross-sectional study basing on data of 102 patients were diagnosed as

LP at the NHDV from 03/2013 to 09/2013

Result: There were 102 patients with LP Average age was 41.3 ± 20.2 There was no difference

between male and female with the rate: 1/1.3 84.3% of patients had skin lesions with papules were the most common (94.2%) 65.1% lesions was purple, the most common location was the legs (68.6%) Itching seen in 83.3% of patients 28.4% of patients had mucosal lesions and the most common form was reticular (69%) 14.1% of patients had HbsAg positive, no patients infected with hepatitis C On the histology, 97% of patients were classics LP

Keywords: Lichen planus, NHDV.

Trang 20

NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH VÀ BIỂU HIỆN LÂM SÀNG BỆNH NHIỄM SẮC TỐ DẦM DỀ TẠI BỆNH VIỆN DA LIỄU TRUNG ƯƠNG 2010 - 2014

Quách Thị Hà Giang*, Phạm Thị Minh Phương*

TÓM TẮT

Mục tiêu: khảo sát tình hình và đặc điểm lâm sàng của bệnh nhiễm sắc tố dầm dề (Incontinentia

pigmenti) tại Bệnh viện da liễu Trung ương từ tháng 1/2010 đến tháng 10/2014

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: phương pháp mô tả cắt ngang dựa trên các hồ sơ bệnh án

của tất cả bệnh nhân (BN) bị nhiễm sắc tố dầm dề được điều trị nội trú tại Bệnh viện Da liễu Trung ương

từ tháng 1/2010 đến tháng 10/2014

Kết quả: Trong thời gian 5 năm, có 11 BN điều trị nội trú chiếm 0,09% số BN nội trú tại bệnh viện

63,6% BN dưới 1 tháng tuổi 100% BN có giới tính nữ.18,2% số BN có tiền sử gia đình cùng mắc bệnh như

BN 90,9% BN có biểu hiện bệnh ngay sau khi sinh Tổn thương mụn nước, bọng nước gặp ở 90,9% BN, 63,6% BN có thương tổn sùi, 72,7% BN có thương tổn nhiễm sắc tố, không BN nào có thương tổn teo da, giảm sắc tố Tất cả các thương tổn này đều phân bố theo đường Blaschko dọc theo tay, chân và thân mình Không BN nào có thương tổn ở mặt và ở các cơ quan khác (mắt, răng, thần kinh…) 81,8% BN có số lượng bạch cầu, BC đa nhân trung tính tăng

Kết luận: Nhiễm sắc tố dầm dề là bệnh di truyền trội liên kết trên nhiễm sắc thể giới tính X Bệnh

hiếm gặp và chủ yếu gặp ở nữ giới Thương tổn theo 4 giai đoạn phân bố theo đường Blascho

Từ khóa: Nhiễm sắc tố dầm dề, IP.

* Bệnh viện Da liễu Trung ương,

Phản biện khoa học: PGS TS Nguyễn Duy Hưng

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Thuật ngữ Incontinentia (không kiềm chế) và

Pigmenti (sắc tố) là một khái niệm trong mô bệnh

học để chỉ hiện tượng có sắc tố xâm nhập xuống

trung bì và bị thực bào bởi các thực bào Cố GS

Lê Kinh Duệ dịch thuật ngữ này sang tiếng Việt là

nhiễm sắc tố dầm dề (IP) Đây là một hội chứng di

truyền trội trên nhiễm sắc thể giới tính X, có tổn

thương nhiều cơ quan: da, thần kinh, mắt, răng Các thương tổn ngoài da thường không nguy hiểm đến tính mạng nhưng các thương tổn nội tạng thường nguy hiểm như: động kinh, chậm phát triển trí tuệ, giảm thị lực Cho đến nay vẫn chưa có phương pháp điều trị đặc hiệu mà chủ yếu vẫn là chăm sóc chống nhiễm trùng và cho lời khuyên di truyền Ở Việt Nam, các nghiên cứu về IP còn hạn chế Do vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu nhằm mục đích khảo sát tình hình, đặc điểm của IP trong thời gian từ tháng 1/2010 đến 10/2014 tại Bệnh viện Da liễu Trung ương

Trang 21

II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

• Đối tượng: viện từ tháng 1/2010 đến 10/2014

tại Bệnh viện Da liễu Trung ương

• Phương pháp:

Phương pháp mô tả cắt ngang

• Các bước tiến hành:

Tra cứu hồ sơ bệnh án, khảo sát các yếu tố liên

quan như: tuổi, giới, địa dư, tiền sử bản thân và

gia đình, triệu chứng lâm sàng, xét nghiệm của BN

1.2 Thời điểm biểu hiện bệnh

Bảng 2 Phân bố theo thời điểm biểu hiện bệnh

2.1 Các giai đoạn lâm sàng

Biểu đồ 1 Đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân IP

Nhận xét: Giai đoạn 1 với thương tổn mụn

nước, bọng nước xuất hiện ở 90,9% trường hợp Giai đoạn 2 gặp ở 63,6% BN (có thương tổn sùi) và 72,7% BN có thương tổn nhiễm sắc tố (giai đoạn 3) Không BN nào có thương tổn teo da, giảm sắc

tố (giai đoạn 4)

Trang 22

2.2 Phân bố thương tổn theo vị trí

mình, tay, chân và tất cả các thương tổn này đều

phân bố theo đường Blaschko

2.3 Đếm số lượng tế bào máu ngoại vi

Bảng 5 Thay đổi số lượng BC máu ngoại vi

Nhiễm sắc tố dầm dề là một di truyền liên kết

trên nhiễm sắc thể giới tính X, ảnh hưởng tới phần

ngoại bì từ bào thai, gây tổn thương da, thần kinh,

mắt, răng và các bộ phận khác Năm 1906, Garrod

báo cáo trường hợp IP đầu tiên sau đĩ, Bloch và

Sulzberger báo cáo các trường hợp tương tự vào

năm 1926 và 1928 với các biểu hiện ở da điển hình

[1]

Trong thời gian 5 năm, cĩ 11 BN điều trị nội trú

tại Bệnh viện Da liễu Trung ương chiếm 0,09% số

BN điều trị tại bệnh viện Ở Mỹ chưa cĩ số liệu về

tỉ lệ bệnh nhân mắc bệnh, cịn trên thế giới theo một báo cáo đến năm 1987 cĩ 700 ca mắc bệnh

IP là một bệnh hiếm gặp tuy nhiên cĩ thể nhiều trường hợp bệnh biểu hiện lâm sàng khơng điển hình nên khơng được chẩn đốn [1]

Trong số các BN điều trị nội trú được nghiên cứu thì chỉ cĩ 2(18,2%) BN cĩ tiền sử gia đình cĩ người thân cĩ biểu hiện bệnh, 1 BN cĩ mẹ, 1 BN cĩ

mẹ và dì ruột cĩ thương tổn sùi, tăng sắc tố phân

bố theo đường Blaschko ở thân mình Theo các báo cáo thì cĩ 28% BN cĩ tiền sử mẹ cùng mắc bệnh, do gen trội trên NST X quy định, mẹ mang gen và bị bệnh truyền gen trội cho con gái làm con gái cũng mắc bệnh cịn đa số là khơng cĩ tính chất gia đình, thường do đột biến trên nhiễm sắc thể

X tại gen NEMO của tinh trùng người cha rồi đột biến đĩ truyền cho con gái

Tất cả các BN trong nghiên cứu này đều là nữ, khác với một số nghiên cứu cho thấy cĩ 1 tỷ lệ rất nhỏ nam giới trong số những người bị IP Theo nghiên cứu hồi cứu về IP tại Trung tâm bệnh da quốc gia Singapore trong 10 năm của Chan YC và

cs cĩ 26 BN PI trong đĩ 88,5% là nữ và chỉ cĩ 3 (11,5%) BN nam; nghiên cứu của Smạl Hadj-Rabia

và cs được thực hiện tại Pháp thì cĩ 91,5% BN nữ, 8,5% BN nam, nghiên cứu của Francesca Fusco trên 386 BN thì cĩ 90,4% là nữ, chỉ cĩ 9,6% là nam [1], [2], [3] Trong nghiên cứu của chúng tơi 100%

BN là nữ cĩ thể là do số lượng BN nghiên cứu ít và thời gian lấy BN chưa dài IP là hội chứng di truyền trội liên kết nhiễm sắc thể giới tính X, nam thường

tử vong khi cịn trong bào thai, 95% các ca bệnh được báo cáo cĩ giới tính nữ PI cĩ thể rất hiếm gặp

ở nam giới cĩ hội chứng Klinfelter(XXY) hoặc đột biến gen NEMO thể khảm Mặc dù tương đối hiếm, các trường hợp IP là nam giới XY với đột biến tại gen NEMO thường khơng được báo cáo do thiếu

Trang 23

xét nghiệm gen Do đĩ, cần làm Karyotype và xét

nghiệm phân tử khi lâm sàng nghi ngờ chẩn đốn

IP bệnh nhân nam [4], [5]

Khảo sát về sự phân bố theo tuổi cho thấy

bệnh chủ yếu gặp ở trẻ em với độ tuổi <1 tuổi

trong đĩ tỉ lệ BN sơ sinh dưới 1 tháng tuổi chiếm

tỷ lệ cao nhất (63,6%), đồng thời hầu hết các BN

(90,9%) cĩ biểu hiện của bệnh ngay sau khi sinh,

chỉ cĩ duy nhất 1 BN biểu hiện bệnh khi đã 2 tháng

tuổi Kết quả này cũng phù hợp với nghiên cứu của

các tác giả Smạl Hadj-Rabia và cs khi nghiên cứu

trên 40 BN IP cĩ 27 (68%) BN cĩ biểu hiện da vào

ngày đầu tiên sau sinh, trong giai đoạn sơ sinh cĩ

9 (22%), và sau 3 tháng cĩ 4 (10%), nghiên cứu của

Chan YC thì hầu hết các BN cĩ biểu hiện ra ngay

sau sinh hoặc trong tuần đầu đời [1], [2] Đa số các

tổn thương da đặc trưng với mụn nước và/hoặc

sùi biểu hiện lúc mới sinh hoặc phát triển trong vài

tuần đầu tiên của cuộc sống Các biểu hiện da của

giai đoạn tăng sắc tố phát triển trong giai đoạn

bào thai và tồn tại trong suốt thời thơ ấu, thường

là mờ dần trong thời niên thiếu Các biểu hiện da

của giai đoạn teo / giảm sắc tố phát triển trong

thời niên thiếu và tuổi trưởng thành sớm và kéo

dài vơ thời hạn Tĩc, mĩng tay, và dị thường nha

khoa thường biểu hiện đầu tiên trong giai đoạn

bào thai và tồn tại vĩnh viễn Thần kinh và di chứng

mắt thường biểu hiện trong lúc cịn ấu thơ Hơn

thế nữa, phân bố tuổi này (63,6% ở lứa tuổi nhỏ

hơn 1 tháng, 100% dưới 1 tuổi) cĩ thể được lý giải

do điều kiện sống của người dân ngày càng cao

hơn nên việc chú ý quan tâm đến tình trạng sức

khỏe của con em mình và đưa các cháu đi khám

ngay khi cĩ biểu hiện bệnh

Hầu hết các BN cĩ biểu hiện bệnh da ở giai

đoạn 1 với các mụn nước, bọng nước (90,9%), biểu

hiện giai đoạn 2 với thương tổn sùi gặp ở 63,6%,

biểu hiện giai đoạn 3 với thương tổn tăng sắc tố

gặp ở 72,7%, khơng gặp biểu hiện giai đoạn 4 với thương tổn teo da Các thương tổn này chủ yếu gặp ở tay, chân và thân mình, khơng cĩ ở mặt và phân bố theo đường Blaschko Theo nghiên cứu của Smạl Hadj-Rabia, ban đỏ và mụn nước là những biểu hiện đầu tiên trong 37 (92%) trong số

40 bệnh nhân Giai đoạn 2 tổn thương sùi đã được ghi nhận trong 32 (80%) BN Giai đoạn 3 tăng sắc

tố đã gặp ở 36 (90%) BN Cuối cùng, giai đoạn 4 biểu hiện được ghi nhận ở 12 (30%) bệnh nhân[1] Trong nghiên cứu trên của Francesa Fusco, giai đoạn 1 xuất hiện trước khi năm đầu tiên trong 99% các trường hợp Giai đoạn 2 và giai đoạn 3 được báo cáo trong năm đầu tiên ở 96,6% và 82,8% các trường hợp, tương ứng Sau này giai đoạn thứ 4 xuất hiện khi BN hơn 1 tuổi [1] Trong nghiên cứu của chúng tơi khơng gặp BN nào cĩ biểu hiện teo

da giảm sắc tố, điều này cĩ thể do đây là nghiên cứu hồi cứu, chỉ thống kê được các triệu chứng của

BN vào viện khi cịn rất nhỏ, khơng theo dõi được tiến triển của thương tổn khi BN lớn lên và trưởng thành

Các thương tổn da bao gồm mụn nước, sùi, tăng sắc tố và teo da phân bố theo đường Blaschko luơn gặp ở các bệnh nhân IP, do đĩ đây

là một tiêu chuẩn chính để chẩn đốn IP theo tiêu chuẩn của Landy và Donnai [1] Một số trẻ sơ sinh được chẩn đốn xác định IP cĩ thương tổn sùi và tăng sắc tố mà khơng cĩ sự tổn thương mụn nước đặc trưng đã được báo cáo[6] Giai đoạn mụn nước

tự lui trong vịng vài tháng Tổn thương mụn nước tái phát đã được báo cáo xảy ra ở trẻ lớn tuổi và trẻ

em bị sốt hoặc sau khi tiêm chủng[7]

Ngồi các biểu hiện thương tổn ở da, trên BN

IP cịn cĩ các thương tổn tại mắt, tai, răng, mĩng, thần kinh trung ương Theo nghiên cứu của Chan

YC cĩ 5(19%) BN cĩ biểu hiện thương tổn ngồi

da gồm thần kinh, răng và mắt [2] Trong nghiên

Ngày đăng: 13/03/2021, 10:23

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Collier C, Harper J, Cantrell W, et al. The prevalence of acne in adults 20 years and older. J Am Acad Dermatol. 2008, 58: 56-59 Khác
3. Goulden V, Clark S, Cunliffe W. Post- adolescent acne: a review of clinical features. Br J Dermatol. 1997, 136:66-70 Khác
4. George R, Clarke S, Thiboutot D. Hormonal therapy for acne. Semin Cutan Med Surg. 2008, 27:188-196 Khác
5. Clarke S, Nelson A, George R, et al. Pharmacologic modulation of sebaceous gland activity: Mechanisms and clinical applications.Dermatol Clin.2007, 25: 137-146 Khác
6. Thiboutot D. Overview of acne and its treatment. Cutis. 2008, 81 (S1): 3-7 Khác
7. Liang T, Hoyer S, Yu R, et al. Imumuocytochemical localization of androgen receptors in human skin using monoclonal antibodies against the androgen receptor. J Invest Dermatol 1993, 100: 663 Khác
8. Thiboutot DM, Knaggs H, Gilliland K, Hagari S. Activity of type 1 5 alpha-reductase is greater in the follicular infrainfundibulum compared with the epidermis. Br J Dermatol 1997, 136: 166 Khác
9. Thiboutot D, Gilliland K, Light J, Lookingbill D. Androgen metabolism in sebaceous glands from subjects with and without acne. Arch Dermatol 1999, 135: 1041 Khác
10. Kelekci KH, Kelekci S, Incki K, et al. Ovarian morphology and prevalence of polycystic ovary syndrome in reproductive aged women with or without mild acne. Int J Dermatol 2010, 49:775 Khác
11. Archer JS, Chang RJ. Hirsutism and acne in polycystic ovary syndrome. Best Pract Res Clin Obstet Gynaecol 2004, 18:737 Khác
12. Zouboulis CC, Akamatsu H, Stephanek K, Orfanos CE. Androgens affect the activity of human sebocytes in culture in a manner dependent on the localization of the sebaceous glands and their effect is antagonized by spironolactone. Skin Pharmacol 1994; 7:33 Khác
13. Yemisci A, Gorgulu A, Piskin S. Effects and side-effects of spironolactone therapy in women with acne. J Eur Acad Dermatol Venereol 2005;19:163 Khác
14. Saint-Jean M, Ballanger F, Nguyen JM, et al. Importance of spironolactone in the treatment of acne in adult women. J Eur Acad Dermatol Venereol 2011; 25:1480 Khác
15. Sato K, Matsumoto D, Iizuka F, et al. Anti- androgenic therapy using oral spironolactone for acne vulgaris in Asians. Aesthetic Plast Surg 2006;30:689 Khác
16. Shaw JC. Low-dose adjunctive spironolactone in the treatment of acne in women:a retrospective analysis of 85 consecutively treated patients. J Am Acad Dermatol 2000; 43:498 Khác
17. Sawaya ME. Anitiandrogens and androgen inhibitors. In: Comprehensive Dermatologic Drug Therapy, 2nd ed, Wolverton SE (Ed), Elsevier, Philadelphia 2007. p.417 Khác
18. Thiboutot D, Chen W. Update and future of hormonal therapy in acne. Dermatology. 2003, 206: 57-67 Khác
19. Bachelot A, Chakthoura Z, Rouxel A, et al. Classical forms of congenital adrenal hyperplasia due to 21-hydroxylase deficiency in adults. Horm Res 2008; 69:203 Khác
20. Cassidenti DL, Paulson RJ, Serafini P, et al. Effects of sex steroids on skin 5α-reductase activity in vitro. Obstet Gynecol. 1991, 78: 103-107 Khác
21. Koltun W, Maloney JM, Marr J, Kunz M. Treatment of moderate acne vulgaris using a combined oral contraceptive containing ethinylestradiol 20 μg plus drospirenone 3mg administered in a 24/4 regimen: a pooled analysis.Eur J Obstet Gynecol Reprod Biol 2011; 155:171 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w