1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Dân ca Gầu plềnh và Lễ hội Gầu tào của dân tộc Hmông ở Lào Cai – truyền thống và biến đổi

169 1,3K 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 169
Dung lượng 1,31 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các tác giả sửdụng những bài dân ca đó như tư liệu minh chứng cho nhận định, đánh giá các vấn đề về dân tộc học, văn hóa học của mình chứ không nhằm mục đích sưu tầm, lưugiữ; tuy nhiên,

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

BÙI XUÂN TIỆP

DÂN CA GẦU PLỀNH VÀ LỄ HỘI GẦU TÀO CỦA NGƯỜI HMÔNG Ở LÀO CAI – TRUYỀN THỐNG VÀ

BIẾN ĐỔI

Chuyên ngành: Văn học dân gian

Mã số: 62.22.01.25

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Phạm Thu Yến

HÀ NỘI - 2015

Trang 2

Tôi xin cam đoan luận án là do tôi viết Các cứ liệu

nêu trong luận án trung thực, khách quan Tôi xin hoàn

toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan của mình

Hà Nội, ngày tháng 01 năm 2015

Nghiên cứu sinh

Tác giả

Bùi Xuân Tiệp

Trang 3

Luận án sử dụng một số kí hiệu, một số chữ viết tắt:

- Dấu ( ): trong trường hợp để chú thích phụ lục ảnh Ví dụ: (A2.6, tr.283):

A là ảnh; 2.6 là ảnh 6 chương 2; tr 283 là trang 283 Trong trường hợp chú thíchphụ lục khác: Ví dụ (PL2.2, tr.259): PL2.2 là phụ lục số 2 chương 2; tr 259: trang

Trang 4

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu, nhiệm vụ 2

3 Phạm vi nghiên cứu 3

4 Phương pháp nghiên cứu 6

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài, điểm mới của Luận án 7

6 Cấu trúc Luận án: 7

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN 8

1.1 Tổng quan lịch sử vấn đề 8

1.1.1 Về sưu tầm 8

1.1.2 Về nghiên cứu 10

1.2 Tổng quan về dân tộc Hmông 19

1.2.1 Tên gọi và các nhóm người Hmông ở Việt Nam 19

1.2.2 Nguồn gốc, sự phân bố dân tộc Hmông 21

1.2.3 Đời sống kinh tế, xã hội, văn hoá, văn học dân gian 23

1.3 Tổng quan về dân ca Gầu plềnh 26

1.3.1 Khái niệm dân ca 26

1.3.2 Khái niệm Gầu plềnh 27

1.4 Tổng quan một số vấn đề về lý luận 30

Tiểu kết chương 1 38

Chương 2: DIỄN XƯỚNG GẦU PLỀNH TRONG LỄ HỘI GẦU TÀO 39

2.1 Lễ hội Gầu tào ở Lào Cai 39

2.1.1 Đặc điểm cơ bản của Lễ hội Gầu tào ở Lào Cai 39

2.1.2 Đánh giá xếp loại loại hình Lễ hội Gầu tào 42

2.2 Diễn xướng Gầu plềnh 45

2.2.1 Phân loại dân ca Hmông theo đề tài và diễn xướng cơ bản 45

2.2.2 Diễn xướng Gầu plềnh trong Lễ hội Gầu tào 46

2.3 Mối quan hệ văn học nghệ thuật dân gian, Gầu plềnh và Lễ hội Gầu tào 56

2.3.1 Mối quan hệ văn học nghệ thuật dân gian Hmông và Lễ hội Gầu tào 56

2.3.2 Mối quan hệ Gầu plềnh và Lễ hội Gầu tào 58

Tiểu kết chương 2 64

Chương 3: MỘT SỐ BÌNH DIỆN THI PHÁP GẦU PLỀNH 65

3.1 Đời sống tinh thần dân tộc Hmông trong Gầu plềnh nhìn từ bình diện quan niệm nghệ thuật về con người 65

Trang 5

3.1.2 Quan niệm tình yêu, hôn nhân 70

3.2 Thời gian, không gian nghệ thuật trong Gầu plềnh 74

3.2.1 Thời gian nghệ thuật 75

3.2.2 Không gian nghệ thuật 81

3.3 Kết cấu 87

3.3.1 Đặc điểm chung kết cấu tác phẩm Gầu plềnh 87

3.3.2 Thủ pháp kết cấu đặc trưng trong Gầu plềnh 89

3.4 Biểu tượng 94

3.4.1 Giải mã biểu tượng cây nêu 97

3.4.2 Giải mã biểu tượng dải vải lanh 102

3.4.3 Giải mã biểu tượng mặt trăng, mặt trời 104

3.5 Ngôn ngữ và các biện pháp tu từ 106

3.5.1 Đại từ nhân xưng 106

3.5.2 Tính ngữ 108

3.5.3 So sánh 110

3.5.4 Ẩn dụ 113

3.5.5 Ngôn ngữ và làn điệu Gầu plềnh 115

Tiểu kết chương 3 117

Chương 4: SỰ BIẾN ĐỔI CỦA GẦU PLỀNH VÀ LỄ HỘI GẦU TÀO 118

4.1 Vấn đề nghệ nhân dân gian Hmông 118

4.2 Biến đổi Lễ hội Gầu tào 119

4.2.1 Quá trình phát triển Lễ hội Gầu tào ở Lào Cai 119

4.2.2 Biến đổi về hình thức tổ chức Lễ hội Gầu tào 120

4.2.3 Biến đổi về mục đích, cấu trúc, nội dung hoạt động 121

4.2.4 Đánh giá chung 122

4.3 Biến đổi Gầu plềnh 127

4.3.1 Biến đổi về diễn xướng 127

4.3.2 Biến đổi về phương thức trao truyền 132

4.3.3 Biến đổi về nội dung 135

4.3.4 Biến đổi về văn bản và ngôn ngữ 142

Tiểu kết chương 4 146

KẾT LUẬN 147

NHỮNG BÀI BÁO ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ LUẬN ÁN 151

TÀI LIỆU THAM KHẢO 152

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Nghị quyết hội nghị Trung ương Đảng lần thứ V (khóa VIII) xác định: “Disản văn hóa là tài sản vô giá, gắn kết cộng đồng dân tộc, là cốt lõi của bản sắc dântộc, cơ sở để sáng tạo những giá trị mới và giao lưu văn hóa Hết sức coi trọng bảotồn, kế thừa, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống (bác học và dân gian).Văn hóa cách mạng bao gồm cả văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể” [3, tr 63].Việt Nam là quốc gia đa dân tộc, trong đó, dân tộc Hmông có dân số 1.068.189người, đứng hàng thứ 6 (Kinh: 73.594.427, Tày: 1.623.920, Thái: 1.550.423,Mường: 1.268.963, Khơ me: 1.260.640) trong danh sách 54 dân tộc [157, tr 273].Nền văn hóa Hmông, trong đó, văn học dân gian hết sức đặc sắc đang đứng trướcnhiều thách thức, thậm chí có bộ phận bị mai một trong xu thế cơ chế thị trường, hộinhập quốc tế hiện nay Nghiên cứu đề tài này là việc làm đầy ý nghĩa góp phần pháthuy, giữ gìn bản sắc văn hóa cổ truyền dân tộc

Lào Cai là tỉnh vùng cao, biên giới có vị trí địa lý đặc biệt, nhiều đồng bàoHmông sinh sống (năm 2013: 154.709 người, chiếm 24,59% dân số toàn tỉnh, [156])với 5 ngành Hmông cư trú tại 9/9 huyện, thành phố Lào Cai có các nhóm (ngành)Hmông tiêu biểu cho cộng đồng dân tộc Hmông ở Việt Nam Họ còn lưu giữ đượcnền văn hóa dân gian phong phú, độc đáo, hấp dẫn, trong đó, văn học dân gian có vịtrí vô cùng quan trọng, mang đậm bản sắc dân tộc, phản ánh nhiều mặt đời sống,phong tục, tập quán, tín ngưỡng, tư tưởng, tình cảm, tâm hồn, thẩm mĩ của đồngbào Đặc biệt, dân ca Hmông rất phong phú, với nhiều tiểu loại như: tiếng hát cướixin, tiếng hát tang ma, tiếng hát tình yêu, tiếng hát làm dâu, tiếng hát mồ côi

“Tiếng hát tình yêu” (dân ca Gầu plềnh; viết tắt: Gầu plềnh) có số lượng lớn nhất,giá trị văn học nghệ thuật độc đáo và vai trò quan trọng trong sinh hoạt cộng đồng,nhất là tại Lễ hội Gầu tào (Grâuk taox – viết tắt: LHGT) Nhưng đến nay, việcnghiên cứu Gầu plềnh, LHGT, nhất là sự biến đổi của chúng chưa được mấy ngườiquan tâm nên rất cần được nghiên cứu cụ thể, sâu sắc hơn

Từ năm 1945 đến nay, công tác sưu tầm văn học dân gian Hmông đạt nhiềuthành tựu, diện mạo văn học dân gian Hmông hiện lên tương đối đầy đủ Nghiêncứu về dân tộc Hmông như lịch sử, dân tộc học, văn hóa dân gian, văn học dângian…được chú trọng, có kết quả Đặc biệt, công tác sưu tầm dân ca Hmông đượcđẩy mạnh; số lượng tác phẩm Gầu plềnh sưu tầm, công bố trên 1000 trang Đó lànguồn tư liệu chính đảm bảo cho tác giả Luận án lựa chọn, khảo sát thực hiện đề tài.Nghiên cứu đề tài “Dân ca Gầu plềnh và LHGT của dân tộc Hmông ở Lào Cai –truyền thống và biến đổi”, chúng tôi hy vọng góp phần giải mã, làm sáng tỏ một

Trang 7

phương diện của văn học nghệ thuật dân gian Hmông và một mảng sinh hoạt vănhóa quan trọng của đồng bào.

Bản thân tôi có thuận lợi là sinh ra, lớn lên, công tác ở Lào Cai, được sốngcùng đồng bào Hmông, nên hiểu biết nhất định về ngôn ngữ, phong tục, tập quán,tín ngưỡng…của đồng bào, đã tham dự nhiều LHGT, sưu tầm được số lượng đáng

kể tư liệu văn học dân gian, nhất là những bài Gầu plềnh Điều đó thúc đẩy tôinghiên cứu với hy vọng làm sáng tỏ vấn đề một cách sâu sắc, đầy đủ hơn, đóng gópthiết thực, góp phần nhỏ bé vào công cuộc xây dựng, nâng cao đời sống vật chất,tinh thần của đồng bào

2 Mục tiêu, nhiệm vụ

2.1 Mục tiêu

- Luận án làm sáng tỏ mối quan hệ biện chứng, mật thiết giữa Gầu plềnh vàLHGT, sự biến đổi của chúng trong xã hội đương đại; vận dụng lý thuyết thi pháphọc văn học dân gian, trên cơ sở văn bản và thực tế diễn xướng, đánh giá những giátrị nội dung, nghệ thuật Gầu plềnh; khẳng định vai trò quan trọng của Gầu plềnhtrong đời sống tinh thần dân tộc Hmông

- Từ đó, tác giả Luận án đề xuất thái độ ứng xử phù hợp và các biện pháp tổchức quản lý, giáo dục tại cộng đồng, góp phần giữ gìn một cách hiệu quả bản sắcvăn hóa Hmông trên địa bàn tỉnh biên giới Lào Cai

2.2 Nhiệm vụ

- Kế thừa, chọn lọc, nâng cao những kết quả nghiên cứu của người đi trước;nghiên cứu Gầu plềnh đặt trong mối quan hệ chặt chẽ với tín ngưỡng, phong tục tậpquán, môi trường diễn xướng tại LHGT; lý giải hiện tượng từ góc độ địa văn hóa, văn

hóa tộc người.

- Làm rõ những đặc trưng trong diễn xướng và thi pháp Gầu plềnh Phân tíchgiá trị tiêu biểu về nội dung, nghệ thuật Gầu plềnh trên phương diện thẩm mĩ ngôntừ; đồng thời làm rõ, sâu sắc hơn đặc trưng nguyên hợp của văn học dân gian, cụ thể

ở đây là mối quan hệ mật thiết giữa Gầu plềnh với LHGT (ẩn sâu là các lớp tínngưỡng, văn hóa) trên địa bàn tỉnh Lào Cai; thẩm định, đánh giá giá trị của chúngtrong cuộc sống quá khứ, hiện tại và tương lai

- Tỉnh Lào Cai có 5 ngành Hmông sinh sống, 4 ngành tổ chức LHGT Luận

án khảo sát, nghiên cứu sự tương đồng, khác biệt của các vùng lễ hội và của cácngành Hmông; nghiên cứu sự biến đổi, ảnh hưởng của chúng trong xã hội đươngđại, ảnh hưởng của chúng đến đối tượng học sinh phổ thông, đề xuất các giải phápquản lý, bảo tồn, phát huy những giá trị tốt đẹp

- Sưu tầm Gầu plềnh tại LHGT; biên dịch, bổ sung thêm vào kho tàng vănhọc dân gian nước nhà

Trang 8

3 Phạm vi nghiên cứu

3.1 Về nội dung: Luận án chủ yếu khai thác phương diện ngôn từ, phương

diện diễn xướng, đồng thời khai thác phương diện âm nhạc ở một mức độ hẹp hơntrong điều kiện có thể Vận dụng lý thuyết thuyết thi pháp học văn học dân gian,chúng tôi đặt Gầu plềnh trong môi trường văn hóa của chúng để đánh giá, thẩmđịnh nội dung, nghệ thuật, nhận diện bản chất thể loại Môi trường văn hóa, xã hộitruyền thống của người Hmông Lào Cai được xác định từ 1960 trở về trước (xem3.2, Chương 3)

3.2 Về phạm vi, tư liệu khảo sát:

- Tài liệu dân ca đã công bố:

+ 04 tác phẩm, chủ yếu sưu tầm tại Lào Cai: 1) Doãn Thanh (1967), Dân ca

Mèo (Lào Cai), Nxb Văn học, Hà Nội, (quyển 1) 2) Doãn Thanh (1974), Dân ca Mèo (Jăng Gâux Hmôngz) Lào Cai, Hội Văn học nghệ thuật Lào Cai (quyển 2) 3)

Doãn Thanh, Hoàng Thao, Chế Lan Viên (1984), Dân ca HMông, Nxb Văn học, Hà Nội (quyển 3) 4) Doãn Thanh, Hoàng Thao, Triều Ân (2004), Ca dao dân ca Tày,

Nùng, HMông, Nxb Văn học, Hà Nội (quyển 4) Tuy công bố sau 1960, song có thể

xác định những bài dân ca trong các tập sách trên là lời cổ, thuộc về truyền thống

+ 01 tác phẩm sưu tầm tại Hà Giang: Hùng Đình Quý (2001), Dân ca Mông

Hà Giang, Sở Văn hoá Thông tin Hà Giang, Tập 1,2,3 và một số bài báo, tạp chí.

- Phạm vi, tư liệu điền dã của tác giả Luận án:

+ Về Gầu plềnh: Tác giả tham gia nhiều buổi hát Gầu plềnh tại các LHGT,hoặc nghe hát đơn lẻ; cùng một số nghệ nhân ghi âm, sưu tầm, biên dịch Gầu plềnh(PL0.1, tr.164) của các ngành Hmông hoa, Hmông đen, Hmông đỏ ở các vùng cóđiều kiện địa lý, lịch sử, xã hội khác nhau nên tính đại diện khá cao, phù hợp đốitượng nghiên cứu

+ Về lễ hội: Tác giả nhiều lần trực tiếp tham dự, nghiên cứu LHGT ở cácvùng và các ngành Hmông khác nhau: các xã Pha Long, Tả Ngải Chồ, Lùng KhấuNhin (Mường Khương); xã Cán Cấu (Si Ma Cai); các xã Hầu Thào, San Sả Hồ, TảGiàng Phình (Sa Pa), xã Thái Niên (Bảo Thắng), xã Lao Kha (huyện Hà Khẩu, TQ)(PL0.2, 0.3, tr.253-254); trên cơ sở đó, so sánh điểm chung và riêng giữa lễ hội cácvùng Tuy nhiên, địa bàn chúng tôi tập trung khảo sát chủ yếu ở 3 LHGT tiêu biểutại 3 huyện của tỉnh Lào Cai là: Mường Khương: xã Pha Long; Si Ma Cai: xã CánCấu; Sa Pa: xã Tả Giàng Phình

+ Về điều tra bằng phiếu: (PL0.4, tr 257): Để đánh giá mức độ tác động, ảnhhưởng, biến đổi của Gầu plềnh và LHGT đối với lớp trẻ, chúng tôi lập phiếu điềutra, tổ chức điều tra trên đối tượng học sinh bậc trung học của 3 huyện Sa Pa,Mường Khương, Si Ma Cai, tổng số 450 phiếu; tổng hợp, phân tích kết quả

Trang 9

- Khảo sát Gầu plềnh: Tổng số tư liệu khảo sát 250 bài (lời) Luận án có mụckhảo sát 175 bài đã xuất bản, có mục khảo sát cả 250 bài (lời) Cụ thể:

+ Tư liệu Gầu plềnh đã xuất bản: 175 bài, gồm: 95 bài quyển 1; 42 bài quyển

2 (bỏ 3 bài trùng: số 8, 12, 45); 38 bài quyển 3, từ bài 3 đến bài 52 (bỏ 11 bài trùng,số: 7, 9, 12, 21, 35, 36, 42, 43, 44, 45, 51)

+ Tư liệu Tiếng hát mồ côi, tiếng hát làm dâu tiềm ẩn khả năng chuyển thànhGầu plềnh:13 bài (6 bài quyển 1; 4 bài quyển 3; 3 bài quyển 4)

+ Tư liệu Gầu plềnh do tác giả Luận án sưu tầm: 61 bài (lời)

- Lưu ý một số vấn đề dịch thuật tiếng Hmông ra tiếng Việt: Ngôn ngữ dân caHmông là ngôn ngữ nghệ thuật rất tinh tế, duyên dáng, giàu hình tượng và biểu tượng.Dịch giả Doãn Thanh đã chú trọng đến việc chú thích tỉ mỉ những ý dịch chưa thoát,những từ ngữ lạ, những phong tục, tập quán, cách diễn đạt riêng giúp cho người đọc

có thể nắm bắt tương đối trọn vẹn tác phẩm Tuy nhiên, đọc dân ca, lại thông qua bảndịch, dù sao cũng rất khó có thể cảm nhận hết cái hay, cái đẹp trong tình ý sâu xa củabài ca Do đó, khi nghiên cứu dân ca Hmông, Gầu plềnh, cần thiết phải đối chiếu vớivăn bản gốc của ngôn ngữ đó Chúng tôi đối chiếu bản dịch so với văn bản gốc 45 bàiGầu plềnh, xin lưu ý một số điểm sau:

Số lượng dòng thơ, từ ngữ: có 3 bài số dòng thơ bản gốc và bản dịch bằng

nhau; còn lại đều lệch ngắn hơn, trong đó, 34 bài bản dịch ngắn hơn bản gốc (23 bàingắn hơn từ 4 dòng trở lên; có bài ngắn hơn 35 dòng) Số chữ từng dòng thơ dịchcũng ít hơn số chữ bản gốc Từ tiếng Hmông là từ đơn âm tiết như tiếng Việt, nhưvậy, nguyên nhân chủ yếu bản dịch vênh so với bản gốc là do cấu tạo ngữ phápkhác nhau và do đặc điểm dân ca Hmông có nhiều tiếng đệm không có nghĩa hay

nghĩa mờ nhạt trong bài VD: “Caox nav caox txir txơưx zus/ Zus caox pôngz ntơưs têx bông fơưr/ Caox hluz tơưv trôngx ntus plơưl/ Caox nav caox txir muôz caox

xang/ Môngl têx tsêr cơưv ntơưr” (Dịch: Mẹ cha cô biết sinh/ Sinh ra cô đặt trongbịch thóc/ Lớn khôn, mẹ cha cô cho cô đi học [133, tr 12] Từ bốn dòng thơ VD

trên, dịch còn ba dòng (lược 1 dòng) Vì trôngx ntus plơưl không có nghĩa nên dịch gộp hai dòng thơ cuối còn một dòng Câu đầu 6 tiếng, dịch còn 5 tiếng vì caox nav

caox txir (4 tiếng) dịch ra tiếng Việt là mẹ cha cô (3 tiếng) Như vậy, khi dịch ra

tiếng Việt, có sự thay đổi đáng kể sẽ làm giảm đáng kể vai trò nhạc điệu, nhịp điệucủa lời ca Người đọc khó hình dung ra diễn xướng của lời ca ấy

Đôi khi, dịch giả muốn dịch cho có hồn thơ thì lại bị sai lệch về ý nghĩa VD:

“Caox nav caox txir trôngx plangl txơưv tsaoz măngx/ Cha mur cêr jur/ Caox uô caox nav caox txir mêr nxeik gâux xưz/ Cur lê tâu txu cêr thur” (Dịch: Trước cửa

nhà em có cây lanh mọc/ Ong có nơi về đậu/ Em làm thân con gái bẩy năm theo mẹ

theo cha/ Anh có nơi qua lại) [133, tr 10] Nguyên nghĩa: bố mẹ em trồng cây lanh

Trang 10

trước cửa, ong mới về đậu, em làm cô gái đồng trinh của mẹ, của cha, anh mới qua lại) Nếu nói bố, mẹ em trồng lanh tức là gia đình có nề nếp lao động, bản thân em

chắc biết làm lanh, may vá thêu thùa, được thừa hưởng nền nếp gia đình Em lại

là cô gái còn trong trắng nên anh đến tìm hiểu là lẽ đương nhiên Hiểu như vậy mớiphù hợp phong tục, tập quán dân tộc Hmông Mặt khác, dịch ra tiếng Việt như trên,

câu thơ khó đảm bảo được vần điệu (jur vần với thur, dịch là đậu - lại).

Sau khi dịch, ý nghĩa hình tượng thơ không còn nguyên vẹn: VD: “Caox tuôr

cur lux têl trơưr/ Cur tuôr caox lux têl truz/ Ưz uô chiv cêr plênhl gâux đrâus/ Puôrtangv têx jâuz tsênhx grêl jâuz sur hluz” (Dịch: Em nắm tay anh nắm cho vững/Anh cầm tay em cầm cho chặt/ Ta yêu nhau đằm thắm như khóm ngải xanh tươi)

[133, tr 8] Nguyên nghĩa hai câu cuối: Con đường tình duyên của đôi ta, như là từ

đám rau xương cá chuyển sang đám rau ngải lớn Bản dịch đã bỏ từ con đường

(cêr) và từ lớn (hluz), thêm vào đó từ xanh tươi Nếu dịch như vậy thì chỉ cho ta

cảm nhận về một tình yêu đằm thắm, ở thời điểm ấy mà thôi Từ bản gốc, có thểphân tích ý nghĩa hình tượng thơ như sau: Vùng cao mọc nhiều rau xương cá và raungải, nhưng rau xương cá chỉ mọc vào mùa xuân, rất tươi tốt và tàn rất nhanh vàođầu mùa hè; rau ngải hầu như quanh năm không tàn Từ sự nhanh tàn chuyển sanglâu tàn ví với con đường tình duyên là con đường dài lâu, bền chặt, càng ngày càngbền chặt hơn, thắm thiết hơn, tin tưởng hơn Điều đó tương đồng với việc cầm tay

nhau cho vững (têl truz) ở trên Đây là cách diễn đạt quen thuộc của đồng bào Hmông (VD, về sự bất tận: Bài hát sắp hết, có bài không hết/ hết như từ nương ớt

sang vườn kiệu) và phù hợp với tâm lý ưa thuỷ chung của nam nữ Hmông.

Bản dịch chưa thể hiện hết đặc trưng giao duyên, bối cảnh diễn xướng, nhất

là trong các đối ca nam - nữ: Mở đầu các đối ca nam nữ, người Hmông thường hát

một số làn điệu, câu hát quen thuộc: - Ntux tês nduô! - Ntux tês nduô nxeik gâux

sênh! - Ntux tês nduô lênhx tangz! Tất cả đều được dịch là chàng ơi!, nàng ơi! hoặc không dịch sẽ không lột tả hết sự tinh tế của câu hát Ntux tês nduô có nghĩa:

đất trời đẹp hoặc trời hết rồi kết hợp với lời gọi chàng ơi!, nàng ơi! thì mới duyên

dáng! Mặt khác, dịch là nàng ơi nhưng mấy từ chỉ cô gái có nghĩa khác nhau; chẳng hạn nxeik gâux xưz (nàng trinh nữ), nxeik gâux sênh (nàng tiên) nxeik nhăngz (nàng dâu) Không ai hát với người đã có chồng mà gọi là cô trinh nữ cả Cái duyên của

Trang 11

thống của đồng bào 2) Hiện nay, các tác phẩm dân ca Hmông đã xuất bản chủ yếubằng tiếng Việt, có quá ít tác phẩm ghi âm, văn bản tiếng Hmông hoặc song ngữViệt – Hmông, vì vậy, các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu, sưu tầm cần quan tâmthỏa đáng để bảo tồn nền dân ca truyền miệng đặc sắc ấy 3) Sưu tầm dân ca Hmôngnói riêng, văn học dân gian các dân tộc thiểu số nói chung, các tác giả nên ghi âmnguyên bản, ghi lại bằng chữ viết của dân tộc (nếu có) và khi dịch, cố gắng ghi chú

tỷ mỷ, kỹ lưỡng những chỗ mà việc dịch thuật gặp khó khăn, như vậy sẽ giúp ngườiđọc tiếp cận được giá trị đích thực của tác phẩm

4 Phương pháp nghiên cứu

Chúng tôi sử dụng một số phương pháp nghiên cứu chính là:

4.1 Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Gầu plềnh tồn tại trong diễn

xướng, ẩn chứa nhiều giá trị thuộc nhiều lĩnh vực nhận thức, tín ngưỡng, sinh hoạt,nghệ thuật, lịch sử…Có thể các giá trị trên được thể hiện độc lập song do đặc trưngthể loại nên phần lớn là hỗn dung, nguyên hợp Vì vậy, tác giả Luận án sử dụngđồng thời, khách quan, bình đẳng nhiều phương pháp chuyên ngành như ngữ vănhọc, văn hóa học, lịch sử học, dân tộc học…Sử dụng phương pháp nghiên cứu liênngành sẽ giúp cho việc khám phá các giá trị của Gầu plềnh toàn diện, sâu sắc hơn

4.2 Phương pháp điền dã - dân tộc học: Chúng tôi thực hiện khảo sát thực

tế (tham dự LHGT) thu thập tư liệu, tiến hành khảo cứu, tổng hợp, phân tích tưliệu giải quyết mục tiêu đề tài, do vậy phải sử dụng các thao tác quan sát, phỏngvấn sâu, quay phim, chụp ảnh, điều tra bằng phiếu; ghi âm, biên dịch Gầu plềnh;thống kê, phân loại tư liệu…Với phương pháp này, việc nghiên cứu Gầu plềnhtrong môi trường diễn xướng tại LHGT có tính khoa học, tính thực tiễn rất cao vàcho kết quả trung thực, chính xác; đáp ứng yêu cầu đặt ra

4.3 Phương pháp so sánh lịch đại và so sánh đồng đại: Chúng tôi sử dụng

các phương pháp nghiên cứu này để đối chiếu, so sánh Gầu plềnh (đặc biệt là diễnxướng của chúng trong LHGT) giữa các ngành Hmông khác nhau cư trú ở các vùngkhác nhau, giữa các thời kỳ lịch sử khác nhau; đối chiếu Gầu plềnh với dân ca trữtình của các dân tộc khác…trên cơ sở phân tích, tổng hợp, chỉ ra nét đặc sắc cũngnhư quá trình phát triển, biến đổi của chúng

4.4 Phương pháp phân tích văn bản ngôn từ: Gầu plềnh được thể hiện qua

nhiều yếu tố, song thể hiện qua văn bản ngôn từ hay phần lời là yếu tố cơ bản vàquan trọng nhất quyết định sự tồn tại, sự diễn xướng cũng như sự sáng tạo củangười nghệ sỹ bình dân Do đó, phân tích văn bản ngôn từ trong nghiên cứu Gầuplềnh là con đường khoa học để khám phá những giá trị (cả nội dung, nghệ thuật)đích thực, sâu sắc của chúng Tuy nhiên, chúng tôi không phân tích văn bản ngôn từGầu plềnh một cách thuần túy như phân tích tác phẩm văn học mà kết hợp rộng hơn

Trang 12

trong tổng thể của phương pháp nghiên cứu liên ngành và biện pháp phân tích cácphạm trù thi pháp học văn học dân gian.

4.5 Áp dụng hướng tiếp cận nhân học - văn hóa (cultural anthropology)

xem xét đối tượng nghiên cứu trong một quá trình vận hành của tổng thể văn hóaHmông, đặc biệt là phong tục, tập quán, điều kiện sống , từ đó luận bàn, lý giải sựphát sinh, truyền bá, sáng tạo, biến đổi của Gầu plềnh cũng như LHGT

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài, điểm mới của Luận án

5.1 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn: Đề tài “Dân ca Gầu plềnh và LHGT của

người Hmông ở Lào Cai - truyền thống và biến đổi” phần nào đã đáp ứng tính cấpthiết cả về lý luận và thực tiễn đang đặt ra Về lý luận là nghiên cứu Gầu plềnh đặttrong môi trường diễn xướng cụ thể, nơi Gầu plềnh được bộc lộ sinh động nhất,phản ánh đặc trưng nguyên hợp của tác phẩm văn học dân gian Về thực tiễn,LHGT ngày nay đang biến đổi theo xu hướng phát triển quy mô ngày càng lớn hơn

do sự phát triển xã hội và nhu cầu hưởng thụ văn hóa của đồng bào Hmông ngàycàng tăng, theo đó, Gầu plềnh cũng đang biến đổi đa dạng nội dung, phong phú vềphương thức diễn xướng

5.2 Điểm mới của Luận án:

- Khảo sát, miêu thuật, đối chiếu các LHGT giữa các vùng của Lào Cai trongquá khứ và hiện tại

- Ghi âm, quay phim, chụp ảnh, sưu tầm thêm và biên dịch Gầu plềnh, đónggóp thiết thực vào kho tàng văn học dân gian nước nhà

- Lý giải bằng cơ sở khoa học, cơ sở nội tại của lịch sử, văn hóa, ngôn ngữHmông, vận dụng quan điểm thi pháp học văn học dân gian chỉ ra bản chất mốiquan hệ giữa Gầu plềnh - LHGT và luận giải những vấn đề căn cốt nhất, đặc sắcnhất về nội dung, nghệ thuật Gầu plềnh một cách hệ thống

- Nghiên cứu Gầu plềnh với tư cách một tiểu loại dân ca độc lập, đặt trongmôi trường động của diễn xướng và quá trình vận động Đánh giá sự biến đổi, dựbáo xu hướng biến đổi Gầu plềnh và LHGT từ truyền thống đến hiện đại, đề xuấtcác giải pháp bảo tồn, phát huy góp phần xây dựng cuộc sống mới

6 Cấu trúc Luận án:

Ngoài phần mở đầu, kết luận, Luận án gồm 4 chương:

- Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và một số vấn đề lý luận.

- Chương 2: Diễn xướng Gầu plềnh trong Lễ hội Gầu tào.

- Chương 3: Một số bình diện thi pháp Gầu plềnh.

- Chương 4: Sự biến đổi của Gầu plềnh và Lễ hội Gầu tào.

Trang 13

Chương 1

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN

Chúng tôi nêu tổng quan một số vấn đề nghiên cứu và lý luận liên quan đến

đề tài để có cái nhìn tổng quát và phương hướng giải quyết các nội dung đặt ra trong

đề tài Đó là tổng quan về: lịch sử nghiên cứu, sưu tầm; một số vấn đề cơ bản nhất

về lịch sử, văn hóa, xã hội, văn học dân gian Hmông; khái niệm Gầu plềnh; nhữngnội dung lý luận định hướng giải quyết vấn đề

1.1 Tổng quan lịch sử vấn đề

1.1.1 Về sưu tầm

Trước Cách mạng tháng Tám, việc sưu tầm dân ca Hmông nói chung chưađược quan tâm Chúng tôi tìm thấy một số bài dân ca Gầu plềnh được in trong mộtvài công trình nghiên cứu dân tộc học như “Lịch sử người Mèo” của Savina, “Lịch

sử nhân dân vùng hạ lưu sông Triết Giang” của Từ Tùng Thạch Các tác giả sửdụng những bài dân ca đó như tư liệu minh chứng cho nhận định, đánh giá các vấn

đề về dân tộc học, văn hóa học của mình chứ không nhằm mục đích sưu tầm, lưugiữ; tuy nhiên, qua đó, người đọc có thể nhận thấy hai nhà nghiên cứu trên nhậnđịnh dân tộc Hmông rất yêu ca hát, có nền dân ca phong phú là có cơ sở

Sau Cách mạng tháng Tám, dưới ánh sáng đường lối văn nghệ, với quanđiểm bình đẳng dân tộc của Đảng, việc nghiên nhiều mặt đời sống các dân tộc thiểu

số nước ta được đặc biệt quan tâm, chú trọng, có thành tựu; việc nghiên cứu, sưutầm văn học dân gian các dân tộc thiểu số đạt nhiều kết quả Dân tộc Hmông đượcquan tâm nghiên cứu; văn học dân gian Hmông được nhiều người tiến hành sưu tầm

và đạt kết quả nhất định

Mở đầu công cuộc tìm hiểu về đồng bào Hmông sau Cách mạng là nhà văn

Tô Hoài Năm 1952, trong chuyến đi thực tế 8 tháng cùng bộ đội giải phóng TâyBắc, sống cùng đồng bào Hmông tại Tủa Chùa, Lai Châu, ông thu lượm được một

số bài dân ca Hmông Đặc biệt, Tô Hoài đã phản ánh một cách nghệ thuật phongtục, tập quán, thói quen người Hmông trong truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ” và chéplại những câu Gầu plềnh tiêu biểu

Vào những năm 60 của thế kỷ XX, sau khi bộ chữ Hmông Việt Nam đượcChính phủ ban hành, phong trào học tiếng Hmông, chữ Hmông trong cán bộ, giáoviên và xóa mù chữ cho người Hmông bằng tiếng Hmông ở Lào Cai phát triểnmạnh Nhà sưu tầm Doãn Thanh, một thầy giáo dạy chữ Hmông, một cán bộ quản

lý công tác xóa mù chữ tiếng Hmông của Ty Giáo dục Lào Cai, đã tiến hành sưutầm dân ca của nhiều ngành Hmông tại các huyện Sa Pa, Mường Khương, Bắc Hà,Bát Xát, Si Ma Cai tỉnh Lào Cai Kết quả, năm 1967 cuốn “Dân ca Mèo (Lào Cai)”,

Trang 14

Nxb Văn học phát hành ra mắt bạn đọc Đây là cuốn sách giới thiệu tương đối đầy

đủ diện mạo dân ca Hmông với năm loại chính: “Tiếng hát tình yêu, Tiếng hát mồcôi, Tiếng hát làm dâu, Tiếng hát cúng ma, Tiếng hát cưới xin” [132, tr 9] Trong

đó, loại tiếng hát tình yêu (Gầu plềnh) có số lượng lớn nhất: 95/142 bài Tác phẩmđược dịch tiếng Việt một cách công phu, chú thích tỉ mỉ tên, địa chỉ người hát, chỉdẫn về phong tục, thói quen sinh hoạt, những chỗ dịch chưa sát nghĩa gốc…và chủyếu dịch từ nên đảm bảo được ý nghĩa cơ bản Doãn Thanh khẳng định trong lờigiới thiệu: “Gầu plềnh chính là loại tình ca của nam nữ, loại bài hát phong phú và

đa dạng nhất của người Mèo… Trong dân ca Mèo, loại này là loại chủ yếu, có nhiềugiá trị tích cực nhất” “Dân ca Mèo (Lào Cai)” là công trình sưu tầm đầu tiên rấtquan trọng đối với chúng tôi vì nó hội tụ cơ bản đủ diện mạo dân ca của các nhóm,ngành Hmông ở Lào Cai Bản thân Doãn Thanh là thầy giáo tiếng Hmông có hàngchục năm sống cùng đồng bào, am hiểu tường tận phong tục, tập quán, thói quen,văn hóa, ngôn ngữ, cách diễn đạt… của đồng bào, tiến hành sưu tầm nghiêm túc,cẩn trọng nên rất đáng tin cậy Đó là động lực thúc đẩy, củng cố thêm ý tưởng chotác giả Luận án hướng nghiên cứu, sưu tầm Gầu plềnh

Cùng thời gian này, Bùi Lạc và Mạc Phi công bố truyện thơ “Tiếng hát làmdâu Tây Bắc” (Tạp chí Văn học số 3/1964) và một số bài dân ca Hmông vùng Sơn

La, Lai Châu, Lào Cai Tiếng hát làm dâu Tây Bắc tương tự truyện thơ A Thào – Nù

Câu Doãn Thanh sưu tầm ở Lào Cai được một số học giả coi là truyện thơ về đề tài

tình yêu, trong đó có nhiều bài, đoạn, câu Gầu plềnh được khéo léo liên kết lại dướidạng lối kể chuyện hoặc đối đáp của các nhân vật thành câu chuyện Chúng tôi chorằng đây là sự phát triển của Gầu plềnh tiến dần đến truyện thơ nên có giá trị đểkhai thác phục vụ đề tài

Năm 1974, Doãn Thanh tiếp tục cho ra mắt cuốn Dân ca Mèo Lào Cai (45

bài, trong đó có 42 bài Gầu plềnh mới sưu tầm; sách in song ngữ Việt - Hmông, SởVăn hóa Thông tin Lào Cai phát hành) Các bài hát sưu tầm được đại diện cho nhiềungành Hmông các vùng có đông người Hmông sinh sống của tỉnh Lào Cai; đặc biệt,nhiều bài quen thuộc được nam nữ hát trong LHGT Tác phẩm giá trị ở chỗ lần đầutiên, những bài Gầu plềnh được in hai thứ tiếng, giúp cho việc nghiên cứu, đối chiếulời Việt và lời Hmông để xác định giá trị đích thực tác phẩm thuận lợi hơn

Năm 1984, các tác giả Doãn Thanh, Hoàng Thao tiến hành tuyển chọn, chỉnh

lý, bổ sung một số bài dân ca Hmông đã công bố trên các sách, tạp chí và công bố

cuốn Dân ca Hmông với lời giới thiệu của Chế Lan Viên do Nhà xuất bản Văn học

phát hành Cuốn sách tuyển đủ năm loại hát dân ca Hmông với lời dịch trau chuốthơn Riêng Gầu plềnh, các tác giả đã chọn một số bài từ các cuốn trước và bổ sung

38 bài mới

Trang 15

Mười năm sau, nhà văn, nhà nghiên cứu, sưu tầm Hùng Đình Quý, người dân

tộc Hmông tỉnh Hà Giang (giáp tỉnh Lào Cai), công bố tác phẩm Dân ca Mông Hà

Giang gồm 3 tập, in song ngữ Việt - Hmông, gần 100 bài chủ yếu thuộc loại Gầu

plềnh, Gầu ua nhéng (Gâux uôs nhangz) do ông sưu tầm tại Hà Giang Đây là tưliệu cần thiết để chúng tôi đối chiếu với các tác phẩm sưu tầm tại Lào Cai, tìm ra néttương đồng, khác biệt của hai vùng cư trú của người Hmông

Từ những năm 90 của thế kỷ XX trở lại đây, nhiều người tiến hành ghi chép,sưu tầm dân ca Hmông và in rải rác trên các sách báo trung ương, địa phương Bảnthân tác giả Luận án từ năm 2001 đến nay cũng tham gia sưu tầm, biên dịch đượcmột số bài Gầu plềnh hát trong các LHGT

Nhìn tổng quát, công tác sưu tầm dân ca Hmông nói chung, Gầu plềnh nói riênghơn 60 năm qua đạt được những thành tựu quan trọng Số lượng bài Gầu plềnh sưu tầmtại Lào Cai là nguồn tư liệu quý để chúng tôi khảo sát, hoàn thành Luận án này

Cùng thời gian trên, công tác sưu tầm truyện cổ, tục ngữ, câu đố, tang caHmông cũng được chú trọng; kết quả là đã phát hành được một số cuốn sách như:

Truyện cổ dân tộc Mèo (Doãn Thanh, Thương Nguyễn sưu tầm, Nxb Văn học in

năm 1963), Truyện cổ H.Mông (Lê Trung Vũ sưu tầm, Nxb Văn hóa in năm 1984),

Quả lê mũi dài (Vàng Thung Chúng, Ngọc Cường sưu tầm, Hội văn học nghệ thuật

Lào Cai phát hành năm 1999), Tục ngữ và câu đố Mông (Lê Trung Vũ sưu tầm, Nxb Văn hóa thông tin, 1994), Một số tục ngữ, câu đố Hmông Lào Cai (Lý Seo Chúng sưu tầm, Sở Văn hóa Thông tin Lào Cai phát hành 1996), Tang ca (KRUÔZ CÊ)

của người Mông Sa Pa (Giàng Seo Gà sưu tầm, Nxb Văn hóa dân tộc phát hành

năm 2004) Các cuốn truyện cổ, tang ca Hmông tập hợp được một số thể loại nhưthần thoại, truyền thuyết, cổ tích…, phản ánh nhiều nét đời sống sinh hoạt cộngđồng Hmông, nhất là sinh hoạt văn hóa, ca hát, lễ hội…; các cuốn tục ngữ, câu đốkhá phong phú, phản ánh nhiều mặt đời sống lao động, trí tuệ, kinh nghiệm củađồng bào Đây là nguồn tư liệu phong phú, cần thiết giúp tác giả Luận án tìm hiểusâu hơn về các phương diện đời sống, nghệ thuật của người Hmông, đồng thời cóthể sử dụng để đối chiếu, so sánh soi sáng vấn đề

Như vậy, trên văn bản, các thể loại văn học dân gian Hmông đã được hiệndiện khá đầy đủ là cơ sở quan trọng cho việc lựa chọn và triển khai đề tài

1.1.2 Về nghiên cứu

1.1.2.1 Ở nước ngoài

Việc quan tâm, nghiên cứu lịch sử, văn hóa, phong tục, đời sống ngườiHmông xuất hiện sớm nhất ở TQ, nơi họ cư trú từ xa xưa Chúng tôi chú ý trước hếtnhững nghiên cứu ở TQ, đặc biệt vùng Tây Nam TQ, nơi cư trú chủ yếu của ngườiHmông và là con đường di cư của họ xuống phía Nam đến Việt Nam

Trang 16

Đời nhà Tống (thế kỷ XII), tác giả Lục Du viết cuốn “Lão học am bút ký” đã

ghi chép một số phong tục “lạ” của người Miêu (Hmông), có đoạn tả cảnh sinh hoạt

ca hát: Người Miêu khi nông nhàn, từng bọn một hai trăm người, tay nắm tay nhau

mà hát, có mấy người thổi khèn đằng trước dẫn dắt, những cái vại cất trong bóngcây, đói không cần ăn, chỉ lấy rượu trong vại ra uống, không ngừng ca hát, ca hátthâu đêm ngoài trời đến hôm sau [Dẫn theo Lương Vũ Minh, 189, tr.126 bg]

Đến đời nhà Minh (thế kỷ XIV – XVII), sách “Gia Tĩnh đồ kinh” ghi chép lịch

sử triều đại nhà Minh cũng dành hẳn một mục chép về phong tục Miêu dân ở vùng TâyNam TQ, có ghi: Nam, nữ chưa kết hôn, hàng năm vào tháng ba, tháng tư, tập trung ởsân bãi, ở giữa dựng một cái cột, nhảy múa xung quanh, ca hát…” [189, tr.126 bg]

Vào đời Thanh, Trần Đỉnh viết “Điền Kiềm du ký”, ghi chép tại vùng Vân Nam

(TQ), rất chú ý đến người Hmông, ông miêu tả: Tập tục của người Miêu, hàng năm vàotháng giêng, thanh niên nam, nữ ăn mặc đẹp, cùng nhau nhảy múa [189, tr.126 bg]

Các miêu tả trên về phong tục ca hát vào dịp đầu năm của người Hmông cổđại có lẽ là LHGT hoặc chí ít cũng là dấu tích của LHGT ngày nay

Năm 1933, Từ Tùng Thạch, người TQ, xuất bản tác phẩm “Lịch sử nhân

dân vùng hạ lưu sông Việt Giang” phác hoạ những nét cơ bản lịch sử các dân tộc

Hmông, Dao, Di…; trong đó, ông dành nhiều trang nói về lịch sử chiến tranh, di cư,văn hoá, phong tục, tập quán dân tộc Hmông; khẳng định dân tộc Hmông khôngphải người man rợ mà là một trong rất ít dân tộc vẫn còn lưu giữ được sắc thái của

Bộ lạc nguyên thủy, do di cư về phương Nam sinh sống, tổ chức chính quyền độclập nên bị người phương Bắc gọi là Man [130, tr 43]

Sách Vân Nam phong vận chí, Miêu tộc Thái hoa sơn (1982) ghi: Thái hoa

sơn (踩 花 山) còn gọi là Xọa hoa sơn (tức LHGT) diễn ra ở sườn đồi bằng phẳng,rộng rãi giữa mấy thôn trại của người Miêu; mỗi khi đến ngày hội, đồng bào Miêuvượt Châu mà đến vô cùng náo nhiệt [188, tr.137 bg]

Những năm gần đây, một số nhà nghiên cứu ở tỉnh Vân Nam, TQ thành lậpHội nghiên cứu Miêu học tại một số Châu thuộc tỉnh và đã xuất bản một số đầu

sách Đáng chú ý là 4 cuốn: “Nghiên cứu về dân tộc Miêu ở Văn Sơn” (Vương Vạn

Vinh chủ biên); “Nghiên cứu về dân tộc Miêu ở Hồng Hà – Lịch sử, hiện trạng và

tương lai” (La Hữu Lượng biên soạn); “Dân tộc Miêu ở Mã Quan”(nhiều tác giả);

ba cuốn sách này do Nxb Dân tộc Vân Nam phát hành từ năm 2004 đến 2009; vàcuốn “Vân Nam phong vận chí, Miêu tộc Thái hoa sơn” do Nxb nhân dân VânNam phát hành Các sách trên nghiên cứu nhiều mặt ngôn ngữ, lịch sử, văn hóa,kinh tế, giáo dục…của người Hmông ở ba Châu của tỉnh Vân Nam Cả bốn sáchđều dành những trang thích đáng luận bàn Tết hoa sơn, Thái hoa sơn (LHGT) vàtruyền thống hát dân ca, kể chuyện trong lễ hội Đáng chú ý là bài “Vụn vặt về hội

Trang 17

Gầu tào của dân tộc Miêu Văn Sơn” của Lương Vũ Minh, tháng 2/2004, đã kháiquát sơ bộ tình hình lịch sử di cư từ Bắc xuống Nam của dân tộc Hmông, tình hìnhnghiên cứu Miêu dân từ xưa tới nay, khẳng định Gầu tào là “ngày hội long trọngnhất…làm cho con người lĩnh hội được phong tục mấy nghìn năm lịch sử của ngườiMiêu” và nhận định: Gầu tào thể hiện “tộc vi” (cột nêu vốn là “tiết vi” nhưng trởthành “tộc vi” vì có sức thu hút mọi người một cách tự nhiên, là nét riêng của ngườiHmông), “phong thái diện mạo”, “phẩm chất”, “phong tục”, “nghệ thuật” dân gian.Đặc biệt, tác giả miêu tả khá chi tiết diễn biến cuộc hát đối dân ca theo nguyên tắc

“tách dần từ đám hát lớn thành những đám hát nhỏ hơn rồi thành từng đôi” [189,tr.127 bg]; điều này trùng hợp với quan sát của chúng tôi tại LHGT xã Pha Longhuyện Mường Khương

Tuy nhiên, các nghiên cứu trên chỉ dừng ở mức độ miêu thuật, đưa ra nhữngnhận định về các vấn đề lịch sử, dân tộc, văn hóa, tín ngưỡng chứ chưa đi sâu nghiêncứu cụ thể, chi tiết mối quan hệ giữa LHGT và Gầu plềnh, chưa vận dụng nhữngphương pháp khoa học để làm sáng tỏ các giá trị tiềm ẩn bên trong của chúng

1.1.2.2 Ở Việt Nam

Cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu đầy đủ, cụ thể Gầu plềnh vàLHGT của người Hmông và mối quan hệ của chúng Tuy nhiên, về dân tộc học, lịch

sử, văn hóa Hmông được một số tác giả quan tâm, ghi chép

1) Thời kì phong kiến tự chủ, một số trí thức phong kiến đã nghiên cứu vùng

miền núi phía Bắc Nhà bác học Lê Quý Đôn nghiên cứu lịch sử, địa lý, văn hoá,phong tục các dân tộc ít người Việt Bắc, Tây Bắc (trong đó có Lào Cai) với các tác

phẩm Vân đài loại ngữ (số 1773, Viện Hán Nôm), Phủ biên tạp lục (số 1776, Viện Hán Nôm), Kiến văn tiểu lục (số 1777, Viện Hán Nôm); tác giả Hoàng Bình Chính ghi chép văn hoá dân tộc vùng Yên Bái, Lào Cai trong cuốn Hưng hoá phong thổ

lục (số 1778, Viện Hán Nôm), giới thiệu một số thần thoại, cổ tích Tày, Nùng,

Mường, Thái…nhưng chưa thấy các tác giả nói về người Hmông Đến thế kỷ XIX,

Phạm Thận Duật với cuốn Hưng hoá địa chí kí lược (1856, Viện Hán Nôm) nói về

một số dân tộc ít người Tây Bắc, nhắc đến người Dao – Mèo và sưu tầm một sốsách cổ người Dao huyện Bảo Yên (Lào Cai) Như vậy có thể xác định thời kỳ nàycác tộc Hmông, Dao đã di cư đến Lào Cai

2) Thời kì cận đại, đầu thế kỷ XX

Thực dân Pháp, sau khi xâm lược Việt Nam đã cử một số đoàn thám hiểm,truyền giáo và cả các đội quân bình định vùng núi phía Bắc Trong các đoàn đó cónhững người đã nghiên cứu một số dân tộc ít người như Savina nghiên cứu ngườiHmông, Bônifaxi nghiên cứu người Tày, Mán Các tác giả trên đề cập và sưu tầmmột số truyện cổ dân gian các dân tộc Tuy nhiên, họ sử dụng văn học dân gian các

Trang 18

dân tộc thiểu số như những cứ liệu minh hoạ cho các công trình nghiên cứu lịch sử,dân tộc học Mặt khác, vì mục đích chính trị của kẻ xâm lược nên một số nhận định

và một số tác phẩm văn học dân gian đã bị xuyên tạc (chẳng hạn, từ truyền thuyết nạnđại hồng thủy của người Hmông, Savina cho đây là truyện tháp Babel tựa như truyệncủa Thiên chúa giáo và người Hmông là người phương Bắc, hơn nữa, có chung

nguồn gốc với người Châu Âu [117, tr 1-12]) Công trình“Lịch sử người Mèo” của

Savina (một cha cố kiêm sĩ quan Pháp sang Việt Nam hoạt động và nghiên cứu tạivùng Sa Pa, Lào Cai và Vân Nam, TQ) xuất bản tại Hồng Công năm 1924 là đánglưu tâm nhất Công trình gồm 4 chương đề cập nhiều mặt truyền thuyết, lịch sử di cư,văn hóa, phong tục, tín ngưỡng, sinh hoạt, lao động sản xuất của người Hmông Mặc

dù viết phục vụ cho mục đích truyền đạo và xâm lược nhưng tác giả miêu thuật tỉ mỉdiện mạo đời sống vật chất, tinh thần của người Hmông Ông miêu tả LHGT, hát Gầuplềnh của nam nữ dịp đầu xuân, sưu tầm một số truyền thuyết, dân ca, ngụ ngôn, tríchdẫn trong tác phẩm để chứng minh cho các luận điểm Savina dịch một số bài dân caHmông và nhận định: dân ca Hmông lưu trữ toàn bộ lịch sử, cũng như đời sống củangười Hmông Tuy nhiên, do định kiến hoặc do ý đồ viết, Savina có thái độ, cái nhìnmiệt thị đối với phong tục tổ chức tết, LHGT và hát Gầu plềnh; ông viết: “NgườiMèo gọi những dịp hội lễ vui mừng là: hầu chớu, uống rượu, và dịp vui ngày tết là:nào tsà, ăn xuân mới cái gì cũng cho vào mồm ăn, cũng như chúng ta thường nóimọi thứ đều đổ vào lỗ cống!” [117, tr 69]

3) Thời kỳ sau Cách mạng tháng Tám đến nay

Về hướng nghiên cứu lịch sử, văn hóa và dân tộc học: Sau Cách mạng

tháng Tám, nghiên cứu lịch sử, văn hóa, dân tộc học về người Hmông ở nước ta

được đẩy mạnh, đạt nhiều thành tựu Các công trình tiêu biểu như Người Mông ở

Việt Nam (Cư Hòa Vần, Hoàng Nam, 1994), Văn hóa Hmông Lào Cai (Trần Hữu

Sơn,1995), Văn hóa Mông Hà Giang (Hùng Đình Quý và nhóm, 1996), Văn hóa

các dân tộc ở Yên Bái (Bùi Huy Mai, 1998), Văn hóa tâm linh của người Hmông ở Việt Nam, truyền thống và hiện tại (Vương Duy Quang, 2005), Dân tộc Mông Sơn La với việc giải quyết vấn đề Tín ngưỡng, Tôn giáo hiện nay (Thào Xuân Sùng chủ biên,

2009), Tiếp cận văn hóa Hmông (Mã A Lềnh, 2014), Những đỉnh núi du ca, một lối

tìm về cá tính H’mông (Nguyễn Mạnh Tiến, 2014), là những công trình khoa học

khá lớn, nghiên cứu nhiều mặt đời sống vật chất, tinh thần (nhà cửa, trang phục, phongtục, tập quán, sinh hoạt, sản xuất, tín ngưỡng, tâm linh, văn hóa, văn học dân gian,ngôn ngữ, chữ viết, lễ hội ) dân tộc Hmông, giúp tác giả Luận án có cái nhìn tổng thể

về dân tộc này Các tác giả ít nhiều đều đề cập đến LHGT cũng như dân ca Hmông; tuychủ yếu miêu thuật lễ hội và nêu những nét phác thảo đặc điểm dân ca nhưng họ đều cóchung nhận định như: dân tộc Hmông đặc biệt yêu ca hát, có kho tàng dân ca phong

Trang 19

phú; Gầu plềnh được hát phổ biến trong cộng đồng, LHGT có ở một số vùng đồng bàoHmông Những nhận định, đánh giá trong các công trình trên có tính chất gợi ý, địnhhướng bổ ích cho đề tài.

Ngoài ra, một số công trình, tuy không trực tiếp đề cập đến vấn đề của đề tàiLuận án này nhưng rất cần thiết cho chúng tôi có cái nhìn rộng hơn, cụ thể hơn về

con người, phong tục, tập quán Hmông ở từng vùng như các luận văn: Quan hệ

dòng họ của người Hmông hoa ở xã Kim Nọi Mù Căng Chải” của Vương Duy

Quang (1988), Tìm hiểu văn hóa Mông huyện Sa Pa của Lê Huy Phú (2002) và một

số bài báo của Lê Trung Vũ, Nguyễn Văn Lợi, Phạm Đức Dương…

Hai chục năm trở lại đây, ở Lào Cai, phong trào nghiên cứu văn hóa, vănnghệ dân gian phát triển mạnh, xuất hiện nhiều tác giả với nhiều bài báo viết về cácmặt đời sống đồng bào Hmông ở các huyện của tỉnh Lào Cai Tiêu biểu: Trần Hữu

Sơn: “Trang trí dân gian trên trang phục Hmông hoa Bắc Hà” (Tạp chí Văn hóa

nghệ thuật, số 6/1990), “Sa man giáo của người HMông ở Lào Cai” (Tạp chí Văn hóa dân gian, số 6/2001), Hoàng Minh Lường: “Một số phong tục - tập quán liên

quan đến nhà cửa của người Hmông ở Lào Cai” (Tạp chí Văn hóa dân gian số

4/1995); Lê Hồng Lý, Hoàng Tích Biên Hòa: “Người Hmông xanh ở Nậm Xé” (Tạp

chí Văn hóa dân gian số 4/1995); Lý Cẩm Tú, Hoàng Minh Lợi “Một số tập tục của người Hmông xanh tỉnh Lào Cai” (Tạp chí Văn hóa dân gian số 1/1997), Lê Ngọc

Thắng: “Mối quan hệ giữa văn hóa truyền thống và kinh tế của người Hmông ở Bắc

Hà” (Tạp chí Dân tộc học, số 1/1997), “Một số biểu tượng trong văn hóa dân gian Hmông” (Tạp chí Văn nghệ Lào Cai, tháng 7/2010),…Các bài báo trên đề cập nhiều

vấn đề như ăn, ở, dựng nhà, vào nhà mới, cưới xin, sinh đẻ, ma chay, khiếu thẩm

mỹ, trang phục, kinh tế, xã hội… trên cơ sở nghiên cứu, quan sát thực tế, cụ thể ởmột địa phương, và một nhóm, ngành Hmông cụ thể nên có giá trị thực tế rất caogiúp chúng tôi có thể khai thác để giải quyết các vấn đề đặt ra trong Luận án

Về Lễ hội: Người Hmông có hai lễ hội quan trọng là Nào sồng (Naox jôngz

- ăn ước) và Gầu tào Riêng LHGT, ngoài việc được miêu tả ở các công trình kểtrên, còn được nghiên cứu sâu hơn và đăng tải trên một số sách báo, tạp chí Tháng1/1984, tác giả Lê Trung Vũ đăng bài “Hội làng, hội lễ, tổng thuật” trên Tạp chí

Văn hóa nghệ thuật số 1 Trong bài viết này, ngoài phần miêu thuật lễ hội, tác giả

phân tích, đánh giá, nhận định về loại hình lễ hội trên cơ sở khoa học đương đại:đây là loại hình lễ hội mừng công nguyên thủy của cư dân nông nghiệp [177]

Năm 1978, các tác giả Đặng Văn Lung, Hồng Thao, Trần Linh Quý công bố

cuốn Quan họ - nguồn gốc và quá trình phát triển Tiếp cận từ góc độ folklore, các

tác giả đã dành một số trang miêu tả khá tỉ mỉ LHGT và nhận định về nguồn gốccũng như quá trình phát triển của lễ hội, đồng thời so sánh LHGT với một số lễ hội

Trang 20

khác của người Mường, người Thái, người Việt…; tìm ra những đặc điểm chung vềloại hình lễ hội là lễ hội hát Các tác giả khẳng định, Sải sán (LHGT) của ngườiHmông ở Việt Nam chỉ có ở một số vùng của tỉnh Lào Cai [74, tr 69].

Năm 1999, Trần Hữu Sơn cùng nhóm nghiên cứu, trực tiếp nghiên cứu lễ hội ở

Lào Cai và xuất bản cuốn Lễ hội cổ truyền Lào Cai; các tác giả khảo sát 11 lễ hội của

các dân tộc thiểu số, trong đó dành một số trang miêu thuật diễn biến LHGT ở cáchuyện Sa Pa, Mường Khương, Si Ma Cai Tuy nhiên, bài viết chưa đề cập và giải mãcác hiện tượng sinh hoạt văn hóa trong lễ hội Đến năm 2013, Trần Hữu Sơn viết bài

“Các xu hướng biến đổi lễ hội hiện nay và giải pháp quản lý” đăng trên Cổng thông tinđiên tử Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch Lào Cai; trong đó đã nêu sự biến đổi củaLHGT về quy mô, số lượng ngày càng đông người tham dự và có gợi ý rất quan trọngđối với chúng tôi: con người ngày càng hướng nhiều hơn vào đời sống tâm linh quahoạt động lễ hội

LHGT là lễ hội rất tiêu biểu, vì vậy được quan tâm nghiên cứu, lựa chọn, hiện

diện trong Từ điển lễ hội Việt Nam và 65 lễ hội cổ truyền Việt Nam Tuy các công trình

nghiên cứu LHGT trên chỉ dừng ở mức độ miêu thuật, nhận định ban đầu nhưng lànhững định hướng quan trọng để chúng tôi kế thừa, tiếp tục nghiên cứu sâu hơn

Về dân ca Hmông và Gầu plềnh: Ngay sau khi có những tác phẩm dân ca

Hmông đầu tiên được công bố, tác giả Tô Hoài có bài “Tiếng hát làm dâu, tiếng hát

đau thương, tiếng hát căm hờn ngàn đời của người phụ nữ Mèo” in trên Tạp chí Văn

học số 2/1965 Tác giả phân tích nội dung đồng thời lưu ý một số vấn đề dịch thuật sao

cho đúng bản chất dân ca Hmông và truyền thống văn hóa, tâm lý người Hmông Bàiviết đã cung cấp cho chúng tôi nhiều tư liệu quý, cách nhìn nhận vấn đề nghiên cứuphải thấu đáo, toàn diện, sâu sát, am hiểu đời sống, phong tục của đồng bào

Năm 1967, nhà sưu tầm, dịch giả Doãn Thanh viết lời giới thiệu cuốn Dân

ca Mèo (Lào Cai) đã nêu những đặc điểm cơ bản về nội dung, diễn xướng 5 tiểu

loại (theo tên tự gọi) dân ca Hmông, song ông lưu ý ranh giới giữa các tiểu loại ấycòn có điểm chưa thỏa đáng Doãn Thanh dành 2 trang mô tả các vấn đề cơ bản củaGầu plềnh: - các dạng bài hát; - các đối tượng tham gia hát; - các hoàn cảnh hát; -đánh giá sơ bộ giá trị nội dung Gầu plềnh Ông đặc biệt đánh giá cao loại hát Gầuplềnh, coi là “loại rất có giá trị văn học”, loại bài hát phong phú và đa dạng nhất:

“Từ Tiếng hát tình yêu, ta có thể nhận thức được khá đầy đủ nhiều mặt đời sống xã

hội, đời sống tình cảm của người Mèo, càng thấy họ là những người giàu tình cảm,rất coi trọng tín nghĩa Trong dân ca Mèo, loại này (Gầu plềnh) là phần chủ yếu, cónhiều giá trị tích cực nhất” [132, tr.16]

Tác giả Phan Nhật viết bài “Tìm hiểu quá trình hình thành truyện thơ Tiếnghát làm dâu” đăng trên Tạp chí Văn học, số 3 năm1972 Áp dụng lý thuyết cấu trúc,

Trang 21

ông đã lập sơ đồ so sánh kết cấu truyện thơ “Tiếng hát làm dâu” với 6 kiểu bài dân

ca Tiếng hát làm dâu, kết cấu dân ca Tiếng hát tình yêu của người Hmông và kết luận: “Truyện thơ Tiếng hát làm dâu tiếp thu cả dân ca Tiếng hát làm dâu và Tiếng

hát tỉnh yêu”, đó là “một quá trình tiếp thu có chọn lựa, nâng cao, hệ thống hóa là

quá trình tự sự hóa dân ca trữ tình” Từ đó, tác giả đặt vấn đề không nên phán xét võđoán về trình độ kinh tế - xã hội dựa trên một số chi tiết trong truyện thơ mà cần đốichiếu với “truyền thống văn hóa Mèo” và các dân tộc khác Đây là luận điểm hếtsức quan trọng cung cấp cho chúng tôi một phương pháp luận khoa học, một thái độthận trọng khi thâm nhập vào thế giới dân ca Gầu plềnh còn nhiều điều bí ẩn

Chế Lan Viên viết bài “Tâm hồn và tiếng hát H.Mông” (1984), giới thiệu

cuốn sách Dân ca Hmông đã nêu lên giá trị nội dung, nghệ thuật biểu hiện tư tưởng,

tình cảm, đặc biệt, sự tinh tế của tâm hồn Hmông qua các bài ca Với cảm nhận tinh

tế của một nhà thơ, tác giả có nhiều nhận xét sắc sảo về đặc điểm tính cách, tâm lýtộc người Hmông thể hiện qua dân ca như: “có yếu tố tình cảm, có yếu tố bản năng”nhưng trước hết là “lý trí”; “người Hmông đã tạo được cân bằng trong những thếkhá cheo leo”, “ hàng trăm bài có thể nằm không hổ thẹn trong những tập thơ haycủa thế giới” , gợi cho chúng tôi rất nhiều trong quá trình thực hiện đề tài

Nhìn chung, bốn bài viết trên được thực hiện một cách tâm huyết, cẩn trọng,cung cấp cho chúng tôi những hiểu biết ban đầu rất quan trọng về các tiểu loại dân

ca Hmông cũng như đời sống tinh thần phong phú của đồng bào Tuy vậy, các bàimới chỉ phác thảo những nét cơ bản, chưa đi sâu nghiên cứu đầy đủ, cụ thể, hệthống toàn bộ hoặc nghiên cứu sâu Gầu plềnh với tư cách một tiểu loại dân ca

Đến năm 1995, tác giả Phạm Thu Yến công bố trên Tạp chí Văn hóa nghệ

thuật số 2 bài “Đặc điểm kết cấu dân ca H.Mông” Trên cơ sở lý thuyết thi pháp học

hiện đại, tác giả nghiên cứu sâu một phương diện nghệ thuật dân ca Hmông, chỉ rađặc điểm, giá trị cơ bản nhất của kết cấu tác phẩm gắn với đặc trưng thể loại Bàiviết phân tích sâu các phương diện: lối đối đáp, lối trò chuyện, kết cấu trùng điệp,đối ngẫu tâm lý, mô tip trữ tình trong dân ca Hmông, đồng thời nêu những đặctrưng cơ bản nhất là kết cấu bài ca thường dài, tính chất kể lể, phô diễn tình cảm rất

rõ, phản ánh dấu ấn của lối nói, lối diễn đạt của đồng bào trong đời sống hàng ngàyvào dân ca Mặc dù viết về kết cấu dân ca Hmông nói chung, không đi sâu phân tíchGầu plềnh nhưng tác giả đã nêu lên phương pháp luận và những gợi ý có tính chấtnền tảng giúp chúng tôi kế thừa triển khai Luận án

Tác giả Lê Trường Phát hoàn thành Luận án Tiến sĩ Thi pháp truyện thơ các

dân tộc thiểu số, năm 1997; lựa chọn một số truyện thơ Hmông, đối chiếu với Gầu

plềnh và kết luận: một trong những cơ sở hình thành truyện thơ Hmông là dân catiếng hát tình yêu (Gầu plềnh); đồng thời lập bảng so sánh Gầu plềnh và truyện thơ,phân tích việc sử dụng Gầu plềnh để sáng tạo truyện thơ Hmông như thế nào Như

Trang 22

vậy, có thể thấy vai trò, sự ảnh hưởng của Gầu plềnh trong nền dân ca Hmông là rất

rõ và đã thu hút sự quan tâm của nhiều người

Hoàng Việt Quân viết cuốn Tìm hiểu dân ca dân tộc Mông do Nhà xuất bản

Dân tộc phát hành năm 2004 Lần đầu tiên, một cuốn sách khá dày dặn (188 trang)nghiên cứu về dân ca Hmông do một tác giả lăn lộn nhiều năm với vùng cao viết.Tác phẩm gồm 2 phần: - Tình hình sưu tầm, nghiên cứu dân ca Mông ở Lào Cai,Yên Bái; - Khảo sát một số loại hình dân ca Mông ở Lào Cai, Yên Bái Trong đó,tác giả đã khảo sát 7 loại hình dân ca Hmông là Tiếng hát tình yêu, Tiếng hát cướixin, Tiếng hát cúng ma, Tiếng hát than thân, Tiếng hát ru con, Tiếng hát đánh giặc

và Tiếng hát lao động sản xuất Hoàng Việt Quân đã nêu lên ý nghĩa cơ bản của cácloại hình dân ca; đặc biệt quan tâm đến những bài dân ca đề tài về đánh giặc và laođộng sản xuất mới sưu tầm từ năm 1975 trở lại đây ở Lào Cai, Yên Bái Tuy tác giảkhông tập trung phân tích Gầu plềnh như một tiểu loại văn học dân gian Hmông,không khai thác phương diện diễn xướng và các phạm trù, phương tiện nghệ thuậtnhưng đây là tài liệu tốt để tác giả Luận án tham khảo, kế thừa

Năm 2012, Hoàng Thị Thủy hoàn thành Luận án Tiến sỹ Dân ca nghi lễ dân

tộc Hmông, nghiên cứu diễn xướng, nội dung, nghệ thuật của hai mảng dân ca đám

cưới và tang ma Đáng chú ý là Luận án Tiến sỹ của Nguyễn Kiến Thọ với đề tài

Thơ ca dân gian dân tộc Hmông từ truyền thống đến hiện đại (2013) Tác giả đã có

một số kết luận như: Thơ ca dân gian Hmông là kho tàng văn hoá đặc sắc phản ánhchân thực và sinh động cuộc sống của dân tộc Hmông, tồn tại như một món ăn tinhthần không thể thiếu trong đời sống của đồng bào Đó vừa là cơ sở, vừa là một trongnhững yếu tố quyết định cho sự hình thành và phát triển của thơ ca Hmông thời kìhiện đại Đồng thời, tác giả cũng đặt ra một số vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu như:khảo sát các mô hình cấu trúc trong thơ ca dân gian Hmông để tìm ra những đặctrưng riêng về mặt thể loại, đi sâu hơn nữa vào việc định danh thể loại một cáchchính xác cho thơ ca dân gian Hmông; nghiên cứu mô hình cấu trúc thơ ca dân gianHmông để tìm ra mối liên hệ giữa các kiểu mô hình cấu trúc này với các làn điệudân ca Hmông Đây là những gợi ý bổ ích đối với chúng tôi trong quá trình thực

hiện đề tài Luận án Năm 2015, Hùng Hà bảo vệ Luận án Tiến sỹ Thơ ca dân gian

Mông duới góc nhìn văn hóa, lấy đối tượng là thơ ca dân gian và những sáng tác thơ

ca dân gian thời hiện đại để nghiên cứu, trong đó đề cập đến Gầu plềnh cùng vớicác loại bài ca khác trong dân ca Hmông Tác giả đi sâu phân tích giá trị thơ ca dângian Hmông và vai trò của nó trong cuộc sống của đồng bào; trong đó có những nộidung lý thú về phong tục, tập quán truyền thống Hmông phản ánh trong thơ ca lànhững gợi ý bổ ích giúp chúng tôi triển khai đề tài Luận án Tuy nhiên, ba Luận ántrên không theo hướng nghiên cứu Gầu plềnh mà chỉ lấy đó làm đối sánh

Trang 23

Về ngôn ngữ và âm nhạc: Sớm nhất là năm 1975, tác giả Đỗ Minh công bố

cuốn Bước đầu tìm hiểu ca nhạc dân gian Việt Bắc, Nxb Việt Bắc phát hành Tác

phẩm đề cập một số đặc điểm âm nhạc, miêu tả một số nhạc cụ dân gian Hmông.Cùng năm đó, Nguyễn Văn Lợi có bài “Láy từ và từ láy tiếng Mông” in trên Tạp chí

Ngôn ngữ số 1/1975 Đáng chú ý nhất là tác phẩm Âm nhạc dân tộc Hmông của

Hồng Thao, Nxb Văn hóa Dân tộc phát hành năm 1997 Hồng Thao vừa là nhạc sỹnghiên cứu dân ca, dân nhạc Hmông (1960 -1990), vừa cùng một số nhà sưu tầmkhác ghi chép, sưu tầm dân ca Hmông trực tiếp từ lời hát, vì vậy, mấy chục bài Gầuplềnh được trích dẫn trong tác phẩm rất có giá trị để chúng tôi tiếp cận, nghiên cứu

từ góc độ diễn xướng Mặt khác, nhận xét về âm nhạc dân ca Hmông, Hồng Thaođưa ra một số ý kiến thú vị như nhiều bài có cấu trúc, ý tứ giống các bài hát trong

“Kinh thi” của TQ [140, tr 228], hoặc thể loại hát Khâu - xìa có thể chia 3 loại nhỏ

để hát tương ứng với ba tiểu loại dân ca gâux tus zuôs, gâux plênhl, gâux uôznhangs (hát mồ côi, hát tình yêu, hát làm dâu) Đó là những gợi ý bổ ích để địnhhướng có thể tìm lời giải đáp khi nghiên cứu Gầu plềnh

Năm 2007, Phùng Thị Thanh, giảng viên trường Cao đẳng Sư phạm Lào Cai

hoàn thành Luận án Tiến sỹ Phân tích đối chiếu hệ thống ngữ âm - âm vị học của Tiếng

Việt với tiếng Hmông và các lỗi phát âm tiếng Việt của học sinh Hmông tại trường Đại

học Sư phạm Hà Nội Luận án nghiên cứu sâu lĩnh vực ngữ âm, âm vị học đồng thời đềxuất các giải pháp sửa lỗi cho học sinh người Hmông ở Lào Cai, tuy không trực tiếp liênquan đến đề tài Luận án nhưng đã cung cấp cho chúng tôi một số vấn đề về phương phápphân tích ngôn ngữ Hmông, trong đó có ngôn ngữ dân ca Hmông

Ngoài những công trình kể trên còn có một số bài giới thiệu âm nhạc Hmôngcủa Hồng Thao, Kim Vĩnh, những mục khảo tả ngôn ngữ, âm nhạc trong các côngtrình viết về văn hóa Hmông của các tác giả Trần Hữu Sơn, Hùng Đình Quý…Những bài, mục này chủ yếu nêu lên những phác thảo, những đặc điểm chung nhấtcủa dân ca, dân nhạc Hmông chứ chưa đi sâu nghiên cứu một tiểu loại dân ca nào

cụ thể

Gần đây, giới nghiên cứu đã chú ý việc nghiên cứu quan hệ giữa lễ hội dân

gian và văn hóa, văn học dân gian Đáng chú ý là bài Tổng quan về kho tàng lễ hội

cổ truyền Việt Nam của tác giả Nguyễn Chí Bền trong cuốn Văn hóa dân gian Việt Nam - Những suy nghĩ do Nxb Văn hóa Dân tộc phát hành năm 1999 Trên cơ sở

tổng thuật, đánh giá nhiều công trình nghiên cứu lễ hội ở Việt Nam, tác giả khẳngđịnh một số luận điểm quan trọng như: “lễ hội là một thành tố của văn hóa”, “lễ hội

cổ truyền không là một thành tố bất biến”, “lễ hội tồn tại như là kết quả của quátrình tiếp biến văn hóa”; “trên đường vận hành của trò diễn dân gian trong lễ hội,người dân đã đưa vào đủ loại: ca hát, múa gậy tiền và lễ hội là thời điểm mạnh của

Trang 24

cộng đồng” Những nhận định, đánh giá trên là gợi ý bổ ích về mặt phương phápluận cho đề tài này.

Trên cơ sở những nghiên cứu, sưu tầm dân ca Hmông và LHGT nói riêng,lịch sử, văn hóa Hmông nói chung từ mấy chục năm trở lại đây, chúng tôi nhận thấynổi lên một số vấn đề sau: Gầu plềnh là một tiểu loại trong thể loại dân ca của ngườiHmông có hình thức diễn xướng phong phú, đặc biệt là diễn xướng trong LHGT:hát, múa, thể hiện qua các loại nhạc cụ dân tộc… Gầu plềnh với số lượng bài caphong phú, có mối quan hệ mật thiết với LHGT và là sinh hoạt chủ yếu nhất tronghội Gầu tào Mặc dù chưa có công trình nào nghiên cứu Gầu plềnh và nghiên cứuLHGT một cách tỉ mỉ nhưng diện mạo lịch sử, văn hóa, văn học Hmông đã đượcsưu tầm, nghiên cứu khá đầy đủ là cơ sở quan trọng để đi sâu nghiên cứu Gầuplềnh Hơn nữa, gần đây đã có những bài nghiên cứu (dù không trực tiếp nghiêncứu đầy đủ Gầu plềnh) sâu khía cạnh này hoặc khía cạnh khác về ngôn ngữ, âmnhạc hoặc một phương diện nghệ thuật nào đó của Gầu plềnh tạo tiền đề quan trọng

để chúng tôi tiếp thu, định hướng nghiên cứu phát triển đề tài Nhìn chung, vốn tưliệu đó trở thành tài sản văn hóa dân tộc quý giá để phục vụ công tác sưu tầm,nghiên cứu trong hiện tại và tương lai

Có thể nói, đề tài “Dân ca Gầu plềnh và LHGT của người Hmông ở Lào Cai

- truyền thống và biến đổi” là vấn đề còn chưa được nghiên cứu sâu, đặc biệt là mốiquan hệ giữa Gầu plềnh và LHGT Nghiên cứu đề tài này là một việc làm hữu ích

để bảo lưu những giá trị văn hóa tinh thần mang đậm bản sắc của một dân tộc thiểu

số Những kết quả nghiên cứu, như đã trình bày trên đây sẽ là tư liệu quí giá đểnghiên cứu sinh tiếp thu, kế thừa biện chứng trong triển khai đề tài của mình Nhậnthức về những vấn đề còn chưa rõ, chưa có và vấn đề cần phải tiếp tục phát triểntrong nghiên cứu dân ca dân tộc Hmông của các bậc đi trước, tác giả triển khai đềtài theo hướng đi sâu, làm rõ các số nội dung: Diễn xướng Gầu plềnh, đặc biệt trongLHGT, làm rõ mối quan hệ bản chất giữa Gầu plềnh và LHGT; vận dụng lý thuyếtthi pháp học hiện đại, luận giải làm sáng tỏ giá trị nội dung, nghệ thuật Gầu plềnh;

sự biến đổi của Gầu plềnh và LHGT trong xã hội đương đại Để kết quả nghiên cứu

có ý nghĩa toàn diện, thiết thực, nghiên cứu sinh khuyến nghị đối với chủ thể lãnhđạo, quản lý xã hội trong việc tổ chức thực tiễn, xây dựng chính sách bảo tồn, pháthuy những giá trị truyền thống tốt đẹp, khắc phục những biểu hiện tiêu cực nảy sinhtrong sinh hoạt văn hóa cộng đồng

1.2 Tổng quan về dân tộc Hmông

1.2.1 Tên gọi và các nhóm người Hmông ở Việt Nam

Một số nghiên cứu dân tộc học cho rằng người Hmông vốn là cư dân nướcTam Miêu được người TQ gọi là Miêu Tử hoặc Miêu dân sống ở khu vực giữa hồ

Trang 25

Động Đình và Bành Lãi Ngày nay, họ sống chủ yếu ở miền nam TQ và được phânchia 4 nhóm lớn: (1) Ghao Xong: Miêu Đỏ (tây Hồ Nam); (2) Hmu, Gha Ne: MiêuĐen (đông nam Quý Châu); (3) Hmao: Miêu Hoa lớn (tây bắc Quý Châu, đôngbắc Vân Nam); (4) Hmông: Miêu Trắng, Miêu Xanh, Miêu Hoa nhỏ (nam TứXuyên, tây Quý Châu, nam Vân Nam); một bộ phận người Hmông di cư sang ViệtNam khoảng gần 300 năm trở lại đây [9].

Tên gọi: trước năm 1979, ở Việt Nam, người Hmông được biết đến với tộc

danh Mèo (phiên âm từ chữ Miêu); hiện nay có nhiều ý kiến và tồn tại nhiều cáchgọi khác nhau: Mèo, Mẹo, H.Mông, H’Mông, Hơ Mông, Mông

Cách viết: các văn bản, tài liệu ở nước ta có nhiều cách viết tộc danh

Hmông: Hmôngz, Hmông, H'mông, Hơ Mông, Mèo, Mẹo, Miêu Trong chữ viếtcủa người Hmông, tên tự gọi ghi là Hmôngz [15, tr 220] Ngày 04/12/2001, Hộiđồng Dân tộc Quốc hội, khóa X, có Công văn số 903-CV/HĐDT, đề nghị viết là Mông

Uỷ ban Dân tộc của Chính phủ đã lên danh mục 54 dân tộc ở nước ta, công bố tạiQuyết định số 121-TCTK/PPCĐ ngày 2/3/1979, theo đó, gọi và viết tộc danh

Hmôngz là Hmông Tổng điều tra dân số, ngày 1/4/2009 cũng viết là Hmông Tuy

nhiên, tộc danh Mèo vẫn có giá trị pháp lý như Hmông, giống như tộc danh Việt Kinh, Chăm - Chàm, Hoa - Hán Theo nhà văn người Hmông Mã A Lềnh, ngườiHmông tự gọi tộc danh và viết là Hmôngz; người Việt không phát âm được dấugiọng z, nên viết Hmôngz thiếu chữ z để cho gần với hệ chữ Việt chỉ là “sự lược bớtdấu giọng” nên không ảnh hưởng [68, tr 7 - 9] Thống nhất quan điểm này, trong

-Luận án, chúng tôi viết Hmông theo Quyết định số 121 nêu trên Tuy nhiên, trích

dẫn tài liệu, chúng tôi vẫn để nguyên cách viết của tác giả tài liệu đó

Các ngành (nhóm) Hmông ở Việt Nam: hiện nay tồn tại nhiều cách phân

loại khác nhau dựa trên các tiêu chí khác nhau; có 5 cách phân loại phổ biến của 5nhóm tác giả (PL1.0) Song các tác giả đều thống nhất có 3 ngành chính với dân sốđông là Hmông Hoa, Hmông Trắng, Hmông Đen; các ngành khác: Hmông Đỏ,Hmông Xanh, Hmông Hán, Mèo Nước, Hmông Nhẹ là các nhóm nhỏ, ở rải rác mỗitỉnh và ý kiến cho rằng Hmông Hoa với Hmông Đỏ là một ngành [172, tr 23] Nhưvậy, muốn có sự phân loại chính xác, cần có công trình nghiên cứu chuyên sâu và

bổ sung thêm tiêu chí như phong tục, tập quán, thờ cúng của từng ngành (nhóm)

Để xác định các ngành (nhóm) Hmông ở Lào Cai, chúng tôi căn cứ lịch sử thiên

di của người Hmông vào Lào Cai chủ yếu chỉ có một trong 4 nhóm là Hmông (gồmMiêu Trắng, Miêu Xanh, Miêu Hoa nhỏ); đồng thời xem xét các cách phân loại củamột số tác giả có công trình nghiên cứu người Hmông tại Lào Cai (Giàng Seo Gà,Hồng Thao, Doãn Thanh, Trần Hữu Sơn, Mã A Lềnh, Cư Hòa Vần ) và quan sát,nghiên cứu thực tế, đặc biệt coi trọng ý thức tự nhận của đồng bào Theo chúng tôi,

Trang 26

Lào Cai có 5 ngành Hmông đang sinh sống: Hmông Hoa, Hmông Đen, Hmông Trắng,Hmông Xanh, Hmông Đỏ (PL1.1, 1.2, tr 260-261) Chúng tôi tách riêng ngànhHmông Đỏ, không nhập vào Hmông Hoa vì có dân số khá đông ở các huyện Si MaCai, Bắc Hà, trang phục nhiều điểm khác biệt so với Hmông hoa huyện Sa Pa Việcphân chia như trên căn cứ vào trang phục là chủ yếu chứ về mặt ngôn ngữ, các ngànhHmông đều sử dụng thống nhất một ngôn ngữ thuộc ngữ hệ Hmông - Dao, có thể giaotiếp với nhau (sự khác biệt ngôn ngữ giữa các ngành là 21,3%) [18, tr 4].

1.2.2 Nguồn gốc, sự phân bố dân tộc Hmông

1.2.2.1 Nguồn gốc, sự phân bố người Hmông trên thế giới

Nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới đã quan tâm tìm hiểu về nguồn gốc ngườiHmông nhưng hiện nay tồn tại nhiều ý kiến khác nhau

Nghiên cứu thời tiền sử về người Hmông (khoảng 3000 năm TCN) có một số

ý kiến cho rằng tộc người Hmông vốn là cư dân phương Bắc di cư xuống TQ (F.M

Savina trong “Lịch sử người Mèo”, Keith Quincy, trong “Người Hmông - lịch sử

một dân tộc”) Tuy nhiên, việc người Hmông có phải cư dân Siberia di cư xuống

TQ hay không thì chính Savina cũng thừa nhận là không chắc chắn vì không chứngminh được con đường người Hmông di chuyển như thế nào qua dãy núi An Tai vàThiên An Sơn Sau này (năm 1994), các tác giả Cư Hòa Vần, Hoàng Nam đã việndẫn cứ liệu nhân chủng học do Giáo sư N.R.Morơde nghiên cứu từ phân tích nhómmáu và khảo cổ học về người Hmông ở Tứ Xuyên, Quý Châu, khẳng định ngườiHmông có nguồn gốc Mông gôlôit, không có nguồn gốc phương Tây [173, tr.18-19]

và hiển nhiên người Hmông ở Việt Nam cũng vậy

Người Hmông sống ở vùng Hồ Nam đã liên tục chống lại Hoàng Ty và bị ngườiHoa Hạ đánh bại, họ chia 2 nhóm chính: một đi về Tây Bắc châu thổ sông Vị, tới TâyTạng và dần dần bị đồng hóa, hòa lẫn với những tộc người khác, trở thành người Mili;

một đi về Tây Nam, đến lưu vực sông Dương Tử, cư trú trong vùng núi cao Nam

Dương Tử, họ giữ được bản sắc dân tộc giữa các cộng đồng dân tộc khác ở phươngNam (người Hán gọi là Rợ phương Nam) Thời Nam Bắc triều trở đi, người Hmôngkhông ngừng di chuyển về Tây Nam; họ là tiền nhân của người Hmông hiện nay

“Cuối Minh, đầu Thanh, tộc Miêu di cư đến đông nam Vân Nam dừng lại ở MãQuan Đến triều Thanh, một bộ phận đã vào Lào Cai” [190, tr.44 bg]

Nhìn chung, các nhà nghiên cứu dân tộc Hmông trên thế giới đều cóchung quan điểm: khoảng hơn ba nghìn năm trước, người Hmông đã từng sinhsống ở lưu vực sông Hoàng Hà, là một trong những chủ nhân của nước Tam Miêu;

có nền văn hóa phát triển khá rực rỡ với nền văn minh lúa nước; có chế độ cai trịriêng và đã chiến đấu kiên cường chống lại các thế lực khác Bị chèn ép, một bộphận người Hmông phải thiên di dần về vùng núi cao Nam TQ rồi đến vùng núi Bắc

Trang 27

Việt Nam, Lào, Myanma và Đông Bắc Thái Lan, sống rải rác thành các nhóm lớn,nhỏ thuộc biên giới của các nước này Trong và sau cuộc kháng chiến chống Mỹ,chống Pháp ở Đông Dương, một bộ phận người Hmông tiếp tục di tản sang Hoa Kỳ,Pháp, Australia, Canada, Achentina, Guana, Nam phi…hình thành các cộng đồngngười Hmông ở nhiều quốc gia.

Về phân bố dân tộc Hmông trên thế giới, đến nay chưa có một cuộc điều trachính thức nào, song theo các chuyên gia nghiên cứu về người Hmông và chúng tôitổng hợp được, hiện nay dân tộc này có mặt ở khoảng 15 quốc gia trên thế giới(PL1.3, tr 252)

1.2.2.2 Nguồn gốc, phân bố, địa vực cư trú của người Hmông ở nước ta

Người Hmông thiên di vào vùng núi phía Bắc Việt Nam phần lớn từ các tỉnhQuý Châu, Quảng Tây, Vân Nam (TQ) bằng nhiều con đường, chia làm nhiều đợt

khác nhau, nhưng có 3 đợt lớn: Đợt một, khoảng 100 hộ, các họ Vù, Giàng từ Quý

Châu đến Đồng Văn, Mèo Vạc (Hà Giang), thời gian vào cuối đời Minh, đầu đời

Thanh, cách đây trên 300 năm Đợt hai, một nhóm trên 100 hộ, có một số hộ thuộc

các họ Vàng, Lý vào khu vực Đồng Văn (Hà Giang) và một nhóm khác ít hơn,thuộc các họ Vàng, Lù, Chấu, Sùng, Hoàng, Vừ vào khu vực Si Ma Cai, Bắc Hà

(Lào Cai) cách nay hơn 200 năm Đợt ba, người Hmông thiên di vào Việt Nam

đông nhất, khoảng trên 10 ngàn người, phần lớn từ Quý Châu, một số từ QuảngTây, Vân Nam, chủ yếu vào các tỉnh Lào Cai, Yên Bái, Hà Giang…khoảng từ 1840đến 1868 Riêng một số nhóm người Hmông ở vùng Tây Thanh Hóa, Nghệ An di

cư từ Lào và các tỉnh miền núi miền Bắc đến, khoảng 100 năm trở lại đây Sau đó,hàng năm vẫn có người Hmông di cư theo hình thức nhỏ lẻ sang Việt Nam

Về sự phân bố của người Hmông, hiện nay, đồng bào cư trú trên một địa bànrộng lớn, độ cao 700 - 800 mét trở lên, bao gồm hầu hết các tỉnh miền núi từ biêngiới Việt - Trung đến biên giới Việt - Lào (Tây Thanh Hoá, Nghệ An, Tây Nguyên).Mật độ cư trú ở vùng biên giới Việt - Trung khá cao, 70-90 người/km2; vùng biêngiới Việt – Lào, 30-40 người/km2 Người Hmông ở Việt Nam có sự gia tăng dân sốcao (PL1.4, tr 253) dẫn đến nhiều nơi thiếu đất canh tác, họ du canh, du cư đếnnhững vùng đất hoang, rừng già, thượng nguồn các tỉnh miền núi, hệ quả là mấychục năm qua, tình trạng phá rừng thượng nguồn làm nương rẫy tại Việt Nam, Lào

Trang 28

Thanh nhưng các cuộc khởi nghĩa của họ liên tiếp thất bại, vì vậy, họ phải ra đi tìmđất mới để sinh sống Đợt thiên di đầu tiên gồm 80 gia đình là các dòng họ Vàng, Lý,

Lù, Chấu, Sùng, Hoàng; nơi đặt chân là San Khô Sủ, động Mù Văn, động Ngọc Uyển(nay là các huyện Bắc Hà, Si Ma Cai), sinh sống được khoảng 3 đời thì có 30 giađình ở Mù Văn do ông Lý Thàng Pua dẫn đầu tiếp tục di cư sang Sa Pa Đợt thiên dithứ hai vào Lào Cai cũng là đợt thiên di lớn nhất của người Hmông vào Việt Namdiễn ra từ 1840-1868 sau khi phong trào “Thái Bình Thiên quốc” chống lại triều đìnhMãn Thanh thất bại, chia thành 3 đoàn Đoàn thứ nhất do ông Sèo Cồ Phìn dẫn đầuvào xã Pha Long (Mường Khương); đoàn thứ hai do ông Lùng Chung dẫn đầu vào xãBản Lầu (Mường Khương); đoàn thứ ba do một thủ lĩnh họ Hoàng dẫn đầu vàohuyện Si Ma Cai, Bắc Hà Từ Bắc Hà, một bộ phận người Hmông tiếp tục vượt sôngHồng đến các xã Mường Bo, Thanh Phú, Lao Chải (Sa Pa) Từ Mường Khương, một

bộ phận người Hmông tiếp tục di cư sang các xã Chung Chải, San Sả Hồ (Sa Pa) [36,

tr 12-13] Riêng nhóm Hmông Xanh huyện Văn Bàn di cư thẳng đến huyện Văn Bàncùng thời gian trên Ngoài hai lần thiên di trên, từ cuối thế kỷ XIX, người Hmông vẫntiếp tục di cư nhiều đợt nhỏ lẻ vào nhiều vùng đất Việt Nam Trong quá trình sinhsống, người Hmông tiếp tục di dịch cư từ huyện này sang huyện khác và các tỉnhkhác

Phân bố: Dân tộc Hmông trên địa bàn tỉnh Lào Cai có 27.332 hộ, 154.709 khẩu,

chiếm 24,59% dân số toàn tỉnh, phân bố tại 9 huyện, thành phố gồm 118 xã/164 xã,phường, thị trấn với 534 thôn, bản/2.206 thôn, bản, tổ dân phố; trong đó có 462 thôn, bản

và 33 xã có trên 90% người Hmông sinh sống [156, năm 2013, (PL 1.5; 1.6, tr 264)]

Địa vực cư trú: Người Hmông thiên di vào Việt Nam thể hiện khát khao lớn của

họ về một “mảnh đất lành” để sinh sống Họ luôn coi nơi đây là quê hương mới củamình Hiện nay, người Hmông Lào Cai sinh sống ở những vùng núi cao, độ cao trungbình 700-1500m so với mặt biển Trong đó, 4 huyện vùng cao đông người Hmông sinhsống nhất là: Mường Khương, Bắc Hà, Si Ma Cai, Sa Pa; các huyện, thành phố còn lại,người Hmông cũng chỉ cư trú ở các xã vùng cao (PL1.7, tr 265) Đó là những nơi hiểmtrở nhất, những vùng rừng già trước đây rất ít người sinh sống; vì vậy, đặc điểm cư trúcủa người Hmông khá biệt lập, quan hệ với dân tộc khác bị hạn chế Đồng bào Hmông

có sẵn tinh thần lao động cần cù, trí thông minh, sáng tạo; đến vùng đất mới, họ đã thíchứng môi trường vùng núi, tạo ra được văn hóa ứng xử, yêu thương đoàn kết cộng đồng.Người Hmông ở Lào Cai luôn coi đây là mảnh đất sinh trụ lâu dài và họ tạo dựng đượccuộc sống hòa thuận với các dân tộc anh em; sát cánh, đoàn kết chống ngoại xâm bảo vệquê hương, đất nước Tiêu biểu như các cuộc khởi nghĩa của người Hmông ở huyện Bắc

Hà (1881-1894), huyện Than Uyên (1885-1896); cuộc nổi dậy của Giàng San và nhândân các huyện Sa Pa, Bát Xát năm 1915 chống lại Thực dân Pháp xâm lược

Trang 29

1.2.3 Đời sống kinh tế, xã hội, văn hoá, văn học dân gian

Về kinh tế, nền kinh tế trước đây của người Hmông chủ yếu tự cung tự

cấp, mang tính chất khép kín, biệt lập; chưa thực sự có nền tảng kinh tế - xã hộicủa một xã hội phong kiến Ngày nay, nhìn chung diện mạo kinh tế của đồng bào

có nhiều thay đổi, đời sống ấm no hơn, được học hành, tỷ lệ hộ đói nghèo giảmđáng kể hàng năm (10%)

Người Hmông Lào Cai có một số phương thức hoạt động kinh tế là: canh táctrồng trọt một mùa trên địa bàn núi đá hiểm trở và ruộng bậc thang; chăn nuôi nhỏ ở

hộ gia đình; nghề thủ công mang tính tự cung tự cấp; hoạt động kinh tế chợ chủ yếugiao thương, trao đổi hàng hóa nhỏ lẻ những nhu yếu phẩm thiết yếu Nhìn chung,đời sống đồng bào Hmông Lào Cai còn nhiều khó khăn nhưng đang thay đổi mạnh

mẽ do chính sách phát triển kinh tế của Đảng, nhà nước đối với vùng khó khăn,vùng dân tộc thiểu số (PL1.8, tr 266)

Về xã hội, việc quản lý dân cư chủ yếu do các giao (làng) đảm nhận, có một

trưởng họ đứng đầu Quy mô làng trong vài thập kỷ qua có sự thay đổi mạnh, số hộ

ở mỗi làng tăng hơn trước nhiều; trước kia chỉ có từ 10-15 hộ, đến nay, phổ biến từ30-50 hộ

Dòng họ (xênhv) có vị trí vô cùng quan trọng, là một trong những yếu tố cấuthành xã hội Hmông và thể hiện bản sắc dân tộc Dòng họ chi phối mọi hoạt độngđời sống hàng ngày của cộng đồng; mỗi dòng họ có một tổ chức tự quản riêng, gồmcác thành viên: - Trưởng họ (uô thơưx hoặc hâur pâul) “cầm quyền người”, quyếtđịnh mọi vấn đề sau khi có sự bàn bạc của cộng đồng; - Người “cầm quyền ma,quyền khách” (cho đaz khuô) là cố vấn của trưởng họ trong việc đối ngoại, lo toanviệc tín ngưỡng; - Bà cô (fâux hoặc pu nhăngx) là người có uy tín tham gia vàocông việc chung của dòng họ, giám sát công việc của cho đaz khuô và mọi thànhviên dòng họ trong vấn đề thực hiện quy định của dòng họ; -Thầy Sa man (trirninhz), khi được mời đến sẽ như viên “thanh tra” giúp người có trách nhiệm pháthiện những vấn đề trong dòng họ [107, tr 75]

Gia đình người Hmông là gia đình phụ quyền, bình quân 6 - 7 người, có thể

hai, ba thế hệ cùng chung sống; theo đó, họ chú trọng trước hết quyền lợi đàn ông,

quyền lợi dòng họ rồi mới đến quyền lợi phụ nữ Người Hmông đặc biệt coi trọng

quan hệ láng giềng và thường nói khẩu ngữ “chúng ta là một giống người” hay

“chúng ta cùng một hạt lanh gieo xuống đất”, hoặc “người Hmông ta” Sự cư trúđan xen nhiều dân tộc trong cùng một bản làng bắt đầu từ khi có chính sách địnhcanh, định cư, đưa một bộ phận người Hmông thiếu ruộng đất đến làng của dân tộckhác sinh sống, nhưng người Hmông vẫn thích tách thành khu vực riêng và họ quan

niệm đó là dò, giao của mình Điều đó phản ánh truyền thống khép kín, tính cố kết

Trang 30

tộc người của họ Tuy nhiên, đời sống xã hội của đồng bào Hmông Lào Cai hiệnđang có sự thay đổi rất lớn do được học hành, tiếp cận thông tin, khám chữa bệnh,giao lưu văn hóa (xem thêm PL1.8, tr 266).

Về văn hoá, người Hmông trọng danh dự, dễ tin người, tôn trọng tập thể, luật

tục của làng; bản tính thuỷ chung, ít thay đổi; đời sống tín ngưỡng, tâm linh phongphú, tinh tế Tín ngưỡng tôn giáo Hmông có nhiều nét tương đồng với các dân tộckhác nhưng không chịu ảnh hưởng của tam giáo (Nho, Phật, Lão) như các dân tộcKinh, Tày, Nùng, Dao ; thờ cúng tổ tiên là chính, Saman giáo phát triển Nhữnghình thức tôn giáo sơ khai như vật linh giáo, tô tem giáo, các loại ma thuật vẫn tồntại ở dạng tàn dư nhưng có vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần cộng đồng.Tôn giáo, tín ngưỡng đã hoà quyện với các lễ thức hội hè tạo nên những sắc thái, sựphong phú trong đời sống tinh thần dân tộc Tác giả Trần Hữu Sơn khái quát ba đặcđiểm cơ bản của văn hoá tinh thần đồng bào Hmông: Một là: Khát vọng bảo vệ sựsinh tồn của dân tộc là đặc điểm nổi bật trong văn hoá tinh thần người Hmông; trởthành một hằng số trong lịch sử, được phản ánh đậm nét trong nền văn hoá tinh thần;đặc biệt trong văn học dân gian Hai là: Luôn luôn đề cao ý thức cộng đồng; trong đó,

ý thức cộng đồng dòng họ được đề cao hơn ý thức cộng đồng bản làng; biểu hiệntrong hệ thống lễ nghi, tín ngưỡng của ma chay, cưới xin, lễ hội mà các cá nhân,mỗi lần tham gia được thế hệ trước trao truyền phong tục truyền thống Ba là: Vănhoá tinh thần cổ truyền đậm đặc tính nguyên hợp; biểu hiện của nó là ở sự hoà quyện,kết hợp các loại hình nghệ thuật trong tổng thể văn hoá, tiêu biểu nhất là trong lễ thứcdiễn xướng dân gian [103, tr 19] Đời sống tinh thần của người Hmông đương đại đã

và đang có sự thẩm thấu, tiếp biến văn hoá của các dân tộc khác, nhất là trong bốicảnh bùng nổ thông tin như hiện nay, theo đó, tính khép kín, cục bộ truyền thống bịphá vỡ dần, những yếu tố không còn phù hợp dần bị loại bỏ, thay vào đó là những giátrị mới Bởi đất nước ta đổi mới, hội nhập quốc tế trên nhiều phương diện kinh tế, vănhóa, xã hội đã hơn hai chục năm qua, diện mạo xã hội ở những vùng khó khăn cónhiều thay đổi; các dịch vụ công cộng như trường học, bệnh viện, đường giao thông,các phương tiện truyền thông phát triển đã mở rộng không gian nhận thức cho vùngđồng bào dân tộc thiểu số Vậy, yếu tố tồn tại xã hội của người Hmông đã thay đổi,

có thể chưa đến độ căn bản và phổ biến, nhưng đã đủ mạnh để làm thay đổi ngày một

rõ hơn đời sống văn hoá tinh thần của họ

Văn học dân gian Hmông phát triển phong phú về thể loại: thần thoại,

truyền thuyết, cổ tích, tục ngữ, câu đố, dân ca , và đậm đặc tính nguyên hợp Thầnthoại tồn tại thành hệ thống tương đối hoàn chỉnh Thần thoại Khúa kê (Kruôz cê)được diễn xướng trong lễ thức đám ma nói về nguồn gốc vũ trụ, loài người, câytrồng vật nuôi Truyện cổ tích khá phong phú với ba tiểu loại nhỏ: truyện cổ tích

Trang 31

thần kỳ; truyện cổ tích loài vật; truyện cổ tích sinh hoạt Người Hmông yêu thích cahát và ca hát là một phần quan trọng trong sinh hoạt cộng đồng, vì vậy, nền dân cacủa họ hết sức đa dạng, phong phú với số lượng bài hát rất lớn; đặc biệt, Gầu plềnhchiếm vị trí quan trọng trong hệ thống dân ca Hmông, vừa là lời ca tiếng hát hàngngày của đồng bào, vừa là phương tiện để trai gái tỏ tình yêu đương Hát Gầu plềnhcòn là phương thức giao tiếp đặc biệt trong LHGT.

Về lễ hội, ở Lào Cai người Hmông có hai lễ hội quan trọng: lễ Nào lồng

(Naox lôngx - ăn ước) và LHGT (Grâuk taox) Lễ ăn ước tổ chức đầu năm tại cộngđồng làng (jaol) để cúng thần rừng, thống nhất những quy định của làng để mọingười thực hiện trong năm LHGT chỉ có ở một số vùng người Hmông Lào Cai vàmột số vùng của các tỉnh phía Tây Nam TQ, gọi theo tiếng Quan hoả (tiếng dùngchung của các dân tộc vùng biên giới Việt Trung) là Sải sán (leo núi), có người gọitheo tiếng Việt là “hội chơi núi mùa xuân hoặc hội đạp núi” [149, tr 175, 223];người Trung Quốc vùng Vân Nam gọi là Thái hoa sơn (踩 花 山) hay Xọa hoa sơn,Sại hoa san cũng có nghĩa đạp lên cỏ hoa đi chơi Tuy nhiên, theo người dân vùng

lễ hội Pha Long thì nội hàm của từ này không nên dịch đơn giản như vậy, vì: thứ nhất, chữ grâuk có nghĩa là hội chơi, đình đám [18, tr.187], chữ taox là sườn đồi;

khi hội diễn ra phải gọi là ntênhl grâuk taox tức là đã có sự tham dự của con người

mới thành hội; thứ hai, trong hội có một phần nghi lễ nhất định (nghi lễ trồng cây nêu, thắp hương, cúng bái ) chứ không chỉ đi chơi; thứ ba, lễ hội nhằm mục đích

cầu may, cầu sinh sôi nảy nở và để trai gái có dịp gặp nhau “nên vợ nên chồng” nên

có tục “kéo vợ”, hát Gầu plềnh; cho nên còn có ý nghĩa hội tình yêu hay hội hát Dovậy, nhóm tác giả Đặng Văn Lung, Hồng Thao, Trần Linh Quý đã đánh giá: “hát

Sải sán” là phần đặc biệt của hội, diễn ra ở cả ba giai đoạn: Khai hội, Hội, Kết thúc

hội và “sau buổi hội, nhiều đôi nên vợ, nên chồng”[74, tr 68 -73] Trong Luận án,chúng tôi thống nhất dùng cụm từ “Lễ hội Gầu tào" nhưng trích dẫn tài liệu chúngtôi vẫn để nguyên cách gọi mà tác giả tài liệu đã sử dụng

1.3 Tổng quan về dân ca Gầu plềnh

1.3.1 Khái niệm dân ca

Khái niệm dân ca mà chúng tôi bàn dưới đây thường được coi là tương đồngvới khái niệm ca dao mà trước đây chúng ta thường dùng vì theo “Từ điển thuật ngữvăn học” thì ca là bài hát có khúc điệu, dao là là bài hát không có khúc điệu; ca daobao gồm những bài hát lưu hành phổ biến trong dân gian có hoặc không có khúcđiệu Trong trường hợp này ca dao đồng nghĩa với dân ca [44, tr 31]

“Dân ca”, hiện nay có nhiều định nghĩa Riêng bộ phận dân ca các dân tộc thiểu

số Việt Nam đã được một số nhà nghiên cứu chú ý nhận diện, phân loại và định nghĩa

Đáng chú ý là ba định nghĩa sau: (1) “Dân ca là những bài hát và câu hát dân gian,

Trang 32

trong đó có cả phần lời và phần giai điệu đều có vai trò quan trọng đối với việc xây

dựng hình tượng hoàn chỉnh của tác phẩm” [57, tr 411] (2) Dân ca là “những bài hát ngâm hay kể bằng văn vần, hoặc độc lập, hoặc kèm theo nhạc, điệu múa, trò chơi, hoặc tự một người thể hiện hay một tập thể cùng tham gia Đó là những bài hát ngắn dăm bảy câu đến hàng trăm hàng ngàn câu cắt ra từng khúc, từng đoạn” [172, tr 18].

(3) Dân ca là một loại hình sáng tác dân gian chủ yếu có tính chất trữ tình dưới hình thức ngôn ngữ có vần điệu gắn với lời ca hát [86, tr 117] Ba định nghĩa nêu trên

thống nhất ở khía cạnh khái niệm hình thức biểu hiện của dân ca: - dân ca là nhữngbài (câu) hát; - dân ca có vần điệu hoặc giai điệu; còn về nội dung biểu hiện của dân

ca ở định nghĩa (1) cho rằng hình thức đó góp phần quan trọng xây dựng một hình

tượng hoàn chỉnh và định nghĩa (3) cho rằng dân ca chủ yếu có tính chất trữ tình.

Đối chiếu với tình hình thực tế dân ca các dân tộc thiểu số nói chung, dân caHmông nói riêng, chúng tôi thấy các dân tộc gọi sáng tác dân ca của mình như sau:

người Hmông gọi là gầu (hát), người Thái gọi là khắp (hát), người Dao gọi là dung (hát), người Nùng gọi là sli (hát) đều có nghĩa là hát; còn nội dung bài hát, theo

tác giả Phan Đăng Nhật thì “thỉnh thoảng cũng có tính chất triết lý, giáo huấn, hoặc

tự sự nhưng chủ yếu bộc lộ tâm tình và đằng sau câu chuyện kể, lời dạy bảo là nỗilòng sâu kín của người hát dân ca” [86, tr 117] Mặt khác, đối chiếu với dân caHmông, cả 5 tiểu loại dân ca đều có yếu tố Gâux (gầu) có nghĩa là “tiếng hát” đứngtrước tên một loại nhất định (Gâux tuz njuôs (Gầu + tú giua = Tiếng hát + mồ côi),Gâux uô nhangz (Gầu + uô nhéng = Tiếng hát + làm dâu) đồng thời nội dung, cảmhứng trữ tình luôn giữ vai trò chủ đạo trong tất cả các bài, tiểu loại dân ca trên (kể

cả tiếng hát cúng ma) mặc dù vẫn có yếu tố tự sự đan xen Có thể nói, đối với dân

ca các dân tộc thiểu số nói chung và dân ca Hmông hay Gầu plềnh nói riêng, sửdụng khái niệm “dân ca” là hợp lý và giữ nguyên giá trị của khái niệm này Hơnnữa quan niệm như vậy mới thấy loại bài hát hay tiểu loại “hát” ấy luôn tồn tại ởdạng động của diễn xướng

Như vậy, tác giả Phan Đăng Nhật khẳng định dân ca “chủ yếu có tính chấttrữ tình gắn với lời ca hát” là hợp lý đối với dân ca các dân tộc thiểu số Căn cứtình hình thực tế dân ca Hmông, chúng tôi tán thành khái niệm của tác giả PhanĐăng Nhật (định nghĩa 3) vì nó đầy đủ, hoàn chỉnh, phù hợp và đã đặt dân ca trongmôi trường động của diễn xướng để xem xét Chúng tôi lựa chọn định nghĩa đó làmcông cụ cơ bản để triển khai đề tài Luận án

1.3.2 Khái niệm Gầu plềnh

Tình hình phân loại dân ca các dân tộc và dân tộc thiểu số Việt Nam hiện nay

có nhiều ý kiến khác nhau nhưng tựu chung có 3 cách tiêu biểu: 1) Tác giả Phan

Đăng Nhật [87, tr 118] sắp xếp dân ca theo các phạm vi hoạt động đời sống gắn

Trang 33

liền với nó, chia 4 loại: Dân ca nghi lễ và phong tục, Dân ca giao duyên, Hát ru, Hátvui chơi của trẻ em 2) Các tác giả Chu Xuân Diên [57, tr.417-431], Võ Quang

Nhơn [98], Lê Chí Quế [109] cùng chung quan điểm loại hình, chia 3 loại: Dân ca

lao động, Dân ca nghi lễ - phong tục, Dân ca sinh hoạt; trong đó, dân ca giao duyên(dân ca tình yêu đôi lứa) là một bộ phận của dân ca sinh hoạt 3) Trong “Tổng tậpvăn học dân gian các dân tộc thiểu số Việt Nam” [1, tr.130], Trần Thị An chủ biên,

phân loại, sắp xếp dân ca các dân tộc Việt Nam theo chủ đề, gồm: “Dân ca lao

động, Dân ca nghi lễ - phong tục, Dân ca quê hương, đất nước, Gia đình, xã hội vàtình yêu lứa đôi”

Nhìn chung, các cách phân loại dân ca, dân ca các dân tộc thiểu số trên tuy cókhác nhau song cơ bản bao quát được tình hình tư liệu dân ca hiện nay ở nước ta Hầuhết các tác giả đều thống nhất bộ phận dân ca lao động, dân ca nghi lễ và phong tục,nhưng các cách phân chia bộ phận “dân ca sinh hoạt”; “dân ca giao duyên”, “dân caquê hương đất nước, gia đình, xã hội và tình yêu lứa đôi” như trên rõ ràng chưa có sựthống nhất, chứng tỏ sự phức tạp về tình hình tư liệu, tiêu chí phân loại chưa đồng nhất.Tuy nhiên, dù phân loại thế nào thì bộ phận dân ca giao duyên hay tình yêu đôi lứaluôn được đề cập đến như một bộ phận quan trọng, có số lượng đồ sộ và nhiều giá trịnhất Trong phạm vi Luận án, chúng tôi không bàn thêm về vấn đề này mà chỉ tậptrung vào việc phân loại dân ca Hmông làm cơ sở triển khai đề tài

Ngoài các cách phân loại chung như trên, tình hình phân loại dân ca Hmôngcủa một số tác giả nghiên cứu về văn hóa, văn học dân gian Hmông cũng có các ýkiến chưa thống nhất: Các tác giả Doãn Thanh [132], Cư Hòa Vần, Hoàng Nam[173, tr.115], căn cứ cách tự gọi tên dân ca của đồng bào Hmông, thống nhất phândân ca Hmông thành 5 loại nhỏ: Gâux plênhl (Gầu plềnh = Tiếng hát tình yêu),Gâux tuz njuôs (Gầu tú giua = Tiếng hát mồ côi), Gâux uô nhangz (Gầu uô nhéng =

Tiếng hát làm dâu), Gâu yôngz (Gầu xống = Tiếng hát cưới xin), Gâu tuôs (Gầu túa

= Tiếng hát cúng ma) Tác giả Trần Hữu Sơn [121, tr 131] căn cứ theo phươngpháp loại hình – lịch sử và tình hình thực tế dân ca Hmông đã phân loại dân caHmông thành 3 tiểu loại: Dân ca giao duyên, Dân ca than thân, Dân ca nghi lễ vàphong tục gia đình Tác giả Hồng Thao [140, tr 199] xét từ làn điệu hát dân caHmông, cho rằng đại thể có thể tới 11 làn điệu hát nhưng có các làn điệu phổ biến ởcác ngành Hmông là Phìa phá (hát đối đáp trong hát đố), Lù tẩu (hát ngâm), Khâuxìa (hát kể), Nhie (hát than), và một số làn điệu hát cúng ma Riêng Khâu xìa cóKhâu xìa plành (hát tình yêu), Khâu xìa gùa (hát mồ côi), Khâu xìa oa nhá (hát làmdâu) Cách phân loại này chưa bao quát hết thực tế vì có những bài hát có thể hátbằng các làn điệu khác nhau như Gầu plềnh (khâu xìa plành) có thể hát đối, hát kể,hát than Tác giả người Hmông, nhà văn, nhà nghiên cứu Mã A Lềnh (2009) trong

Trang 34

bài “Ngưỡng vọng về dân ca Hmông” [68, tr 30-52]) phân chia dân ca Hmôngthành 4 loại: loại bài ca nghi lễ (Gâux cêr lil), loại bài ca lễ cưới (Gâux yôngz), loạibài ca có cốt truyện (Gâux jangx pêv), loại bài ca sáng trí (Gâux tsưr ziv) riêng loạibài ca sáng trí có 10 tiểu loại nhỏ: hát tâm tình (Gầu plềnh), hát thách đố, hát thanthân, hát lao động, hát ru, hát vui chơi gải trí, hát phong tục, hát chúc tụng, hát khócthan, hát mỉa Cách phân loại này chưa thống nhất về tiêu chí ở chỗ gọi “bài ca nghilễ” là căn cứ vào chức năng thực hành và nội dung biểu hiện, còn gọi “bài ca có cốttruyện” là căn cứ vào hình thức biểu hiện.

Xem xét các cách phân loại chung và riêng nêu trên, đối chiếu tình hình thực

tế dân ca Hmông, chúng tôi thấy có một số vấn đề: Một là, dù phân loại thế nào thì

bộ phận “dân ca giao duyên” hoặc “dân ca tình yêu” hoặc “dân ca trữ tình” vẫn nổilên như một bộ phận riêng biệt, quan trọng trong kho tàng dân ca các dân tộc Coidân ca là một thể loại thì bộ phận dân ca này sẽ là một tiểu loại trong thể loại đó

Hai là, khi nghiên cứu dân ca Hmông, hầu hết các tác giả đều căn cứ vào thực tế

cách gọi tên dân ca của đồng bào để phân loại Trường hợp tác giả Trần Hữu Sơn

gọi “dân ca giao duyên” song nội hàm ý nghĩa vẫn để chỉ loại hát Gầu plềnh Ba là,

bản thân từ “Gầu plềnh”, nếu dịch là “tiếng hát tình yêu” cũng chưa thỏa đáng, vì

theo “Từ điển Mông Việt” [174, tr.178, 514], chữ gâux có nghĩa là bài hát, bài ca, còn chữ plênhl có nghĩa là tình duyên, nguyệt hoa, đùa dỡn, lả lơi Có lẽ vì vậy mà

tác giả Doãn Thanh phân chia 5 tiểu loại dân ca Hmông và gọi Gầu plềnh là “tiếnghát tình yêu” nhưng ông cũng thừa nhận “như vậy cũng chưa chính xác, khoa học”

Bốn là, Gầu plềnh có những đặc trưng rất riêng, ở chỗ Gầu plềnh có năm nhóm bài:

- Các bài con trai hát với con gái; - Các bài con gái hát với con trai; - Các bài namgiới hát với đàn bà (có chồng hoặc đã bỏ chồng); - Các bài hát với đàn bà góa; - Cácbài hát với đàn ông góa Đối chiếu với khái niệm "Dân ca giao duyên bao gồm cácbài hát trao đổi tình cảm giữa hai bên trai gái” [102, tr 377] thì Gầu plềnh khônghoàn toàn trùng khớp nếu nội hàm nghĩa của từ “trai gái” không được mở rộng

Chúng tôi áp dụng luận điểm của Dan Ben-Amos xem thể loại với tư cáchmột phạm trù của diễn ngôn văn hóa (Bài "Thể loại”, [148, tr 240]), theo đó, khaithác, ứng dụng các thể loại dân tộc đòi hỏi một sự khảo cứu tên gọi, sự phân loạivăn hóa và sự trình diễn của chúng trong đời sống xã hội; tên gọi phản ánh ý nghĩavăn hóa, lịch sử, trình diễn là nền tảng cho phân tích thi pháp thể loại; lưu ý rằng,

một thể loại riêng biệt có thể bao gồm các thể loại khác được chấp nhận theo kiểu văn hóa Từ những vấn đề trên, giải pháp của chúng tôi là xây dựng khái niệm cụ

thể về Gầu plềnh làm cơ sở xác định đối tượng nghiên cứu Theo chúng tôi, Gầu

plềnh là một tiểu loại trong dân ca Hmông có chức năng sinh hoạt riêng, đó là những khúc hát tâm tình về tình duyên, tình yêu, quan hệ nam nữ được diễn xướng

Trang 35

trong các dịp vui chơi, cưới xin, đặc biệt trong dịp LHGT Trong Luận án, chúng tôi

dùng thuật ngữ Gầu plềnh theo đúng tên gọi của đồng bào Hmông Gầu plềnh là đốitượng nghiên cứu của Luận án với nội hàm ý nghĩa như chúng tôi vừa nêu trên

1.4 Tổng quan một số vấn đề về lý luận

Nghiên cứu đề tài “Dân ca Gầu plềnh và Lễ hội Gầu tào của dân tộc Hmông

ở Lào Cai – truyền thống và biến đổi” liên quan đến cả thực thể vật chất và tinhthần, vì vậy, chúng tôi lựa chọn một định nghĩa rộng theo quan điểm của ArcherTaylor (cũng như quan điểm của một số học giả Mỹ, Phương Tây, Việt Nam nhưWilliam R Bascom, Dr Gustav Klemm, William John, Đinh Gia Khánh, NguyễnTấn Đắc, Trần Quốc Vượng ): Folklore là tư liệu được truyền lại bằng lời nói hoặcbằng phong tục tập quán Đó có thể là những bài hát dân gian (folksong), truyện kểdân gian (folktale), câu đố (riddle), tục ngữ (proverb) hay những tư liệu khác đượclưu giữ bằng lời [147, tr 66]; đó có thể là những công cụ, vật thể cổ truyền; biểutượng truyền thống; phong tục truyền thống; những niềm tin cổ truyền Tuy nhiên,hoàn toàn có thể tách riêng bộ phận văn học dân gian (folklore được thể hiện bằnglời) để nghiên cứu Chúng tôi coi Gầu plềnh, LHGT là folklore, từ đó áp dụng lýthuyết dân tộc học về folklore và mối quan hệ của chúng với lịch sử, địa vănhóa để giải quyết các vấn đề của Luận án với những điểm chủ yếu sau:

- Thứ nhất, áp dụng lý thuyết dân tộc học lời nói; đây là cách tiếp cận chú ý

đến mối quan hệ giữa ngôn ngữ, văn hóa và xã hội bao gồm cả lý luận, phươngpháp luận Dân tộc học lời nói liên quan đến:

+ Các nguồn ngôn ngữ xã hội học sẵn có trong những cộng đồng riêng biệt(cụ thể ở đây là xã hội Hmông) Các nguồn loại này bao gồm không chỉ ngữ pháptheo nghĩa truyền thống mà là tổ hợp ngôn ngữ tiềm năng sử dụng trong xã hội,trong đó có các biến ngôn ngữ, phong cách, thuật ngữ chỉ người và xưng hô, từ,quan hệ từ

+ Việc sử dụng, khai thác các nguồn này trong phát ngôn, trong tương tác xã hội.+ Các mối tương quan khuôn mẫu, tổ chức của các loại phát ngôn khác nhau

và tương tác xã hội trong cộng đồng

+ Mối quan hệ của những khuôn mẫu lời nói này đối với các khía cạnh vàlĩnh vực khác nhau của văn hóa cộng đồng [148, tr 65]

- Thứ hai, áp dụng lý luận về diễn xướng folklore Richard Bauman và

Jennifer Schacker-Mill xuất phát từ quan điểm phong cách học của ThomasBlackwell, Robert Wood, Robert Lowth, đặc biệt là từ Herder (vì Herder phát triểntheo hướng “xác định các phong cách dân tộc khác nhau đặc trưng cho thi ca củathế giới con người” đưa ra “cái nhìn so sánh của thi ca dân gian hướng trọng tâmvào tính nổi bật của các phong cách dân tộc”) để xây dựng lý luận về diễn xướng

Trang 36

của mình và cho rằng một phong cách rõ ràng là truyền miệng – phong cách có tínhcông thức, đa liên từ, lặp lại – được thích ứng với những đòi hỏi của diễn xướngbằng miệng và những khả năng của ngôn ngữ nói như một phương tiện truyền đạt[148, tr.197- 200] Như vậy, diễn xướng bằng miệng chịu sự tác động chi phốimạnh mẽ bởi ngôn ngữ dân tộc và tính công thức của phong cách dân tộc đó TheoBauman, diễn xướng là sự thực hiện một hành động đối lập với năng lực, kiểu mẫuhay những yếu tố khác thể hiện tiềm năng đối với hành động đó hoặc một sự trừutượng hóa từ những hành động đó; ở đây có sự tham gia của một hình thức chuyểnđổi về mặt ký hiệu học (intersemiotic), một sự thay đổi từ chỗ mã hóa một thôngđiệp trong một hệ ký hiệu này (mã) sang hệ ký hiệu khác Sự diễn xướng luôn thểhiện một mặt nào đó nổi trội, vì từ xa xưa đến nay không có hai lần diễn xướng nàogiống hệt nhau cho nên nghiên cứu bản thân sự diễn xướng để thấy rõ tác động qua

lại giữa “quyền uy và sáng tạo”, giữa cái làm sẵn và cái nảy sinh Sự diễn xướng

đôi khi trái ngược ngữ pháp với các quy tắc để sản sinh ra và hiểu các câu thích hợp

về mặt ngữ pháp, nó là “lời nói tự nhiên” mà người nói thực hiện khi sử dụng ngônngữ, (do đó, lý luận ngôn ngữ cho rằng một ngữ pháp chính là năng lực đối với mộtngôn ngữ còn diễn xướng có khuynh hướng bị coi là cái sai lạc, ngổn ngang nhữngyếu tố không phù hợp về mặt ngữ pháp) Bauman dẫn ý của Dell Hymes nhấn mạnh

“năng lực thông tin”, bao hàm trong đó toàn bộ tri thức và khả năng giúp người tanói theo những cách có thể lý giải được và phù hợp về mặt xã hội, nó bao gồmkhông chỉ kiến thức ngữ pháp mà cả kiến thức, khả năng chào hỏi, kể chuyện, hát

và ông gọi đó là ngữ pháp biến tính (transformational) đem đến cho sự diễn xướng

(chứ không phải sự sai lạc), vì vậy, “sự diễn xướng đóng vai trò một sự thực hiện”.Trong sự diễn xướng, hành động thông tin được đem ra trình diễn, thể hiện cụ thể,nâng lên một cấp độ so với những cái xung quanh nó trong bối cảnh và mở ra cho

cử tọa dò xét, khảo sát kỹ lưỡng Như vậy, diễn xướng dân gian có vai trò, sự thamgia (cả sự đánh giá) của cả người xem, người nghe và người diễn xướng Đồng bộvới quan niệm về sự diễn xướng như một cơ cấu đem ra trình diễn, sự diễn xướng

có một mã khóa (key) mà theo đó, mỗi hành động thông tin đều bao hàm hàng loạtthông điệp tạo kết cấu, ẩn cũng như tường, chuyển tải những chỉ dẫn về việc hiểu rasao các thông điệp khác đang được chuyển tải gọi là “siêu thông tin”

(metacommunication – chữ dùng của Gregory Bateson) Điều đó có nghĩa là mỗi

cộng đồng sẽ sử dụng một tập hợp có cấu trúc các phương tiện thông tin riêng để

“khóa” kết cấu diễn xướng sao cho sự truyền thông tin trong khuôn khổ kết cấu đó

sẽ được cộng đồng đó hiểu; các “khóa” này là các công thức, lối cách điệu lời nói(hoặc cử động) hay viện dẫn truyền thống như một chuẩn quy chiếu cho tráchnhiệm của người diễn xướng Các “khóa” này là cụm phương tiện thông tin có tính

Trang 37

đặc thù văn hóa cho sự diễn xướng có thể có những khuynh hướng phổ biến songkhông thể giống nhau giữa nền văn hóa này với nền văn hóa khác (Bài “Diễnxướng” [148, tr 71-76]) Theo đó, sự diễn xướng văn hóa có xu hướng trở thànhcác bối cảnh diễn xướng dễ nhận ra nhất trong một cộng đồng và có hàng loạt các

đặc điểm giống nhau; cụ thể, có 4 đặc điểm cơ bản là: thứ nhất, được lên lịch và dàn dựng trước (quy ước của cộng đồng); thứ hai, có giới hạn về thời gian với mở đầu, kết thúc; thứ ba, có giới hạn về không gian (không gian đã được lựa chọn); thứ tư,

được lên chương trình Bốn đặc điểm này mang tính truyền thống, là phần thực chấtcác cuộc diễn xướng văn hóa, đó là dịp công khai có sự phối hợp, được mở ra cho

cử tọa dự khán và cho sự tham gia tập thể

Ở Việt Nam, một số nhà nghiên cứu đã có công trình chuyên sâu về diễn

xướng dân gian Các tác giả Vũ Ngọc Khánh, Phạm Minh Thảo với Kho tàng diễn

xướng dân gian Việt Nam đã khái quát “diễn xướng dân gian là một phương thức”,

tức là cách thể hiện, cách giới thiệu và trình bày; đồng thời “diễn xướng dân giancòn là một thể loại” tức là diễn xướng tác phẩm “có tính tổ chức, mang một hìnhthức mới” và vì vậy “có tính cách thể loại rõ ràng” [58, tr 14-18] Mặc dù khôngtrình bày thành một lý thuyết hoàn chỉnh, nhưng rõ ràng, việc xác định diễn xướngdân gian là một thể loại như trên chứng tỏ các tác giả có sự gặp gỡ với các trườngphái lý thuyết Âu – Mĩ, ở chỗ đã xác định được mối liên hệ quan trọng giữa một thểloại nào đó với diễn xướng trên thực tế của nó, tức diễn xướng dân gian là cơ sởquan trọng (hay bối cảnh) để xác định thể loại folklore

Những luận điểm trên là cơ sở lý thuyết định hướng để chúng tôi vận dụngnghiên cứu diễn xướng Gầu plềnh trong LHGT, đồng thời giải quyết các vấn đề vềthi pháp Gầu plềnh trong trạng thái động của diễn xướng, trong hoạt động thực tiễnchứ không phải chỉ trên văn bản thuần túy

Thứ ba, áp dụng lý thuyết hình thái học lễ hội của Alessandro Falassi; theo

đó, lễ hội (festival) là một hoạt động kỷ niệm định kỳ biểu thị thế giới quan của mộtnền văn hóa hay nhóm xã hội thông qua hành lễ, diễn xướng, nghi lễ và trò chơitruyền thống, là sự kiện có tính tượng trưng và tính xã hội phức tạp nhất, tồn tại lâuđời trong truyền thống Theo cách hiểu hiện nay, festival có nghĩa: một khoảng thờigian của một hoạt động có tính thiêng liêng và/ hoặc thế tục; thu hoạch một vụ mùađặc biệt; một hoạt động diễn xướng trong nghệ thuật tạo hình kỷ niệm một tác giảhoặc một nhóm người, một phương tiện thông tin đại chúng; hay là cuộc đình đám

và sự hân hoan Việc phân chia loại hình lễ hội hiện nay có nhiều ý kiến Ở nướcngoài, Alessandro Falassi đã tổng hợp, khái quát thành 3 kiểu phân loại cơ bản là:1) Émile Durkheim phân chia 2 loại lễ hội: hoặc là thế tục (secular), hoặc là tôngiáo (riligion), tuy vậy, trên thực tế loại lễ hội này thường bao gồm cả một số yếu tố

Trang 38

của loại lễ hội kia 2) Lễ hội gồm 2 loại đối lập nhau là lễ hội nông thôn (rural) và lễhội thành thị (urban); các lễ hội nông thôn cổ hơn, ca tụng sự phì nhiêu, màu mỡ vàdựa vào thần thoại; lễ hội thành thị gần đây hơn, ca ngợi sự phồn thịnh, dựa trên nềntảng lịch sử và truyền thuyết 3) Kiểu phân loại mới đây dựa vào cơ cấu giai cấp và

xã hội, chia 4 loại, gồm: loại do người dân tổ chức cho bản thân họ; loại do giớichức quyền tổ chức vì lợi ích bản thân họ; loại do người dân tổ chức cho giới chứcquyền; loại do giới chức quyền tổ chức cho người dân Ở Việt Nam có một số cáchphân chia loại hình lễ hội: Lê Trung Vũ phân chia lễ hội ngày xưa (trong đó hộilàng là quan trọng nhất) và lễ hội ngày nay (gồm hội cổ truyền đời mới, lễ hội mớiXHCN) [180]; Lê Thị Nhâm Tuyết chia 5 loại: lễ hội nông nghiệp, lễ hội phồn thựcgiao duyên, lễ hội văn nghệ, lễ hội thi tài, lễ hội lịch sử; Trịnh Cao Tưởng chia lễhội làm 6 loại [75, tr 22 - 23] Theo đó, cách ứng xử trong lễ hội có đặc điểm cơ

bản là lễ hội định kỳ làm mới lại văn hóa bằng cách biểu thị sự hỗn độn và trật tự vũ

trụ, thiên nhiên và văn hóa, mất trật tự và trật tự, nó đòi hỏi sự hiện diện đồng thờicủa tất cả các mô hình ứng xử cơ bản của cuộc sống hàng ngày cho dù sự hoán vị bịcách điệu, được ngụy trang hay biến đổi bởi khung cảnh ngày hội Falassi đã vậndụng thao tác “lý luận hình thái học” mà nhà nghiên cứu văn học dân gian NgaPropp đã từng làm đối với truyện cổ dân gian, để khẳng định “hình thái học của lễhội phải biểu thị được các đơn vị tối thiểu tạo thành cấu trúc lễ hội đều coi như cáchành động “nghi lễ” hoặc “nghi thức” Ông nêu cấu trúc thông thường của một lễhội gồm 9 đơn vị cấu thành: Nghi lễ tạo bối cảnh (framing ritual) để mở đầu lễ hội

là hoạt động nhập lễ hoặc thiêng liêng hóa; Nghi thức chuyển tiếp (rites of passage);Nghi thức hoán vị (rites of riversal); Nghi thức phô trương rực rỡ (rites ofconspicuous display); Nghi thức tiêu thụ phung phí (rites of conspicuousconsumption); Kịch nghi lễ (ritual dramas); Nghi thức trao đổi (rites of exchange);Nghi thức tranh tài (rites of competition); Nghi thức tan hội (rites of devalorization)[148, tr 131-139] Cũng trên cơ sở lý thuyết hình thái học lễ hội, Beverly J.Stoeltje,thống nhất phương pháp phân loại của Falassi và mở rộng thêm nội hàm cấu trúc lễhội, theo đó, cấu trúc lễ hội gồm: cấu trúc sự kiện và cấu trúc xã hội của thành phầntham dự Trong đó, đặc điểm quan trọng đóng góp một cách mạnh mẽ vào sự thần bí lễhội là hai “quá trình tượng trưng”, gồm “vận dụng biểu thị thời gian thực tế” (có tínhchu kỳ) và sự “biến đổi” (truyền thống – biến đổi đối diện nhau) Đó là những vấn đềcăn bản đảm bảo cho một lễ hội truyền thống trường tồn, tái tạo theo sự phát triển xãhội Như vậy, giữa các trường phái nghiên cứu văn học dân gian và lễ hội có sự gặp

gỡ ở chỗ đều cho rằng trong cấu trúc lễ hội có sự tham gia của văn hóa, văn học

dân gian của một cộng đồng nào đó và lễ hội là một môi trường lý tưởng cho văn hóa, văn học dân gian của cộng đồng dân tộc được bảo tồn, phát triển Chúng tôi

Trang 39

áp dụng các vấn đề chính trong lý thuyết hình thái học lễ hội nêu trên để nghiêncứu, đánh giá cụ thể LHGT.

Thứ tư, chúng tôi xuất phát từ lý luận về thi pháp thể loại để xác định mục

tiêu, đối tượng và phương pháp nghiên cứu, phân tích một số bình diện thi phápnhằm tìm hiểu nội dung, nghệ thuật Gầu plềnh với tính cách là một tiểu loại dân caHmông Các nhà nghiên cứu folklore như Vladimir Propp, Richard Bauman, DanBen-Amos, Alan Dundes, William Hanks đều rất quan tâm đến các vấn đề phongcách học dân tộc, thi pháp dân tộc học, dân tộc học lời nói khi nghiên cứu thi phápthể loại văn học dân gian Tuy nhiên, quan điểm của họ không hoàn toàn đồng nhất

và tựu chung lại có thể nhận thấy hai quan điểm tương đối độc lập Quan điểm thứ

nhất, quan tâm nghiên cứu văn học dân gian theo lý thuyết hình thái học và vấn đề

văn bản tác phẩm trong hệ thống Propp khẳng định rằng cấu trúc hình thức tạo nêncốt lõi bất biến của một dạng thức văn bản văn học dân gian đối lập với yếu tố khảbiến như phong cách và nội dung bề ngoài Cuốn sách “Hình thái học truyện cổtích” (Morphology of the folklore, 1958) của ông viết trên cơ sở lý luận cấu trúc làthành tựu lớn được nhà nghiên cứu văn học dân gian và nhân chủng học AlanDundes nhiệt thành phân tích hình thái như là cơ sở của một sự phân loại và định

nghĩa vững chắc về thể loại Quan điểm thứ hai dựa trên lý thuyết dân tộc học lời

nói chuyên khảo cứu các khuôn mẫu, chức năng lời nói trong diễn biến và tổ chức

cuộc sống xã hội Tiêu biểu là công trình Thể loại văn học dân gian (Folklore

genre) với bài “Các phạm trù phân tích và thể loại có tính chủng tộc” (1969) củaDan Ben-Amos, đã phân biệt các thể loại phân tích diễn dịch và các thể loại đượcđịnh nghĩa địa phương, cái tổ chức lên lối nói, lối tương tác trong các cộng đồngnhất định Hạn chế của quan điểm thứ nhất là có thể dẫn đến xem nhẹ các dạng thứchỗn hợp hoặc phân loại chúng theo kiểu hạ thấp tầm quan trọng hoặc bỏ qua một sốđặc điểm chủ yếu của chúng mà quan điểm thứ hai sẽ khắc phục được như “lý giảibằng cách nào đó mà lời nói giống nhau về lời văn hoặc gần tương tự nhau lại cóthể dùng như truyện thần thoại trong hoàn cảnh này còn trong hoàn cảnh khác lạinhư truyền thuyết” ([theo cách diễn đạt của Bauman, 147, tr 252]) Tuy nhiên, quanđiểm thứ hai cũng có thể dẫn đến sai lầm nếu quá thiên vị vấn đề diễn xướng trênthực tế, xử lý văn bản một cách tùy tiện thiếu cơ sở khoa học, không đặt chúngtrong tính hệ thống để nghiên cứu

Đối chiếu tình hình thực tế Gầu plềnh như đã trình bày ở các chương trên, Gầuplềnh là tiểu loại dân ca Hmông có tính độc lập tương đối được quy định bởi bản chấttrữ tình, có đặc điểm thi pháp, môi trường diễn xướng riêng, đặc thù, đến nay vẫn đượcdiễn xướng trong thực tế LHGT; mặt khác, trong cuộc diễn xướng Gầu plềnh, ngườiHmông sử dụng những bài (lời) mang bản chất trữ tình, giao duyên có đặc điểm hình

Trang 40

thức, giá trị thẩm mĩ, chức năng diễn xướng như Gầu plềnh nhưng nếu nhìn trên vănbản, có thể xếp chúng vào tiểu loại khác (Tiếng hát làm dâu hoặc Tiếng hát mồ côi).Trong Luận án, căn cứ định nghĩa đã thiết lập, chúng tôi coi những bài (lời) này cũng làtác phẩm Gầu plềnh để nghiên cứu Từ những vấn đề nêu trên, căn cứ quan niệm thipháp văn học dân gian là tổ hợp những đặc điểm hình thức nghệ thuật của tác phẩmngôn từ, bao gồm những đặc điểm cấu trúc tác phẩm, hệ thống phương tiện phản ánh,chức năng tư tưởng - thẩm mĩ và phương tiện thể hiện tác phẩm, đồng thời, thi phápvăn học dân gian “còn có những đặc điểm của hình thức, của cách thức thể hiện, biểuhiện riêng của từng nghệ nhân và bao gồm cả những đặc điểm dân tộc” (Crapxốp, dẫntheo [62, tr 27 - 28]), chúng tôi xác định nghiên cứu Gầu plềnh trên các phương diệnquan niệm nghệ thuật về con người; không gian, thời gian nghệ thuât; sự kiện nghệthuật và trạng thái nghệ thuật; vì vậy, coi trọng cả nghiên cứu văn bản tác phẩm và diễnxướng tác phẩm, tránh khuynh hướng cực đoan quá thiên vị văn bản phủ nhận diễnxướng và ngược lại Đặc biệt chú ý nét đặc thù, độc đáo của Gầu plềnh biểu hiện sắcthái, bản sắc riêng cộng đồng dân tộc Hmông.

Thứ năm, sử dụng lý thuyết về biến đổi folklore Khởi xướng lý luận biến đổi

văn hoá là các nhà khoa học E Taylor (1891), L Morgan (1877) Họ phân chia xãhội theo thứ bậc đơn tuyến, theo đó, những nền văn hoá ngoài phương Tây lạc hậunên biến đổi chậm chạp, ngược lại, phương Tây “văn minh” thì biến đổi nhanh Đây

là tiền đề để nhiều lý thuyết mới về biến đổi văn hoá ra đời, phát triển vào cuối thế

kỷ XIX, đầu thế kỷ XX như thuyết truyền bá văn hoá (G.Elliot Smith, 1911;W.Rivers, 1914); thuyết vùng văn hoá (C.L.Wissler, 1923; A.L.Kroeber, 1925);thuyết tiếp biến văn hoá (Redfield, 1934; Broom, 1954); thuyết chức năng (Brown,1952; Malinowski, 1944), [dẫn theo 115, tr.12] Nghiên cứu chuyên sâu về biến đổifolklore trong thế kỉ XX có nhiều công trình chứng minh cụ thể, sâu sắc, sáng tỏhơn, hình thành một hệ thống lý thuyết tương đối hoàn chỉnh Mark Azadovskii(1926) khái quát phương pháp đặc trưng của trường phái nghiên cứu folklore Nga là

quan tâm, chú trọng cá tính người hát hoặc kể truyện vì nó tạo ra sự biến đổi và ông

bổ sung: việc đưa vào tác phẩm những mô típ địa phương khác nhau cũng tạo rabiến đổi (Bài “Người kể các truyện cổ Xê bê ri” [147, tr 396-398]) Tiếp nối truyềnthống nghiên cứu kết cấu tác phẩm, Propp (1946) khái quát, mở rộng: Folklore làmột hiện tượng lịch sử nên nó biến đổi cùng sự biến đổi lịch sử nhưng không biếnđổi hoàn toàn mà cái cũ được nhào nặn lại phù hợp cuộc sống mới [147, tr 56-57]

Về quá trình nảy sinh, duy trì, biến đổi folklore, Carl Wilhelm von Sydow (1932)

đưa khái niệm “oicotype” ám chỉ folklore mang đặc tính địa phương khi chúng di chuyển

từ địa phương này sang địa phương khác; việc thiên di có vai trò quan trọng trong vấn đềnày Folklore lưu truyền qua hai loại người là “những người lưu giữ truyền thống tích

Ngày đăng: 16/02/2016, 09:30

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Thị An chủ biên (2008), Tổng tập văn học dân gian các dân tộc thiểu số Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, H, tập 17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng tập văn học dân gian các dân tộc thiểu số Việt Nam
Tác giả: Trần Thị An chủ biên
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2008
2. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (1994), Chỉ thị số 45/CT-TW, 23/9/1994, về một số công tác ở vùng dân tộc Hmông, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị số 45/CT-TW, 23/9/1994, về một số công tác ở vùng dân tộc Hmông
Tác giả: Ban Chấp hành Trung ương Đảng
Năm: 1994
3. Ban Chấp hành Trung ương khoá VIII (1998), Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm, Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, Nxb Chính trị Quốc gia, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm, Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc
Tác giả: Ban Chấp hành Trung ương khoá VIII
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1998
4. Ban chỉ đạo Tổng cục điều tra dân số và nhà ở Trung ương (2009), Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009, (5), H, tr.134-225 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009
Tác giả: Ban chỉ đạo Tổng cục điều tra dân số và nhà ở Trung ương
Năm: 2009
5. Ban Dân tộc Trung ương (1978), Văn kiện của Đảng về chính sách dân tộc, Nxb Sự thật, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện của Đảng về chính sách dân tộc
Tác giả: Ban Dân tộc Trung ương
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1978
6. Ban Dân vận Tỉnh uỷ Lào Cai (2011-2013), Một số đặc trưng của đồng bào dân tộc Mông tỉnh Lào Cai, Đề tài nghiên cứu cấp tỉnh, Lào Cai Sách, tạp chí
Tiêu đề: 2011-2013), Một số đặc trưng của đồng bào dân tộc Mông tỉnh Lào Cai
7. Ban Dân vận Tỉnh uỷ Lào Cai (2013), Nghiên cứu thực trạng kinh tế xã hội, đề xuất giải pháp phát triển kinh tế xã hội trong vùng đồng bào dân tộc Mông (2011-2013), Đề tài nghiên cứu cấp tỉnh, Lào Cai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu thực trạng kinh tế xã hội, đề xuất giải pháp phát triển kinh tế xã hội trong vùng đồng bào dân tộc Mông (2011-2013)
Tác giả: Ban Dân vận Tỉnh uỷ Lào Cai
Năm: 2013
10. Nguyễn Chí Bền (1999), Văn hóa dân gian Việt Nam - Những suy nghĩ, Nxb Văn hóa Dân tộc, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa dân gian Việt Nam - Những suy nghĩ
Tác giả: Nguyễn Chí Bền
Nhà XB: Nxb Văn hóa Dân tộc
Năm: 1999
11. Trần Ngọc Bình (2008), Văn hóa các dân tộc Việt Nam, Nxb Thanh niên, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa các dân tộc Việt Nam
Tác giả: Trần Ngọc Bình
Nhà XB: Nxb Thanh niên
Năm: 2008
12. Bộ Văn hóa Thông tin, Vụ Văn hóa dân tộc, Bảo tồn và phát triển văn hóa dân tộc Mông - Kỷ yếu hội thảo (2005), Công ty in & Văn hóa phẩm, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo tồn và phát triển văn hóa dân tộc Mông - Kỷ yếu hội thảo
Tác giả: Bộ Văn hóa Thông tin, Vụ Văn hóa dân tộc, Bảo tồn và phát triển văn hóa dân tộc Mông - Kỷ yếu hội thảo
Năm: 2005
13. Sần Cháng (2001), Dân ca trong đám cưới và tiệc rượu người Dáy, Nxb Văn hóa Dân tộc, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân ca trong đám cưới và tiệc rượu người Dáy
Tác giả: Sần Cháng
Nhà XB: Nxb Văn hóa Dân tộc
Năm: 2001
15. Nguyễn Thị Phương Châm (2011), Biến đổi văn hóa ở các làng quê hiện nay, Nxb Văn hóa, Thông tin & Viện Văn hóa, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biến đổi văn hóa ở các làng quê hiện nay
Tác giả: Nguyễn Thị Phương Châm
Nhà XB: Nxb Văn hóa
Năm: 2011
16. Chevalier. J, Gheerbrant. A (1997), Từ điển biểu tượng văn hoá thế giới (Phạm Cư và nhóm dịch), Nxb Đà Nẵng và Trường Viết văn Nguyễn Du Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển biểu tượng văn hoá thế giới
Tác giả: Chevalier. J, Gheerbrant. A
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng và Trường Viết văn Nguyễn Du
Năm: 1997
17. Nguyễn Từ Chi (2003), Góp phần nghiên cứu văn hóa và tộc người, Nxb Văn hóa Dân tộc và Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần nghiên cứu văn hóa và tộc người
Tác giả: Nguyễn Từ Chi
Nhà XB: Nxb Văn hóa Dân tộc và Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật
Năm: 2003
18. Nguyễn Văn Chỉnh (1971), Từ điển Mèo - Việt, Nxb Khoa học xã hội, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Mèo - Việt
Tác giả: Nguyễn Văn Chỉnh
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1971
19. Nguyễn Văn Chỉnh chủ biên (1996), Từ điển Việt - Mông, Nxb Văn hoá Dân tộc, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Việt - Mông
Tác giả: Nguyễn Văn Chỉnh chủ biên
Nhà XB: Nxb Văn hoá Dân tộc
Năm: 1996
20. Lí Seo Chúng (1999), Một số tục ngữ câu đố H’Mông Lào Cai, Sở Văn hoá Thông tin tỉnh Lào Cai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số tục ngữ câu đố H’Mông Lào Cai
Tác giả: Lí Seo Chúng
Năm: 1999
21. Vàng Thung Chúng, Ngọc Cường (1999), Quả Lê mũi dài, Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Lào Cai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quả Lê mũi dài
Tác giả: Vàng Thung Chúng, Ngọc Cường
Năm: 1999
22. Mai Ngọc Chừ (2009), Văn hóa ngôn ngữ Phương Đông, Nxb Phương Đông, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa ngôn ngữ Phương Đông
Tác giả: Mai Ngọc Chừ
Nhà XB: Nxb Phương Đông
Năm: 2009
23. Nguyễn Văn Dân (2003), Lý luận văn học so sánh, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận văn học so sánh
Tác giả: Nguyễn Văn Dân
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2003

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w