1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

Phát triển du lịch tỉnh Gia Lai

96 220 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 96
Dung lượng 825,11 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghị quyết số 13-NQ/TU ngày 26/8/2008 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về phát triển du lịch đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020 đã xác định rõ mục tiêu phát triển ngành du lịch nhanh và bề

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

NGUYỄN ĐỨC HOÀNG

PHÁT TRIỂN DU LỊCH TỈNH GIA LAI

Chuyên ngành : Kinh tế phát triển

Mã số : 60.31.05

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS BÙI QUANG BÌNH

Đà Nẵng - Năm 2013

Trang 2

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn

Nguyễn Đức Hoàng

Trang 3

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 3

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

4 Phương pháp nghiên cứu 3

5 Bố cục của luận văn 4

6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 4

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH 7

1.1 KHÁI QUÁT VỀ DU LỊCH 7

1.1.1 Khái niệm du lịch 7

1.1.2 Sản phẩm du lịch 8

1.1.3 Khách du lịch 9

1.2 NỘI DUNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH 10

1.2.1 Phát triển doanh thu du lịch 10

1.2.2 Gia tăng lượng du khách 11

1.2.3 Phát triển các hoạt động kinh doanh lưu trú 12

1.2.4 Phát triển các hoạt động kinh doanh lữ hành 12

1.2.5 Chất lượng nguồn nhân lực du lịch 13

1.2.6 Đầu tư phát triển du lịch 14

1.3 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN PHÁT TRIỂN DU LỊCH 15

1.3.1 Điều kiện tự nhiên và tài nguyên du lịch 15

1.3.2 Trình độ phát triển cơ sở hạ tầng kỷ thuật và xã hội 16

1.3.3 Chính sách phát triển du lịch của địa phương và chính sách xúc tiến quảng bá du lịch 17

1.4 KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN DU LỊCH CỦA CÁC ĐỊA PHƯƠNG Ở VIỆT NAM 19

1.4.1 Kinh nghiệm phát triển du lịch của Lâm Đồng 19

Trang 4

khảo 23

CHƯƠNG 2 : TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN DU LỊCH TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH GIA LAI 25

2.1 TÌNH HÌNH ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN TÀI NGUYÊN VÀ KINH TẾ XÃ HỘI CỦA TỈNH GIA LAI 25

2.1.1 Điều kiện tự nhiên và tài nguyên của tỉnh Gia Lai 25

2.1.2 Tình hình kinh tế xã hội 31

2.2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH GIA LAI 31

2.2.1 Tình hình gia tăng doanh thu du lịch 31

2.2.2 Thực trạng gia tăng du khách 37

2.2.3 Thực trạng phát triển hoạt động lữ hành 39

2.2.4 Thực trạng hoạt động kinh doanh lưu trú 41

2.2.5 Thực trạng các dịch vụ du lịch khác 43

2.2.6 Thực trạng lao động ngành du lịch 45

2.2.7 Đầu tư phát triển du lịch 48

2.3 CÁC NHÂN TỐ KHÁC ẢNH HƯỞNG ĐẾN PHÁT TRIỂN DU LỊCH GIA LAI 51

2.3.1 Công tác xúc tiến, quảng bá du lịch 51

2.3.2 Chính sách phát triển du lịch 52

2.4 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH TỈNH GIA LAI 53

2.4.1 Tóm tắt thành tựu và hạn chế của thực trạng phát triển du lịch tỉnh Gia Lai trong thời gian qua 53

2.4.2 Những thuận lợi và khó khăn thách thức để phát triển du lịch tỉnh Gia lai trong thời gian đến 54

Trang 5

3.1 QUAN ĐIỂM VÀ MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN NGÀNH DU LỊCH TRÊN

ĐỊA BÀN TỈNH 57

3.1.1 Quan điểm 57

3.1.2 Mục tiêu phát triển 58

3.1.3 Phương hướng phát triển 59

3.2 DỰ BÁO MỘT SỐ CHỈ TIÊU PHÁT TRIỂN CHỦ YẾU 60

3.2.1 Căn cứ lập phương án dự báo và lựa chọn phương án dự báo 60

3.2.2 Các chỉ tiêu dự báo cụ thể 64

3.3 CÁC GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH TỈNH GIA LAI 71

3.3.1 Phát triển các loại dịch vụ du lịch có thế mạnh nhất là phát huy giá trị di sản văn hóa cồng chiêng gắn với phát triển du lịch 71

3.3.2 Nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch 74

3.3.3 Hoàn thiện môi trường kinh doanh du lịch 76

3.3.4 Nâng cấp và mở rộng hệ thống kết cấu hạ tầng cho phát triển du lịch 77

3.3.5 Chính sách hỗ trợ du lịch 78

3.3.6 Phát triển nguồn nhân lực du lịch 79

3.3.7 Thu hút vốn đầu tư phát triển du lịch 81

3.3.8 Xã hội hóa hoạt động du lịch 83

3.3.9 Tăng cường công tác xúc tiến, quảng bá du lịch 84

KẾT LUẬN 86

TÀI LIỆU THAM KHẢO 87 QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN THẠC SĨ (BẢN SAO)

Trang 6

bảng Tên bảng Trang

2.1 Cơ cấu doanh thu du lịch tỉnh Gia Lai từ 2006 – 2010 35

2.2 Tổng sản phẩm (GDP) của du lịch tỉnh Gia Lai theo giá

2.3 Hiện trạng khách du lịch đến Gia Lai và vùng Tây

2.4 Hiện trạng khách quốc tế đến Gia Lai theo quốc tịch 38

2.6 Thực trạng nguồn nhân lực du lịch (Năm 2010) 46

2.7 Các dự án đầu tƣ hạ tầng kỹ thuật phục vụ du lịch tỉnh

2.8 Vốn đầu tƣ cơ sở vật chất kỹ thuật ngành du lịch Gia

3.1 Dự báo lƣợng khách du lịch đến tỉnh Gia Laigiai đoạn

3.2 Dự báo tổng hợp khách du lịch đến tỉnh Gia Lai giai đoạn

3.3 Dự báo thu nhập từ khách du lịch đến tỉnh Gia Lai giai

3.4 Dự báo cơ cấu chi tiêu của khách du lịch đến tỉnh Gia

Lai giai đoạn 2011 – 2020 (theo giá hiện hành) 65

3.5 Dự báo chỉ tiêu GDP và nhu cầu vốn đầu tƣ cho du lịch

Gia Lai giai đoạn 2011 – 2020 (theo giá hiện hành) 66

Trang 7

3.7 Dự báo nhu cầu phòng lưu trú của tỉnh Gia Lai giai

3.8 Dự báo nhu cầu đầu tư phát triển cơ sở lưu trú của tỉnh

3.9 Dự báo nhu cầu lao động trong ngành du lịch Gia Lai

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Ngày nay, du lịch có vai trò quan trọng không những là ngành kinh tế mũi nhọn, ngành công nghiệp không khói được nhiều quốc gia xác định mà còn mở ra cơ hội cho các dân tộc, các cộng đồng dân cư và các tầng lớp trong

xã hội giao lưu trực tiếp với nhau Du lịch đồng thời cũng tạo ra cơ hội và điều kiện để con người được trực tiếp tìm hiểu thưởng ngoạn phong cảnh, lối sống, văn hóa, lịch sử của những khu vực ngoài nơi cư trú của mình

Theo dự báo của Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO), năm 2012 và những năm tiếp theo xu hướng du lịch quốc tế tập trung chủ yếu ở khu vực Châu Á-Thái Bình Dương, trong đó Đông Nam Á có vị trí quan trọng chiếm khoảng 34% lượng khách và 38% thu nhập xã hội từ du lịch toàn khu vực Khu vực này đang trở thành điểm đến đón khách lớn thứ 2 trên thế giới vượt Châu Mỹ, chỉ đứng sau Châu Âu Việt Nam là một trong những quốc gia có

sự phát triển nổi trội trong khu vực với khẩu hiệu " Việt Nam-vẻ đẹp bất tận ",

Du lịch Việt Nam đang có cơ hội thuận lợi để hồi phục và tăng trưởng sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu Ngành Du lịch Việt Nam triển khai nhiều chương trình kích cầu "Ấn tượng Việt Nam", "Việt Nam-điểm đến của bạn" nhằm hạn chế sự suy giảm của kinh tế du lịch, phục hồi tốc độ tăng trưởng, đặc biệt với lợi thế về ổn định chính trị, an ninh, an toàn xã hội được giữ vững, du lịch Việt Nam có nhiều cơ hội thu hút khách du lịch trong thời gian tới

Du lịch Gia Lai chưa phải là ngành kinh tế đóng góp nhiều cho GDP của tỉnh, nhưng tiềm năng du lịch của Gia Lai rất dồi dào, tài nguyên thiên nhiên và tài nguyên nhân văn phong phú, khí hậu mát mẻ, trong lành Một trong số những thác nước đẹp như: Thác Phú Cường, thác Công Chúa, Thác YaMa - Yang Rung, Thác Ia Nhí, Thác Lệ Kim, Thác Chín Tầng và hệ

Trang 9

thống sông hồ đa dạng: Biển hồ, Hồ Ayun Hạ, Hồ Ia Ly, suối Đá trắng, thung lũng Hồng Bên cạnh đó còn có những khu rừng đẹp với sự đa dạng sinh học như: đồi thông Đak Pơ, Vườn quốc gia KonKaKinh, khu bảo tồn thiên nhiên KonChưRăng Gia Lai có truyền thống cách mạng hào hùng, với nhiều di tích lịch sử: quần thể di tích lịch sử Tây Sơn Thượng đạo, Chiến thắng Pleime, chiến thắng Đakpơ, làng kháng chiến Stơr (quê hương anh hùng Núp) đặc biệt bản sắc văn hóa độc đáo với "Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên"-di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại là những điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch

Tuy nhiên, trong những năm qua, du lịch Gia Lai phát triển còn chậm, vốn đầu tư phát triển du lịch còn thiếu, sản phẩm du lịch nghèo nàn, chưa tạo

ra sản phẩm du lịch đặc trưng dẫn đến hoạt động du lịch phát triển chậm Kinh nghiệm quản lý, kinh doanh và trình độ nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ, lao động trong ngành còn nhiều bất cập, năng lực cạnh tranh còn hạn chế

Là một trong 5 tỉnh Tây Nguyên, Gia Lai có nhiều nét tương đồng về tài nguyên du lịch với các tỉnh bạn Vấn đề đặt ra cho các tỉnh Tây Nguyên còn lại và Gia Lai nói riêng là làm cách nào để sản phẩm du lịch mỗi tỉnh thật

sự phong phú và hạn chế trùng lắp Việc xác định lợi thế của du lịch địa phương, ưu tiên đầu tư loại hình du lịch nào đang là bài toán khó cho những nhà hoạch định chiến lược phát triển kinh tế du lịch Nghị quyết số 13-NQ/TU ngày 26/8/2008 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về phát triển du lịch đến năm

2015 và định hướng đến năm 2020 đã xác định rõ mục tiêu phát triển ngành

du lịch nhanh và bền vững để đến năm 2015 trở thành ngành kinh tế có đóng góp quan trọng trong GDP của lĩnh vực dịch vụ; phấn đấu sau năm 2020 ngành du lịch là một trong những ngành kinh tế quan trọng của tỉnh; góp phần đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế

Trang 10

Với đề tài "Phát triển du lịch của tỉnh Gia Lai" sẽ phân tích lợi thế của

du lịch địa phương, tìm ra giải pháp nhằm thu hút khách du lịch, góp phần đẩy mạnh sự phát triển du lịch tỉnh nhà, đưa ngành du lịch trở thành ngành kinh tế quan trọng đóng góp đáng kể cho GDP của tỉnh trong những năm tới

Xuất phát từ thực tế trên, việc nghiên cứu sự phát triển du lịch trên địa bàn tỉnh Gia Lai đòi hỏi khách quan và cần thiết Đó cũng là lý do tôi chọn

đề tài “Phát triển du lịch tỉnh Gia Lai ” làm đề tài nghiên cứu

2 Mục tiêu nghiên cứu

-Hệ thống hóa các vấn đề lý luận về phát triển du lịch

- Phân tích thực trạng phát triển du lịch trên địa bàn tỉnh

- Nghiên cứu các giải pháp thúc đẩy phát triển du lịch trên địa bàn tỉnh

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: ngành du lịch

- Phạm vi nghiên cứu : Phát triển du lịch

+ Phạm vi không gian: tỉnh Gia Lai

+ Về thời gian: Tình hình hoạt động từ năm 2005 đến 2010 và định hướng phát triển từ năm 2010 đến 2020

4 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài kết hợp sử dụng nhiều phương pháp như:Các phương pháp thống kê mô tả, phân tích, so sánh, đánh giá Ưu điểm nổi bật của việc sử dụng kết hợp các phương pháp là các phương pháp đó có thể bổ sung cho nhau,giúp nghiên cứu sâu đối tượng nghiên cứu và đưa ra kết quả đáng tin cậy

Đề tài sử dụng các phương pháp thu thập thông tin tài liệu như: Kế thừa các công trình nghiên cứu trước đó;tổng hợp các nguồn số liệu thông qua các báo cáo của các ngành trong tỉnh,các tỉnh Tây nguyên,Tổng cục Du lịch;lấy thông tin qua các phương tiện thông tin đại chúng:báo chí,Internet

Trang 11

Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

Gia Lai có tiềm năng lớn về du lịch văn hóa-sinh thái nhưng thời gian qua phát triển chưa tương xứng với tiềm năng, sản phẩm du lịch chưa rõ nét, đơn điệu và thiếu hấp dẫn.Vì vậy cần có một nghiên cứu làm cơ sở khoa học (lý luận và thực tiễn) để định hướng cho việc phát triển du lịch của địa phương Đây là một đề tài có tính thực tiễn cao, đánh giá được lợi thế của tiềm năng du lịch Gia Lai nhằm khai thác hiệu quả lĩnh vực du lịch, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo định hướng của tỉnh

Đề tài "Phát triển du lịch tỉnh Gia lai" làm cơ sở cho các doanh nghiệp định hướng trong đầu tư sản phẩm, liên kết phát triển, đồng thời hỗ trợ cho cơ quan quản lý nhà nước về du lịch cũng như các cấp, ngành liên quan xây dựng chiến lược phát triển lâu dài cho hoạt động du lịch Đề tài chú trọng khai thác tài nguyên văn hóa bản địa kết hợp với cảnh quan thiên nhiên để hình thành một chuỗi các điểm đến liên hoàn, khép kín, mỗi điểm đến nhấn mạnh nét đặc trưng riêng để tạo sự mới lạ hấp dẫn, gắn với mỗi điểm đến là vận dụng một mô hình kinh tế du lịch, đặc biệt khuyến khích sự tham gia của cộng đồng

5 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 3 chương

Chương 1 Cơ sở lý luận về phát triển du lịch

Chương 2 Thực trạng phát triển du lịch trên địa bàn tỉnh Gia Lai Chương 3: Phương hướng và giải pháp chủ yếu phát triển du lịch tỉnh Gia Lai

6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu

Những năm gần đây có nhiều bài viết trên các sách báo và tạp chí,các công trình nghiên cứu về phát triển du lịch như:

Trang 12

- Bùi Thị Hải Yến (2007), Quy hoạch du lịch, Nxb Giáo dục, Hà Nội

- Bùi Thị Hải Yến (2009), Tuyến điểm du lịch VN, Nxb Giáo dục, Hà Nội

- Nguyễn Tấn Vinh(2008),Hoàn thiện quản lý nhà nước về du lịch trên

địa bàn tỉnh Lâm Đồng,Luận án Tiến sỹ kinh tế,Đại học Kinh tế quốc dân,Hà nội

- Nguyễn Xuân Quế, Du lịch sinh thái ở Việt Nam - tiềm năng và cơ

hội, Tạp chí Phát triển kinh tế, 2003

- Đức Phan, Phát triển du lịch theo hướng du lịch sinh thái, Tạp chí

Thương mại, số 30, 2004

- Võ Thị Thắng, Phát triển du lịch Việt Nam trong tình hình mới, Tạp

chí Cộng sản, số 727, 2005

- Trần Hữu Bình, Phát triển du lịch Hà Nội theo hướng công nghiệp

hóa, hiện đại hóa, Tạp chí Du lịch, 2005

- Trần Nguyễn Tuyên, Du lịch Việt Nam phát triển theo hướng trở

thành ngành kinh tế mũi nhọn, Tạp chí Quản lý nhà nước, số 7, 2005

- Phạm Lê Thảo, Sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên du lịch tự nhiên, Tạp

chí Du lịch Việt Nam, số 6, 2006

- TS Đỗ Thanh Phương, Du lịch Măng Đen tiềm năng và triển vọng,

Tạp chí Sinh hoạt lý luận, số 12, 2008

- Hoàng Hùng, Xây dựng làng quan họ văn hóa - du lịch, Tạp chí Du

lịch Việt Nam, số 01, 2009

- TS Vũ Thị Thoa, Phát triển du lịch cơ hội và thách thức, Tạp chí Du

lịch Việt Nam, số 3, 2009

- Phan Xuân Vũ, Du lịch Gia Lai trong chiến lược phát triển kinh tế xã

hội của địa phương, ngày 09/11/2009

- Trần Sơn Hải, Thực trạng nguồn nhân lực du lịch khu vực duyên hải

Nam Trung bộ và Tây Nguyên, Tạp chí Du lịch Việt Nam, số 5, 2010

- Lê Việt Hường, Du lịch Gia Lai trong xu thế hội nhập và phát triển,

Trang 13

ngày 11/7/2010

Các bài viết đã phân tích về những thế mạnh của du lịch Việt Nam và gợi mở phương hướng phát triển du lịch Việt Nam trở thành ngành kinh tế mũi nhọn Chỉ rõ những nét đa dạng, độc đáo của loại hình du lịch sinh thái - văn hóa Việt Nam, đưa ra những giải pháp để khai thác có hiệu quả những lợi thế đó Có bài còn đi vào tổng kết số lượt khách du lịch ở một số nước châu

Âu đến Việt Nam, thu nhập của hoạt động du lịch từ việc khai thác thị trường châu Âu để đề xuất giải pháp thu hút nguồn khách này… Đây cũng là những nguồn tham khảo bổ ích khi nghiên cứu phát triển du lịch ở tỉnh Gia Lai

Trên địa bàn tỉnh Gia Lai cũng đã có công trình Nghiên cứu về phát

triển tiềm năng du lịch sinh thái tỉnh Gia Lai đến năm 2020 do các tác giả

thuộc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch chủ biên Ngoài ra, còn có những chủ trương và một số văn bản chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền cấp tỉnh về phát triển lĩnh vực kinh tế này

Tuy vậy, đến nay vẫn chưa có một công trình và bài viết nào nghiên cứu về phát triển du lịch ở tỉnh Gia Lai với ý nghĩa phân tích thực tiễn và đề xuất phương hướng, giải pháp phát triển trong thời gian tới Bởi vậy, đề tài

mà tác giả lựa chọn để nghiên cứu dưới góc độ kinh tế phát triển là mới và không trùng với các công trình nghiên cứu khoa học đã công bố

Trang 14

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH

Chương này sẽ làm rõ cơ sở lý luận phát triển du lịch làm cơ sở hình thành khung nội dung nghiên cứu cho đề tài Phần đầu làm rõ khái niệm du lịch và tiếp theo là nội dung phát triển du lịch cùng với các tiêu chí phản ảnh Cuối cùng tập trung vào các nhân tố ảnh hưởng tới sự phát triển du lịch

1.1 KHÁI QUÁT VỀ DU LỊCH

1.1.1 Khái niệm du lịch

Trước hết cần định nghĩa về du lịch Định nghĩa của Michael

Coltman- Mỹ:”du lịch là sự kết hợp và tương tác giữa bốn nhóm nhân tố trong quá trình phục vụ du khách bao gồm: du khách, nhà cung ứng du lịch, dân cư địa phương, chính quyền sở tại nơi đón du khách

Theo Luật du lịch Việt Nam 2005: ”du lịch là hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định”

Như vậy, có khá nhiều khái niệm du lịch nhưng tổng hợp lại ta thấy du lịch hàm chứa các yếu tố cơ bản sau:

- Du lịch là một hiện tượng kinh tế xã hội

- Du lịch là sự di chuyển và tạm thời lưu trú ngoài nơi ở thường xuyên của các cá nhân hoặc tập thể nhằm thoả mãn các nhu cầu đa dạng của họ

- Du lịch là tập hợp các hoạt động kinh doanh phong phú và đa dạng nhằm phục vụ cho các cuộc hành trình, lưu trú tạm thời và các nhu cầu khác của cá nhân hoặc tập thể khi họ ở ngoài nơi cư trú thường xuyên của họ

- Các cuộc hành trình, lưu trú tạm thời của cá nhân hoặc tập thể đó đều

Trang 15

đồng thời có một số mục đích nhất định, trong đó có mục đích hoà bình

1.1.2 Sản phẩm du lịch

Sản phẩm du lịch là loại hàng hóa được tạo thành bởi sự kết hợp từ

việc khai thác các yếu tố tự nhiên, xã hội cùng với nguồn lực: cơ sở vật chất,

kỷ thuật, lao động tại một vùng, địa phương hay quốc gia Sản phẩm du lịch bao gồm sản phẩm hữu hình và vô hình,đó là dịch vụ du lịch và giá trị tài nguyên thiên nhiên Bao gồm:

- Du lịch nghỉ ngơi, thư giãn: là loại hình du lịch đáp ứng nhu cầu thoát

ly công việc, phục hồi trí lực, thể lực

- Du lịch dã ngoại: thoát ly môi trường sống ồn ào, khói bụi công nghiệp để đến với những vùng miền có môi trường sống chưa bị ảnh hưởng đời sống công nghiệp, nghỉ ngơi thư giãn trong bầu không khí trong lành của vùng thiên nhiên xanh, làng mạc, dòng sông hiền hoà, ruộng vườn…

- Du lịch văn hoá: là loại sản phẩm du lịch thoả mãn nhu cầu cảm nhận các giá trị văn hoá vật thể và phi vật thể của các vùng miền khác nhau

- Du lịch tôn giáo: thoả mãn nhu cầu tâm linh của du khách như hành hương, thăm viếng các công trình tôn giáo, địa danh tôn giáo, tham dự các lễ hội tôn giáo…

- Du lịch mang tính công việc (MICE):Thoả mãn nhu cầu mang tính chất công việc, nghiên cứu, học hỏi của du khách như kinh doanh, hội nghị, hội thảo, tham gia các khoá đào tạo ngắn ngày nhằm nâng cao chuyên môn, tích luỹ kiến thức…

- Du lịch chữa bệnh:đây là một sản phẩm mới nhưng rất phát triển nhằm thoả mãn nhu cầu chữa bệnh, dưỡng bệnh, tăng cường sức khoẻ …của

du khách khi tham gia loại hình du lịch này

Dịch vụ du lịch là những hoạt động cung ứng các hoạt động đơn lẻ

nhằm thoả mãn các nhu cầu cần thiết cho một chuyến đi.

Trang 16

Điều 4, chương I Luật Du lịch Việt Nam khẳng định: “Dịch vụ du lịch

là việc cung cấp các dịch vụ về lữ hành, vận chuyển, lưu trú, ăn uống, vui chơi giải trí, thông tin, hướng dẫn và các dịch vụ khác nhằm đáp ứng nhu cầu của khách du lịch”, vậy những bộ phận hợp thành dịch vụ du lịch là:

Dịch vụ lữ hành :

Dịch vụ vận chuyển:

Dịch vụ lưu trú :

Dịch vụ ẩm thực:

Dịch vụ vui chơi giải trí:

Ngoài những hoạt động chính trên còn có những dịch vụ bổ sung như: Dịch vụ chữa bệnh và điều dưỡng:

Dịch vụ phục vụ học tập và nghiên cứu:

Dịch vụ quá cảnh

* Mối quan hệ giữa sản phẩm du lịch và dịch vụ du lịch

Sản phẩm du lịch và dịch vụ du lịch là đầu ra của hệ thống ngành du lịch địa phương Đây là kết quả sử dụng yếu tố đầu vào và tuỳ nhu cầu du khách mà có các sản phẩm du lịch và dịch vụ du lịch khác nhau

Các hoạt động của dịch vụ du lịch làm giàu thêm sự hiểu hiểu của du khách thông qua các hoạt động thăm quan, học tập, khám phá…

Dịch vụ du lịch tạo điều kiện thuận tiện trong thời gian khách đến du lịch như dịch vụ phục vụ ăn uống, ngủ nghỉ, giải trí, mua sắm

Từ việc tìm hiểu các nhu cầu của du khách để có sự phục vụ nhu đáo hơn, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của du khách

Trang 17

Khách du lịch nội địa (Domestic Tourist):

Luật du lịch Việt Nam năm 2005- điều 34 đã quy định:

Khách du lịch gồm khách du lịch quốc tế và khách nội địa.Trong đó:

- Khách du lịch nội địa là công dân Việt Nam, người nước ngoài thường trú tại Việt Nam đi du lịch trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam

- Khách du lịch quốc tế là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài vào Việt nam du lịch; công dân Việt Nam, người nước ngoài thường trú tại Việt Nam ra nước ngoài du lịch

1.2 NỘI DUNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH

Phát triển du lịch là một trong những nội dung quan trọng trong phát triển kinh tế, đặc biệt trong điều kiện Việt Nam rất nhiều tiềm năng để phát triển du lịch Phát triển du lịch là quá trình không chỉ phát triển về quy mô hoạt động du lịch với nhiều sản phẩm khác nhau và có chất lượng mà còn cả việc nâng cao chất lượng các sản phẩm cũng như hoàn thiện các điều kiện cung ứng

Nội dung phát triển du lịch bao gồm:

1.2.1 Phát triển doanh thu du lịch

Phát triển về doanh thu du lịch là quá trình nỗ lực của chính quyền, các

tổ chức và cộng đồng dân cư nhằm gia tăng doanh thu du lịch nhờ mở rộng hoạt động du lịch nhằm tăng số lượng, tạo ra và bổ sung không ngừng các sản phẩm mới với chất lượng tốt hơn để cung cấp cho khách hàng

Như vậy, phát triển du lịch về quy mô trước tiên phải tạo ra nhiều hơn hay tăng lên quy mô cơ sở vật chất hay hạ tầng của ngành du lịch Nếu không

có cơ sở vật chất hạ tầng tăng lên thì các doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân có thể tiến hành hoạt động sản xuất của mình để tạo ra sản phẩm du lịch

Phát triển doanh thu du lịch du lịch bắt đầu từ gia tăng số lượng và mở rộng quy mô của các tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân tham gia vào hoạt

Trang 18

động du lịch để tạo ra các sản phẩm du lịch cung ứng cho khách hàng Quy

mô hoạt động du lịch tăng lên được thể hiện qua doanh thu du lịch hay giá trị sản lượng du lịch hàng năm Do du lịch có nhiều sản phẩm khác nhau nên khó

có thể có thể sử dụng thước đo tổng sản lượng mà phải cùng thước đo tổng hợp đó

Cuối cùng là sự tăng nhanh các sản phẩm du lịch Nếu sản phẩm du lịch nghèo nàn, thiếu thốn, đơn điệu và chất lượng kém sẽ khó khăn cho việc thu hút khách du lịch Nghĩa là cơ sở hạ tầng hay người sản xuất kinh doanh du lịch sẽ không thể hoạt động hiệu quả nếu không tạo ra được các sản phẩm du lịch đó phong phú Vì khi đó khó khăn trong thu hút và thỏa mãn khách hàng khiến họ phải chi tiêu nhiều hơn

1.2.2.Gia tăng lượng du khách

Gia tăng doanh thu phản ánh sự phát triển về quy mô du lịch như phần trên đã nói Nhưng doanh thu phụ thuộc vào nhiều yếu tố trong đó có liên quan tới số lượng du khách tới địa phương Mỗi khách du lịch khi tới sẽ chi tiêu cho các nhu cầu của họ và kết quả tạo ra doanh thu cho các cơ sở du lịch Khách du lịch tới du lịch để thỏa mãn nhu cầu thụ hưởng các dịch vụ của ngành du lịch nếu họ cảm thấy thích thú và thỏa mãn thỉ họ sẽ chi tiêu nhiều hơn nên doanh thu sẽ cao hơn Ngoài ra sự thích thú thoả mãn với nhiều dịch

vụ và dịch vụ gia tăng thì chi tiêu cũng nhiều hơn và thời gian lưu trú dài hơn khiến doanh thu trên mỗi du khách nhiều hơn Doanh thu từ du lịch còn phụ thuộc vào tần suất lặp lại của du khách tới một điểm du lịch nào đó Nghĩa là

du khách không chỉ tới một lần mà nhiều lần do đó doanh thu du lịch cũng tăng lên

Du khách có hai loại theo cách phân loại của Tổng cục Du Lịch là khách quốc tế và khách nội địa Mỗi nhóm du khách có những đặc điểm rất khác nhau về nhu cầu thị hiếu và khả năng chi tiêu Muốn thu hút du khách

Trang 19

phải có chiến lược xúc tiến du lịch và thu hút du khách khác nhau với từng nhóm này

1.2.3 Phát triển các hoạt động kinh doanh lưu trú

Hoạt động kinh doanh lưu trú là hoạt động của các cơ sở cung cấp dịch

vụ phòng ở lưu trú cho khách du lịch, bao gồm hoạt động của các nhà trọ, khách sạn và khu nghỉ dưỡng…Số lượng phòng với các tiêu chuẩn khác nhau

sẽ thỏa mãn nhu cầu lưu trú cho du khách trong thời gian du lịch ở những điểm đến

Phát triển các hoạt động kinh doanh lưu trú là quá trình gia tăng số lượng phòng lưu trú và không ngừng nâng cao chất lượng của các phòng lưu trú đạt được các tiêu chuẩn do ngành du lịch đề ra để thỏa mãn được nhu cầu lưu trú thỏai mái và hài lòng khi sử dụng dịch vụ này

Đề đạt được điều này cần phải có có sự nỗ lực của các tổ chức, doanh nghiệp kinh doanh du lịch cũng như chính quyền địa phương để phát triển cơ

sở hạ tầng du lịch Đầu tư vào cơ sở hạ tầng du lịch cần lượng vốn khá lớn và thời gian kéo dài do đó rủi ro không nhỏ Ngoài ra, còn phải đầu tư vào đào tạo nhân lực và các trang thiết bị khác để có được dịch vụ đạt được các tiêu chuẩn đề ra

1.2.4 Phát triển các hoạt động kinh doanh lữ hành

Kinh doanh lữ hành là hoạt động của các tổ chức hay doanh nghiệp nhằm đưa ra các dịch vụ tham quan, thăm viếng, tìm hiểu … các địa điểm danh lam thắng cảnh, di tích văn hóa… cho du khách Kinh doanh lữ hành còn phải bảo đảm cho du khách di chuyển giữa các điạ điểm bằng các phương tiện khác nhau Quá trình di chuyển tham quan, thăm viếng … đan xen đi liền với nhau hay các dịch vụ này thường là những sản phẩm bổ sung cho nhau

Phát triển hoạt động kinh doanh lữ hành là quá trình hình thành và thực hiện các tour khác nhau với các sản phẩm khác nhau được kết hợp với nhau

Trang 20

bảo đảm cho du khách có thể được cung cấp các dịch vụ khác nhau

Sự phát triển hoạt động lữ hành không chỉ phụ thuộc vào số lượng các sản phẩm du lịch, vào cách thức kết hợp các sản phẩm này với nhau và kết hợp với hoạt động lưu trú Không chỉ vậy mà sự phát triển này còn phụ thuộc vào chất lượng của nguồn nhân lực tham gia cung cấp dịch vụ lữ hành nhất là hướng dẫn viên du lịch vì họ giúp cho du khách tiếp cận, thu nhận và hiểu biết nhanh nhất các thông tin về địa danh, địa điểm, các di tích lịch sử và văn hóa…

1.2.5 Chất lượng nguồn nhân lực du lịch

Con người là tài sản chính của ngành du lịch và sự tương tác giữa du khách và các doanh nghiệp chủ nhà Du lịch là một ngành cần nhiều nhân công cung cấp các cơ hội thú vị và đa dạng Hiện nay tình trạng thiếu nhân lực du lịch khá phổ biến nhất là đội ngũ nhân viên phục vụ trong các khách sạn, hướng dẫn viên…Đào tạo không đáp ứng được nhu cầu phát triển chính điều này là một trong những cản trở sự phát triển của ngành du lịch

Tập trung cho ngành giáo dục và đào tạo tất cả các lĩnh vực của ngành

du lịch là sự cần thiết Nhu cầu ưu tiên hơn cho giáo dục và đào tạo đã được xác định bởi Chiến lược Nguồn nhân lực cho ngành Du lịch và Khách sạn Chiến lược nhân lực, mà hiện đang được thực hiện, đòi hỏi phải có một phương pháp toàn ngành du lịch để xác định các giải pháp ở cấp quốc gia và khu vực Những hành động và ưu tiên của Chiến lược này sẽ liên kết với những yêu cầu trong Chiến lược Nhân lực Ngành du lịch sẽ chỉ đạt được sự thịnh vượng mong muốn với nguồn nhân lực lành nghề và có khả năng

Việc đào tạo nhân lực du lịch có vai trò quan trọng nhưng hiện nay công tác đào tạo của các cơ sở đào tạo đang gắp phải nhiều khó khăn khi các

cơ sở đào tạo thiếu cơ sở vật chất cho đào tạo kỹ năng cho nhân viên du lịch chẳng hạn nhân viên buồng, hay lễ tân…Việc liên kết giữa các doanh nghiệp

du lịch và cơ sở đào tạo tuy đã được thực hiện những còn nhiều hạn chế vì

Trang 21

nhiều lý do Các chương trình đào tạo chậm cập nhật các kiến thức của thế giới và sự thay đổi trong du lịch

Ngành du lịch cũng có những điểm mạnh mà có thể được sử dụng để giành được lợi thế trên thị trường lao động Ngành này hiện được xem là thú

vị và năng động, nó có thể đưa ra những sự lựa chọn giờ làm việc linh hoạt và bán thời gian và cung cấp cơ hội việc làm trong các cộng đồng dân cư khu vực Ngành này cũng có thể mở rộng nhóm lao động truyền thống bao gồm nhóm lao động đến độ tuổi đi làm đang tìm kiếm một công việc thú vị và linh hoạt

1.2.6 Đầu tư phát triển du lịch

Đầu tư phát triển du lịch bao gồm đầu tư của chính quyền và đầu tư của các doanh nghiệp và tổ chức

Đầu tư của chính quyền cho phát triển du lịch chủ yếu đầu tư phát triển

cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội phục vụ phát triển du lịch Cơ sở hạ tầng này bao gồm đường xá giao thông, hệ thống cấp thoát nước, hệ thống điện, sân bay bến cảng …

Đầu tư của doanh nghiệp và tổ chức du lịch bao gồm:

Đầu tư phát triển du lịch là hoạt động thực hiện các dự án du lịch bao gồm cơ sở lưu trú, cơ sở vui chơi giải trí, mua sắm phương tiện vận chuyển

du lịch, xây dựng đường xá….Các dự án sau khi hoàn thành sẽ là cơ sở để hình thành và cung cấp các sản phẩm du lịch cho khách vì dụ như phòng nghỉ, nơi vui chơi giải trí, tạo điều kiện cho khách di chuyển…

Đầu tư phát triển du lịch không chỉ giúp gia tăng về quy mô sản phẩm

du lịch mà còn bảo đảm chất lượng các sản phẩm sản phẩm du lịch

Đầu tư phát triển du lịch trong nhiều trường hợp còn bao gồm cả đầu

tư cho nguồn nhân lực Nếu không có khoản đầu tư này sẽ khó bảo đảm chất lượng của sản phẩm du lịch

Trang 22

1.3 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN PHÁT TRIỂN DU LỊCH

1.3.1 Điều kiện tự nhiên và tài nguyên du lịch

Tài nguyên du lịch được phân ra làm hai nhóm: Tài nguyên thiên nhiên

và tài nguyên nhân văn

+ Tài nguyên thiên nhiên

Các điều kiện tự nhiên đóng vai trò là những tài nguyên thiên nhiên về

du lịch là: địa hình đa dạng; khí hậu ôn hòa; động thực vật phong phú, giàu nguồn tài nguyên nước và vị trí địa lý thuận lợi

Địa hình: địa hình ở một nơi thường chứa đựng cảnh đẹp và sự đa

dạng của phong cảnh ở nơi đó

Khí hậu: khí hậu điều hòa thường được khách du lịch ưa thích Mỗi

loại hình du lịch đòi hỏi những điều kiện khí hậu khác nhau

Thực vật: Thực vật đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của du

lịch chủ yếu nhờ sự đa dạng và số lượng nhiều rừng, nhiều hoa… Nếu thực vật phong phú và quý hiếm thì thu hút khách du lịch văn hóa, thực vật không

có ở đất nước của họ

Động vật: động vật là một trong những nhân tố có thể góp phần thu hút

khách du lịch Nhiều loại động vật có thể là đối tượng để nghiên cứu và để lập vườn bách thú

Tài nguyên nước: ao, hồ, sông, ngòi, đầm, biển…vừa tạo điều kiện để

điều hòa không khí, phát triển mạng lưới giao thông vận tải nói chung, vừa tạo điều kiện để phát triển nhiều loại hình du lịch nói riêng

Vị trí địa lý: gồm các điểm du lịch nằm trong khu vực phát triển du

lịch; khoảng cách có ý nghĩa quan trọng đối với nơi mà du khách cần đến

+ Tài nguyên nhân văn

Là giá trị văn hóa, lịch sử, các thành tựu chính trị và kinh tế có ý nghĩa đặc trưng cho sự phát triển của du lịch ở một địa điểm, chúng có sức hấp dẫn

Trang 23

đặc biệt với số đông khách du lịch với nhiều nhu cầu và mục đích khác nhau của chuyến đi

Tài nguyên du lịch là điều kiện cần để phát triển du lịch Vì tài nguyên thiên nhiên không chỉ ảnh hưởng tới việc hình thành các sản phẩm du lịch

mà còn ảnh hưởng tới chi phí trong kinh doanh du lịch

Tài nguyên thiên nhiên và sự đa dạng của nó chính là cơ sở hình thành các sản phẩm du lịch Chẳng hạn sự khác biệt về khí hậu thời tiết của Tây Nguyên so với cả nước là cơ sở để hình thành các sản phẩm du lịch sinh thái Hay những cánh rừng già và những dòng sông dốc và chảy siết của Tây Nguyên sẽ là cơ sở cho loại hình du lịch khám phá hay mạo hiểm Vùng đất

đỏ Bazan Tây Nguyên đã hình thành vùng chuyên canh cây công nghiệp tập trung như cà phê, hồ tiêu … đã và đang giúp cho ngành du lịch hình thành các sản phẩm du lịch liên quan tới khám phá cây cà phê…

Tài nguyên thiên nhiên cũng ảnh hưởng tới chi phí kinh doanh du lịch Chẳng hạn địa hình hiểm trở sẽ đòi hỏi chi phí cao hơn khi xây dựng cơ sở hạ tầng phát triển du lịch Thời tiết khắc nghiệt tuy giúp cho tạo ra sản phẩm nhưng chi phí cũng sẽ cao hơn

Tài nguyên nhân văn sẽ đem tới những sự khác biệt khiến khách du lịch tò mò và muốn khám phá Chẳng hạn các giá trị do cồng chiêng ở Tây Nguyên chính là sản phẩm du lịch đặc sắc của Tây Nguyên Nhà sàn Tây Nguyên và các điệu múa cuả đồng bào chính là điểm khác biệt nhưng hấp dẫn du khách đặc biệt là khách quốc tế

1.3.2 Trình độ phát triển cơ sở hạ tầng kỷ thuật và xã hội

Sự phát triển của cơ sở hạ tầng kinh tế của một quốc gia và một địa phương tiếp nhận đầu tư luôn là điều kiện vật chất hàng đầu để các chủ đầu tư

có thể nhanh chóng thông qua các quyết định và triển khai thực tế các dự án đầu tư đã cam kết Một tổng thể hạ tầng phát triển phải bao gồm một hệ thống

Trang 24

giao thông vận tải đồng bộ và hiện đại với các cầu cảng, đường xá, kho bãi và các phương tiện vận tải đủ sức bao phủ quốc gia và đủ tầm hoạt động quốc tế; một hệ thống bưu điện thông tin liên lạc viễn thông với các phương tiện nghe nhìn hiện đại Hệ thống điện nước đầy đủ phân bố tiện lợi cho các hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như đời sống xã hội Mạng lưới cung cấp các dịch

vụ khác (y tế, giáo dục, giải trí, tài chính, thương mại, quảng cáo ….) phát triển rộng khắp, đa dạng và có chất lượng cao

Hệ thống hạ tầng kinh tế kỹ thuật có vai trò lớn trong sự phát triển du lịch vì hạ tầng du lịch có tốt mấy với các khách sạn nhà hàng, khu vui chơi hay khu nghỉ hiện đại nhưng giao thông đến khó khăn thiếu phương tiện, hệ thống cấp điện nước không đồng bộ … thì tất cả những cơ sở trên không thể phát huy tác dụng có hiệu quả, chi phí dịch vụ tăng cao và điều quan trọng là khó khăn thu hút du khách

Sự phát triển du lịch phải trong mối quan hệ với sự phát triển đồng bộ của hệ thống hạ tầng kinh tế xã hội Vì hệ thống này không đồng bộ không chỉ hạn chế các hệ thống hạ tầng thành phần khác khiến cho cả hệ thống hạ tầng hoạt động kém hiệu quả từ đó hạn chế luôn hoạt động du lịch của các nơi đó Đây chính là một trong các điểm yếu trong sự phát triển du lịch Việt Nam nói chung và Tây Nguyên nói riêng

Sự đồng bộ và chất lượng hạ tầng vừa đảm bảo chất lượng dịch vụ, tiết kiệm chi phí cho du lịch, vừa góp phần tăng thêm danh mục sản phẩm du lịch

ví dụ du lịch chữa bệnh, hay du lịch mua sắm…

1.3.3 Chính sách phát triển du lịch của địa phương và chính sách xúc tiến quảng bá du lịch

a Chính sách phát triển du lịch

Sự phát triển du lịch phụ thuộc rất nhiều vào chính sách phát triển du lịch ở địa phương Vì chính sách phát triển du lịch phản ánh ý muốn chủ quan

Trang 25

của chính quyền địa phương qua đó họ sẽ tạo ra tất cả các điều kiện thuận lợi nhất cho các hoạt động du lịch nhằm thúc đẩy sự phát triển Chính sách phát triển thể hiện thông qua việc tạo dựng môi trường kinh doanh thuận lợi cùng với các chính sách ưu đãi về đất đai, tài chính và hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực Ngoài ra chính quyền còn chú trọng xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội đảm bảo cho quá trình phát triển đó

Chính sách và cơ chế tạo ra điều kiện thuận lợi hay khó khăn cho doanh nghiệp Chính môi trường tốt cắt giảm chi phí giao dịch cho doanh nghiệp khi phát triển du lịch nói chung hay phát triển các sản phẩm du lịch Kinh nghiệm

đã chỉ ra rằng môi trường kinh doanh quyết định lớn tới sự phát triển của du lịch

Xây dựng môi trường du lịch thông thoáng bằng các chính sách khuyến khích đầu tư, hợp tác phát triển du lịch trên địa bàn

Hình ảnh du lịch là tổng hợp những niềm tin, ý tưởng và ấn tượng mà người ta có về một địa phương Hình ảnh tiêu biểu cho sự đơn giản hóa phần lớn những liên hệ và các mẫu thông tin gắn liền với một địa phương Đây là bước đầu tiên trong việc tuyên truyền cho các đối tượng mục tiêu là các nhà đầu tư du lịch về hình ảnh của thành phố như là một nơi lý tưởng để du lịch,

để nghỉ ngơi và chiêm ngưỡng các danh lam thắng cảnh, nghĩa là bảo đảm khả năng thành công của các dự án đầu tư Để tạo được ấn tượng cho các nhà đầu tư về địa phương, cần xây dựng hình ảnh địa phương thật hấp dẫn và độc đáo

Trang 26

Để hình ảnh du lịch địa phương trở nên quen thuộc với mọi người cần chú ý đến hoạt động quảng bá du lịch Quảng bá hình ảnh bằng cách thuê một công ty PR chuyên nghiệp của nước ngoài để tổ chức các sự kiện lớn nhằm

PR cho địa phương Bên cạnh đó cần hoàn thiện khâu cung cấp thông tin du lịch qua website, email, liên kết với các web nổi tiếng như Google, MSN, Infoseek để du khách nước ngoài dễ tìm kiếm Một công cụ nữa cũng có tác dụng quảng bá rất lớn là làm một bộ phim truyền hình thật hay với bối cảnh chính là địa phương sẽ làm cho các du khách biết đến địa phương nhiều hơn, làm cho họ muốn đến đây để được chiêm ngưỡng những cảnh đẹp đã được nhìn thấy cũng như để nhớ lại những câu chuyện cảm động, những sự kiện đã diễn ra trong phim Ngoài ra, tổ chức các đoàn famtrip với đối tượng tham gia là đại diện cho các hãng lữ hành, các nghệ sĩ, ngôi sao nổi tiếng đến địa phương, từ đó sẽ thu hút được các du khách đến Gia Lai thông qua các nguồn thông tin đáng tin cậy này

1.4 KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN DU LỊCH CỦA CÁC ĐỊA PHƯƠNG Ở VIỆT NAM

1.4.1 Kinh nghiệm phát triển du lịch của Lâm Đồng

Lâm Đồng là tỉnh có điều kiện tự nhiên thuận lợi để phát triển du lịch Thành phố Đà Lạt là tỉnh lỵ của Lâm Đồng nằm trên cao nguyên Lâm Viên,

có độ cao trung bình trên 1.500 mét so với mặt nước biển, khí hậu mát mẻ quanh năm, nhiệt độ mùa hè tháng nóng nhất cũng không quá 200

C, tháng lạnh nhất không dưới 150

rất thích cho phát triển du lịch sinh thái, tham quan, nghỉ mát Đà Lạt có phong cảnh trữ tình, thơ mộng; nếu lấy hồ Xuân Hương làm trung tâm thì trong vòng bán kính 15 km, Đà Lạt có đến 99 thắng cảnh đẹp Có những thác nước đẹp hùng vĩ như Prenn, Cam Ly, Dantanla, Pongua, Guga; có những hồ nước rộng và thơ mộng như hồ Xuân Hương, hồ Than Thở, hồ Chiến Thắng, hồ Long Tuyền; có rừng thông bạt ngàn, nhiều ngôi

Trang 27

chùa cổ kính, nhiều biệt thự và nhà thờ có giá trị về kiến trúc Đà Lạt là thành phố của hoa, hiện nay có trên 1.500 loài hoa trong các trang trại và gia đình, trong đó có một số loài hoa nổi tiếng như Đỗ Quyên, Cẩm Tú Cầu, Mimôda, Đà Lạt hiện nay có trên 300 biệt thự cổ kính gắn với các khuôn viên rộng rải, thoáng mát; có rất nhiều nhà hàng, khách sạn, khu vui chơi, giải trí, đáp ứng nhu cầu lưu trú, ăn uống, tham quan của du khách Đến thăm quan Đà Lạt có thể mua sắm nhiều loại đặc sản như hoa, quả, bánh mứt, hàng thủ công mỹ nghệ

Có được nguồn tài nguyên du lịch phong phú và đặc sắc trên trước hết phải khẳng định công lao phát hiện và khai phá cao nguyên Lâm Viên và cao nguyên Dankia của Nguyễn Thông và Alechxandre Yersin Sau đó là sự quan tâm đầu tư, xây dựng và tôn tạo của các thế hệ những người Đà Lạt từ cuối thế kỷ 19 đến nay

Có được một Đà Lạt phát triển vượt bậc về du lịch như hôm nay, nhiều năm qua chính quyền các cấp và ngành du lịch Đà Lạt đã có nhiều cố gắng vượt qua khó khăn, đúc rút nhiều kinh nghiệm quý, sáng tạo trong hướng đi, cách làm Đó là những điều rất đáng để các tỉnh, thành phố có điều kiện tương đồng học hỏi, làm theo:

Thứ nhất, dịch vụ du lịch đã được cấp ủy, chính quyền địa phương tỉnh

Lâm Đồng nói chung, thành phố Đà Lạt nói riêng quan tâm đầu tư Tỉnh đã có quy hoạch chung phát triển du lịch đến năm 2015, có quy hoạch chi tiết phát triển du lịch tại thành phố Đà Lạt và có nhiều chính sách khuyến khích đầu tư

du lịch và hỗ trợ thu hút khách du lịch

Thứ hai, hệ thống hạ tầng du lịch của Lâm Đồng tương đối hoàn thiện,

mạng lưới giao thông gồm các quốc lộ, tỉnh lộ và các tuyến giao thông đến các điểm du lịch đã được đầu tư khá đồng bộ, chất lượng tốt Về các công trình kiến trúc, bên cạnh những nét hiện đại của thành phố Đà Lạt vẫn thấy

Trang 28

dáng dấp và những nét huyền bí từ những đền đài, biệt thự cổ kính với các kiểu kiến trúc độc đáo tạo nên cảnh quan vừa hiện đại vừa cổ kính rất hấp dẫn

và thu hút du khách

Thứ ba, kinh doanh du lịch ở Đà Lạt đã mang tính chuyên nghiệp hơn

một số thành phố khác, từ cách trang trí, đón tiếp đến phục vụ du khách Các khách sạn ở Đà Lạt chất lượng tốt và được xây dựng ở các địa hình đồi núi, thung lũng cao thấp một cách tự nhiên, tạo ra nét đặc trưng của Đà Lạt mà các thành phố cao nguyên khác như Buôn Ma Thuột, Pleiku không có được

Thứ tư, các sản phẩm du lịch của Đà Lạt rất phong phú và đa dạng

ngoài tham quan, nghỉ mát du khách có thể bơi thuyền, câu cá, di chuyển trên cáp treo viếng cảnh chùa Trúc Lâm, leo núi, cưỡi ngựa, đánh gofl, thăm các làng hoa, cây cảnh,

Thứ năm, du lịch Lâm Đồng đã xây dựng được các tour khép kín, tổ

chức nhiều điểm dừng chân ở Đà Lạt và các vùng lân cận như Bảo Lộc, Lâm

Hà, …Đặc biệt là ở Đà Lạt, ngành du lịch đã tổ chức các tour tham quan vãn cảnh, kết hợp nghỉ dưỡng để tận hưởng không khí cao nguyên mát mẻ, trong lành tạo nên nét độc đáo riêng mà một khi đã ở thì không muốn đi, đã đi vẫn muốn quay trở lại

1.4.2 Kinh nghiệm phát triển du lịch Đăk Lăk

Đak Lak là tỉnh có địa hình khá bằng phẳng so với các tỉnh Tây Nguyên khác, độ cao trung bình của tỉnh so với mặt nước biển vào khoảng từ

160 đến 200 mét, thấp hơn nhiều so với Gia Lai Đak Lak cũng nằm trong vùng khí hậu nóng ẩm, gió mùa mỗi năm có 2 mùa mưa nắng và có một số điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội tương đồng với Gia Lai Thành phố Buôn

Ma Thuột đã được Bộ Chính trị xác định là trung tâm vùng Tây Nguyên, so với Lâm Đồng thì du lịch Đak Lak còn đang trong giai đoạn hình thành và phát triển Tuy vậy, Đak Lak cũng đã đề ra các chiến lược phát triển du lịch,

Trang 29

nhất là du lịch sinh thái và thu được một số kết quả tốt Điểm nhấn trong các tour du lịch của Đak Lak là vườn quốc gia Yok Đôn và Hồ Lăk

Vườn Quốc gia Yok Đôn được thành lập theo Quyết định số

301/TC-LĐ ngày 24 thàng 6 năm 1992 của Bộ Lâm Nghiệp Vườn nằm trên địa phận các xã Krông Na, Ea Huar, Ea Ver, huyện Buôn Đôn cách thành phố Buôn

Ma Thuột 40 km về phía Tây, diện tích của vườn quốc gia rộng 58.200 ha, trong đó 90% là diện tích rừng với nhiều hệ động thực vật phong phú khá tương đồng với vườn quốc gia Kon Ka Kinh của Gia Lai Hồ Lăk nằm trên địa phận huyện Lăk cách thành phố Buôn Ma Thuột 52 km theo đường Quốc

lộ 27, cách thành phố Đà Lạt tỉnh Lâm Đồng 170 Km, mùa khô hồ có diện tích 450 ha Bên hồ vua Bảo Đại đã cho xây dựng một biệt điện diện tích 5 ha vào năm 1926-1927 để làm nơi nghỉ mát và săn bắn

Các tuyến du lịch sinh thái hiện nay Đak Lak đang khai thác có hiệu quả là tuyến đi từ Ban quản lý vườn quốc gia Yok Đôn đến núi Yok Đôn; tuyến đi thuyền trên sông Sêrêpôc tham quan các khu vực của vườn Quốc gia; tuyến thăm Buôn Đôn, một buôn với đa số là người dân tộc Lào sinh sống và nổi tiếng về nghề bắt voi truyền thống, nghỉ lại trong những nếp nhà sàn truyền thống để tìm hiểu các giá trị văn hóa của các dân tộc bản địa nơi đây; tuyến cưỡi voi, hoặc đi thuyền độc mộc trên hồ Lăk để câu cá và nghiên cứu văn hóa bản của người Ê-đê

Với tài nguyên du lịch sinh thái không phong phú và dặc sắc hơn Gia Lai, nhưng nhờ có cơ chế, chính sách phù hợp và có sự quan tâm đầu tư nên

du lịch sinh thái ở Đak Lak phát triển rất nhanh và đóng góp đáng kể vào tăng trưởng kinh tế của tỉnh

Xuất phát từ thực trạng phát triển du lịch của tỉnh Đảng bộ tỉnh Đak Lak đã đề ra phương hướng: Phát triển du lịch nhằm khai thác các tiềm năng sẵn có để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế,

Trang 30

phấn đấu đưa du lịch trở thành ngành kinh tế quan trọng Đồng thời, phát triển

du lịch phải gắn với bảo tồn, phát huy những giá trị văn hóa, lịch sử, bảo vệ cảnh quan môi trường, làm cho du lịch phát triển bền vững, góp phần giải quyết việc làm, nâng cao đời sống văn hóa tinh thần cho nhân dân

Xuất phát từ quan điểm chỉ đạo trên, Đak Lak đã triển khai một số biện pháp cả trong ngắn và dài hạn để phát triển du lịch, cụ thể là:

- Tổ chức lại các doanh nghiệp nhà nước và các cơ sở kinh doanh du lịch theo hướng thị trường, chú ý quan hệ cung cầu để tổ chức các hoạt động kinh doanh du lịch

- Đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền, tiếp thị, quảng bá du lịch thông qua các chương trình hành động cụ thể để xác lập hình ảnh và vị thế của du lịch Đak Lak đối với du khách trong nước và quốc tế

- Cùng với đầu tư khai thác có hiệu quả các tuyến du lịch hiện có, phải

mở rộng và hình thành các điểm, tuyến du lịch mới theo quy hoạch để phát huy hết tiềm năng, thế mạnh về du lịch của tỉnh Tiếp tục đa dạng hóa các loại hình du lịch và sản phẩm du lịch để đáp ứng yêu cầu của du khách

Kết quả của những giải pháp trên là trong mấy năm gần đây, du lịch Đak Lak đã được phát triển với tốc độ nhanh và có hiệu quả tương đối cao so với một số tỉnh trong khu vực

1.4.3 Một số bài học kinh nghiệm rút ra từ các tỉnh để tỉnh Gia Lai tham khảo

Từ nghiên cứu, khảo sát kinh nghiệm của Lâm Đồng, Đăk Lăk về phát triển du lịch có thể rút ra một số bài học sau:

Một là, phải thống nhất quan điểm chỉ đạo về phát triển du lịch từ cấp

ủy đến chính quyền các cấp từ tỉnh đến xã, coi du lịch là ngành kinh tế quan trọng của địa phương, đóng góp tích cực cho tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế để tập trung đầu tư, phát triển, từng bước xã hội hóa hoạt động du lịch

Trang 31

Hai là, phát triển du lịch phải theo quy hoạch, phải định hướng và dự

báo được nhu cầu du lịch của du khách cả trong nước và quốc tế, cả trong ngắn hạn và dài hạn

Ba là, Đầu tư phát triển du lịch phải có tầm nhìn xa, không thể đầu tư

nửa vời gây lãng phí tài nguyên du lịch và làm nản lòng du khách mà phải tập trung đầu tư đồng bộ, có trọng điểm từ kết cấu hạ tầng đến các dịch vụ bổ trợ

để đáp ứng mọi yêu cầu của du khách Huy động nhiều nguồn lực đầu tư cho phát triển du lịch, chú trọng công tác xã hội hóa trong đầu tư phát triển các loại hình du lịch

Bốn là, phải kết hợp có hiệu quả công tác tuyên truyền, xúc tiến, quảng

bá du lịch dưới nhiều hình thức để du khách trong và ngoài nước biết đến các điểm, tuyến du lịch của địa phương Phải bảo tồn và phát triển văn hóa đa dạng của cộng đồng các dân tộc, từ đó xây dựng các tour du lịch về buôn làng, cội nguồn, cái mà các nơi khác không có Phải thực hiện liên kết các tour du lịch trong và ngoài nước để đa dạng hóa các loại hình du lịch và thu hút du khách

Năm là, phải kiên quyết khắc phục mặt tiêu cực trong phát triển du lịch

như tệ nạn xã hội phát triển, cảnh quan thiên nhiên bị xâm hại, môi trường bị

ô nhiễm, văn hóa truyền thống bị mai một, biến dạng Đồng thời phải khắc phục các yếu kém trong quản lý để du lịch phát triển bền vững và đóng góp ngày càng nhiều cho nền kinh tế

Trang 32

CHƯƠNG 2 TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN DU LỊCH TRÊN ĐỊA BÀN

TỈNH GIA LAI

2.1 TÌNH HÌNH ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN TÀI NGUYÊN VÀ KINH TẾ

XÃ HỘI CỦA TỈNH GIA LAI

2.1.1 Điều kiện tự nhiên và tài nguyên của tỉnh Gia Lai

a Điều kiện tự nhiên

Vị trí địa lý

Gia Lai là một tỉnh miền núi biên giới nằm ở phía Bắc khu vực Tây Nguyên với diện tích tự nhiên 15.536,93 km2, có tọa độ địa lý từ 12o58’40” đến 14o37’00” độ vĩ Bắc và từ 107o28’04” đến 108o54’40” độ kinh Đông

Với vị trí địa lý như thế đã tạo cho Gia Lai những điều kiện rất thuận lợi để trở thành vị trí chiến lược về an ninh quốc phòng và phát triển kinh tế -

xã hội đối với khu vực Tây Nguyên và cả nước, đặc biệt trong lĩnh vực giao lưu hàng hóa giữa các vùng, miền Tuy nhiên vẫn có những hạn chế không nhỏ do ở xa các trung tâm phát triển lớn của cả nước như Hà Nội, Thành phố

Hồ Chí Minh cũng như ở xa các cảng biển quốc tế

Địa hình, địa mạo

Gia Lai là một tỉnh cao nguyên miền núi, có độ cao trung bình 800 –

900 m so với mực nước biển, có dãy núi Trường Sơn hùng vĩ đi ngang qua và chia tỉnh thành 2 vùng địa hình là Đông Trường Sơn và Tây Trường Sơn, với khí hậu, thổ nhưỡng khác nhau tạo nên sự đa dạng, độc đáo riêng biệt Gia Lai

có địa hình thấp dần từ Bắc xuống Nam và nghiêng từ Đông sang Tây, chia thành 3 dạng chính: địa hình đồi núi, địa hình cao nguyên và địa hình thung lũng

Khí hậu

Tỉnh Gia Lai có khí hậu nhiệt đới gió mùa cao nguyên, một năm có hai

Trang 33

mùa: Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 và kết thúc vào tháng 10, mùa khô kéo dài

từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau Lượng mưa trung bình hàng năm của tỉnh khoảng 2.100 – 2.200 mm (tiểu vùng Tây Trường Sơn có lượng mưa trung bình từ 2.200 – 2.500 mm, tiểu vùng Đông Trường Sơn có lượng mưa trung bình từ 1.200 – 1.750 mm) Nhiệt độ trung bình năm ở Gia Lai là 22 - 250

C Chế độ nhiệt thể hiện những nét cơ bản của chế độ nhiệt vùng nội chí tuyến, biên độ nhiệt độ năm nhỏ và phổ biến ở các nơi từ 4 - 50

C

Độ ẩm không khí trung bình hàng năm khoảng 80 - 83% Thời kỳ ẩm trùng với mùa mưa, kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10, có độ ẩm trung bình hơn 85% trên đại bộ phận Thời kỳ ẩm nhất là các tháng 7, 8, 9, trong đó tháng 8

là cực đại với độ ẩm đạt xấp xỉ 90%

Số giờ nắng lên đến 2000 - 2300 giờ Tháng 3 nhiều nắng nhất, quan sát được hơn 250 giờ (mỗi ngày từ 5 - 9 giờ nắng)

Hướng gió thay đổi từng nơi phụ thuộc vào địa hình nhỏ của khu vực

Về mùa đông hướng gió thịnh hành là Đông Bắc, mùa hạ thịnh hành gió Tây

và Tây Nam Về mùa đông sương mù thường dày đặc và kéo dài

Thủy văn

Hệ thống sông: Tỉnh Gia Lai có hai hệ thống sông chính là hệ thống sông Ba và hệ thống sông Sê San, ngoài ra còn có phụ lưu của sông Sêrêpok

Hệ thống hồ nước tự nhiên và nhân tạo:

Ngoài hệ thống sông suối khá phong phú, trên địa bàn tỉnh Gia Lai còn

có nhiều hồ nước tự nhiên và nhân tạo như: hồ Ayun Hạ, Biển Hồ, Ia Hrung,

Ia Năng, IaLy, Ry Ninh Các hồ này có vai trò rất quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Gia Lai, nhất là trong các lĩnh vực: sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ du lịch và phục vụ dân sinh

Nhìn chung, điều kiện tự nhiên của tỉnh Gia Lai có những thuận lợi lớn nhưng cũng có những hạn chế đối với quá trình phát triển kinh tế - xã hội nói

Trang 34

chung và phát triển du lịch nói riêng Thời tiết khí hậu của Gia Lai khá thuận lợi cho phát triển nông lâm nghiệp, tuy nhiên có yếu tố không thuận lợi là lượng mưa trong năm phân bố không đồng đều Mùa khô rất gay gắt và kéo dài, cộng thêm với địa hình khó giữ nước, dễ gây hạn hán nghiêm trọng Mùa mưa thường có kèm theo ảnh hưởng của bão và áp thấp nhiệt đới từ biển Đông xâm nhập vào đã gây ra mưa to, gió lớn và ngập lụt trên diện rộng làm xói mòn rất mạnh ở những vùng địa hình dốc và ngập úng các vùng thấp trũng gây hư hỏng nặng hệ thống giao thông trong vùng cùng các công trình

hạ tầng cơ sở khác Đó cũng là yếu tố rất bất lợi đối với việc phát triển du lịch

b Các nguồn tài nguyên

Tài nguyên nước

Tài nguyên nước mặt:

Tổng trữ lượng nước mặt của tỉnh Gia Lai khoảng 23 tỷ m3 phân bố chủ yếu trên các sông chính là hệ thống sông Ba, hệ thống sông Sê San và phụ lưu hệ thống sông Sêrêpok

Do có nhiều sông suối với đặc điểm là ngắn và dốc nên Gia Lai có tiềm năng ngành thủy điện rất lớn, trong đó hệ thống sông Sê San là một trong ba con sông có tiềm năng thủy điện lớn nhất của Việt Nam có công suất 1.485

MW, chiếm 11,30% tổng tiềm năng thủy điện quốc gia (sông Đà chiếm 44%, sông Đồng Nai chiếm 16,4%); hệ thống sông Sêrêpok có công suất 496 MW, chiếm 3,72% tổng tiềm năng thủy điện quốc gia; hệ thống sông Ba có công suất 402 MW, chiếm 2,92% tổng tiềm năng thủy điện quốc gia Qua khảo sát, Gia Lai có hàng trăm vị trí có thể xây dựng các nhà máy thủy điện vừa và nhỏ

từ 1 đến 200 Kw Các nhà máy thủy điện vừa cung cấp điện năng vừa tạo thêm các hồ chứa nước nhân tạo có khả năng phát triển hoạt động du lịch

Tài nguyên nước ngầm:

Tiềm năng nước ngầm trên địa bàn tỉnh Gia Lai có trữ lượng khá lớn,

Trang 35

chất lượng nước tốt, phân bố chủ yếu trong phức hệ chứa nước phun trào bazan cùng với các nguồn nước mặt đảm bảo cung cấp nước cho nhu cầu sản xuất và sinh hoạt Theo kết quả điều tra của liên đoàn địa chất thủy văn tại 11 vùng trên địa bàn tỉnh cho thấy tổng trữ lượng nước cấp A + B: 26.894

m3/ngày, cấp C1: 61.065 m3/ngày, cấp C2: 989.600 m3

/ngày

Gia Lai còn có một số suối nước khoáng rất thích hợp đối với loại hình

du lịch nghỉ dưỡng, chữa bệnh Các suối nước khoáng ở Gia Lai đều là suối khoáng Silic Trong số đó đáng kể nhất là suối khoáng KonBrai có nồng độ khoảng 101mg/lít và suối khoáng Rang Rịa có nồng độ khoảng 114mg/lít Với điều kiện khí hậu mát mẻ quanh năm, các suối có nồng độ khoáng cao, đây là nơi có thể quy hoạch xây dựng các khu du lịch nghỉ dưỡng, chữa bệnh

Theo phân loại của FAO – UNESCO thì đất đai của tỉnh Gia Lai có các loại sau: Nhóm đất cát: Có 41 ha, phân bố dọc theo sông Ba và chủ yếu ở huyện Krông Pa; Nhóm đất phù sa: Có diện tích 56.076 ha, chiếm 3,61% diện tích tự nhiên Phân bố ở thị xã Ayun Pa 9.726 ha, huyện Ia Pa 9.347 ha, huyện Krông Pa 10.197 ha, huyện Chư Prông 6.126 ha, huyện Chư Sê và huyện Chư Pưh 8.527 ha; Nhóm đất xám và bạc màu: Có diện tích 345.399 ha, chiếm 22,23% diện tích tự nhiên Phân bố ở huyện Krông Pa 55.963 ha, huyện Kbang 27.480 ha, thị xã Ayun Pa 26.859 ha; Nhóm đất đỏ vàng: Là nhóm đất

có diện tích lớn nhất với 756.842 ha, chiếm 48,71% diện tích tự nhiên.Nhóm

Trang 36

đất đỏ và xám nâu vùng bán khô hạn: Có 1.719 ha, phân bố ở địa hình sườn thoải, khá bằng phẳng trong vùng khí hậu bán khô hạn, tập trung ở thị xã Ayun Pa 606 ha và huyện Krông Pa 1.113 ha; Nhóm đất đen: Có 26.957 ha, chiếm 1,74% diện tích tự nhiên toàn tỉnh Nhóm đất này phân bố ở huyện Chư Prông 8.234 ha, huyện Chư Sê và huyện Chư Pưh 12.674 ha;

Tài nguyên rừng

Tỉnh Gia Lai hiện có 742.462 ha đất lâm nghiệp, trong đó có 721.517

ha đất có rừng, trữ lượng gỗ khoảng 75,6 triệu m3, sản lượng gỗ khai thác hàng năm khoảng 181,30 ngàn m3

Rừng tự nhiên của tỉnh Gia Lai chủ yếu thuộc kiểu rừng kín thường xanh, mưa ẩm nhiệt đới, chiếm đến 88,11% diện tích đất có rừng Rừng tự nhiên của tỉnh có nhiều loại cây gỗ quí hiếm, gỗ tốt như: sao, giáng hương, trắc, kiền kiền, bằng lăng, chò sót Rừng tự nhiên phát triển chủ yếu trên địa hình núi cao, các khe suối và hợp thủy có nhiều tầng và nhiều loài độ che phủ tốt, tầng thảm mục dày, đất tơi xốp Đây là nguồn tài nguyên vô cùng quí giá không chỉ của Gia Lai mà còn là của cả nước

Rừng non tái sinh và cây bụi được hình thành do quá trình khai thác rừng, những loài cây lá rộng đã nhường chỗ cho cây non phát triển Loại rừng này phân bố ở hầu hết các địa phương trên địa bàn tỉnh với thảm thực vật chủ yếu là các cây họ dầu, họ đậu, họ xoan, họ dẻ, họ gai, họ sim, cỏ lau Hiện nay loại rừng này đang bị khai thác mạnh nhất do việc chuyển đổi mục đích

Trang 37

Tài nguyên khoáng sản:

Tỉnh Gia Lai có tiềm năng khoáng sản rất phong phú và đa dạng, trong

đó có những loại chủ yếu như sau:

- Kim loại quí: Quặng bôxít có nhiều nhất ở mỏ Kon Hà Nừng, mỏ Đức Cơ Ngoài ra còn có các điểm khoáng hóa bôxít ở Thanh Giao, Lệ Thanh, Bàu Cạn, PleiMe; vàng có ở An Trung (huyện Kông Chro), KonBloYa (huyện Kbang), Ptó (huyện Phú Thiện); sắt có ở An Phú (thành phố Pleiku); kẽm có ở An Trung (huyện Kông Chro)

- Đá granít: Phân bố ở 8 điểm với trữ lượng lớn, trong đó mỏ đá Bắc Biển Hồ thuộc địa bàn thị trấn Phú Hòa và mỏ đá Chư Sê có diện tích khoảng

10 km2 là hai mỏ đá giàu về trữ lượng, tốt về chất lượng và dễ khai thác

- Đá vôi: Có 6 điểm nhưng tập trung nhiều nhất ở huyện Chư Sê

Tài nguyên du lịch

Tài nguyên du lịch tỉnh Gia Lai tuy không phong phú, đa dạng nhưng cũng mang những nét đặc sắc riêng Nổi bật là tài nguyên du lịch tự nhiên với hệ sinh thái đa dạng, rừng nguyên sinh, hệ thống các thác nước, hồ tự nhiên và nhân tạo Bên cạnh đó là nguồn tài nguyên nhân văn và những công trình di tích lịch sử - văn hóa của tỉnh như:

- Nhà lao Pleiku, khu Tây Sơn thượng đạo, di tích căn cứ địa của Anh hùng áo vải Tây Sơn Nguyễn Huệ; làng kháng chiến Stơr là quê hương của Anh hùng Núp; cùng với các địa danh Pleime, Cheo Reo, Ia Răng đã đi vào lịch sử

- Các lễ hội dân gian của những dân tộc cư trú lâu đời tại Gia Lai, không gian văn hóa cồng chiêng và các tài nguyên du lịch nhân văn khác (kiến trúc nhà Rông, nghệ thuật điêu khắc gỗ, âm nhạc, vũ điệu dân gian ) các mặt hàng thủ công truyền thống khác

Tuy nhiên, những tài nguyên du lịch hầu hết còn

Trang 38

xã và các cụm dân cư nằm ven các tuyến giao thông chính như thành phố Pleiku (817,80 người/km2), thị xã An Khê (318,59 người/km2) Ở các vùng sâu, vùng xa dân cư thưa thớt, mật độ thấp như huyện Kông Chro (29,88 người/km2

), huyện Kbang (33,85 người/km2)

Tỉnh Gia Lai có 34 dân tộc cùng sinh sống, trong đó dân tộc Kinh chiếm 55,94%, dân tộc thiểu số chiếm 44,06% Các dân tộc thiểu số có nguồn gốc lâu đời nhất hiện nay ở Gia Lai là Jrai (chiếm gần 30% dân số toàn tỉnh), Bahnar (chiếm gần 12% dân số toàn tỉnh) và một số dân tộc khác như Tày,

Nùng, Thái, Mèo, Mán, Ê Đê, M'Nông, Hơ Rê, Khơ Me, Xê Đăng, Hoa Lao động

Năm 2010, cả tỉnh có 742.372 lao động làm việc trong các ngành kinh

tế, trong đó có 10.775 người làm việc trong ngành dịch vụ lưu trú và ăn uống

Trong tổng số lao động của tỉnh thì số lao động được đào tạo qua ngành nghề chiếm tỷ lệ tương đối thấp, nhất là số lao động là người dân tộc thiểu số; năm 2008 chỉ chiếm 26%, năm 2009 chiếm 28% và năm 2010 chiếm khoảng 30% Phần lớn số lao động có tay nghề cao và có trình độ cơ bản từ trung cấp đến đại học tập trung tại các khu đô thị là thành phố, thị xã, thị trấn; ở khu

vực nông thôn còn quá ít

2.2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH GIA LAI

2.2.1 Tình hình gia tăng doanh thu du lịch

Trong 5 năm qua (2005 - 2010), du lịch Việt Nam đã có những bước

Trang 39

chuyển biến quan trọng trong điều kiện nhiều thuận lợi nhưng cũng không ít khó khăn và thách thức Đây cũng là thời kỳ 5 năm cuối thực hiện chiến lược phát triển du lịch Việt Nam giai đoạn 2001 - 2010, cũng là giai đoạn gắn liền với sự nghiệp đổ i mới , công nghiệp hóa - hiện đại hóa của đất nước Trong thời kỳ này, du lịch Việt Nam có sự phát triển rõ rệt, đạt được những kết quả khả quan đáng ghi nhận: nhận thức về du lịch của các cấp, các ngành được nâng cao; cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật được cải thiện cả về chất lượng lẫn chất lượng; lượng khách nội địa và quốc tế đều tăng trưởng khá cao, năm 2010 đón 5 triệu lượt khách quốc tế và 28 triệu lượt khách nội địa; năm 2008 du lịch đã đóng góp 4,99% vào GDP; thu hút được 250 dự án đầu

tư với tổng vốn đăng ký gần 4,5 tỷ USD Vị thế , vai trò của ngành du lịch ngày càng được nâng cao Tiếp theo Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX , Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng tiếp tục xác định du lịch là ngành kinh tế quan trọng của đất nước và được thể chế hóa trong Luật Du lịch năm 2005 Tuy nhiên, trong thời kỳ này ngành du lịch Việt Nam cũng phải đương đầu với những khó khăn, thách thức không nhỏ Tình hình khủng hoảng kinh tế thế giới, dịch cúm H1N1 và biến động chính trị ở một số nước

và vùng lãnh thổ đã ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động du lịch (năm 2009 lượng khách quốc tế đến Việt Nam chỉ đạt 3,8 triệu lượt, giảm 11,5% so với năm 2008) Trong nước, một số hạn chế yếu kém của bản thân ngành du lịch vẫn chậm được khắc phục, du lịch phát triển chưa tương xứng với tiềm năng

và chưa có bước đột phá để khẳng định du lịch thực sự là ngành kinh tế mũi nhọn

Trong 5 năm qua, cùng với sự phát triển du lịch của cả nước, các tỉnh trong vùng Tây Nguyên đang dần khẳng định những thế mạnh về du lịch của mình Các tỉnh: Lâm Đồng, Đắc Lắc, Đắc Nông, Gia Lai, Kon Tum đã có những nỗ lực trong công tác quảng bá, thu hút đầu tư và khai thác các tuyến điểm du lịch Nhiều sự kiện văn hóa - du lịch có quy mô lớn đã được tổ chức

Trang 40

như: Festival Hoa Đà Lạt, Festival Cồng chiêng, Lễ hội cà phê Buôn Ma Thuột Nhiều sản phẩm du lịch mới, nhiều khu du lịch có ý nghĩa quốc gia

và vùng đã được đưa vào khai thác như: Voi Bản Đôn (tỉnh Đắc Lắc), khu du lịch Đan Kia - Đà Lạt (tỉnh Lâm Đồng), khu du lịch Măng Đen (tỉnh Kon Tum) Đặc biệt, năm 2005 Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Đề án phương hướng và giải pháp đẩy mạnh phát triển du lịch khu vực miền Trung - Tây Nguyên (Quyết định số 194/2005/QĐ-TTg ngày 04/8/2005), đây là cơ sở quan trọng cho việc triển khai công tác đầu tư, đẩy mạnh hoạt động du lịch của khu vực Cũng trong năm 2005, không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên được UNESCO công nhận là Kiệt tác văn hóa phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại đã trở thành cú hích cho sự phát triển du lịch của cả vùng Tây Nguyên Trong thời kỳ này, cơ sở hạ tầng vùng Tây Nguyên được Đảng

và Nhà nước quan tâm đầu tư đáng kể, nhất là mạng lưới giao thông đường bộ (nâng cấp quốc lộ 14, quốc lộ 25, quốc lộ 19, quốc lộ 24; xây dựng mới tuyến đường Đông Trường Sơn, tuyến đường nối Nha Trang - Đà Lạt; nâng cấp và

mở rộng các tuyến đường tỉnh, đường huyện tại các tỉnh ) và hạ tầng tại các cửa khẩu thông thương với nước bạn Campuchia (cửa khẩu quốc tế Lệ Thanh, cửa khẩu quốc tế Bờ Y ) góp phần thúc đẩy hoạt động du lịch phát triển Tuy nhiên, trong thời kỳ này do một số nguyên nhân khách quan (vẫn là khu vực nhạy cảm về an ninh chính trị) và chủ quan (thiếu sự liên kết giữa các địa phương, sản phẩm du lịch trùng lắp ) nên du lịch các tỉnh trong vùng Tây Nguyên phát triển vẫn chưa tương xứng với tiềm năng và còn bộc lộ nhiều hạn chế Lượng khách du lịch quốc tế và nội địa đến vùng Tây Nguyên thấp

so với các vùng khác của cả nước Năm 2005 cả vùng Tây Nguyên đón 129.130 lượt khách quốc tế và 1.863.902 lượt khách nội địa; năm 2008 cả vùng Tây Nguyên đón 190.321 lượt khách quốc tế và 2.717.751 lượt khách nội địa Đây là con số rất khiêm tốn so với các vùng khác trong cả nước

Ngày đăng: 28/11/2017, 11:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w