Viện Tim mạch Việt Nam 64 Mối liên quan giữa sức căng cơ tim với các thông số chức năng thất trái trên siêu âm tim ở các bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp được can thiệp động mạch vành.. Trư
Trang 1JOURNAL OF VIETNAMESE CARDIOLOGY
(Xuất bản định kỳ 3 tháng 1 lần)
Trang 2TÒA SOẠN
Văn phòng Trung ương Hội Tim mạch học Việt Nam Bệnh viện Bạch Mai - 78 Đường Giải Phóng - Hà Nội ĐT: (04) 38688488 * Fax: (04) 38688488
Email: info@vnha.org.vn Website: http://www.vnha.org.vn
PGS.TS NGUYỄN LÂN HIẾU
TS PHẠM THÁI SƠN THS PHẠM TRẦN LINH
BAN BIÊN TẬP
GS.TS PHẠM GIA KHẢI GS.TS ĐẶNG VẠN PHƯỚC GS.TS HUỲNH VĂN MINH PGS TS PHẠM NGUYỄN VINH
PGS TS ĐỖ DOÃN LỢI PGS.TS VÕ THÀNH NHÂN PGS.TS TRẦN VĂN HUY
TS PHẠM QUỐC KHÁNH
THIẾT KẾ
HOÀNG XUÂN THÀNH
Giấy phép xuất bản số: 528/GP-BVHTT Cấp ngày: 03-12-2002
In tại: Công ty TNHH MTV In & NCTT Việt Cường
62 Phan Đình Giót, Thanh Xuân, Hà Nội
Trang 3TIN HOẠT ĐỘNG HỘI
Thông báo số 1 về Đại hội Tim mạch Toàn quốc lần thứ 14 3
Thông tin về Hội nghị Rối loạn nhịp tim Toàn quốc lần thứ II (tháng 10/2013) 5
ĐỒNG THUẬN CHUYÊN GIA
Vai trò của thuốc chẹn beta giao cảm thế hệ mới trong điều trị các bệnh lý tim
Điều trị bệnh mạch máu phức tạp bằng can thiệp nội mạch phối hợp phẫu thuật
(Hybrid)
Đoàn Quốc Hưng*, Nguyễn Duy Thắng*, Nguyễn Hữu Ước*
Phạm Quốc Đạt*, Lê Thanh Dũng*, Nguyễn Lân Hiếu**
* Bệnh viện Việt Đức **Bệnh viện đại học Y Hà Nội 34
Nhận xét thực trạng sử dụng kháng sinh sau mổ tim hở tại khoa phẫu thuật tim
mạch - lồng ngực Bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức
Đoàn Quốc Hưng, Đoàn Bích Phương, Phùng Duy Hồng Sơn,
Phạm Tiến Quân, Nguyễn Hữu Ước
Khoa phẫu thuật Tim mạch-lồng ngực, Bệnh viện Việt Đức 42
Nghiên cứu tỉ lệ và các yếu tố nguy cơ hạ huyết áp tư thế ở bệnh nhân cao tuổi
có tăng huyết áp
Nguyễn Đức Hoàng, Lê Thanh Hải
Bệnh viện Đa Khoa tỉnh Thừa Thiên Huế 50
Triệt đốt rung nhĩ bằng năng lượng sóng có tần số Radio dưới sự hỗ trợ của hệ
thống lập bản đồ 3 chiều buồng tim
Phạm Trần Linh, Phan Đình Phong, Lê Võ Kiên, Vũ Biên Thùy, Nguyễn Thu Phương, Phạm Quốc Khánh, Nguyễn Lân Việt
Viện Tim mạch Việt Nam 58
Thực trạng cấy máy tạo nhịp tim 1 buồng và 2 buồng tim trong chỉ định điều trị
nhịp chậm tại Viện Tim mạch Việt Nam
Phạm Như Hùng, Trần Song Giang, Trần Văn Đồng, Tạ Tiến Phước.
Viện Tim mạch Việt Nam 64
Mối liên quan giữa sức căng cơ tim với các thông số chức năng thất trái trên siêu
âm tim ở các bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp được can thiệp động mạch vành
Nguyễn Thị Thu Hoài*, Nguyễn Thị Thu Thuỷ***, Nguyễn Quang Tuấn**, Nguyễn Thị Bạch Yến*,
Đỗ Doãn Lợi*, Nguyễn Lân Việt*.
Viện Tim mạch Việt Nam*
Bệnh viện Tim Hà Nội **
Bệnh viện 198 *** 70
Trang 4Trương Thanh Hương *, Dương Đức Hùng *, Nguyễn Thị Mai Ngọc *, Lương Thị Lan Anh **, Nguyễn Thị Trang **
Viện Tim mạch Việt Nam *
Bộ môn Y Sinh Học - Di truyền, Tr ường Đại học Y Hà Nội ** 80
CA LÂM SÀNG
Triệt đốt thần kinh giao cảm động mạch thận bằng năng lượng sóng tần số Radio
điều trị tăng huyết áp kháng trị trên một trường hợp bệnh thận giai đoạn cuối
Trần Bá Hiếu, Phạm Mạnh Hùng Nguyễn Ngọc Quang, Phan Đình Phong
Trang 6THƯ CHÚC MỪNG NĂM MỚI
CỦA BAN BIÊN TẬP
Nhân dịp năm mới 2014 và mừng xuân Giáp
Ngọ, Ban Biên tập Tạp Chí Tim mạch học Việt
Nam xin trân trọng kính chúc toàn thể các Hội
viên Hội Tim mạch Việt Nam và Quý bạn đọc
gần xa dồi dào sức khỏe, an khang, thịnh vượng.
Tạp chí Tim mạch học Việt Nam (tên tiếng
Anh: Journal of Vietnamese Cardiology), giấy
phép xuất bản số: 528/GP-BVHTT; mã ISSN:
1859-2848, là ấn phẩm khoa học chính thức của
Hội Tim mạch học Quốc gia Việt Nam, xuất
bản định kỳ 3 tháng một lần Tạp chí có nhiệm
vụ đăng tải các bài báo khoa học và cập nhật
các thông tin hoạt động của Hội, đồng thời là
cầu nối giữa Trung ương Hội với các Phân hội
và toàn thể hội viên trong cả nước.
Năm 2014 sẽ là năm Hội Tim mạch Việt Nam tiếp tục củng cố và phát triển trong mọi mặt hoạt động với sự kiện quan trọng là Đại Hội Tim mạch học Toàn quốc lần thứ 14 vào các ngày 12-14 tháng 10 tại Thành phố Đà Nẵng Hướng tới Đại hội Toàn quốc lần thứ 14, Tạp chí Tim mạch học trong thời gian tới sẽ hết sức cố gắng cho ra mắt những số báo có nội dung phong phú và chất lượng chuyên môn cao Bên cạnh ấn phẩm xuất bản dưới dạng in truyền thống, trong tháng 1/2014, Tạp chí Tim mạch học đã cho ra mắt bản điện tử với hình thức trình bày đa phương tiện và tương tác trực tiếp với bạn đọc trên website chính thức của Hội http://tapchi.vnha.org.vn
Để tiếp tục xuất bản những số tạp chí mới có chất lượng cao, Ban biên tập rất mong nhận được sự ủng hộ tích cực, sự tham gia nhiệt tình viết bài của toàn thể các Hội viên và Quý bạn đọc.
Xin trân trọng cảm ơn!
TM BAN BIÊN TẬP
Tổng Biên tập
GS TS Nguyễn Lân Việt
GS TS NGUYỄN LÂN VIỆT
Trang 8THÔNG BÁO TỔ CHỨC ĐẠI HỘI TIM MẠCH TOÀN QUỐC LẦN THỨ 14 VÀ THƯ MỜI THAM GIA ĐẠI HỘI
(THÔNG BÁO SỐ 1)
Kính gửi: - Các Thành viên Ban chấp hành Hội Tim mạch Học Việt Nam,
- Các Hội Viên Hội Tim mạch Học Việt Nam,
Trong thời gian vừa qua, ngành Tim mạch Việt
Nam nói chung và Hội Tim mạch Học Việt Nam đã
có những bước tiến đáng kể và có nhiều hoạt động
tích cực sôi nổi Theo thông lệ, Đại Hội và Hội nghị
Khoa học Tim mạch toàn quốc lần thứ 14 sẽ được
tổ chức từ 12 đến 14 tháng 10 năm 2014 tại Thành
phố Đà Nẵng
Chúng tôi xin vui mừng thông báo tới toàn thể
các thành viên Ban chấp hành cũng như toàn thể
các Hội viên của Hội Tim mạch học Việt Nam
Chương trình Đại hội lần này sẽ rất phong phú
và cập nhật về khoa học với nhiều bài báo cáo của
các chuyên gia đầu ngành trong và ngoài nước Đại
hội cũng sẽ nhóm họp Ban chấp hành để bầu ra Ban
chấp hành nhiệm kỳ mới của Hội Tim mạch
Thay mặt Ban tổ chức và Hội Tim mạch Học
Việt Nam, chúng tôi xin trân trọng kính mời quý đại biểu tham gia Đại hội lần này
Để đại hội có thể được tổ chức thành công tốt đẹp, thay mặt Ban tổ chức, chúng tôi kêu gọi
sự tham gia tích cực, đóng góp mọi mặt và cũng là giao trách nhiệm cho tất cả các thành viên trong Ban chấp hành cũng như tất cả các Hội viên Chúng tôi rất khuyến khích các Quý đại biểu gửi các bài báo cáo khoa học mới nhất tham dự và trình bày tại các phiên khoa học của Đại hội
Trang 9Chương trình sơ khởi (preliminary programme) và các thông tin chi tiết hơn về Đại hội sẽ được chúng tôi gửi tới quý thành viên Ban chấp hành và tất cả các Hội viên trong những thông báo tiếp theo đồng thời liên tục cập nhật trên website chính thức của Hội: www.vnha.org.vn.
Để có thể đảm bảo đúng tiến độ tổ chức, chúng tôi cũng đề nghị và hoan nghênh các thành viên trong Ban chấp hành và những hội viên Hội Tim mạch Việt Nam đóng góp ý kiến và tham gia cho công tác tổ chức Mọi ý kiến xin gửi bằng văn bản theo địa chỉ:
BAN THƯ KÝ ĐẠI HỘI TIM MẠCH TOÀN QUỐC LẦN THỨ 14
Địa chỉ: Viện Tim Mạch – Bệnh viện Bạch Mai - 78 đường Giải phóng - Đống Đa - Hà Nội Người đại diện: PGS.TS.BS Phạm Mạnh Hùng; DĐ: 0913 519 417
Người liên hệ:
- Chị Chu Thúy Ngà; ĐTDĐ: 093 600 3848
- Chị Lương Phương Thảo; ĐT: 0904 97 6694; 04 3513 4648
Điện thoại và Fax: 04 3868 8488
Email: info@vnha.org.vn
Website: daihoi14.vnha.org.vn
Xin trân trọng cảm ơn và rất mong sự đóng góp tích cực của các thành viên và Hội viên
Trang 10THÔNG TIN VỀ HỘI NGHỊ ĐIỆN SINH LÝ HỌC VÀ
TẠO NHỊP TIM VIỆT NAM LẦN THỨ II (VNSEP 2013)
Trong hai ngày 26 và 27 tháng 10 năm
2013 vừa qua, tại thành phố Đà Nẵng đã diễn
ra Hội nghị Điện sinh lý học và Tạo nhịp tim
Việt Nam lần thứ hai (VNSEP 2013)
Hội nghị là diễn đàn chuyên môn phong
phú và cập nhật về những vấn đề được quan
tâm nhiều nhất trong thực hành xử trí rối loạn
nhịp tim như rung nhĩ, thuốc chống đông thế
hệ mới, thuốc chống rối loạn nhịp tim… với
sự tham gia của nhiều giáo sư, tiến sĩ, các nhà
khoa học tim mạch hàng đầu trong cả nước
và hơn 200 đại biểu đến từ mọi miền trong cả
nước Bên cạnh đó, Hội nghị còn có các phiên
báo cáo chuyên sâu, đề cập đến những vấn đề phức tạp, hóc búa trong nghiên cứu, can thiệp điện sinh lý học tim cũng như tạo nhịp tim như triệt đốt rung nhĩ bằng năng lượng tần
số radio với hệ thống lập bản đồ 3 chiều các buồng tim, tạo nhịp tái đồng bộ, máy phá rung
tự động… với sự tham gia của đông đảo các đồng nghiệp hoạt động chuyên sâu về lĩnh vực này Đến với VNSEP 2013 còn có một số bạn đồng nghiệp từ Hoa Kỳ, Singapore, Pháp…
Tại VNSEP 2013 cũng đã diễn ra phiên họp ban Chấp hành phân hội Điện sinh lý học
và Tạo nhịp tim Việt Nam với sự tham gia Ban Chấp hành mới của Phân Hội nhịp Tim Việt Nam (VNHRS)
Trang 11và chỉ đạo của Chủ tịch Hội Tim mạch Việt
Nam GS.TS Phạm Gia Khải và Phó Chủ tịch
thường trực GS.TS Nguyễn Lân Việt Tại
cuộc họp này, 100% thành viên tham dự đã
biểu quyết đề nghị đổi tên gọi của Phân hội
Điện sinh lý học tim và Tạo nhịp Tim Việt
Nam thành Phân hội Nhịp Tim Việt Nam
(tên tiếng Anh là: Vietnam Heart Rhythm
Society – VNHRS) cho phù hợp với tình hình hoạt động mới và đã được Chủ tịch Hội Tim mạch Việt Nam chấp thuận Trong nhiệm kỳ hoạt động 2013 – 2015, Phân hội Nhịp Tim Việt Nam có 30 Ủy viên Ban Chấp hành, TS BSCC Phạm Quốc Khánh tiếp tục đảm nhiệm vai trò Chủ tịch phân hội và ThS BS Phạm Trần Linh đảm nhiệm vai trò Tổng thư ký.Phiên họp Ban chấp hành VNSEP
Trang 12HỘI TIM MẠCH HỌC
VIỆT NAM
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc -
Số: 02 /QĐ-HTMVN Hà Nội, ngày 30 tháng 10 năm 2013
QUYẾT ĐỊNH V/v: Thay đổi tên gọi của phân hội Điện sinh lý học tim và Tạo nhịp tim
Việt Nam
-CHỦ TỊCH HỘI TIM MẠCH HỌC VIỆT NAM
Căn cứ nghị định số 45/2010/NĐ-CP ngày 21 tháng 04 năm 2010 quy định về tổ chức, hoạt động và quản lý hội của Chính phủ
Căn cứ vào quy chế tổ chức và hoạt động của Hội Tim mạch học Việt Nam
Căn cứ vào đề nghị của Chủ tịch Phân Hội “Điện sinh lý học tim và Tạo nhịp tim Việt Nam”.Căn cứ vào nội dung cuộc họp Ban Chấp hành Phân Hội: “Điện sinh lý học tim và Tạo nhịp tim Việt Nam” ngày 26 tháng 10 năm 2013
Theo đề nghị của Ban Chấp hành và Tổng thư ký Hội Tim mạch học Việt Nam:
QUYẾT ĐỊNH
Điều 1: Đồng ý thay đổi tên gọi Phân Hội: “Điện sinh lý học tim và Tạo nhịp Tim Việt
Nam” thành Phân Hội “Nhịp tim Việt Nam” (Tiếng Anh là Vietnam Heart Rhythm
Society, viết tắt là VNHRS) trực thuộc Hội Tim mạch học Việt Nam.
Điều 2: Phân Hội Nhịp tim Việt Nam có nhiệm vụ kế thừa và hoạt động theo quy chế
hoạt động và tổ chức đã được Ban Chấp hành Hội Tim mạch Việt Nam thông qua cho Phân Hội
“Điện sinh lý học tim và Tạo nhịp tim Việt Nam”
Trang 13Điều 3: Các thành viên có tên trong Ban Chấp hành Phân Hội “Nhịp Tim Việt Nam” chịu
trách nhiệm thi hành quyết định này, quyết định có hiệu lực kể từ ngày ký
Nơi nhận:
Như điều 1
Lưu VT, VPHTM,THYDHVN
Trang 14HỘI TIM MẠCH HỌC
VIỆT NAM
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc -
QUYẾT ĐỊNH
V/v: Thành lập Ban Chấp hành và lãnh đạo
phân hội Nhịp tim Việt Nam
-CHỦ TỊCH HỘI TIM MẠCH HỌC VIỆT NAM
Căn cứ nghị định số 45/2010/NĐ-CP ngày 21 tháng 04 năm 2010 quy định về tổ chức, hoạt động và quản lý hội của Chính phủ
Căn cứ vào quy chế tổ chức và hoạt động của Hội Tim mạch học Việt Nam
Căn cứ vào yêu cầu gửi Ban Chấp hành Hội Tim mạch học Việt Nam của Phân Hội Nhịp Tim Việt Nam
Căn cứ vào nội dung cuộc họp Ban Chấp hành Hội Tim mạch Việt Nam đồng thuận danh sách lãnh đạo và Ban Chấp hành của Phân Hội Nhịp Tim Việt Nam ngày 26 tháng 10 năm 2013.Căn cứ vào chức năng và nhiệm vụ của Phân Hội Nhịp Tim Việt Nam
Theo đề nghị của Ban Chấp hành và Tổng thư ký Hội Tim mạch học Việt Nam:
QUYẾT ĐỊNH
Điều 1: Thành lập Ban cố vấn, Ban Chấp hành, Chủ tịch, các Phó Chủ tịch, Tổng thư ký,
Ban thư ký của Phân Hội Nhịp Tim Việt Nam trực thuộc Hội Tim mạch học Việt Nam nhiệm
kỳ 2013 – 2015, bao gồm những thành viên sau:
Trang 15Ban cố vấn:
1 GS.TS Phạm Gia Khải – Chủ tịch Hội Tim mạch Việt Nam
2 GS.TS Trần Đỗ Trinh – Nguyên Chủ tịch Hội Tim mạch Việt Nam
3 GS.TS Đặng Vạn Phước – Chủ tịch Hội Tim mạch TP HCM
4 GS.TS Nguyễn Lân Việt – Phó Chủ tịch Hội Tim mạch Việt Nam
5 PGS.TS Phạm Nguyễn Vinh – Giám đốc Bệnh viện Tim Tâm Đức
6 PGS.TS Đỗ Doãn Lợi – Viện trưởng Viện Tim mạch Việt Nam
7 PGS.TS Nguyễn Ngọc Tước – Hội Tim mạch Việt Nam
8 PGS.BS Thomas Bump – Hoa kỳ
2 TS Lê Thanh Liêm
3 GS TS Huỳnh Văn Minh
Trang 16Ban Chấp hành:
Bs Huỳnh Trung Cang Bệnh viện Đa khoa Kiên Giang
Bs Đỗ Văn Bửu Đan Viện Tim thành phố HCM
Ts Trần Văn Đồng Viện Tim mạch Việt Nam
PGS.Ts Nguyễn Thị Dung Đại học Y Hải Phòng
Ts Trần Song Giang Viện Tim mạch Việt Nam
Ts Nguyễn Hồng Hạnh Bệnh viện Đa khoa Quảng Ninh
Ts Phạm Như Hùng Viện Tim mạch Việt Nam
BsCKII Phan Nam Hùng Bệnh viện Đa khoa Bình Định
PGS.Ts Trần Văn Huy Bệnh viện Đa khoa Khánh Hòa
Ts Trương Quang Khanh Bệnh viện Thống Nhất
Ts Phạm Quốc Khánh Viện Tim mạch Việt Nam
Ts Lê Thanh Liêm Bệnh viện Chợ rẫy
Ths Phạm Trần Linh Viện Tim mạch Việt Nam
Ts Nguyễn Cửu Lợi Trung tâm Tim mạch Huế
Gs.TS Huỳnh Văn Minh Bệnh viện Đại học Y Huế
Ts Tôn Thất Minh Bệnh viện Tim Tâm Đức
BsCK2 Nguyễn Bằng Phong Bệnh viện Việt Tiệp
Ths Phan Đình Phong Đại học Y Hà Nội
Ts Tạ Tiến Phước Viện Tim mạch Việt Nam
Ths Hoàng Văn Quý Trung tâm tim mạch Huế
PGS.TS Phạm Nguyên Sơn Bệnh viện 108
Ts Phạm Trường Sơn Bệnh viện 108
Ths Hoàng Văn Sỹ Bệnh viện Chợ rẫy
Ths Tô Hưng Thuỵ Trung tâm Tim mạch Huế
Ts Lê Thích Thu Thủy Bệnh viện Chợ rẫy
Ts Hoàng Anh Tiến Bệnh viện ĐH Y Dược Huế
Ths Bùi Nguyễn Hữu Văn Viện Tim Thành phố HCM
Trang 17Điều 2: Ban cố vấn, Ban Chấp hành, Chủ tịch và các phó chủ tịch, Tổng thư ký và Ban thư
ký của Phân Hội Nhịp tim Việt Nam” có nhiệm vụ và chức năng hoạt động theo quy chế tổ chức và hoạt động đã được Ban Chấp hành Hội Tim mạch Việt Nam thông qua
Điều 3: Các thành viên có tên trong danh sách trên chịu trách nhiệm thi hành quyết định này,
quyết định có hiệu lực kể từ ngày ký
Điều 4: Các thành viên có tên trên tự giải thể khi kết thúc nhiệm kỳ công tác theo đúng quy
chế của Phân Hội Nhịp tim Việt Nam
Nơi nhận:
- Như điều 1
- Lưu VT, VPHTM,THYDHVN
Trang 18Lời tòa soạn: Ngày 21 tháng 12 năm 2013 vừa qua, tại Thành Phố Hồ Chí Minh đã diễn ra
Hội nghị chuyên gia về vai trò của thuốc chẹn bêta giao cảm thế hệ mới trong điều trị các bệnh lý tim mạch: chuyên đề về Nebivolol Tạp chí Tim mạch học xin đăng toàn văn tài liệu
đồng thuận chuyên gia của Hội thảo.
VAI TRÒ CỦA THUỐC CHẸN BÊTA GIAO CẢM THẾ HỆ MỚI TRONG ĐIỀU TRỊ CÁC BỆNH LÝ TIM MẠCH:
điều trị các bệnh lý tim mạch Từ khi được phát minh vào những năm 1960 của thế kỷ trước,
ba thế hệ thuốc chẹn ß giao cảm đã lần lượt ra đời với các phân tử khác nhau về mức độ chọn lọc trên từng loại thụ thể ß cũng như khác nhau về tác động trên sự co giãn mạch máu Ưu việt hơn những thuốc thế hệ trước, các thuốc chẹn ß giao cảm thế hệ thứ ba được chứng minh hiệu
Trang 19quả hạ huyết áp tốt hơn, rất ít hoặc không ảnh
hưởng tới các quá trình chuyển hóa glucose và
lipid, có tác dụng giãn mạch và hiệu quả lâm
sàng trong điều trị suy tim
Trong số các thuốc chẹn ß giao cảm thế hệ
thứ ba, nebivolol là thuốc có mức độ ức chế
chọn lọc trên thụ thể ß1 cao nhất và có tác
dụng tăng cường sản xuất nitric oxide (NO) từ
tế bào nội mạc mạch máu NO là chất truyền
tin sinh học dạng khí độc đáo, tham gia vào
nhiều hoạt động sinh lý khác nhau của cơ thể
Trên hệ tim mạch, NO có tác dụng giãn mạch
và do vậy đem lại lợi ích cho các bệnh nhân
tăng huyết áp và suy tim [1, 2]
Nhiều nghiên cứu đã chứng minh nebivolol
với một liều duy nhất trong ngày có khả năng
kiểm soát tốt cả huyết áp tâm thu và tâm trương
trên các bệnh nhân tăng huyết áp mức độ nhẹ
đến vừa và được dung nạp tốt Khi so sánh
với các thuốc chẹn ß và các nhóm thuốc hạ
huyết áp khác trong các thử nghiệm đối đầu,
nebivolol được chứng minh khả năng hạ huyết
áp tương đương và giảm được các biến cố tim
mạch Nebivolol cũng được chứng minh làm
giảm tử suất và bệnh suất trên một số lượng
lớn bệnh nhân cao tuổi bị suy tim mạn tính
Đến nay, nebivolol (biệt dược là Nebilet tại
Việt Nam) đã có mặt trong các khuyến cáo về
xử trí tăng huyết áp và suy tim tại châu Âu và
Hoa Kỳ
PHÂN LOẠI THUỐC CHẸN ß GIAO CẢM
Các thuốc chẹn ß giao cảm khác nhau về
các đặc tính dược lý học, bao gồm: tỉ lệ ức chế
chọn lọc thụ thể ß1/ß2, hoạt tính giao cảm nội
tại (ISA) và khả năng giãn mạch Các thụ thể
thần kinh giao cảm trên hệ tim mạch ở người
bao gồm thụ thể ß1, ß2 và thụ thể α1 Trên mô
cơ tim khỏe mạnh, thụ thể ß1 chiếm ưu thế
và tỉ lệ ß1/ ß2 là 70:30, trong khi đó, thụ thể ß2 lại chiếm ưu thế hơn ở hệ thống phế quản Thụ thể α1 có vai trò điều hòa chức năng nội mạc và co mạch máu ngoại vi, điều hòa dòng máu đến thận và được cho là có liên quan đến bệnh phì đại cơ tim và phì đại lành tính tuyến tiền liệt Trong các bệnh lý tim mạch, sự hoạt hóa quá mức kéo dài hệ thống thần kinh giao cảm sẽ dẫn đến hậu quả giảm số thụ thể ß1 ở
mô tim, trong khi thụ thể ß2 giữ nguyên và thụ thể α1 tăng nhẹ, kết quả là tương quan giữa các thụ thể thay đổi Trong suy tim giai đoạn cuối, tỉ lệ ß1:ß2:21 giảm xuống chỉ còn 2:1:1
Ý nghĩa của cơ chế điều hòa này còn chưa thật rõ ràng, có thể là nhằm điều chỉnh tác động của norepinephrine lên các thụ thể thần kinh giao cảm trong tình trạng suy tim Thông thường, norepinephrine có ái lực với thụ thể ß1 gấp 20 lần ß2 và gấp 10 lần so với α1
Hình 1: Mức độ chọn lọc ß1/ß2 của một số thuốc chẹn ß giao cảm [14]
Có ba thế hệ thuốc chẹn ß giao cảm Thế hệ thứ nhất, đại diện là propranolol,
có tác dụng ức chế đồng đều trên thụ thể ß1 và ß2 và được xem là nhóm có tác dụng không chọn lọc Đến thế hệ thứ hai, các thuốc ức chế nhiều hơn trên thụ thể ß1 và được coi là nhóm thuốc có tác dụng chọn lọc Tuy nhiên, mức độ chọn lọc
Trang 20trên thụ thể ß1 là rất khác nhau giữa các thuốc
như metoprolol, bisoprolol và atenolol Ở liều
cao, các thuốc thế hệ thứ hai vẫn có tác dụng
ức chế nhất định trên thụ thể ß2 Càng chọn
lọc trên thụ thể ß1, các thuốc chẹn ß sẽ có tác
dụng mạnh hơn trên tim và hạn chế được tác
dụng phụ trên phổi (gây co thắt phế quản)
Thế hệ chẹn ß giao cảm thứ ba, khác biệt với
hai thế hệ trước ở khả năng giãn mạch Trong
số các thuốc thuộc nhóm này, labetalol được
coi là không chọn lọc, có ái lực với thụ thể
α1 nhiều hơn các thụ thể ß1 và ß2 Carvedilol
chọn lọc hơn trên ß1 (x7 lần) nhưng đồng
thời chẹn cả thụ thể α1 Bucindolol cũng là
thuốc ức chế không chọn lọc trên cả thụ thể
ß1, 2 và α1 Cả ba thuốc labetalol, carvedilol
và bucindolol được cho là có tác dụng giãn
mạch thông qua ức chế thụ thể α1 Cuối cùng
là nebivolol với nhiều điểm khác biệt, là
thuốc chẹn ß giao cảm thế hệ thứ ba có đặc
tính ức chế chọn lọc rất cao trên thụ thể ß1,
cao hơn tất cả các thuốc chẹn ß hiện có Thêm
vào đó, thuốc còn có tác dụng giãn mạch phụ
thuộc nội mạc với cơ chế hoạt hóa con đường
L-arginine/NO
Một số thuốc chẹn ß giao cảm có hoạt
tính giao cảm nội tại (ISA), đặc trưng bởi
chủ vận một phần trên các thụ thể thần kinh
giao cảm Các thuốc này bao gồm: acebutolol,
penbutolol và pindolol vừa có tác dụng kích
thích thụ thể ß vừa ngăn ngừa sự truyền tin
của hệ thống thần kinh giao cảm Sự kết hợp
hai thuộc tính đối ngược này giúp giảm bớt
các tác dụng không mong muốn liên quan đến
các thuốc chẹn ß giao cảm như gây giảm tần
số tim, giảm cung lượng tim cũng như tăng trở
kháng mạch máu ngoại vi
ỨNG DỤNG LÂM SÀNG CỦA THUỐC CHẸN ß GIAO CẢM
Các thuốc chẹn ß giao cảm đã được chứng minh lợi ích rõ ràng trên các bệnh nhân có nguy
cơ tim mạch [5] Một phân tích gộp trên 18 nghiên cứu ngẫu nhiên, có đối chứng, theo dõi dài hạn trên gần 19000 bệnh nhân tăng huyết
áp cho thấy, điều trị bằng thuốc chẹn ß giao cảm giúp làm giảm 29% nguy cơ đột quỵ,7% bệnh mạch vành và 42% suy tim [3] Một phân tích gộp khác bao gồm 82 thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên, có đối chứng trên 54000 bệnh nhân sau nhồi máu cơ tim đã chứng minh
rõ ràng thuốc chẹn ß giao cảm nói chung giúp giảm có ý nghĩa bệnh suất và tử suất [4] Cho
dù các thuốc chẹn ß giao cảm được khuyến cáo trên các bệnh nhân suy tim nhưng chỉ có một
số thuốc nhất định đã được chứng minh lợi ích thông qua các bằng chứng lâm sàng xác đáng
từ những nghiên cứu ngẫu nhiên trên quy mô lớn Cho đến gần đây, Bisoprolol, carvedilol
và metoprolol succinate dạng phóng thích kéo dài được khuyến cáo trong điều trị suy tim với khả năng giảm khoảng 35% nguy cơ tử vong tim mạch khi kết hợp với phác đồ điều trị suy tim tiêu chuẩn [6, 7, 8]
Sự khác biệt giữa các thuốc chẹn ß đã dành được nhiều sự quan tâm của các nhà dược lý
và lâm sàng tim mạch Trên thực tế các thuốc chẹn ß dường như không khác nhau nhiều về khả năng hạ huyết áp cho dù mức độ chọn lọc trên thụ thể ß1 là khác nhau Các thuốc có hoạt tính giao cảm nội tại (ISA) được chứng minh lợi ích kém hơn trên các bệnh nhân sau nhồi máu cơ tim và có thể làm nặng thêm suy tim ở những bệnh nhân nguy cơ cao
Trên các bệnh nhân đái tháo đường, được xem là nhóm có nguy cơ biến cố tim mạch
Trang 21cao, sự khác biệt về lợi ích lâm sàng giữa các
thuốc chẹn ß giao cảm có thể trở nên rõ rệt
hơn cả Một số nghiên cứu cho thấy, một số
thuốc chẹn ß có thể làm nặng thêm tình trạng
kháng insuline và do vậy làm tăng tần suất đái
tháo đường mới mắc trên các bệnh nhân dùng
thuốc Bên cạnh đó, một số thuốc chẹn ß cũng
được cho là bất lợi đối với tình trạng chuyển
hóa lipid máu Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu
lớn cho thấy, các thuốc chẹn ß giao cảm
không làm gia tăng bệnh suất hay tử suất trên
các bệnh nhân đã mắc đái tháo đường Trong
nghiên cứu UKPDS [9], atenolol đã được
chứng minh làm giảm ý nghĩa các biến cố
mạch máu lớn và mạch máu nhỏ tương đương
với thuốc ức chế men chuyển là captopril
Một phân tích gộp về thuốc chẹn ß trên các
đối tượng suy tim cũng cho thấy, thuốc chẹn
ß mang lại lợi ích trên cả những bệnh nhân có
và không có đái tháo đường Hiện tại, cho đến
cuối năm 2013, các thuốc chẹn ß vẫn được
khuyến cáo chỉ định cho các bệnh nhân tăng
huyết áp kèm theo đái tháo đường
Các thuốc chẹn ß có tác động khác nhau
trên tính nhạy cảm insuline Trên các thử
nghiệm riêng rẽ, các thuốc chẹn ß giao cảm
thế hệ thứ ba như celiprolol, carvedilol được
chứng minh cải thiện sự nhạy cảm insuline
trên các bệnh nhân nghiên cứu Trong khi
đó, các thuốc thế hệ trước như propranolol,
atenolol và metoprolol được chứng minh tác
dụng ngược lại Nguyên nhân của sự khác biệt
cũng như cơ chế tác động của thuốc chẹn ß
lên sự nhạy cảm insuline đến nay chưa được
xác định rõ Tuy nhiên, sự khác nhau về khả
năng giãn mạch có thể là một nguyên nhân
quan trọng Các thuốc chẹn ß có khả năng
giãn mạch sẽ giúp tăng cường tuần hoàn và sự
thanh thải ở mô do vậy cải thiện sự nhạy cảm
insuline so với các thuốc chẹn ß không có tác
Nebivolol có hai dạng đồng phân quang học d
và l với tỉ lệ gần tương đương nhau Nebivolol
được chuyển hóa tại gan Sinh khả dụng tuyệt đối của thuốc có thể đạt tới 96% và thuốc đạt nồng độ hằng định trong huyết tương trong vòng 1 ngày
Nebivolol có tác dụng ức chế chọn lọc thụ thể ß1 giao cảm rất mạnh và kéo dài Tác dụng này chủ yếu gây ra bởi đồng phân
dạng d Trong khi đó đồng phân dạng l lại đối
kháng với tác dụng giảm co cơ tim của đồng
phân d Tác dụng hạ huyết áp kết hợp của hai dạng đồng phân d và l mạnh hơn đồng phân
d đơn độc Nebivolol được chứng minh chọn lọc trên thụ thể ß1 mạnh hơn 321 lần so với thụ thể ß2, tỉ lệ chọn lọc ß1/ ß2 của nebivolol
là cao nhất và gấp 3 lần hơn so với các thuốc chẹn ß khác đang được sử dụng phổ biến hiện nay Nebivolol không có hoạt tính giao cảm nội tại (ISA) Và điểm đặc biệt là thuốc có khả năng gây giãn mạch bằng cơ chế nội mạc thông qua con đường L-arginine/Nitric oxide [12, 13]
Nebivolol gắn kết với các thụ thể ß ngay
cả ở nồng độ thấp của thuốc, gây ra tác dụng phụ thuộc liều và kéo dài Nebivolol làm giảm trở kháng mạch ngoại biên và cải thiện thể tích nhát bóp của tim Trên các nghiên cứu, nebivolol được chứng minh có tác dụng làm giảm tần số tim vừa phải hơn so với atenolol, propranolol và pindolol, giúp cải thiện tốt hơn các thông số về chức năng thất trái so với các thuốc chẹn ß khác
Trang 22HIỆU QUẢ HẠ HUYẾT ÁP VÀ KHẢ
NĂNG DUNG NẠP CỦA NEBIVOLOL
Hiệu quả cũng như tính dung nạp của
nebivolol trên các bệnh nhân tăng huyết áp
đã được đánh giá qua rất nhiều nghiên cứu
lớn tại các nước châu Âu Các nghiên cứu đã
so sánh hiệu quả của nebivolol với giả dược
hoặc các nhóm thuốc hạ huyết áp khác Đối
tượng nghiên cứu chủ yếu là các bệnh nhân
tăng huyết áp mức độ từ nhẹ đến vừa
Nebivolol so với giả dược
Một nghiên cứu ngẫu nhiên, có đối chứng,
đa trung tâm nhằm đánh giá hiệu quả sau 4
tuần của nebivolol với các liều khác nhau (từ
0.5 đến 10 mg một lần mỗi ngày) trên 509
bệnh nhân tăng huyết áp (HA tâm trương ≥
95 mmHg) Nebivolol làm giảm có ý nghĩa
(và phụ thuộc liều) huyết áp tâm thu và tâm
trương so với giả dược Mức giảm huyết
áp tâm trương và huyết áp tâm thu ở nhóm
bệnh nhân điều trị với nebivolol ở các mức
liều 2.5 mg, 5 mg, 10 mg vào thời điểm nồng
độ đáy (trough) của thuốc trong huyết thanh
tương ứng là: -7,1 mmHg và -8,6 mmHg, -9.2
mmHg và -9.2 mmHg, -10.2 mmHg và -8.2
mmHg Tương tự, ở thời điểm nồng độ đỉnh
của thuốc (peak), mức giảm huyết áp tâm
trương và tâm thu lần lượt là: -8.8 mmHg và
-9.2 mmHg, -11.0 mmHg và -12.6 mmHg,
-9.8 mmHg và -9.4 mmHg Một điểm quan
trọng khác là không có sự khác biệt về hiệu
quả hạ huyết áp của nebivolol trên các bệnh
nhân da trắng và người gốc Phi (chiếm 22%
số đối tượng nghiên cứu) Tỉ lệ bệnh nhân
có đáp ứng tốt với nebivolol liều 5 mg mỗi
ngày (giảm được huyết áp tâm trương < 90
mmHg hoặc giảm so với mức trước điều trị ≥
10 mmHg) ở nhóm người da trắng và da màu
là 62% và 58% Nebivolol được dung nạp tốt,
tỉ lệ xuất hiện tác dụng không mong muốn là
tương đương giữa nhóm điều trị và giả dược Nebivolol không có tác động lên cân nặng cũng như các thông số xét nghiệm máu cơ bản
ở Đức đã được điều trị bằng nebivolol (50%
là nam giới, tuổi trung bình: 57.6) Trong số này, 55.8% bệnh nhân có bệnh mạch vành, 20.3% có đái tháo đường và 36.5% có rối loạn lipid máu kèm theo Các bệnh nhân nghiên cứu được điều trị khởi đầu nebivolol với liều
5 mg một lần mỗi ngày Trong thời gian theo dõi, nebivolol được điều chỉnh liều hoặc được kết hợp thêm thuốc hạ huyết áp khác để đạt được huyết áp mục tiêu Sau 6 tuần, huyết
áp trung bình và huyết áp tâm trương ở các bệnh nhân nghiên cứu đã giảm một cách có ý nghĩa so với trước điều trị, tương ứng với -29 mmHg và -16 mmHg (p<0.001) Nebivolol được dung nạp tốt, tỉ lệ tác dụng phụ rất thấp, khoảng 1.6% Các triệu chứng như nhịp tim quá chậm, đau đầu, mệt mỏi chỉ thấy ở 0.6%, 0.4% và 0.3% Bên cạnh đó, sự giảm một cách ý nghĩa nồng độ glucose máu khi đói, cholesterol toàn phần và triglycerides cũng được ghi nhận ở các bệnh nhân điều trị bằng nebivolol (p< 0.001 cho từng chỉ số) [17]
Nebivolol so với các thuốc chẹn ß khác
Nebivolol đã được so sánh với atenolol, metoprolol và bisoprolol
Một nghiên cứu ngẫu nhiên, mù đôi, đối chứng với giả dược được thực hiện trên 364 bệnh nhân tăng huyết áp từ nhẹ đến vừa ở các trung tâm chăm sóc sức khỏe ban đầu tại Anh quốc Các bệnh nhân được chọn vào nghiên cứu với số huyết áp tâm trương ≥ 95 mmHg
Trang 23và ≤ 115 mmHg và được ngẫu nhiên điều trị
bằng nebivolol 5 mg/ ngày hoặc atenolol 50
mg/ ngày hoặc bằng giả dược Kết quả sau 1
tháng nghiên cứu cho thấy, cả nebivolol và
atenolol đều có khả năng hạ huyết áp một cách
ý nghĩa so với giả dược và tương đương nhau
Tuy nhiên, tỉ lệ xuất hiện cảm giác mệt mỏi và
suy giảm tình dục cao hơn có ý nghĩa ở nhóm
dùng atenolol so với nhóm dùng nebivolol
hoặc giả dược [18]
Nebivolol cũng được so sánh với atenolol
trong một nghiên cứu ngẫu nhiên, mù đôi và
đa trung tâm khác 205 bệnh nhân nam và
nữ, tăng huyết áp mức độ nhẹ đến vừa được
ngẫu nhiên điều trị bằng nebivolol (5 mg/
ngày) hoặc atenolol (100 mg/ngày) trong 12
tuần liên tiếp Cả hai thuốc đều cho thấy khả
năng hạ huyết áp có ý nghĩa so với trước điều
trị (-18.2 mmHg huyết áp tâm thu và -14.0
mmHg huyết áp tâm trương ở nhóm atenolol
và -19.1 mmHg huyết áp tâm thu và -14.8
mmHg huyết áp tâm trương ở nhóm nebivolol,
p<0.01) Tuy nhiên, tỉ lệ xuất hiện biến cố bất
lợi (đánh giá bằng báo cáo tự phát của bệnh
nhân và bằng bảng câu hỏi) một lần nữa
cho thấy là cao hơn ở nhóm điều trị bằng
atenolol [19]
Một nghiên cứu ngẫu nhiên, mù đôi quan
trọng khác đã so sánh nebivolol 5mg/ ngày
và atenolol 100 mg/ ngày không chỉ trên tiêu
chí hạ huyết áp mà còn trên các tiêu chí về
đánh giá chức năng tim trên siêu âm (phân
suất tống máu thất trái EF, thể tích nhát bóp
và cung lượng tim) [15] Kết quả nghiên cứu
cho thấy tác dụng hạ huyết áp là tương đương
giữa hai thuốc, tuy nhiên nebivolol ít làm
giảm tần số tim hơn so với atenolol (-7 nhịp/
phút so với -15 nhịp/ phút, p<0.05) Thêm vào
đó, nebivolol được chứng minh giúp cải thiện
hơn atenolol trên các chỉ số về chức năng tim
(p<0.05) Sự khác biệt có thể liên quan đến
phóng NO ở các tế bào nội mạc mạch máu chỉ
có ở nebivolol và đã mở ra triển vọng về khả năng điều trị các bệnh nhân suy tim của thuốc
Nebivolol cũng đã được so sánh với metoprolol trong một nghiên cứu ngẫu nhiên,
mù đôi, đa trung tâm trên 140 bệnh nhân tăng huyết áp từ nhẹ đến vừa (huyết áp tâm trương đo ở tư thế ngồi ≥ 100 mmHg) Các bệnh nhân được điều trị bằng nebivolol (5 mg/ngày) hoặc metoprolol (100 mg/ngày) Sau 3 tháng điều trị, mức giảm huyết áp ở nhóm nebivolol là -20 mmHg tâm thu và -17 mmHg tâm trương, tương đương với mức giảm huyết
áp ở nhóm metoprolol là -15 mmHg tâm thu
và -16 mmHg tâm trương Tuy nhiên, tỉ lệ tác dụng không mong muốn ở nhóm điều trị bằng nebivolol là 23% thấp hơn ý nghĩa so với ở nhóm metoprolol là 36%, tỉ lệ này ở giai đoạn giả dược trước ngẫu nhiên hóa là 21% [20].Đặc biệt, trong một nghiên cứu ngẫu nhiên,
mù đôi khác trên 80 bệnh nhân tăng huyết
áp với thời gian theo dõi 1 năm Các bệnh nhân được điều trị hoặc nebivolol 5 mg hoặc metoprolol 50-100 mg mỗi ngày Nebivolol
và metoprolol được chứng minh khả năng tương đương trong giảm tần số tim, các chỉ số huyết áp động mạch cánh tay Tuy nhiên, chỉ
có nebivolol giúp giảm được ý nghĩa huyết
áp động mạch chủ trung tâm (tâm thu, tâm trương và huyết áp hiệu số) và độ dày thành thất trái so với trước điều trị [29]
Nebivolol so với các nhóm thuốc hạ huyết áp khác
Các nghiên cứu cũng đã so sánh nebivolol với các thuốc hạ huyết áp phổ biến khác như thuốc ức chế men chuyển, thuốc ức chế thụ thể angiotensin và thuốc chẹn kênh calci.Trong một nghiên cứu ngẫu nhiên, mù đôi
so sánh với enalapril trên các bệnh nhân tăng
Trang 24huyết áp, nebivolol đạt hiệu quả cao hơn trên
tiêu chí chính là mức giảm huyết áp tâm trương
(-12.3 mmHg so với -9.9 mmHg, p=0.009) và
đạt tỉ lệ đáp ứng tốt cao hơn (70%so với 55%,
p=0.002) [21]
Một nghiên cứu đánh giá hiệu quả hạ
huyết áp bằng phương pháp đo liên tục 24
giờ (Holter) trên 29 bệnh nhân (huyết áp tâm
trương đo ở tư thế ngồi từ 95-114 mmHg)
được điều trị bằng nebivolol liều từ 2.5 mg
đến 10 mg/ ngày hoặc lisinopril liều 10 đến
40 mg/ngày Kết quả cho thấy, khả năng hạ
huyết áp của hai thuốc sau 8 tuần điều trị là
tương đương trên các thông số đo huyết áp lưu
động Một nghiên cứu khác cũng so sánh giữa
nebivolol và lisinopril trên các bệnh nhân tăng
huyết áp cho thấy hiệu quả hạ huyết áp của
hai thuốc là tương đương nhưng tác dụng bất
lợi gặp ít hơn ở nhóm nebivolol (14% so với
23%, p<0.05) [22]
So sánh giữa nebivolol với thuốc ức chế
thụ thể angiotensin là losartan được tiến hành
trong một nghiên cứu ngẫu nhiên, mù đôi, đa
trung tâm trên 289 bệnh nhân tăng huyết áp
từ nhẹ đến vừa điều trị bằng nebivolol 5 mg/
ngày hoặc losartan 50 mg/ngày, lợi tiểu thiazid
được kết hợp trên những bệnh nhân chưa đạt
được huyết áp mục tiêu với đơn trị liệu Kết
quả cho thấy, huyết áp tâm trương, tiêu chí
chính, giảm được nhiều hơn ở nhóm nebivolol
(-13 mmHg so với -10 mmHg, p<0.05) Cả
hai thuốc đều được dung nạp tốt và cải thiện
được chất lượng cuộc sống trên các bệnh nhân
so với trước điều trị [23]
Nebivolol liều 5mg/ ngày đã được so sánh
với thuốc chẹn kênh calci là nifedipine 20 mg,
hai lần mỗi ngày trong một nghiên cứu 12 tuần,
đa trung tâm, ngẫu nhiên, mù đôi trên 420
bệnh nhân tăng huyết áp (huyết áp tâm trương
≥ 95 mmHg) Sau 2 tuần đầu tiên, nebivolol
được chứng minh giảm được huyết áp tốt hơn
so với nifedipine nhưng sau đó, khả năng hạ huyết áp của hai thuốc lại trở về tương đương
Tỉ lệ bỏ thuốc do tác dụng ngoại ý cao hơn có
ý nghĩa ở nhóm dùng nifedipine (32/209 bệnh nhân dùng nifedipine so với 7/210 bệnh nhân dùng nebivolol, p<0.001) [24]
Một nghiên cứu đa trung tâm, ngẫu nhiên,
mù đôi trên 168 bệnh nhân tăng huyết áp trên
65 tuổi đã so sánh hiệu quả và tính dung nạp của nebivolol liều 2.5 đến 5 mg mỗi ngày với amlodipine liều 5 đến 10 mg mỗi ngày Sau 12 tuần điều trị, khả năng hạ huyết áp ở 2 nhóm dùng thuốc là tương đương nhau Tuy nhiên,
tỉ lệ tác dụng ngoại ý bao gồm đau đầu và phù mạch cao hơn ở nhóm dùng amlodipine (30%
so với 13%, p=0.036) [25]
Gần đây, vào năm 2008, một phân tích gộp (meta-analysis) được thực hiện trên 12 nghiên cứu ngẫu nhiên có đối chứng nhằm
so sánh hiệu quả hạ huyết áp của nebivolol 5
mg mỗi ngày với các thuốc hạ huyết áp khác (9 nghiên cứu), với giả dược (2 nghiên cứu) hoặc với cả hai (1 nghiên cứu) Kết quả cho thấy, nebivolol đem lại hiệu quả hạ huyết áp tương đương hoặc thậm chí tốt hơn các thuốc hoặc kết hợp thuốc khác Thuốc được dung nạp tương đương với giả dược và tốt hơn so với losartan, một số thuốc chẹn calci và chẹn
Trang 25thuốc chẹn ß là 63 [6, 7, 8] trong khi đó tuổi
trung bình của các bệnh nhân được chẩn đoán
suy tim mới mắc trên cộng đồng là 75 Thêm
vào đó, các nghiên cứu trước đây đã loại trừ
những bệnh nhân suy tim có chức năng tống
máu thất trái (EF) còn bảo tồn trong khi các
bệnh nhân này chiếm 60-70% các đối tượng
suy tim trên thực tế Việc các nghiên cứu về
suy tim chỉ được thực hiện trên bệnh nhân
có giảm rõ ràng EF có thể dẫn đến sự đánh
giá quá mức hiệu quả của thuốc chẹn ß giao
cảm… Vì những lý do đó, nghiên cứu “the
Study of Effects of Nebivolol Intervention on
Outcomes and Rehospitalization in Seniors
with Heart Failure (SENIORS)” [26] đã
được tiến hành nhằm đánh giá hiệu quả của
nebivolol trên các bệnh nhân suy tim cao tuổi
hơn và không chỉ dựa đơn thuần vào phân suất
tống máu thất trái (EF)
SENIORS là nghiên cứu đa trung tâm, mù
đôi, ngẫu nhiên, có đối chứng với giả dược,
được tiến hành tại châu Âu 2128 bệnh nhân ≥
70 tuổi hoặc có tiền sử suy tim với EF ≤ 35%
hoặc có tiền sử nhập viện và được chẩn đoán
suy tim trong vòng 12 tháng với chỉ số EF bất
kỳ đã được tuyển vào nghiên cứu Các bệnh
nhân (n=1067) được phân ngẫu nhiên điều trị
bằng nebivolol liều 2.5 mg một lần mỗi ngày
sau đó từ từ tăng liều đến 10 mg một lần mỗi
ngày trong vòng 16 tuần đầu tiên hoặc giả
dược (n=1061) Các bệnh nhân được theo dõi
trong thời gian trung bình 21 tháng Các tiêu
chí chính của nghiên cứu bao gồm tử vong
do mọi nguyên nhân và nhập viện do nguyên
nhân tim mạch
Tuổi trung bình của các bệnh nhân nghiên
cứu là 76.1 61.6% và 64.7% là nam giới lần
lượt trong các nhóm điều trị bằng nebivolol
và giả dược Phân suất tống máu thất trái EF
trung bình là 36% và khoảng 64% số bệnh
nhân ở cả 2 nhóm có EF ≤ 35%; >80% các
thuốc ức chế men chuyển và >25% đang được điều trị bằng thuốc lợi tiểu kháng aldosterone Các biến cố chính xuất hiện ở 31.1% các bệnh nhân điều trị bằng nebivolol so với 35.3% ở nhóm điều trị bằng giả dược, mức giảm nguy
cơ tương đối là 14% (p=0.039) Không có ảnh hưởng ý nghĩa của các yếu tố như tuổi, giới, phân suất tống máu EF trước nghiên cứu với hiệu quả của nebivolol trên các tiêu chí chính Tử vong (do mọi nguyên nhân) ở nhóm nebivolol là 15.8% và ở nhóm giả dược là 18.1% (p=0.21)
Hình 2: Nebivolol giảm được ý nghĩa các biến cố chính trong nghiên cứu SENIORS [26]
Phân tích dưới nhóm bao gồm các bệnh nhân tương tự như trong các nghiên cứu trước đây về thuốc chẹn ß trong suy tim: tuổi <75 với EF ≤35% cho thấy, nebivolol giúp giảm được 27% nguy cơ xuất hiện tiêu chí chính
và giảm được 38% tử vong do mọi nguyên nhân, kết quả này tương đương với bisoprolol (CIBIS II), carvedilol (COPERNICUS) và metoprolol CR/XL (MERIT HF) Nebivolol trên các bệnh nhân suy tim được dung nạp tốt với tỉ lệ biến cố ngoại ý tương tự như giả dược
Như vậy, nebivolol, thuốc chẹn ß giao cảm mới với thuộc tính giãn mạch có hiệu quả và dung nạp tốt trong điều trị suy tim ở các bệnh nhân cao tuổi
Trang 26KẾT LUẬN
Chẹn ß giao cảm là một nhóm thuốc quan
trọng trong điều trị các bệnh lý tim mạch bao
gồm tăng huyết áp và suy tim Tuy nhiên, hiệu
quả và tính an toàn trên lâm sàng của các thuốc
chẹn ß là rất khác nhau, điều này phụ thuộc
vào đặc tính dược lý học của từng thuốc
Nebivolol là một thuốc chẹn ß giao cảm thế
hệ thứ ba có tác dụng ức chế chọn lọc trên thụ
thể ß1 cao nhất so với các thuốc chẹn ß giao
cảm hiện có khác Ngoài ra, nebivolol còn
có tác dụng giãn mạch thông qua con đường
L-arginine/NO Những thuộc tính độc đáo
này làm cho nebivolol có những điểm ưu việt trên hiệu quả huyết động cũng như các tiêu chí lâm sàng Nebivolol đã được chứng minh khả năng hạ huyết áp tương đương so với các thuốc chẹn ß giao cảm và các nhóm thuốc hạ huyết áp khác Qua nghiên cứu SENIORS, nebivolol được chứng minh giảm được bệnh suất và tử suất trên các bệnh nhân cao tuổi bị suy tim mạn tính
Nebivolol được dung nạp tốt trên các bệnh nhân, không gây ảnh hưởng bất lợi trên chuyển hóa glucose và lipid Rất ít gây ra các tác dụng phụ thường thấy ở nhóm chẹn ß như:
co thắt phế quản, nhịp tim quá chậm, mệt mỏi kéo dài và rối loạn chức năng tình dục
Hình 3: So sánh nghiên cứu SENIORS với các nghiên cứu quan trọng khác về thuốc chẹn
ß trong suy tim [6, 7, 8, 26]
Trang 27TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Ignarro LJ Cardiovasc Ther 2008; 26: 115-134.
2 Ignarro LJ Proc Natl Acad Sci USA 2002; 99: 7816-7817.
3 Psaty BM, Smith NL, Siscovick DS, Koepsell TD, Weiss NS, Heckbert SR, Lemaitre RN, Wagner EH, Furberg CD: Health out-comes associated with antihypertensive therapies used as first-line agents: a systematic review and meta-
analysis JAMA1997;277:739 –745.
4 Gottlieb SS, McCarter RJ: Comparative effects of three ß block-ers (atenolol, metoprolol, and propranolol) on survival
after acute myocardial infarction Am J Cardiol 2001;87:823– 826.
5 Foody JM, Farrell MH, Krumholz HM: Beta Blocker therapy in heartfailure: scientific review JAMA 2002;287:883–
889.
6 CIBIS II Investigators and Committees: The Cardiac Insufficiency Bisoprolol Study (CIBIS II): a randomised trial
Lancet 1999;353:9 –13.
7 MERIT-HF Study Group: Effect of metoprolol CR/XL in chronic heart failure: Metoprolol CR/XL Randomised
Intervention Trial in Congestive Heart Failure (MERIT-HF) Lancet 1999;353:2001–2007.
8 Packer M, Coats AJ, Fowler MB, Katus HA, Krum H, Mohacsi P, Rouleau JL, Tendera M, Castaigne A, Roecker
EB, Schultz MK,DeMets DL, and the Carvedilol Prospective Randomized Cumula-tive Survival Study Group: Effect of
carvedilol on survival in severe chronic heart failure N Engl J Med 2001;344:1651–1658.
9 UK Prospective Diabetes Study Group: Efficacy of atenolol and captopril in reducing risk of macrovascular and
microvascular com-plications in type 2 diabetes: UKPDS 39 BMJ 1998;317:713–720.
10 Bakris GL, Fonseca V, Katholi RE, McGill JB, Messerli FH, Phillips RA, Wright JT, Oakes R, Lukas MM, Anderson
KM, Bell DSH, and the GEMINI Investigators: Metabolic effects of carvedilol vs meto-prolol in patients with type 2
diabetes mellitus and hypertension A randomized controlled trial JAMA 2004;292:2227–2236 175SAJH–December
2005– VOL 18, NO 12, Part 2 -BLOCKERS IN CV DISEASE
11 Mangrella M, Rossi F, Fici F, Rossi F: Pharmacology of nebivolol Pharmacol Res 1998;38:419 – 431.
12 Kuroedov A, Cosentino F, Lüscher TF: Pharmacological mechanisms of clinically favorable properties of a selective
1-adrenoreceptor an-tagonist, nebivolol Cardiovasc Drug Rev 2004;22:155–168.
13 Van Peer A, Snoeck E, Woestenborghs R, Van de Velde V, Mannens G, Meuldermans W, Heykants J: Clinical
pharmacokinetics of nebivolol: a review Drug Invest 1991;3(Suppl 1):25–30.
14 Van de Water A, Janssens W, Van Neuten J, Xhonneux R, De Cree J, Verhaegen H, Reneman RS, Janssen PAJ: Pharmacological and hemodynamic profile of nebivolol, a chemically novel, potent, and selective 1 -adrenergic antagonist
J Cardiovasc Pharmacol 1988; 11:552–563.
15 Kamp O, Sieswarda GT, Visser CA: Comparison of effects on systolic and diastolic left ventricular function of
nebivolol versus atenolol in patients with uncomplicated essential hypertension Am J Cardiol 2003;92:344 –348.
16 Van Nueten L, Dupont AG, Vertommen C, Goyvaerts H, Robertson JI: A dose-response trial of nebivolol in essential
hypertension J Hum Hypertens 1997;11:139 –144.
17 Fallois JV, Faulhaber H-D: Nebivolol, a ß-blocker of the third generation: the current treatment of arterial
hypertension: results of a multicenter observational study Praxis 2001;90:435– 441.
18 Van Nueten L, Taylor FR, Robertson JIS: Nebivolol vs atenolol and placebo in essential hypertension: a
double-blind randomised trial J Hum Hypertens 1998;12:135–140.
19 Grassi G, Trevano FQ, Facchini A, Toutouzas T, Chanu B, Mancia G: Efficacy and tolerability profile of nebivolol
vs atenolol in mild-to-moderate essential hypertension: results of a double-blind randomized multicentre trial Blood Press
Suppl 2003;2:35– 40.
Trang 2820 Uhlír˘ O, Fejfus˘ a M, Havránek K, Lefflerová K, Vojác˘ ek J, Widim-sky´ J, Winterová J, Zeman K: Nebivolol
versus metoprolol in the treatment of hypertension Drug Invest 1991;3(Suppl 1):107–110.
21 Van Nueten L, Schelling A, Vertommen C, Dupont AG, Robertson J I : Nebivolol vs enalapril in the treatment of
essential hypertension: a double-blind, randomised trial J Hum Hypertens 1997;11:813– 819.
22 Lacourciére Y, Lefebvre J, Poirier L, Archamault F, Arnott W: A double-blind crossover comparison of nebivolol
and lisinopril in the treatment of ambulatory hypertension Am J Ther 1994;1:74 – 80.
23 Rosei EA, Rizzoni D, Comini S, Boari G, and the Nebivolol-Lisinopril Study Group: Evaluation of the efficacy and tolerability of nebivolol versus lisinopril in the treatment of essential arterial hypertension: a randomized, multicentre,
double-blind study Blood Press 2003;12(Suppl 1):30 –35.
24 Van Nueten L, Lacourciére Y, Vyssoulis G, Korlipara K, Marcadet DM, Dupont AG, Robertson JIS: Nebivolol
versus nifedipine in the treatment of essential hypertension: a double-blind, randomized, comparative trial Am J Ther
1998;5:237–243.
25 Mazza A, Gil-Extremera B, Maldonato A, Toutouzas T, Pessina AC: Nebivolol vs amlodipine as first-line treatment
of essential arterial hypertension in the elderly Blood Press 2002;11:182–188.
26 Flather MD, Shibata MC, Coats AJS, Van Veldhuisen DJ, Park-homenko A, Borbola J, Cohen-Solal A, Dumitrascu
D, Ferrari R, Lechat P, Soler-Soler J, Tavazzi L, Spinarova L, Toman J, Böhm M, Anker S, Thompson SG, Poole-Wilson
PA, and the SENIORS Investigators: Randomized trial to determine the effect of nebivolol on mortality and cardiovascular
hospital admission in elderly pa-tients with heart failure (SENIORS) Eur Heart J 2005;26:215–225.
27 George L Bakris, Jan N Basile, Thomas D Giles, Addison A Taylor: The role of Nitric Oxide in Improving
Endothelial Function and Cardivascular Health: Focus on Nebivolol The Am J Med 2010; 123:S2-S8.
28 Luc M Van Bortel, Francesco Fici, Flavio Mascagni: Efficacy and Tolerability of Nebivolol Compared with Other
Antihypertensive Drugs Am J Cardiovasc Drugs 2008; 8 (1): 35-44
29 Priit Kampus, Martin Serg, Jaak Kals, Maksim Zagura, Piibe Muda, Kulliki Karu, Mihkel Zilmer, Jaan Eha: Differential Effects of Nebivolol and Metoprolol on Central Aortic Pressure and Left Ventricular Wall Thickness
Hypertension 2011; 57:1122-1128.
Trang 29TIM MẠCH HỌC 2013: MỘT NĂM NHÌN LẠI
Nguyễn Ngọc Quang
và Ban biên tập Tạp chí Tim mạch học Việt Nam
Bộ môn Tim mạch ĐHY Hà Nội - Viện Tim mạch Việt Nam
Năm nào cũng vậy, tim mạch học luôn là
lĩnh vực sôi động với vô vàn những nghiên
cứu, thử nghiệm, giả thiết, ứng dụng được
công bố Đối với người thầy thuốc lâm sàng,
điều quan trọng nhất là trong vô số các thông
tin được đăng tải, những kết quả nào soi rọi
được góc khuất của kiến thức, và trên hết thảy,
kết quả nào thực sự thay đổi cách tiếp cận,
chẩn đoán, tiên lượng và xử trí hiện tại đối với
một bệnh nhân tim mạch Bài viết nhằm điểm
lại một số câu chuyện nóng hổi nhất trên các
báo chí tim mạch năm vừa qua.
Can thiệp trong NMCT cấp: có nên can
thiệp tất cả các chỗ hẹp?
Kết luận đột phá của nghiên cứu
PRAMI-Preventive Angioplasty in Acute Myocardial
Infarctiondo Wald DS và cộng sự công bố
trong năm 2013 (N Engl J Med
2013;369:1115-23) cho thấy khi can thiệp động mạch vành
(ĐMV) cấp cứu (can thiệp thì đầu) ở bệnh
nhân nhồi máu cơ tim (NMCT) cấp, chiến
lược chỉ tái thông động mạch thủ phạm lại làm
tăng đáng kể tỷ lệ tử vong do nguyên nhân tim mạch, NMCT hoặc đau ngực không đáp ứng với thuốc PRAMI là nghiên cứu đa trung tâm, mù đơn, tiến hành tại Anh, trên 465 bệnh nhân NMCT cấp ST chênh lên có tổn thương nhiều mạch, chia ngẫu nhiên thành 2 nhóm: 1 nhóm chỉ can thiệp cho ĐMV thủ phạm và 1 nhóm can thiệp cả các tổn thương-không-thủ phạm (chiến lược can thiệp dự phòng) Sau đó người bệnh chỉ được can thiệp thêm nếu như
có bằng chứng rõ ràng về thiếu máu cơ tim Nghiên cứu này loại trừ các bệnh nhân có sốc tim, tiền sử có phẫu thuật bắc cầu chủ-vành,
có tổn thương thân chung hoặc tắc ĐMV mạn tính Sau 23 tháng theo dõi, tỷ lệ biến cố ở nhánh can thiệp dự phòng bao gồm tử vong do tim mạch, NMCT, đau ngực trơ thấp hơn hẳn
ở nhóm can thiệp thông thường (HR=0.35, 95%CI:0.21-0.58, p<0.001) khiến nghiên cứu phải dừng sớm Từng tiêu chí cũng như mức
độ phải tái thông ĐMV cũng thấp hơn rõ rệt ở nhóm được can thiệp dự phòng Tỷ lệ biến cố liên quan đến bản thân thủ thuật can thiệp (tai biến mạch não, chảy máu, suy thận do thuốc cản quang) là tương đương giữa 2 nhóm Kết
Trang 30so với các khuyến cáo hiện tại, vốn không ủng
hộ cho chiến lược can thiệp đồng thời nhiều
mạch khi NMCT cấp, nhất là khi những chỗ
hẹp khác (không phải thủ phạm) không ảnh
hưởng đáng kể đến tình trạng huyết động hiện
tại do lo ngại rằng việc can thiệp những tổn
thương không thủ phạm có thể gây nguy hại
cho những vùng cơ tim còn lành trong khi các
vùng mới nhồi máu vẫn đang xung yếu Hơn
nữa, kết quả từ rất nhiều nghiên cứu cho thấy
can thiệp không hơn gì điều trị thuốc tối ưu
trong việc ngăn ngừa nhồi máu cơ tim hay
tử vong ở những bệnh nhân đau thắt ngực ổn
định, do vậy các bác sỹ can thiệp thường chỉ
can thiệp một mình ĐMV thủ phạm, để lại
các chỗ hẹp khác và chỉ tiến hành can thiệp
trì hoãn khi bệnh nhân xuất hiện triệu chứng
mới Tuy nhiên bệnh nhân NMCT cấp tiềm
ẩn nguy cơ đáng kể xuất hiện sớm các biến
cố mạch vành do tình trạng viêm, rối loạn
đông máu, rối loạn chức năng nội mạc và vì
thế chiến lược can thiệp nhiều mạch của thử
nghiệm PRAMI có lẽ đã hàn gắn những tổn
thương bất ổn khác trên hệ thống ĐMV Tuy
nhiên thử nghiệm PRAMI chưa làm rõ một số
chi tiết quan trọng như: (1) có nên can thiệp tất
cả các tổn thương ngay trong lúc can thiệp cấp
cứu hay nên chỉ nên can thiệp ĐMV thủ phạm
lúc cấp cứu song sau đó vẫn can thiệp sớm các
chỗ hẹp còn lại trước khi bệnh nhân ra viện,
(2) đâu là vai trò của các thăm dò mức độ
thiếu máu cơ tim truyền thống (siêu âm trong
lòng mạch, đo dự trữ vành ) để lựa chọn tổn
thương-không-thủ phạm cho can thiệp trong
lúc can thiệp cấp cứu Câu hỏi mới cũng phát
sinh là chiến lược can thiệp dự phòng như vậy
có áp dụng được cho các bệnh nhân NMCT
cấp không có ST chênh lên hay không?
Liệu điều này sẽ làm thay đổi chiến lược
can thiệp trong NMCT cấp của chúng ta hay
không Trong bối cảnh NMCT cấp, khi nguy
cơ đông máu/chảy máu chưa xác định, dung
nạp với điều trị lâu dài chưa rõ ràng, nguy
cơ biến cố liên quan đến can thiệp một mạch khác có thể cao (tuỳ vào giải phẫu ĐMV, kinh nghiệm của thầy thuốc, mức độ sẵn sàng về nguồn lực của trung tâm) thì có lẽ can thiệp chỗ hẹp-không-thủ phạm sẽ làm tăng nguy cơ biến cố sớm của người bệnh Ngược lại, nếu mọi thông tin khá rõ ràng (ví dụ bệnh nhân đã
có tiền sử đặt stent hoặc đã điều trị lâu dài), nguy cơ can thiệp ĐM-không-thủ phạm thấp (kỹ thuật thuận tiện, thời gian nhanh chóng, nguồn lực cho phép thì can thiệp các chỗ hẹp khác là giải pháp chấp nhận được
Cấp cứu ngừng tim trong viện: nên phối hợp steroid và vận mạch
Không có nhiều biện pháp thực sự thay đổi tiên lượng cấp cứu ngừng tuần hoàn ngoài việc
ép tim tích cực-hiệu quả và phá rung thất sớm Thử nghiệm lâm sàng mù đôi ngẫu nhiên đa trung tâm do Mentzelopoulos SD và cộng sự (JAMA 2013;310(3):270-9) Tiến hành trên
268 bệnh nhân ngừng tim trong bệnh viện, so sánh nhóm VSE: dùng phối hợp vasopressin (20 đơn vị), epinephrine (1mg) mỗi chu kỳ cấp cứu ngừng tuần hoàn (kéo dài 3 phút) cho 1-5 chu kỳ, kèm theo methylprednisolone (40mg)
ở chu kỳ cấp cứu đầu tiên, so với nhóm chứng: dùng giả dược (nước muối sinh lý) kết hợp với epinephrine (1mg) mỗi chu kỳ cấp cứu tiêu chuẩn (kéo dài 3 phút) Tình trạng sốc sau cấp cứu ngừng tuần hoàn ở nhóm VSE được điều trị bằng hydrocortisone liều cao (300mg/ngày, tối đa 7 ngày sau đó giảm dần liều) so với giả dược (nước muối sinh lý) ở nhóm chứng Nhóm dùng VSE có tỷ lệ sống ra viện cao hơn
rõ rệt so với nhóm chứng (14% so với 5%, p=0.02, NNT=11) Trong số 149 bệnh nhân xuất hiện sốc sau khi hồi phục tuần hoàn, tỷ lệ sống ra viện ở nhóm dùng VSE cao hơn hẳn
so với nhóm chứng (21% so với 8%, p=0.02, NNT=8) Thử nghiệm này đánh dấu một bước
Trang 31tiến quan trọng với việc phối hợp steroid và
vận mạch làm thay đổi đáng kể tiên lượng
sống còn khi cấp cứu ngừng tuần hoàn trong
bệnh viện
Câu hỏi chỉ còn đơn giản là, đến khi nào
chúng ta áp dụng chiến lược này vào cấp cứu
ngừng tuần hoàn thường quy trong bệnh viện
Nên chống ngưng tập tiểu cầu kép, hạ
huyết áp và tiêu huyết khối trong điều trị
sớm TBMMN
Trong một thử nghiệm lâm sàng ngẫu
nhiên trên 5170 bệnh nhân tai biến mạch
máu não (TBMMN) thoáng qua hoặc đột quỵ
thiếu máu não mức độ, Wang Y và cộng sự
(N Engl J Med 2013;369:11-9) Đánh giá hiệu
quả chống ngưng tập tiểu cầu kép dùng sớm
trong vòng 24 giờ đầu bằng cách so sánh 1
nhóm dùng aspirin đơn thuần so với một
nhóm dùng aspirin kết hợp clopidogrel trong
vòng 21 ngày, sau đó gối bằng clopidogrel
đơn thuần Tỷ lệ xuất hiện TBMMN mới sau
90 ngày theo dõi ở nhóm dùng chống ngưng
tập tiểu cầu kép thấp hơn hẳn so với nhóm
dùng aspirin đơn thuần (8.2% so với 11.7%,
HR=0.68; 95CI:0.57-0.81;p<0.001) trong khi
chống ngưng tập tiểu cầu kép không làm tăng
đáng kể nguy cơ chảy máu nặng (0.3% ở mỗi
nhóm, p=0.73) hoặc xuất huyết não (0.3%
mỗi nhóm)
Có rất nhiều tranh cãi xung quanh việc
nên hay không nên điều trị sớm (trong 24-48
giờ đầu tiên) tình trạng tăng huyết áp ở bệnh
nhân đột quỵ não cấp Đối với bệnh nhân đột
quỵ thiếu máu não không dùng tiêu huyết
khối, các khuyến cáo hiện tại khuyên chỉ
nên hạ huyết áp sớm khi số đo huyết áp vượt
quá 220/120mmHg do e ngại việc hạ huyết
áp sớm sẽ giảm tưới máu ở các vùng ven
khu vực nhũn não và làm xấu đi tiên lượng
bệnh (Stroke 2013; 44:870) Thử nghiệm lâm sàng CATIS-China Antihypertensive Trial in Acute Ischemic Stroke, do He J và cộng sự (JAMA 2014;311(5):479-89, đăng sớm từ năm 2013) tiến hành trên 4071 bệnh nhân đột quỵ thiếu máu não cấp có kèm tăng huyết
áp <220/120mmHg, so sánh ngẫu nhiên một nhóm được hạ huyết áp sớm trong 48 giờ đầu (hạ 10-25% số đo huyết áp trong 24 giờ, huyết
áp mục tiêu 140/90mmHg duy trì đến lúc ra viện) với một nhóm không dùng bất kỳ thuốc
hạ áp nào khi nằm viện Kết quả cho thấy hạ huyết áp sớm ở bệnh nhân đột quỵ thiếu máu não không có lợi cũng không có hại: tỷ lệ tử vong hoặc di chứng nặng gần giống hệt nhau giữa hai nhóm lúc ra viện hoặc sau 3 tháng theo dõi)
Đối với bệnh nhân đột quỵ xuất huyết, các khuyến cáo hiện tại khuyên nên hạ sớm huyết
áp < 160/90 mmHg do e ngại tăng huyết áp quá mức sẽ làm tăng kích thước ổ tụ máu (Stroke 2010; 41:2108) Thử nghiệm lâm sàng INTERACT2-Intensive Blood Pressure Reduction in Acute Cerebral Hemorrhage Trial, do Anderson CS và cộng sự (N Engl J Med 2013; 368:2355-65)tiến hành trên 2839 bệnh nhân xuất huyết não có huyết áp tâm thu
từ 150-220mmHg được hạ huyết áp sớm, so sánh ngẫu nhiên giữa một nhóm hạ áp tích cực (HA tâm thu mục tiêu <140mmHg trong vòng 1 giờ) hoặc nhóm hạ áp thông thường (HA tâm thu mục tiêu < 180mmHg) Kết quả rất sát nút, tỷ lệ gộp giữa chết hoặc di chứng nặng sau 90 ngày ở nhóm hạ huyết áp tích cực (52.0%) không thấp hơn rõ rệt so với nhóm
hạ huyết áp thông thường (55.6%, p=0.06) mặc dù mức độ di chứng ở nhóm hạ áp tích cực là thấp hơn (OR=0.87, 95%CI 0.77-1.00; p=0.04) Như vậy hạ huyết áp sớm ở bệnh nhân đột quỵ chảy máu não không rõ có lợi hay hại song tỷ lệ di chứng ở nhóm hạ huyết
áp tích cực có vẻ thấp hơn
Trang 32Vai trò của can thiệp mạch não khi
TBMMN cấp ra sao? Thử nghiệm IMS
III-Interventional Management of Stroke III so
sánh dùng thuốc tiêu huyết khối (tPA) với tPA
kèm can thiệp nội mạch trong vòng 3 giờ đầu
kể từ khi khởi phát: mặc dù tỷ lệ tái thông
mạch não ở nhóm can thiệp cao hơn, kết cục
lâm sàng tương đương giữa hai nhóm nhau (N
Engl J Med 2013;368:893-903) Thử nghiệm
SYNTHESIS Expansion-Local versus
Systemic Thrombolysis for Acute Ischemic
Stroke không cho thấy ưu thế rõ rệt của can
thiệp so với thuốc tPA tuy nhiên thời gian
để can thiệp chậm hơn thời gian dùng thuốc
chừng 1 giờ (N Engl J Med
2013;368:904-13) Có vẻ, lợi ích tái thông mạch triệt để hơn
nếu can thiệp sẽ mất đi nếu tiến hành muộn
Phân tích nhóm của thử nghiệm IMS III cho
thấy nếu dùng thuốc tPA trong vòng 2 giờ kể
từ khi khởi phát và can thiệp nội mạch trong
vòng 1.5 giờ kể từ khi dùng tPA thì can thiệp
mạch sẽ làm tăng hiệu quả trong khi nếu
không đạt đủ cả 2 tiêu chí này thì can thiệp
nội mạch có thể gây hại Dữ kiện từ hai thử
nghiệm IMS III và SYNTHESIS Expansion
cho thấy thuốc tiêu huyết khối vẫn là điều trị
hàng đầu đối với bệnh nhân tắc mạch não cấp
tính trong vòng 4.5 giờ đầu tiên kể từ khi khởi
phát Thử nghiệm MR RESCUE-Mechanical
Retrieval and Recanalization of Stroke Clots
Using Embolectomy đối với bệnh nhân đến
muộn sau 4.5 giờ cũng không cho thấy ưu thế
của can thiệp ở bệnh nhân tắc mạch não cấp
(N Engl J Med 2013;368:914-23) Qua đó với
>1100 bệnh nhân từ 3 thử nghiệm lâm sàng
ngẫu nhiên trong năm 2013 này, can thiệp
mạch não không thể hiện ưu thế hơn hẳn so
với điều trị tiêu huyết khối ở những bệnh nhân
tắc mạch não cấp (nhất là khi tắc mạch ở vùng
trước)
Như vậy, trong 24 giờ đầu kể từ khi bị đột
quỵ não cấp nên: (1) điều trị chống ngưng tập
tiểu cầu kép cho các bệnh nhân đột quỵ thiếu
máu não mức độ nhẹ hoặc TBMMN thoáng qua; (2) nếu người bệnh có kèm tăng huyết
áp, hạ huyết áp không có lợi cũng không có hại đối với đột quỵ thiếu máu não và có thể
có lợi đối với đột quỵ xuất huyết não; (3) can thiệp theo đường ống thông với tắc mạch não vùng trước vẫn chưa cho thấy hiệu quả rõ rệt
và điều trị tiêu huyết khối trong những giờ đầu của tắc mạch não vẫn là lựa chọn hàng đầu
Điều trị rung nhĩ: kiểm soát nhịp có ưu thế ở người cao tuổi!
Rung nhĩ đã và đang là câu chuyện thời
sự của tim mạch học, với những tranh cãi dường như bất tận trong việc lựa chọn chiến lược chỉnh nhịp nào (kiểm soát nhịp: cố gắng chuyển và duy trị nhịp xoang hay kiểm soát tần số: chấp nhận rung nhĩ và kiểm soát tần
số thất) hoặc chiến lược chống đông nào (sử dụng thuôc chống ngưng tập tiểu cầu, kháng vitamin K truyền thống hay các thuốc chống đông mới) Trong thử nghiệm AFFIRM (N Engl J Med 2002; 347:1825-33), chiến lược kiểm soát nhịp chỉ chiếm ưu thế ở nhóm rung nhĩ có triệu chứng rõ, chứ không chứng minh được sự vượt trội ở nhóm rung nhĩ không hoặc rất ít triệu chứng Dùng thiết kế nghiên cứu mô tả trong quần thể người rung nhĩ trên
65 tuổi, Tsadok MA và cộng sự (Circulation 2012;126:2680) đã so sánh tỷ lệ xuất hiện mới của đột quỵ hoặc TBMMN thoáng qua giữa hai nhóm gồm 16325 người kiểm soát nhịp và
41193 người kiểm soát tần số Tỷ lệ dùng các thuốc chống đông tương đương giữa 2 nhóm (76.8% và 77.8%) Với thời gian theo dõi trung bình là 3 năm, tỷ lệ đột quỵ/TBMMN thoáng qua ở nhóm kiểm soát nhịp thấp hơn đáng kể so với nhóm kiểm soát tần số (1.7
so với 2.5 biến cố/100 người-năm) cho dù đã hiệu chỉnh với các thông số nặng bệnh khác Nghiên cứu cộng đồng lớn này đã phần nào cho thấy ưu thế của chiến lược kiểm soát nhịp,
dù đây chưa phải là thử nghiệm ngẫu nhiên
Trang 33mù đôi và vẫn còn không ít các câu hỏi để ngỏ
đối với rung nhĩ ở người trẻ
Vậy đến năm 2014, chiến lược chỉnh nhịp
với rung nhĩ vẫn tuỳ thuộc vào đặc điểm của
từng người bệnh như độ tuổi, mức độ nặng
của triệu chứng, cũng như khả năng thực hiện
và tỷ lệ thành công tại chỗ của các thủ thuật
điều trị tích cực như triệt đốt rung nhĩ qua
đường ống thông
Dabigatran tốt cho rung nhĩ nhưng kém
wafarin cho van nhân tạo
Dabigatran là một thuốc chống đông loại
mới có hiệu quả trong các trường hợp rung
nhĩ không do van tim khiến không ít người
hồ hởi hy vọng loại thuốc mới này sẽ thay
thế hoàn toàn loại chống đông kháng vitamin
K cổ điển Thử nghiệm RE-LY từ năm 2009
(N Engl J Med 2009; 361:1139-51), theo
dõi trung bình 2 năm trên 18,113 bệnh nhân
rung nhĩ, cho thấy dabigatran liều 150mg hay
110mg không hề kém wafarin khi dự phòng
tắc mạch não/đại tuần hoàn (tỷ lệ tắc mạch
lần lượt là 1.11% và 1.53% ở nhóm dùng
dabigatran so với 1.69% người/năm ở nhóm
wafarin) trong khi tỷ lệ xuất huyết não ở
nhóm dùng dabigatran (0.1% và 0.12%) thấp
hơn nhóm dùng wafarin (0.38%) Nói khác
đi dabigatran có thể coi là giải pháp thay thế
hiệu quả và an toàn hơn wafarin ở bệnh nhân
rung nhĩ không do van tim Quá trình theo
dõi tiếp tục 5,851 bệnh nhân từ thử nghiệm
RE-LY trung bình trong 2.3 năm (nghiên cứu
RELY-ABLE, Circulation 2013; 128: 237-43)
cho thấy tỷ lệ biến cố tắc mạch ở nhóm dùng
dabigatran trong các năm kế tiếp là 1.6% (liều
110mg) hay 1.46% (liều 150mg) Cho dù liều
150mg dabigatran có tỷ lệ chảy máu nặng cao
hơn liều 110mg (3.74% so với 2.99%/năm),
tỷ lệ xuất huyết não (0.13% so với 0.14%) và
tỷ lệ tử vong chung (3.02% so với 310%) giữa
hai nhóm là tương đương Mặc dù đây chỉ là một nghiên cứu quan sát tiếp tục của một thử nghiệm lớn, dữ kiện này cũng cho thấy tính an toàn và hiệu quả tương đối của dabigatran khi dùng kéo dài
Tuy nhiên thử nghiệm RE-ALIGN trong năm nay (N Engl J Med 2013; 369:1206-14) khi so sánh dabigatran với wafarin cho đối tượng có van nhân tạo (vốn rất rắc rối
để chỉnh liều chống đông bằng thuốc kháng vitamin K) lại thất bại Trong thử nghiệm RE-ALIGN, liều dabigatran được chỉnh để đạt nồng độ thuốc trong huyết tương ≥50 ng/mL (giống như liều có tác dụng trong thử nghiệm RE-LY) trong khi wafarin được chỉnh liều để đạt chỉ số INR từ 2.0-3.5 tuỳ theo loại van và nguy cơ đông máu Thử nghiệm RE-ALIGN
đã phải ngừng sớm do tăng quá mức các biến
cố chảy máu lẫn đông máu ở nhóm dùng dabigatran: có 3 bệnh nhân tử vong: 1 trong nhóm dabigatran và 2 trong nhóm wafarin Tai biến mạch não, NMCT và huyết khối van không có triệu chứng chỉ xảy ra ở nhóm dùng dabigatran Tỷ lệ biến cố gộp gồm NMCT, tắc mạch hệ thống hoặc tắc mạch não và tử vong là 9% ở nhóm dùng dabigatran so với 5% trong nhóm dùng wafarin Chảy máu nặng chiếm 4% trong nhóm dabigatran so với 2% trong nhóm wafarin Nghiên cứu này cho thấy
rõ ràng là dabigatran chống đông kém hơn hẳn wafarin đối với bệnh nhân có van nhân tạo dù rằng còn vô số các câu hỏi đang để ngỏ
về sự khác biệt liên quan đến cơ chế chống đông của hai loại thuốc
Cho đến thời điểm hiện tại, wafarin và các thuốc kháng vitamin K khác vẫn là nền tảng trong điều trị chống đông ở người mang van tim nhân tạo
Trang 34Đặt stent không giúp gì cho hẹp động
mạch thận do xơ vữa
Trong thử nghiệm lâm sàng
CORAL-Cardiovascular Outcomes in Renal
Atherosclerotic Lesions, Cooper CJ và cộng
sự (N Engl J Med 2014; 370:13-22, đăng sớm
từ 2013) nghiên cứu trên 947 bệnh nhân tăng
huyết áp kháng trị hoặc đã suy thận độ ≥ 3,
kèm theo hẹp động mạch thận do xơ vữa (mức
độ hẹp trung bình 73% đánh giá khi chụp
chọn lọc động mạch thận) được chia ngẫu
nhiên thành 2 nhóm điều trị thuốc đơn thuần
hoặc kết hợp với đặt stent Tiêu chí nghiên
cứu chính (bao gồm tử vong do nguyên nhân
tim mạch hoặc thận, NMCT cấp, đột quỵ não,
tái nhập viện do suy tim, tiến triển suy thận,
phải điều trị thay thế thận vĩnh viễn) không
khác biệt đáng kể giữa 2 nhóm điều trị (35.8%
so với 35.1%, p=0.58) sau thời gian theo dõi
trung bình 43 tháng Số đo huyết áp tâm thu
ở nhóm đặt stent thấp hơn 2.3mmHg, một
cách rõ rệt (p=0.03) so với nhóm được điều
trị thuốc đơn thuần Các phân tích nhóm riêng
biệt không cho thấy ưu thế của đặt stent động
mạch thận ở bất kỳ nhóm bệnh nhân nào, kể cả
nhóm có hẹp nặng động mạch thận Quy trình
trong thử nghiệm CORAL được thiết kế để
giảm thiểu việc không tuân thủ điều trị tối ưu
bằng thuốc cũng như có tiêu chuẩn lựa chọn
bệnh nhân chặt chẽ hơn (mức độ hẹp tối thiểu
là 60% so với 40% ở các thử nghiệm về đặt
stent động mạch thận trước đó như
ASTRAL-Angioplasty and Stenting for Renal Artery
Lesions(N Engl J Med 2009; 361:1953-62)hay
STAR-Stent Placement and Blood Pressure
and Lipid-Lowering for the Prevention of
Progression of Renal Dysfunction Caused by
Atherosclerotic Ostial Stenosis of the Renal
Artery (Ann Intern Med
2009;150(12):840-8) Khi được điều trị tối đa bằng kết hợp nhiều
thuốc hạ huyết áp và statin, nguy cơ biến cố
tim mạch-thận sau 2 năm giảm đi một nửa
so với mức trông đợi (20% so với 40%) tuy nhiên thử nghiệm CORAL đã lặp lại các kết quả của thử nghiệm ASTRAL và STAR, một lần nữa cho thấy việc đặt stent khi hẹp đáng kể động mạch thận do xơ vữa không hề có hiệu quả hơn điều trị thuốc đơn thuần trong việc phòng ngừa các biến cố chính về tim mạch-thận trong nhóm bệnh nhân nghiên cứu
Có lẽ thông điệp đã đủ rõ, cho đến năm
2014, người bệnh có hẹp động mạch thận mức
độ nhiều do xơ vữa, có kèm theo tăng huyết áp hoặc suy thận mức độ ≥ 3, nên được điều trị thuốc tối đa để kiểm soát huyết áp và hạn chế tiến triển của xơ vữa chứ không cần đặt stent động mạch thận để ngăn ngừa các biến cố tim mạch-thận tuy nhiên đặt stent động mạch thận
có thể làm giảm được số đo huyết áp và do đó
có thể giảm được số lượng thuốc hạ áp cần dùng
Điện tâm đồ vẫn là công cụ tốt nhất để chọn bệnh nhân phù hợp cho tái đồng bộ thất:
Trong thử nghiệm lâm sàng Echocardiography Guided Cardiac Resynchronization Therapy, Ruschitzka F và cộng sự (N Engl J Med 2013; 369:1395-140) nghiên cứu 890 bệnh nhân suy tim mức độ NYHA III-IV, có QRS hẹp < 130msec trên điện tâm đồ, phân số tống máu thất trái ≤ 35%
EchoCRT-và mất đồng bộ hai thất trên siêu âm tim, được chia thành hai nhóm cấy máy phá rung
có và không kèm tái đồng bộ thất (CRT), theo dõi trung bình trong 19.4 tháng Nghiên cứu này đã phải dừng sớm do không thấy hiệu quả
và nguy cơ có hại ở nhóm có CRT: do tỷ lệ biến cố gộp giữa tử vong hoặc suy tim phải nhập viện không khác biệt đáng kể giữa nhóm
có hay không có CRT (28.7% so với 25.2%, HR=1.20; 95%CI:0.92-1.57, p=0.15); tỷ lệ tử vong do mọi nguyên nhân ở nhóm có CRT cao
Trang 35hơn hẳn ở nhóm không (11.1% so với 6.4%,
HR, 1.81; 95%CI:1.11-2.93, p=0.02) trong
khi mức độ suy tim và chất lượng sống không
khác biệt giữa hai nhóm Thử nghiệm này
cho thấy, tái đồng bộ cơ thất không có hiệu
quả ở nhóm bệnh nhân suy tim có QRS hẹp
cho dù có biểu hiện mất đồng bộ thất trái trên
siêu âm tim Kết quả này cũng tương đồng
với một số nghiên cứu trước đó về hiệu quả
của CRT trên bệnh nhân có QRS < 120 msec
(Circ Arrhythm Electrophysiol 2013;6:538 và
Circulation 2013;127:873)
Dù vẫn còn tranh cãi về kỹ thuật siêu âm
phù hợp hoặc tiêu chuẩn mất đồng bộ cơ thất,
cho đến thời điểm hiện tại, điện tâm đồ vẫn là
công cụ tốt nhất để lựa chọn nhóm bệnh nhân
phù hợp, đảm bảo có lợi nhất khi làm CRT
Tăng sinh hồng cầu ở người suy tim:
Không lợi mà hại!
Thiếu máu là bệnh hay đi kèm với suy
tim mạn tính, thường làm suy tim nặng lên
và tăng tử vong Trong thử nghiệm lâm sàng
ngẫu nhiên mù đôi, đa trung tâm RED-HF,
Swedberg K và cộng sự (N Engl J Med 2013;
368:1210-9) đánh giá hiệu quả của darbepoetin
alpha-một thuốc kích thích sinh hồng cầu,
trên 2278 bệnh nhân suy tim tâm thu có triệu
chứng, kèm theo thiếu máu (hemoglobin từ
9.0–12.0 g/dL), độ tuổi trung bình 72; tỷ lệ
nữ 41% Người bệnh được chia thành 2 nhóm
dùng giả dược hoặc darbepoetin tiêm 2 tuần/
lần cho đến khi mức hemoglobin đạt 13.0 g/
dL sau đó được dùng liều duy trì Bệnh nhân
cũng được bổ sung thêm sắt nếu thiếu Nồng
độ hemoglobin ban đầu là 11.2 g/dL tăng rõ
rệt sau 1 tháng ở nhóm dùng darbepoetin
(13.0 so với 11.5 g/dL) Sau thời gian theo
dõi trung bình 28 tháng, tỷ lệ xuất hiện các
biến cố nghiên cứu chính như tử vong hoặc
tái nhập viện do suy tim tương đương ở cả hai
nhóm (50.7% so với 49.5%, p=0.87), các tiêu chí nghiên cứu phụ cũng không khác biệt rõ Mặc dù chất lượng sống ở nhóm darbepoetin
có vẻ tốt hơn (cải thiện 2.2 điểm trên thang điểm suy tim Kansas), nhưng tỷ lệ tắc mạch
ở nhóm dùng darbepoetin cao hơn hẳn nhóm dùng giả dược (13.5% so với 10.0%; p=0.01) Kết quả này cũng khá giống với những thử nghiệm trước đây, gây tăng sinh hồng cầu
ở bệnh nhân suy thận mạn, đã không chứng minh được lợi ích nào về tim mạch Như vậy, kích thích tăng sinh hồng cầu dù khắc phục được thiếu máu song không làm cải thiện tỷ lệ
tử vong hoặc nhập viện do suy tim, trong khi
có thể làm tăng nguy cơ tắc mạch
Cập nhật hướng dẫn điều trị tăng huyết áp (JNC 8) xuất hiện, tập trung vào ngưỡng huyết áp để điều trị thuốc và lựa chọn thuốc Huyết áp mục tiêu < 150mmHg với người ≥ 60: liệu có quá trễ???
Sau một thời gian dài im tiếng và một số lần trì hoãn, cuối cùng cập nhật hướng dẫn điều trị tăng huyết áp (THA) ở người trưởng thành (JNC 8, JAMA 2014;311(5):507-20, đăng sớm 12/2013) cũng đã xuất hiện Hướng dẫn điều trị tăng huyết áp trước kia (JNC 7, JAMA 2003;289:2560–72) là một tài liệu toàn diện, không chỉ đề cập đến điều trị THA mà còn đề cập đến định nghĩa THA, cách đo huyết
áp, quan điểm của y tế công cộng về THA, thay đổi lối sống để dự phòng và kiểm soát huyết áp cũng như các tình huống lâm sàng cụ thể để quản lý và kiểm soát huyết áp Ngược lại, hướng dẫn mới JNC 8 chỉ khư trú vào việc điều trị THA bằng thuốc: những điểm khác biệt chính trong điều trị THA giữa JNC 7 và JNC 8 thể hiện ở ngưỡng điều trị THA và lựa chọn thuốc đầu tay điều trị THA Khuyến cáo điều trị của JNC 7 dựa trên cả những dữ kiện của các thử nghiệm lâm sàng, các ngoại suy
từ nghiên cứu quan sát cũng như kinh nghiệm
Trang 36của các chuyên gia, trong khi đó, đại đa số
khuyến cáo của JNC 8 là những kết luận có
bằng chứng dựa vào các thử nghiệm lâm sàng
ngẫu nhiên, rất ít khuyến cáo chỉ từ ý kiến
chuyên gia, thông qua quá trình xét duyệt các
bằng chứng thử nghiệm lâm sàng minh bạch
và quy chuẩn
Khuyến cáo JNC 8 đối với người trẻ (tuổi
< 60), nên xem xét điều trị thuốc hạ áp khi
huyết áp ≥ 140/90 mmHg, huyết áp mục tiêu
cần đạt khi điều trị là 140/90 mmHg; đối với
người già (tuổi ≥ 60), nên điều trị thuốc khi
huyết áp ≥ 150/90 mmHg, huyết áp mục tiêu
là 150/90mmHg; trong khi ngưỡng 140/90
mmHg là ngưỡng điều trị huyết áp trong JNC
7 cho bất kỳ lứa tuổi nào.JNC 7 đưa ra ngưỡng
điều trị thấp hơn nữa đối với người có đái tháo
đường hoặc suy thận mạn, nhưng trong JNC 8
ngưỡng điều trị và huyết áp mục tiêu đối với
hai nhóm đối tượng này đều là 140/90 mmHg
JNC 7 coi thuốc lợi tiểu thiazide là thuốc
đầu tay để điều trị THA (trừ phi có các chỉ định
bắt buốc hoặc ưu tiên dùng các nhóm thuốc hạ
áp khác) và 4 nhóm thuốc hạ áp còn lại (chẹn
kênh canxi, ức chế men chuyển, ức chế thụ
thể và chẹn beta giao cảm) có thể sử dụng như
các lựa chọn thay thế cho lợi tiểu Đến JNC
8, một trong số bốn loại thuốc hạ áp (lợi tiểu
thiazide, chẹn kênh canxi, ức chế men chuyển
và ức chế thụ thể) đều có thể chọn là thứ thuốc
hạ áp đầu tiên đối với người không phải da
đen, hoặc một trong hai thuốc lợi tiểu/chẹn
kênh canxi với người da đen Nhóm chẹn beta
giao cảm không còn là lựa chọn hàng đầu do
khả năng dự phòng đột quỵ não dường như
kém hơn bốn nhóm thuốc hạ huyết áp vừa
nêu JNC 8 cũng nêu rõ, người THA bệnh thận
mạn tính nên được điều trị bằng nhóm ức chế
men chuyển hoặc ức chế thụ thể
Quan điểm của JNC 8 chấp nhận cả hai
chiến lược điều trị khi huyết áp chưa được kiểm soát tốt bằng cách tăng tối đa liều thuốc hoặc phối hợp sớm các thuốc hạ áp
Trong bối cảnh y học dựa trên bằng chứng, cách tiếp cận vấn đề và khuyến cáo từ JNC 8
đã đề cập trực tiếp, rõ ràng và có độ tin cậy cao đến những khúc mắc trong quá trình điều trị THA bằng thuốc Có thể thấy quan điểm điều trị THA trong JNC 8 mang xu hướng thận trọng và bảo tồn!!! Tuy nhiên vẫn còn khá nhiều vấn đề chưa được trả lời rõ trong JNC 8 như vai trò thực sự của thay đổi lối sống, chế độ ăn và luyện tập với huyết áp, ngưỡng điều trị và cách xác định THA với người có huyết áp giao động, nên dùng lợi tiểu hydrochlorothiazide hay chlorthalidone, cần thăm dò gì nếu có tăng huyết áp kháng trị… Ngay cả vấn đề ngưỡng huyết áp tâm thu
> 150mmHg với người ≥ 60 tuổi trong JNC 8
đã gây xôn xao liệu chờ đợi có quá trễ để điều trị, trong khi nhiều hướng dẫn điều trị có uy tín khác khuyến cáo: cân nhắc ngưỡng điều trị
và huyết áp mục tiêu 150 mmHg chỉ ở người
> 80 tuổi (ASH/ISH 2014, J Clin Hypertens 2014;16(1):14-26), hoặc ngưỡng điều trị 160 mmHg và huyết áp mục tiêu 140-150mmHg chỉ ở người > 80 tuổi (ESC 2013, Eur Heart
Trang 37Hướng dẫn mới chia bệnh nhân thành bốn
nhóm nguy cơ để lựa chọn một trong hai phác
đồ liều cao hay liều trung bình của statin
- Người có biểu hiện lâm sàng của bệnh/
biến cố tim mạch do xơ vữa (ASCVD) nên
điều trị statin liều cao (nếu tuổi < 75) hoặc
liều trung bình (nếu tuổi ≥ 75)
- Người có mức LDL-C ≥ 4.91 mmol/l
(190 mg/dL) nên điều trị statin liều cao
- Người có đái tháo đường, tuổi từ 40-75,
có mức LDL-C 1.81-4.91 mmol/l (70-189
mg/dL) mà không có biểu hiện lâm sàng của
bệnh/biến cố tim mạch do xơ vữa (ASCVD)
nên điều trị statin tối thiểu liều trung bình (nên
liều cao nếu nguy cơ biến cố tim mạch do xơ
vữa trong 10 năm ước tính ≥ 7.5%)
- Người không có biểu hiện lâm sàng của
bệnh/biến cố tim mạch do xơ vữa (ASCVD),
không có đái tháo đường, nhưng có LDLC từ
1.81-4.91 mmol/l (70-189 mg/dL) và nguy cơ
biến cố tim mạch do xơ vữa trong 10 năm ước
tính ≥ 7.5% nên điều trị statin liều trung bình
hoặc cao
- Phác đồ statin liều cao dùng atorvastatin
40-80mg/ngày hoặc rosuvastatin 20-40mg/
ngày Phác đồ statin liều trung bình dùng
atorvastatin 10-20mg/ngày hoặc rosuvastatin
5-10mg/ngày, hoặc simvastatin 20-40mg/
ngày hoặc pravastatin 40-80mg/ngày và một
số loại thuốc khác
- Lối sống khoẻ về tim mạch cần được áp
dụng cho mọi người bệnh, dùng có điều trị rối
loạn lipid máu bằng thuốc hay không
- Không khuyên dùng các thuốc điều trị rối
loạn lipid máu không phải statin trừ trong một
số trường hợp đặc biệt
- Nguy cơ xuất hiện biến cố tim mạch do
xơ vữa trong vòng 10 năm, bao gồm cả biến
cố mạch vành và đột quỵ não có thể ước tính bằng các ứng dụng di động hoặc qua internet
quality/practice-guidelines-and-quality- standards/2013-prevention-guideline-tools aspx)
(http://www.cardiosource.org/science-and-Hướng dẫn này thay thế cho khuyến cáo ATP3 kinh điển về điều trị rối loạn lipid máu (JAMA, 2001;285:2486-97; sau đó cập nhật Circulation 2004;110:227-39), trong đó thay đổi quan trọng nhất, từ nay là điều trị rối loạn lipid máu sẽ dựa trên hai phác đồ statin liều cao hoặc liều trung bình cho những bệnh nhân thuộc bốn nhóm nguy cơ xuất hiện các biến
cố tim mạch do xơ vữa, chứ không dựa trên các mốc LDL-cholesterol (LDLC) cụ thể như trước Xét nghiệm lipid máu trong quá trình điều trị chủ yếu để đánh giá đáp ứng và tuân thủ điều trị chứ không dùng để xem điều trị có đạt đến mục tiêu LDLC cụ thể nào hay không Căn cứ để từ bỏ các mục tiêu LDLC cụ thể trong mô hình điều trị dự phòng mới này là ở chỗ lợi ích của statin qua các thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên chủ yếu đánh giá các chiến lược điều trị statin với liều cố định hơn là đánh giá chiến lược điều trị nhằm đạt đến các mục tiêu LDLC cụ thể Hơn thế nữa, một số thuốc mới thay đổi được thành phần lipid máu đến những giá trị mong muốn lại không cải thiện thực sự tiên lượng và tác dụng dự phòng của statin không chỉ đơn thuần dựa trên hiệu quả làm giảm LDLC Ngưỡng 7.5% nguy cơ xảy
ra biến cố do xơ vữa ước tính trong 10 năm để
áp dụng điều trị dự phòng được rút ra từ các phân tích cho thấy lợi ích do điều trị xuất hiện
ở ngưỡng này
Tuy nhiên trong khuyến cáo chưa đề cập đến chi phí điều trị nhất là đối với liệu pháp statin liều cao (ví dụ giữa thuốc chính hãng
Trang 38và hoạt chất) có thể sẽ làm giảm tuân thủ điều
trị; nhu cầu phải giảm liều hoặc kết hợp thuốc
với những trường hợp cụ thể không dung nạp
được với statin nhất là trong dự phòng tiên
phát Ngoài ra vấn đề gây tranh cãi nhiều nhất
chính là ngưỡng nguy cơ để bắt đầu điều trị,
vốn có vẻ thấp hơn các khuyến cáo cổ điển và
có thể sẽ khiến một số lượng lớn, với người
“bình thường” sẽ phải dùng statin dự phòng
Mặc dù sẽ còn nhiều tranh luận trong năm
2014, ít nhất khuyến cáo cũng cho thấy điều
trị statin với liều cố định (cao hoặc trung bình)
để dự phòng (thứ phát hoặc tiên phát tuỳ theo
nguy cơ) là phương án đơn giản, dễ thực hiện
và theo dõi trong thực hành hàng ngày Câu
hỏi phát sinh là ước tính nguy cơ xuất hiện
biến cố do xơ vữa ở người Việt Nam có khác
gì với các quần thể nước ngoài không?
Bên cạnh thay đổi về mô hình điều trị rối
loạn lipid máu, năm 2013 còn ghi nhận những
thành công bước đầu của các kháng thể đơn
dòng ức chế proprotein convertase subtilisin/
kexin týp 9 (PCSK9), vốn gây rối loạn khả
năng của gan loại bỏ LDL.C trong máu Các
thử nghiệm RUTHERFORD (Circulation
2012;126:2408-17), LAPLACE-TIMI 57,
MENDEL (Lancet 2012;380:1995-2017)
cho thấy các thuốc ức chế PCSK9 có thể làm
giảm ngoạn mục LDL.C và lipoproteinA, hứa
hẹn một dòng sản phẩm mới ít nhất tốt cho
các trường hợp tăng cholesterol đồng hợp tử
kiểu gia đình, các trường hợp không dung
nạp statin, tăng Lp(a) hoặc chưa đạt mục tiêu
LDL.C
Thứ tự bình bầu của các thành viên trong
Ban Biên tập Tạp chí Tim mạch học Việt Nam
cũng được trình bày kèm theo và các bạn đọc
cũng có thể tham gia bình chọn các sự kiện
này trên trang web hoặc facebook của Tạp chí Tim mạch học Việt Nam
Thứ tự bình chọn của các thành viên Ban Biên tập
1 Mô hình mới điều trị rối loạn lipid máu:
bỏ mục tiêu LDLC cụ thể
2 JNC 8: huyết áp mục tiêu <150mmHg với người ≥60: liệu có quá trễ???
3 Can thiệp trong NMCT cấp: có nên can thiệp tất cả các chỗ hẹp!
4 Cấp cứu ngừng tim: nên phối hợp steroid
và vận mạch!
5 Nên chống ngưng tập tiểu cầu kép, hạ huyết áp và tiêu huyết khối trong điều trị sớm TBMMN!
6 Điều trị rung nhĩ: kiểm soát nhịp có ưu thế ở người cao tuổi!
7 Dabigatran tốt cho rung nhĩ nhưng kém wafarin cho van nhân tạo!
8 Đặt stent không giúp gì cho hẹp động mạch thận do xơ vữa
9 Điện tâm đồ vẫn là công cụ tốt nhất để chọn bệnh nhân phù hợp cho tái đồng bộ thất
10 Tăng sinh hồng cầu ở người suy tim: Không lợi mà hại!
Trang 39ĐIỀU TRỊ BỆNH MẠCH MÁU PHỨC TẠP BẰNG CAN THIỆP NỘI MẠCH PHỐI HỢP PHẪU THUẬT (HYBRID)
Đoàn Quốc Hưng*, Nguyễn Duy Thắng* Nguyễn Hữu Ước*
Phạm Quốc Đạt*, Lê Thanh Dũng*, Nguyễn Lân Hiếu** *Bệnh viện Việt Đức **Bệnh viện Đại học Y Hà Nội
ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh lý mạch máu tại Việt Nam nói chung
và miền Bắc nói riêng trong những năm gần
đây diễn biến theo xu hướng tăng dần về số
lượng bệnh nhân cũng như mức độ phức tạp
của bệnh Nguyên nhân là tuổi thọ trung bình
tăng cũng như thay đổi chế độ dinh dưỡng
của bệnh nhân dẫn tới tỷ lệ bệnh mạch máu
ngày càng tăng Các bệnh mạch máu phức
tạp xuất hiện đang là thách thức với các bác
sĩ lâm sàng cả về ngoại khoa cũng như can
thiệp tim mạch Với những bệnh nhân có bệnh
mạch máu phức tạp, tuổi cao, nhiều vị trí tổn
thương, việc áp dụng các phương pháp kinh
điển như phẫu thuật đơn thuần hoặc can thiệp
đơn thuần sẽ không mang lại hiệu quả tốt do
phẫu thuật tại nhiều vị trí cùng một lúc trên
bệnh nhân già yếu sẽ ảnh hưởng nặng nề đến
sức khỏe bệnh nhân, việc can thiệp mạch máu
trên nhiều vị trí cùng một lúc không phải lúc
nào cũng thực hiện được, mặt khác là gánh
nặng kinh tế lớn cho bệnh nhân và bảo hiểm
y tế Xu hướng trên thế giới hiện nay là áp
dụng phối hợp phẫu thuật và can thiệp trên
một bệnh nhân trong một thì (hybrid) nhằm
làm giảm độ khó của phẫu thuật/ can thiệp,
giảm chi phí y tế và giảm tác động có hại trên
sức khỏe bệnh nhân Tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức, với sự giúp đỡ của các chuyên gia nước ngoài cũng như kíp can thiệp mạch máu, chúng tôi đã áp dụng Hybrid phẫu thuật, can thiệp trong cùng một thì trên các bệnh nhân
có bệnh lý mạch máu khó điều trị nếu chỉ sử dụng phẫu thuật hoặc can thiệp đơn thuần với kết quả ban đầu tương đối khả quan Nghiên cứu này đánh giá kết quả của áp dụng hybrid trong điều trị bệnh mạch máu nhằm rút ra kết luận về chỉ định, lựa chọn bệnh nhân, ưu nhược điểm, kết quả, khả năng ứng dụng và phát triển
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
Bệnh mạch máu phức tạp bao gồm tổn thương mạch máu tại các vị trí mạch quan trọng và khó điều trị (Ví dụ quai động mạch chủ, ĐM chủ ngực đoạn xuống) hoặc tổn thương mạch máu nhiều vị trí trên cùng một bệnh nhân
Nghiên cứu hồi cứu dựa trên hồ sơ của tất
cả BN mạch máu đã áp dụng phối hợp phẫu thuật- can thiệp nội mạch tại Bệnh viện Việt Đức từ 1/2011 tới 11/2013 Các phẫu thuật-
Trang 40tại phòng can thiệp mạch - khoa điện quang
Bệnh viện Việt Đức, với sự tham gia của phẫu
thuật viên mạch máu, chuyên gia Pháp, bác sĩ
can thiệp Bệnh viện Việt Đức và Bệnh viện
Đại học Y Hà Nội Can thiệp nội mạch có thể
được thực hiện trước, sau hoặc đồng thời với
can thiệp phẫu thuật Bệnh lý mạch ở các vị trí
khác nhau: Quai ĐM chủ, ĐM chủ bụng, ĐM
chậu chung, chậu ngoài, ĐM chi dưới Loại
trừ bệnh mạch máu tại tim, phổi, chấn thương,
vết thương mạch máu, tai biến do thầy thuốc
Các thăm dò trước mổ gồm lâm sàng, sinh
hóa, chức năng gan thận, đông máu, điện tim,
siêu âm tim, siêu âm doppler mạch, chụp cắt
lớp vi tính, chụp ĐM, MRI Tiền sử bệnh phối
hợp và yếu tố nguy cơ (hút thuốc lá, thuốc lào,
đái tháo đường, tăng huyết áp, mỡ máu), tiền
sử phẫu thuật được ghi nhận chi tiết Chỉ định
can thiệp phẫu thuật hay nội mạch theo hướng
dẫn của Châu Âu và Mỹ Diễn biến trong quá
trình phẫu thuật/thủ thuật, kết quả, biến chứng được thống kê, phân tích, so sánh từ đó đưa
ra các nhận xét về chỉ định và kết quả của hybrid, đề xuất ý kiến thích hợp
KẾT QUẢ
Trong thời gian từ tháng 1/2011 tới tháng 11/2013, có 11 bệnh nhân có bệnh mạch máu phức tạp hội đủ các chỉ tiêu nghiên cứu được phân bố như sau: nam 11 (tỷ lệ 100%); tuổi thấp nhất 64, cao nhất 79, trung bình 70,6 tuổi Chúng tôi chia các bệnh nhân làm hai nhóm: nhóm I gồm các BN có bệnh lý của quai ĐM chủ và ĐM chủ xuống; nhóm II gồm các BN có tổn thương nhiều tầng của mạch máu chủ bụng, chậu, đùi chung, đùi nông và khoeo trong bệnh lý mạch máu ngoại biên
Bảng 1: Phân bố bệnh nhân có tổn thương quai ĐMC và ĐMC ngực (n=3)
TT Giới Chỉ định Thương tổn Can thiệp hybrid
1 Nam 79t Đau ngực Phình hình túi của quai ĐMC
Phẫu thuật bắc cầu ĐM cảnh chung P-T; đặt Stentgraft quai ĐMC và ĐMC xuống (bít nguyên ủy của ĐM cảnh chung T)
2 Nam 73t* Đau ngực Phình hình túi của quai ĐMC
Phẫu thuật bắc cầu ĐM chủ lên vào
ĐM cảnh hai bên; đặt stentgraft quai ĐMC và ĐMC xuống (bít nguyên ủy của ĐM dưới đòn T)
3 Nam 72t Đau ngực Lóc ĐMC xuống type B (Stanford) vỡ vào khoang màng phổi trái
Phẫu thuật bắc cầu ĐM cảnh chung P-T; Can thiệp đặt Stentgraft quai ĐMC và ĐMC xuống (bít nguyên ủy của ĐM cảnh chung T)