1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch tỉnh Bắc Kạn đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2030

153 980 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 153
Dung lượng 1,24 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để liên kết khai thác phát triển các tour, tuyến du lịchlịch sử, văn hóa trong vùng.Bắc Kạn có một số đền, chùa tiêu biểu như đền Thắm, chùa Thạch Long, đềnThác Giềng huyện Chợ Mới; đền

Trang 1

MỤC LỤC PHẦN MỞ ĐẦU 4

1 Sự cần thiết phải xây dựng Quy hoạch 4

2 Các căn cứ xây dựng quy hoạch 5

3 Quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ xây dựng Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch tỉnh Bắc Kạn đến năm 2015, tầm nhìn đến năm 2030 8

4 Giới hạn phạm vi của Quy hoạch 9

5 Phương pháp lập Quy hoạch 10

PHẦN NỘI DUNG 11 CHƯƠNG 1 ĐÁNH GIÁ NGUỒN LỰC VÀ HIỆN TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH TỈNH BẮC KẠN I ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ THỰC HIỆN QUY HOẠCH TỔNG THỂ PHÁT TRIỂN DU LỊCH TỈNH BẮC KẠN GIAI ĐOẠN 1998 - 2010 11 1 Khái quát các nội dung chính của Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 1998 - 2010 11 2 Nhận xét, đánh giá nội dung Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 1998 – 2010 12

3 Một số bài học kinh nghiệm 13

II XÁC ĐỊNH VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA DU LỊCH BẮC KẠN TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA TỈNH VÀ TRONG TỔNG THỂ DU LỊCH CỦA VÙNG VÀ QUỐC GIA 14 1 Vị trí, vai trò của du lịch trong phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bắc Kạn 14

2 Vị trí, vai trò của du lịch Bắc Kạn và trong phát triển du lịch vùng và cả nước 15

III TIỀM NĂNG TÀI NGUYÊN DU LỊCH VÀ CÁC NGUỒN LỰC PHÁT TRIỂN DU LỊCH TỈNH BẮC KẠN 16 1 Tiềm năng tài nguyên du lịch 16

2 Các nguồn lực cho phát triển du lịch 36

3 Đánh giá chung 42

IV HIỆN TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH TỈNH BẮC KẠN (2005 - 2015) 44 1 Khách du lịch 44

2 Tổng thu từ khách du lịch 49

3 Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch 50

4 Nguồn nhân lực du lịch 52

5 Đầu tư phát triển du lịch 54

6 Hiện trạng về sản phẩm du lịch 56

7 Hoạt động xúc tiến, quảng bá du lịch 58

8 Công tác quản lý nhà nước về du lịch 59

9 Liên kết phát triển du lịch Bắc Kạn 59

Trang 2

10 Đánh giá chung về hiện trạng phát triển du lịch 60

V BỐI CẢNH VÀ XU THẾ PHÁT TRIỂN DU LỊCH TRONG NƯỚC VÀ QUỐC TẾ CÓ ẢNH HƯỞNG ĐẾN PHÁT TRIỂN DU LỊCH BẮC KẠN 63 1 Bối cảnh phát triển trong nước và quốc tế 63

2 Xu thế phát triển du lịch trong nước và quốc tế đến năm 2030 67

3 Những khó khăn, thách thức ảnh hưởng đến phát triển du lịch Bắc Kạn 71

CHƯƠNG 2 QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN DU LỊCH TỈNH BẮC KẠN ĐẾN NĂM 2025, TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2030 72 I QUAN ĐIỂM, MỤC tIÊU PháT TRIỂN DU LỊch tỈNh BẮC KẠN 72 1 Quan điểm phát triển du lịch 72

2 Các mục tiêu phát triển 74

II ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH THEO NGÀNH 75 1 Định hướng chung 75

2 Dự báo và luận chứng các phương án phát triển du lịch 76

III ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG, SẢN PHẨM DU LỊCH 87 1 Định hướng phát triển các thị trường du lịch 87

2 Định hướng một số sản phẩm du lịch chủ yếu của Bắc Kạn 94

IV ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH THEO ĐỊA BÀN 99 1 Định hướng phát triển không gian du lịch (hướng phát triển) 99

2 Định hướng phát triển các cụm du lịch 100

3 Định hướng phát triển hệ thống tuyến, điểm du lịch 103

4 Nhu cầu sử dụng đất phát triển du lịch 107

V ĐỊNH HƯỚNG VỀ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN DU LỊCH 108 1 Mục tiêu đầu tư 108

2 Quan điểm đầu tư 109

3 Các lĩnh vực cần ưu tiên đầu tư 109

4 Các chương trình và dự án đầu tư phát triển du lịch 110

5 Tổng nhu cầu đầu tư và cơ cấu nguồn vốn đầu tư 110

6 Những chương trình, dự án tập trung cho du lịch Bắc Kạn trong thời gian đầu .115 VI ĐỊNH HƯỚNG BẢO VỆ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG DU LỊCH 116 1 Dự báo các tác động chủ yếu tới môi trường từ hoạt động du lịch 116

2 Định hướng một số hoạt động bảo vệ tài nguyên và môi trường 120

CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN QUY HOẠCH 124 I GIẢI PHÁP THỰC HIỆN QUY HOẠCH 124 1 Nhóm giải pháp về nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về du lịch 124

Trang 3

2 Nhóm giải pháp về đầu tư và cơ chế chính sách phát triển du lịch 126

3 Nhóm giải pháp về phát triển thị trường, sản phẩm du lịch 134

4 Nhóm giải pháp về đào tạo phát triển nguồn nhân lực du lịch nói chung và đào tạo sử dụng lao động nghề du lịch nói riêng 137

5 nhóm giải pháp về sự tham gia của cộng đồng trong phát triển du lịch 140

6 Nhóm giải pháp về phối hợp và hợp tác liên kết trong phát triển du lịch 140

7 Nhóm giải pháp về bảo vệ tài nguyên và môi trường du lịch 144

8 Nhóm giải pháp về tăng cường công tác quảng bá, xúc tiến phát triển du lịch 145

9 Nhóm giải pháp về ứng dụng khoa học, công nghệ 146

II TỔ CHỨC THỰC HIỆN QUY HOẠCH 147 1 Công bố quy hoạch 147

2 Phân công trách nhiệm thực hiện 147

PHẦN KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 149 I KẾT LUẬN 149 II KIẾN NGHỊ 151 1 Kiến nghị với Chính phủ 151

2 Kiến nghị với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch và Tổng cục Du lịch 151

Trang 4

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Sự cần thiết phải xây dựng Quy hoạch

Bắc Kạn là tỉnh miền núi nằm sâu trong nội địa vùng Đông Bắc Việt Nam, thuộcvùng du lịch Trung du miền núi Bắc Bộ; phía Đông giáp tỉnh Lạng Sơn, phía Tâygiáp tỉnh Tuyên Quang, phía Nam giáp tỉnh Thái Nguyên, phía Bắc giáp tỉnh CaoBằng Diện tích tự nhiên 4.859,961 km², dân số năm 2015 có 313084 người, mật độdân số 64,4 người/km² Nằm trên trục Quốc lộ 3, cao tốc Hà nội – Thái Nguyên – BắcKạn theo hướng Nam - Bắc và Quốc lộ 279, Quốc lộ 3B theo hướng Đông - Tây (cáctrục giao thông quan trọng của vùng Trung du miền núi Bắc Bộ), Bắc Kạn có vị tríquan trọng trong phát triển kinh tế và bảo vệ an ninh quốc phòng, là điều kiện thuậnlợi để Bắc Kạn giao lưu với các tỉnh trong vùng, cũng như với cả nước và quốc tếtrong phát triển du lịch

Bắc Kạn có nguồn tài nguyên du lịch, đặc biệt là tài nguyên du lịch tự nhiên đadạng, phong phú, có tiềm năng rất lớn để phát triển du lịch, trong đó nổi bật là vườnquốc gia Ba Bể mà trung tâm là hồ Ba Bể, danh lam thắng cảnh đẹp nổi tiếng đượccông nhận di tích lịch sử văn hóa quốc gia (năm 1996), được công nhận là di tíchdanh thắng quốc gia đặc biệt (năm 2012) Hội nghị các Hồ nước ngọt thế giới tổ chứctại Mỹ tháng 3/1995 đã công nhận hồ Ba Bể là một trong 20 hồ nước ngọt đặc biệtcủa thế giới cần được bảo vệ Vườn quốc gia Ba Bể đã được công nhận là Vườn disản ASEAN, khu RAMSA thứ 1.938 của thế giới và khu RAMSA thứ 3 của ViệtNam Với tính đa dạng sinh học cao, cảnh quan thiên nhiên đẹp, hấp dẫn, hệ thốngsông, hồ, hang động phong phú, giá trị văn hóa các dân tộc đặc sắc Vườn quốc gia

Ba Bể là trọng tâm, điểm nhấn để phát triển nhiều loại hình du lịch như: Du lịch sinhthái; du lịch tham quan, nghiên cứu; du lịch nghỉ dưỡng; du lịch cộng đồng; du lịchthể thao mạo hiểm, vui chơi giải trí cuối tuần

Bên cạnh nguồn tài nguyên du lịch tự nhiên hấp dẫn, Bắc Kạn còn có nguồn tàinguyên du lịch văn hóa đa dạng, phong phú, mà điển hình là các phong tục tập quán,

lễ hội của đồng bào các dân tộc Tày, Nùng, Mông, Dao ; các bản nhà sàn bên sườnnúi, ven sông hồ; các làn điệu hát then, đàn tính, hát sli, lượn mang đậm bản sắcvăn hóa của đồng bào các dân tộc vùng cao; các di tích lịch sử cách mạng thuộc khuATK (huyện Chợ Đồn), di tích chiến thắng đèo Giàng, di tích đồn Phủ Thông, di tích

Nà Tu (huyện Bạch Thông)… Là những di tích lịch sử mang dấu ấn một thời về cuộcđời hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đồng chí lãnh đạo cao cấpcủa Đảng, Nhà nước, của quân đội và nhân dân Bắc Kạn trong thời kỳ kháng chiếnchống thực dân và đế quốc xâm lược Các điểm di tích lịch sử, văn hóa của Bắc Kạn

1 Theo BC kiểm kê đất đai số 334/BC-UBND ngày 21/10/2015 của tỉnh Bắc Kạn

Trang 5

có thể khai thác để kết nối với các điểm du lịch của các tỉnh lân cận như khu ATKĐịnh Hóa (Thái Nguyên), khu di tích lịch sử Tân Trào (Tuyên Quang), khu di tíchlịch sử Pác Bó (Cao Bằng) Để liên kết khai thác phát triển các tour, tuyến du lịchlịch sử, văn hóa trong vùng.

Bắc Kạn có một số đền, chùa tiêu biểu như đền Thắm, chùa Thạch Long, đềnThác Giềng (huyện Chợ Mới); đền Mẫu, đền Cô, (thành phố Bắc Kạn); đền An Mã,chùa Phố Cũ, chùa Thẳm Thinh (huyện Ba Bể) Với kiến trúc, cảnh quan thiên nhiênđẹp, là những điểm du lịch văn hóa tâm linh có thể khai thác thu hút khách du lịch.Với những lợi thế nhất định về tiềm năng du lịch nhưng trong thời gian qua việckhai thác các lợi thế đó để phát triển du lịch ở Bắc Kạn còn rất hạn chế, số lượt khách

du lịch đến Bắc Kạn, đặc biệt là khách quốc tế còn ít, tổng thu từ du lịch còn thấpchưa có những đóng góp lớn cho kinh tế - xã hội của địa phương… Sự phát triển củangành du lịch chưa tương xứng với tiềm năng, một trong những nguyên nhân hạn chế

đó là công tác quy hoạch, xây dựng chiến lược phát triển du lịch còn chậm và thựchiện chưa hiệu quả; thiếu sự liên kết và hợp tác chặt chẽ giữa các ngành, các cấp ởđịa phương cũng như sự phối hợp với các địa phương khác vùng Bên cạnh đó, trongmấy năm gần đây tình hình chính trị, kinh tế thế giới có nhiều biến động, ít nhiều ảnhhưởng đến phát triển du lịch Việt Nam nói chung và du lịch Bắc Kạn nói riêng.Ngành du lịch Bắc Kạn đã và đang chịu sự tác động của nhiều yếu tố cả chủ quan vàkhách quan nên mức độ phát triển chưa tương xứng với tiềm năng, du lịch phát triểnthiếu sự bền vững, còn bộc lộ nhiều hạn chế về cơ sở vật chất kỹ thuật, hạ tầng, laođộng, thị trường, sản phẩm…Chính vì những lý do trên, việc nghiên cứu xây dựng

Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch tỉnh Bắc Kạn đến năm 2025, tầm nhìn đến năm

2030 là rất cần thiết và cấp bách nhằm đưa ra những định hướng, những mục tiêu,

những chiến lược, những giải pháp cụ thể… Để khai thác có hiệu quả những lợi thế

về tiềm năng của tỉnh phục vụ phát triển du lịch, tạo cơ hội cho du lịch Bắc Kạn pháttriển tương xứng và chiếm vị trí quan trọng trong tổng thể du lịch cả nước và kinh tế -

xã hội của địa phương

2 Các căn cứ xây dựng quy hoạch

Việc nghiên cứu xây dựng “Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch tỉnh Bắc Kạn đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2030” được thực hiện dựa trên những căn cứ

pháp lý cơ bản sau:

- Luật Du lịch số 44/2005/QH11 ngày 14/6/2005;

- Luật Đa dạng sinh học số 20/2008/QH12 ngày 13/11/2008;

- Luật Di sản Văn hóa số 28/2001/QH10 ngày 29/6/2001, và Luật sửa đổi bổsung một số điều của Luật Di sản văn hóa số 32/2009/QH12 ngày 18/6/2009;

Trang 6

- Luật Đất đai số 45/2013/QH13 ngày 29 tháng 11 năm 2013;

- Luật Bảo vệ Môi trường số 55/2014/QH13 ngày 23/6/2014;

- Quyết định số 2473/QĐ-TTg ngày 30/12/2011 của Thủ tướng Chính phủ phêduyệt “Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm2030”;

- Quyết định số 201/QĐ-TTg ngày 22/01/2013 của Thủ tướng Chính phủ phêduyệt “Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến 2020, tầm nhìn đến năm2030”;

- Quyết định số 1890/QĐ-TTg ngày 14/10/2010 của Thủ tướng Chính phủ phêduyệt “Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bắc Kạn thời kỳ đến năm2020”;

- Nghị định số 92/2006/NĐ-CP ngày 07/9/2006 của Chính phủ về lập, phêduyệt và quản lý quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội;

- Nghị định 92/2007/NĐ-CP ngày 01/6/2007 của Chính phủ quy định chi tiếtthi hành một số điều của Luật Du lịch;

- Nghị định số 04/2008/NĐ - CP ngày 11 tháng 01 năm 2008 của Chính phủsửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 92/2006/NĐ - CP ngày 07 tháng 9năm 2006 của Chính phủ về lập, phê duyệt và quản lý quy hoạch tổng thể phát triểnkinh tế - xã hội;

- Nghị định số 98/2010/NĐ-CP ngày 21/09/2012 của Chính Phủ Quy định chitiết thi hành một số điều luật của Luật Di sản văn hóa và Luật sửa đổi, bổ sung một sốđiều Luật Di sản văn hóa;

- Nghị định số 180/2013/NĐ/CP ngày 14 tháng 11 năm 2013 của Chính phủsửa đổi, bổ sung một số điều của nghị định số 92/2007/NĐ-CP ngày 01 tháng 6 năm

2007 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Du lịch;

- Nghị quyết số 21/2013/NQ – CP ngày 07/2/2013 của Chính Phủ về quy hoạch

Trang 7

- Thông tư 01/2012/TT-BKHĐT ngày 09/02/2012 của Bộ Kế hoạch và Đầu tưhướng dẫn xác định mức chi phí cho lập, thẩm định và công bố quy hoạch tổng thểphát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch phát triển ngành, lĩnh vực và sản phẩm chủ yếu;

- Thông tư 05/2013/TT-BKHĐT ngày 31/10/2013 của Bộ Kế hoạch và Đầu tưhướng dẫn tổ chức lập, thẩm định, phê duyệt, điều chỉnh và công bố quy hoạch tổngthể phát triển kinh tế - xă hội, quy hoạch ngành, lĩnh vực và sản phẩm chủ yếu;

- Quyết định số 419/QĐ-TTg ngày 17/3/2016 của Thủ tướng Chính phủ phêduyệt Quy hoạch xây dựng vùng chiến khu cách mạng ATK liên tỉnh Thái Nguyên –Tuyên Quang – Bắc Kạn đến năm 2030;

- Quyết định số 2714/QĐ-BVHTTDL ngày 03/8/2016 của Bộ VHTTDL vềphê duyệt đề án “Chiến lược phát triển sản phẩm du lịch Việt Nam đến năm 2025,định hướng đến năm 2030”

- Nghị quyết số 18-NQ/TU ngày 19/4/2012 của Tỉnh ủy Bắc Kạn về phát triểnthương mại, dịch vụ, du lịch trên địa bàn tỉnh đến năm 2015, định hướng đến năm2020;

- Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Bắc Kạn lần thức XI, nhiệm kỳ 2015 –2020;

- Quyết định số 1925/ QĐ- UBND ngày 29 tháng 9 năm 2006 của Ủy ban nhândân tỉnh Bắc Kạn về việc ban hành quy chế quản lý di sản Vườn Quốc gia Ba Bể;

- Quyết định số 931/QĐ-UBND ngày 19/6/2012 của Ủy ban nhân dân tỉnh Vềviệc phê duyệt Đồ án điều chỉnh mở rộng quy hoạch chung xây dựng thị xã Bắc Kạn,tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 2010 -2020, định hướng đến năm 2030;

- Quyết định số 1872/QĐ-UBND ngày 30/10/2013 của Ủy ban nhân dân tỉnhBắc Kạn về việc phê duyệt Quy hoạch xây dựng Khu du lịch Ba Bể, tỉnh Bắc Kạnđến năm 2030

- Quyết định số 1454/ QĐ- UBND ngày 10 tháng 9 năm 2013 của Ủy ban nhândân tỉnh Bắc Kạn về việc ban hành quy chế quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị lịch

sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn;

- Quyết định số 1180/QĐ-UBND ngày 30/12/1998 của Ủy ban nhân dân tỉnhBắc Kạn về việc nghiệm thu phê duyệt dự án quy hoạch phát triển ngành du lịch;

- Quyết định số 172/2006/QĐ-UBND ngày 25/1/2006 về việc phê duyệt đề ánQuy hoạch tổng thể hệ thống đô thị và khu dân cư nông thôn tỉnh Bắc Kạn năm 2020;

- Quyết định số 1803/QĐ-UBND ngày 15/10/2014 của Ủy ban nhân dân tỉnhBắc Kạn về việc nghiệm thu phê duyệt đề cương nhiệm vụ, dự toán kinh phí Quyhoạch tổng thể phát triển du lịch tỉnh Bắc Kạn đến năm 2025, tầm nhìn đến năm2030;

Trang 8

- Văn bản số 3162/UBND-VX ngày 30/10/2013 của UBND tỉnh Bắc Kạn vềviệc cho ý kiến lập quy hoạch phát triển sự nghiệp văn hóa và quy hoạch tổng thểphát triển du lịch;

- Niên giám thống kê tỉnh Bắc Kạn từ năm 2005 đến 2015 và các tài liệu khác

điểm chính như sau:

- Đảm bảo các nguyên tắc về quy hoạch du lịch đã được quy định trong Luật

- Phát huy lợi thế về tiềm năng du lịch và các nguồn lực khác của địa phương;khai thác và sử dụng hợp lý, hiệu quả tài nguyên để đáp ứng nhu cầu phát triển dulịch

3.2 Mục tiêu Quy hoạch

Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch tỉnh Bắc Kạn đến năm 2025, tầm nhìnđến năm 2030 là bước cụ thể hóa các định hướng phát triển kinh tế - xã hội tỉnh BắcKạn thời kỳ 2010 - 2020 và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội tỉnh Đảng bộ lầnthứ XI nhằm:

- Thực hiện công tác quản lý phát triển du lịch có hiệu quả và thống nhất trongmối liên hệ liên ngành trong toàn tỉnh và với các địa phương khác trong vùng cũngnhư trong phạm vi cả nước;

- Tạo cơ sở xây dựng Quy hoạch phát triển du lịch ở các khu du lịch trọngđiểm, các dự án đầu tư phát triển du lịch trên địa bàn Bắc Kạn góp phần khai thác cóhiệu quả tiềm năng du lịch địa phương;

- Xây dựng được hệ thống quan điểm, mục tiêu phát triển ngành du lịch BắcKạn một cách bền vững, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, thúcđẩy các ngành khác phát triển;

Trang 9

- Đưa ra các chỉ tiêu cụ thể, các định hướng và giải pháp phát triển du lịch làm

cơ sở để lập ra các kế hoạch trung và ngắn hạn, đảm bảo tính khả thi, cân đối cung cầu, khai thác có hiệu quả tiềm năng du lịch, phát huy thế mạnh, tạo sản phẩm du lịchđặc thù của địa phương, góp phần đẩy nhanh phát triển các ngành dịch vụ trở thànhngành có tỷ trọng cao trong cơ cấu kinh tế của tỉnh

-3.3 Nhiệm vụ Quy hoạch

Để đạt được các mục tiêu trên, nhiệm vụ chủ yếu của Quy hoạch tổng thể pháttriển du lịch Bắc Kạn bao gồm:

- Xác định vị trí, vai trò và lợi thế phát triển du lịch trong phát triển kinh tế - xãhội của địa phương, phát triển du lịch vùng, quốc gia trong giai đoạn phát triển mới;

- Phân tích, đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, tiềm năng và cácnguồn lực phát triển du lịch;

- Đánh giá hiện trạng phát triển du lịch tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 2005 – 2015,những thành công, hạn chế và rút ra bài học kinh nghiệm làm căn cứ xây dựng địnhhướng phát triển du lịch Bắc Kạn trong giai đoạn 2016 – 2030;

- Nhận định, đánh giá những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức đối với

du lịch tỉnh Bắc Kạn trong giai đoạn phát triển mới;

- Xác định các quan điểm, mục tiêu phát triển du lịch Bắc Kạn đến năm 2025,tầm nhìn đến năm 2030; dự báo các chỉ tiêu và luận chứng các phương án phát triển

du lịch;

- Xây dựng định hướng phát triển du lịch tỉnh Bắc Kạn đến năm 2025, tầmnhìn đến năm 2030;

- Đánh giá các tác động đến môi trường trong quá trình thực hiện Quy hoạch

du lịch và đề xuất các giải pháp bảo vệ tài nguyên và môi trường du lịch;

- Đề xuất các chính sách, giải pháp phát triển du lịch và tổ chức thực hiện Quyhoạch

4 Giới hạn phạm vi của Quy hoạch

4.1 Về không gian

Giới hạn phạm vi lập Quy hoạch bao gồm toàn bộ lãnh thổ tỉnh Bắc Kạn với 8đơn vị hành chính (thành phố Bắc Kạn, huyện Ba Bể, huyện Bạch Thông, huyện ChợĐồn, huyện Chợ Mới, huyện Na Rì, huyện Ngân Sơn, huyện Pác Nặm)

4.2 Về thời gian

- Nghiên cứu hiện trạng phát triển du lịch Bắc Kạn giai đoạn 2005 – 2015;

- Nghiên cứu lập Quy hoạch đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2030

Trang 10

5 Phương pháp lập Quy hoạch

Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch tỉnh Bắc Kạn đến năm 2025, tầm nhìn

đến năm 2030 được xây dựng dựa trên việc sử dụng tổng hợp các phương pháp sau:

- Phương pháp thu thập tài liệu: Được sử dụng để lựa chọn những tài liệu, số

liệu, những thông tin có liên quan đến nội dung và đối tượng nghiên cứu trong quyhoạch, phương pháp này rất quan trọng, là tiền đề giúp cho việc phân tích, đánh giátổng hợp các nội dung và đối tượng nghiên cứu một cách khách quan và chính xác

- Phương pháp phân tích tổng hợp: Được sử dụng trong suốt quá trình phân

tích, đánh giá toàn diện các nội dung, các đối tượng nghiên cứu trong Quy hoạchnhư: Thực trạng tiềm năng tài nguyên du lịch; thực trạng công tác tổ chức quản lý vàkhai thác tài nguyên du lịch; thực trạng phát triển của hệ thống cơ sở hạ tầng phục vụphát triển du lịch; thực trạng biến động của môi trường du lịch; thực trạng phát triểncủa các chỉ tiêu kinh tế du lịch

- Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa: Được thực hiện nhằm điều tra bổ

sung hoặc kiểm tra lại những thông tin quan trọng cần thiết cho quá trình phân tích,đánh giá và xử lý các tài liệu và số liệu Thông qua phương pháp này cho phép xácđịnh cụ thể hơn về vị trí, ranh giới, quy mô cũng như tầm quan trọng của các đốitượng nghiên cứu; đồng thời còn cho phép xác định khả năng tiếp cận đối tượng (xácđịnh được khả năng tiếp cận bằng các loại phương tiện gì từ thị trường khách du lịchđến các điểm tài nguyên) Mặt khác, trong thực tế công tác thống kê các số liệu củacác ngành nói chung và của ngành du lịch nói riêng còn chưa hoàn chỉnh đồng bộ,còn nhiều bất cập, chưa thống nhất Do vậy phương pháp nghiên cứu và khảo sát thựcđịa tại chỗ là không thể thiếu trong quá trình lập Quy hoạch

- Phương pháp dự báo, chuyên gia: Áp dụng phương pháp dự báo, chuyên gia

để nghiên cứu một cách toàn diện các yếu tố khách quan và chủ quan; các yếu tốtrong nước và quốc tế; các yếu tố trong và ngoài ngành du lịch; những thuận lợi vàkhó khăn thách thức , có ảnh hưởng sâu sắc đến sự phát triển du lịch Việt Nam nóichung và của tỉnh Bắc Kạn nói riêng; trên cơ sở đó, dự báo các chỉ tiêu phát triển dulịch một cách bền vững; nghiên cứu tổ chức không gian lãnh thổ du lịch trong việc đềxuất các trọng điểm, các dự án, các lĩnh vực ưu tiên đầu tư; cũng như trong việc xácđịnh các sản phẩm du lịch đặc thù của địa phương

- Phương pháp bản đồ: Được sử dụng trên cơ sở kết quả các nội dung phân

tích, đánh giá, tổng hợp của Quy hoạch Với các kết quả đã được nghiên cứu, thôngqua phương pháp bản đồ sẽ thể hiện một cách trực quan các nội dung nghiên cứu, các

số liệu cụ thể trên biểu đồ; cũng như xác định đặc điểm và sự phân bố theo lãnh thổcủa các đối tượng được nghiên cứu trên bản đồ (sự phân bố nguồn tài nguyên và mức

Trang 11

độ hấp dẫn của chúng, sự phân bố của hệ thống kết cấu hạ tầng, các tuyến điểm dulịch, các hạt nhân du lịch, các dự án ưu tiên…

PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1 ĐÁNH GIÁ NGUỒN LỰC VÀ HIỆN TRẠNG PHÁT TRIỂN

- Đánh giá tài nguyên du lịch: Theo đó có được những nhận xét đánh giá về vịtrí địa lý; điều kiện tự nhiên; tình hình phát triển KT-XH Bắc Kạn giai đoạn 1991 –1997; cơ sở hạ tầng kỹ thuật; tài nguyên du lịch Bắc Kạn

- Đánh giá thực trạng phát triển du lịch tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 1995 - 1997

trên cơ sở phân tích những chỉ tiêu chuyên ngành cơ bản: Khách du lịch, thu nhập dulịch, cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch, lao động trong du lịch, đầu tư du lịch…

- Định hướng phát triển du lịch Bắc Kạn giai đoạn đến năm 2010 bao gồm:

 Dự báo các chỉ tiêu phát triển ngành:

Chỉ tiêu phát triển du lịch Đơn vị 2000 2005 2010

Trang 12

tổng GDP

Nguồn: Quy hoạch 1998-2010

 Định hướng phát triển sản phẩm du lịch bao gồm:

- Sản phẩm du lịch theo cụm Bắc Kạn và phụ cận: Vui chơi giải trí, thể thao, vănhóa, tham quan nghiên cứu di tích lịch sử văn hóa, nghỉ dưỡng, hội nghị hội thảo

- Sản phẩm du lịch theo cụm hồ Ba Bể và phụ cận: Du lịch nghỉ dưỡng, du lịchtìm hiểu bản sắc văn hóa, nghiên cứu khoa học, du lịch cuối tuần, du lịch thể thao, dulịch hội nghị, hội thảo…

 Quy hoạch theo lãnh thổ phát triển du lịch; điểm du lịch, tuyến du lịch, cụm

2 Nhận xét, đánh giá nội dung Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch tỉnh

Bắc Kạn giai đoạn 1998 – 2010

Quy hoạch đã thể hiện được khá đầy đủ những nội dung của một Quy hoạchtổng thể chuyên ngành du lịch theo quy định của Luật Du lịch Các tính toán dự báotại Quy hoạch đã được thực hiện trên cơ sở phân tích các định hướng Quy hoạch pháttriển kinh tế - xã hội tỉnh Bắc Kạn và Quy hoạch du lịch vùng tại thời điểm thực hiện,

vì vậy khá phù hợp với các chỉ tiêu cơ bản về phát triển du lịch, đặc biệt chỉ tiêu vềkhách du lịch trong giai đoạn Đây là thành công của Quy hoạch

Bên cạnh những kết quả đạt được, nội dung của Quy hoạch tổng thể phát triển

du lịch tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 1998 – 2010 còn tồn tại một số hạn chế ảnh hưởngđến công tác quản lý và triển khai thực hiện Quy hoạch trong thực tiễn nhằm pháttriển du lịch Bắc Kạn tương xứng với tiềm năng, vị trí trong phát triển kinh tế - xã hộicủa địa phương; trong phát triển du lịch vùng và phát triển du lịch một cách bềnvững Một số hạn chế chủ yếu của Quy hoạch, bao gồm:

- Các chỉ tiêu phát triển du lịch giai đoạn 1998 -2010 được đề ra trong Quy

hoạch tổng thể phát triển du lịch tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 1998 – 2010, như số

lượng khách; phòng khách sạn; lao động; thu nhập… không đạt yêu cầu.

- Chưa làm rõ được những lợi thế so sánh của tiềm năng du lịch Bắc Kạn sovới các địa phương khác, đặc biệt là các địa phương phụ cận trong vùng Việt Bắc

Trang 13

Đây là một vấn đề quan trọng làm căn cứ cho việc xác định những định hướng pháttriển riêng, tạo sự khác biệt của du lịch Bắc Kạn và qua đó tạo được sức hấp dẫn vànâng cao tính cạnh tranh của điểm đến du lịch Bắc Kạn trong mối quan hệ phát triển

du lịch vùng;

- Mặc dù đã đề cập đến định hướng sản phẩm du lịch, tuy nhiên hệ thống sảnphẩm du lịch, đặc biệt là những sản phẩm du lịch đặc thù của Bắc Kạn chưa xác địnhđược cụ thể Đây có thể là một trong những nguyên nhân quan trọng làm cho du lịchBắc Kạn chưa tạo được sự bứt phá được đứng từ góc độ sản phẩm du lịch và điều nàycũng có những ảnh hưởng đến phát triển du lịch của Bắc Kạn sau khi Quy hoạchđược phê duyệt;

- Quy hoạch có đề cập đến phát triển du lịch bền vững, tuy nhiên chưa chỉ rađược những yếu tố cơ bản đã, đang và sẽ có nguy cơ ảnh hưởng đến mục tiêu pháttriển du lịch bền vững của Bắc Kạn, đặc biệt đứng từ góc độ môi trường và sự thamgia của cộng đồng;

- Một số giải pháp mà Quy hoạch đưa ra còn quá chung chung chưa có nhữnggiải pháp cụ thể, một số giải pháp cơ bản còn thiếu như giải pháp về vốn, giải pháp

về đầu tư, giải pháp về phát triển sản phẩm, giải pháp về xúc tiến quảng bá sảnphẩm…

Những hạn chế của Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch tỉnh Bắc Kạn giaiđoạn 1998 – 2010 được làm rõ là cơ sở để bổ sung trong Quy hoạch tổng thể pháttriển du lịch tỉnh Bắc Kạn đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2030

3 Một số bài học kinh nghiệm

- Khi xây dựng Quy hoạch, kế hoạch cần có những nghiên cứu kỹ và đánh giácũng như dự báo toàn diện những nhân tố khách quan, chủ quan và các yếu tố nguồnlực để đưa ra những mục tiêu, chỉ tiêu sát với thực tế và những giải pháp mang tính khảthi để thực hiện các mục tiêu đề ra;

- Trong quá trình triển khai thực hiện Quy hoạch phải có những điều chỉnh kịpthời phù hợp với phát triển kinh tế - xã hội của địa phương trong từng thời kỳ;

- Xác định các chương trình, mục tiêu phải có trọng tâm, trọng điểm phù hợp;tập trung chỉ đạo, quan trọng nhất là phải bố trí đủ nguồn lực để phát triển theochương trình mục tiêu đã đề ra;

- Cần quan tâm đến công tác đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực đảm bảo sốlượng, chất lượng, cơ cấu phù hợp

II XÁC ĐỊNH VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA DU LỊCH BẮC KẠN TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA TỈNH VÀ TRONG TỔNG THỂ DU LỊCH CỦA VÙNG VÀ QUỐC GIA

Trang 14

1 Vị trí, vai trò của du lịch trong phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bắc Kạn

Trong bối cảnh đất nước mở cửa và hội nhập, du lịch trở thành một ngành kinh

tế quan trọng, đang từng bước khẳng định vị trí trong tiến trình phát triển và hội nhậpquốc tế; Hội nghị lần thứ 8, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Bắc Kạn (khóa X) đã raNghị quyết về phát triển du lịch trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn đến năm 2015, định hướng

đến năm 2020 nhằm mục tiêu phát triển du lịch Bắc Kạn trở thành ngành kinh tế quan

trọng của khối dịch vụ, góp phần thúc đẩy nhanh việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế địaphương

Nhờ xác định đúng hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát huy tốt mọi nguồnlực, đồng thời tranh thủ sự giúp đỡ của Trung ương và các tỉnh bạn, nền kinh tế của

tỉnh Bắc Kạn phát triển với tốc độ tương đối nhanh và ổn định, trong đó có sự đóng

góp đáng kể của ngành du lịch, dịch vụ Những đóng góp của ngành du lịch Bắc Kạn

trong phát triển kinh tế - xã hội của địa phương trong những năm qua được thể hiện

các mặt chủ yếu như sau:

- Du lịch phát triển góp phần tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế: Ngành

du lịch của tỉnh mặc dù phát triển với quy mô còn hạn chế nhưng đã có tốc độ tăngtrưởng khá nhanh về khách du lịch và tổng thu du lịch

Lượng khách du lịch đến Bắc Kạn năm 2015 đạt gần 360.000 lượt khách, tănghơn 2 lần so với năm 2010 (150.578 lượt khách); tăng hơn 6 lần so với năm 2005(58.298 lượt khách) Tổng thu từ khách du lịch, các dịch vụ du lịch, khách sạn, nhàhàng…, đạt 252 tỷ đồng, gấp hơn 3 lần so với năm 2010, đạt tốc độ tăng trưởng bìnhquân hơn 40%/năm Tất cả những cố gắng đó đã tạo cho du lịch Bắc Kạn có nhữngbước tiến đáng khích lệ, tốc độ tăng trưởng bình quân về lượng khách trong 10 nămqua tăng trung bình 19,6%/năm; tổng thu du lịch tăng 40%/năm, đóng góp vào việcchuyển dịch cơ cấu kinh tế và đang từng bước được xây dựng thành ngành kinh tếquan trọng trong cơ cấu kinh tế chung của tỉnh

- Du lịch phát triển góp phần giải quyết việc làm, nâng cao đời sống vật chất vàtinh thần cho cộng đồng dân cư và góp phần đáng kể vào công cuộc xóa đói, giảmnghèo: Phát triển du lịch tỉnh Bắc Kạn, ngoài việc thu hút lực lượng lao động trựctiếp (năm 2015 là 1000 người), đã thu hút theo số lượng lớn lao động gián tiếp ngoài

xã hội (năm 2015 đạt khoảng hơn 2.000 người), tăng thu nhập và cải thiện đời sốngnhân dân, tạo khả năng tiêu thụ sản phẩm tại chỗ cho hàng hóa và dịch vụ, thúc đẩycác ngành khác cùng phát triển; khôi phục nhiều lễ hội và nghề thủ công truyềnthống; góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế của địa phương; nâng cao ý thức, tráchnhiệm của các cơ quan nhà nước và cộng đồng dân cư trong việc giữ gìn, phát huygiá trị các di sản văn hóa, trong việc bảo vệ tài nguyên và môi trường du lịch

Trang 15

+ Du lịch phát triển góp phần tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật: Phát triển du

lịch đi đôi với việc xây dựng các khu du lịch, khu vui chơi giải trí, khách sạn, nhàhàng…

+ Du lịch phát triển góp phần nâng cao dân trí: Phát triển du lịch có vai trò

nâng cao dân trí nhờ sự mở rộng giao tiếp của người dân với khách du lịch Thôngqua việc tổ chức các sự kiện văn hóa, thể thao, du lịch, lễ hội trên địa bàn tỉnh, cácchương trình liên kết hợp tác với các tỉnh trong vùng Việt Bắc, những khóa tập huấnđào tạo bồi dưỡng nghiệp vụ du lịch từ ngân sách của địa phương, sự hỗ trợ của các

dự án EU, dự án 3PAD, dự án phát triển du lịch tiểu vùng sông Mê Kông mở rộng …

Đã góp phần nâng cao trình độ nghiệp vụ và nhận thức về bảo vệ tài nguyên, môitrường phát triển du lịch bền vững cho cộng đồng địa phương; đây là một trongnhững lợi ích quan trọng, phù hợp với chính sách xã hội của Đảng và Nhà nước đốivới đồng bào các dân tộc thiểu số, người dân sinh sống ở Bắc Kạn

- Du lịch phát triển góp phần bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc: Dulịch phát triển góp phần gìn giữ và làm tăng các giá trị cảnh quan, di tích, văn hóa,đặc biệt là những di tích lịch sử cách mạng trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân

và đế quốc xâm lược

2 Vị trí, vai trò của du lịch Bắc Kạn trong phát triển du lịch vùng và cả nước

Chiến lược và Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020,tầm nhìn đến năm 2030 đã xác định Bắc Kạn nằm trong không gian tiểu vùng du lịchViệt Bắc thuộc vùng du lịch Trung du miền núi Bắc Bộ Nằm trên tuyến Quốc lộ 3tuyến đường chiến lược quan trọng của quốc gia nối từ Thủ đô Hà Nội đến tỉnh CaoBằng phục vụ phát triển kinh tế cho các tỉnh vùng núi phía Bắc Theo tuyến Quốc lộ

3, trung tâm tỉnh lỵ Bắc Kạn là thành phố Bắc Kạn cách Thủ đô Hà Nội 170km, cáchthành phố Thái Nguyên 80km về phía Nam; cách thành phố Cao Bằng 120km về phíaBắc; cùng với tuyến cao tốc Hà Nội – Thái nguyên – Bắc Kạn – Cao Bằng, đường HồChí Minh(đã và đang xây dựng), Quốc lộ 279 theo hướng Đông - Tây Đây là điềukiện thuận lợi cho tỉnh Bắc Kạn giao lưu phát triển kinh tế, du lịch với các tỉnh trongvùng Đông Bắc, Tây Bắc và đồng bằng sông Hồng trong đó có Thủ đô Hà Nội trungtâm kinh tế chính trị của cả nước và một số cửa khẩu quốc tế quan trọng

Với vị trí địa lý, tài nguyên du lịch đa dạng, phong phú như danh thắng cấpquốc gia đặc biệt hồ Ba Bể và những danh thắng, di tích hấp dẫn khác như thác ĐầuĐẳng, Ao Tiên, đền An Mã, đảo Bà Góa, khu ATK Chợ Đồn…Bắc Kạn đã khẳng định

vị trí du lịch của mình trong định hướng chiến lược phát triển du lịch của Việt Nam

Trang 16

Trong hệ thống các tuyến, điểm du lịch quốc gia, Bắc Kạn được xác định nằmtrên tuyến du lịch liên vùng Việt Bắc: Hà Nội - Thái Nguyên - Bắc Kạn (hồ Ba Bể) -Cao Bằng (thác Bản Giốc, hang Pác Bó); và tuyến Móng Cái - Lạng Sơn - Na Rì -Bắc Kạn - Điện Biên Phủ - Tây Trang Bắc Kạn nằm trên giao điểm của 2 tuyến dulịch quốc gia quan trọng này, do vậy trong tương lai Bắc Kạn sẽ trở thành trung tâm

du lịch dịch vụ, một trong những đầu mối nối các điểm du lịch của vùng Trung dumiền núi Bắc Bộ

Như vậy, Bắc Kạn có lợi thế so với các tỉnh trong khu vực là: Bắc Kạn có tàinguyên thiên nhiên ưu đãi; là tỉnh trung tâm vùng Đông Bắc, hội tụ nhiều di sản vănhóa phi vật thể; khoảng cách không quá xa đối với các trung tâm văn hóa lớn

III TIỀM NĂNG TÀI NGUYÊN DU LỊCH VÀ CÁC NGUỒN LỰC PHÁT TRIỂN DU LỊCH TỈNH BẮC KẠN

1 Tiềm năng tài nguyên du lịch

1.1 Các điều kiện tự nhiên và tài nguyên du lịch tự nhiên

1.1.1 Điều kiện tự nhiên

- Vị trí địa lý: Bắc Kạn là tỉnh miền núi thuộc vùng Trung du miền núi phíaBắc; đồng thời nằm giữa các tỉnh có tiềm năng phát triển kinh tế lớn Mặc dù là tỉnh

có địa hình núi cao, nằm sâu trong nội địa, giao thông duy nhất là đường bộ, liênthông với hầu hết các tỉnh trong vùng và khu vực, là điều kiện thuận lợi để Bắc Kạngiao lưu với tỉnh Cao Bằng và các tỉnh của Trung Quốc ở phía Bắc, với tỉnh TháiNguyên, Hà Nội cũng như các tỉnh của vùng Đồng bằng sông Hồng ở phía Nam,Tuyên Quang và các tỉnh vùng Tây Bắc

- Địa hình: Bắc Kạn có địa hình đa dạng, phức tạp, chủ yếu là đồi, núi cao, cóthể chia làm 3 khu vực:

+ Khu vực phía Đông là các dãy núi kéo dài của cánh cung Ngân Sơn, cánh

cung liên tục nhất, điển hình nhất ở vùng Đông Bắc Đây là dãy núi cao có cấu tạotương đối thuần nhất Địa hình nơi đây được chia cắt phức tạp, cùng với các điều kiện

tự nhiên khác thuận lợi cho phát triển lâm nghiệp, rừng còn nhiều tạo nên cảnh quanđẹp, hấp dẫn, là điều kiện thuận lợi cho phát triển các sản phẩm du lịch sinh thái, thểthao mạo hiểm

+ Khu vực phía Tây với thành phần chủ yếu là đá phiến thạch anh, đá cát kết

và đá vôi có lớp dày nằm trên đá kết tinh cổ Đây là khu vực địa hình độc đáo và cógiá trị về mặt du lịch nhất trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn Nơi đây có hố sụt karst điểnhình nhất ở Việt Nam, hình thành nên cảnh quan vô cùng độc đáo và là điểm tàinguyên du lịch hấp dẫn nhất của Bắc Kạn, đó là hồ Ba Bể

Trang 17

+ Khu vực trung tâm có địa hình thấp hơn nhiều so với khu vực phía Đông và

phía Tây của tỉnh Bắc Kạn Khu vực này là một nếp lõm được cấu tạo chủ yếu bởi đáphiến, đá vôi, đá sét vôi cổ, địa hình nơi đây thích hợp phát triển nông nghiệp và làkhu vực thuận lợi nhất trong tỉnh để xây dựng các công trình hạ tầng kỹ thuật phục vụ

du lịch

- Khí hậu: Bắc Kạn có khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa nhưng có sự phân hoá theo

độ cao của địa hình và hướng núi Với chế độ nhiệt đới gió mùa, một năm ở Bắc Kạn

có hai mùa rõ rệt: Mùa mưa nóng ẩm từ tháng 5 đến tháng 10, chiếm 75 - 80% lượngmưa cả năm; mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, lượng mưa chỉ chiếm khoảng

20 – 25% tổng lượng mưa trong năm, tháng mưa ít nhất là tháng 12

+ Nhiệt độ trung bình hàng năm từ 20 – 22,50C, nhiệt độ thấp tuyệt đối

-0,10C ở thành phố Bắc Kạn và - 0,60C ở Ba Bể, - 20C ở Ngân Sơn, gây bănggiá ảnh hưởng lớn đến cây trồng, vật nuôi

+ Số giờ nắng trung bình của tỉnh là 1.400 – 1.600 giờ Lượng mưa trung bìnhnăm ở mức 1.400 – 1.900mm và tập trung nhiều vào mùa hạ, độ ẩm trung bình trêntoàn tỉnh từ 82%- 85% Bắc Kạn có lượng mưa thấp so với các tỉnh Đông Bắc do bịche chắn bởi cánh cung Ngân Sơn ở phía Đông Bắc và cánh cung Sông Gâm ở phíaTây Nam

Khí hậu Bắc Kạn có sự phân hoá theo mùa, mùa hạ nhiệt độ cao, mưa nhiều,mùa đông nhiệt độ thấp, mưa ít và chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc

- Sông, suối: Bắc Kạn có mạng lưới sông, suối tương đối phong phú nhưng doảnh hưởng của yếu tố địa hình nên đặc điểm chung của sông, suối ở đây là dốc, ngắn,thủy chế thất thường Đa số sông, suối là các nhánh thượng nguồn của các sông lớn,

có 5 sông lớn trong đó tổng chiều dài các tuyến sông 343 km, gồm sông Phó Đáy,sông Năng, sông Bằng Khẩu, sông Bắc Giang, sông Cầu

Sông, suối có ý nghĩa quan trọng đối với sản xuất và đời sống của nhân dân tỉnhBắc Kạn, là nguồn cung cấp nước chủ yếu cho nông nghiệp, ngư nghiệp Với đặcđiểm ngắn, dốc hệ thống sông suối trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn tạo nên những cảnhquan đẹp, hùng vĩ (thác, ghềnh) hấp dẫn thu hút khách du lịch và thuận lợi cho việcphát triển thủy điện

- Hệ thực vật Bắc Kạn có diện tích rừng tự nhiên lớn nhất trong các tỉnh vùngĐông Bắc Tài nguyên rừng của tỉnh khá đa dạng, phong phú Ngoài khả năng cungcấp gỗ, tre, nứa nguyên liệu, trong rừng còn có nhiều loại thực vật quý hiếm, có giátrị được coi là một trung tâm bảo tồn nguồn gen thực vật của vùng Đông Bắc Quađiều tra cho thấy tỉnh Bắc Kạn có 148 họ, 537 chi với 826 loài trong đó có 52 loài

Trang 18

được xếp vào sách đỏ Việt Nam như đinh, ngũ gia bì gai, trai lý, nghiến, trò đãi, trầmhương, cầu điệp

- Hệ động vật của tỉnh Bắc Kạn có giá trị bảo tồn nguồn gen cao với nhiều loạiđặc hữu và quý hiếm điển hình có khoảng 34 bộ, 110 họ với 336 loài chim, thú, bòsát, lưỡng cư trong đó có 64 loài đã được đưa vào sách đỏ Việt Nam, đặc biệt có 10loài là đặc hữu của Việt Nam 81 loài thú, trong đó có 27 loài được ghi trong sách đỏViệt Nam, 19 loài được ghi trong sách đỏ thế giới; 322 loài chim, trong đó có 21 loàighi trong sách đỏ Việt Nam, 6 loài được ghi trong sách đỏ thế giới; 44 loài bò sátlưỡng cư, trong đó có 17 loài được ghi trong sách đỏ Việt Nam, 17 loài được ghitrong sách đỏ thế giới; 106 loài cá, trong đó có 11 loài được ghi trong sách đỏ ViệtNam, 1 loài được ghi trong sách đỏ thế giới

Đa dạng về sinh học của tỉnh là yếu tố thu hút khách du lịch, không những thế,

đa dạng sinh học tập trung ở một số khu bảo tồn và vườn quốc gia Ba Bể với nhữngcảnh quan độc đáo nên thuận lợi cho việc khai thác phục vụ phát triển du lịch

1.1.2 Các tài nguyên du lịch tự nhiên điển hình

- Hồ và thác nước

+ Hồ Ba Bể: Nằm ở trung tâm vườn quốc gia Ba Bể Ba Bể theo tiếng địaphương là "Slam Pé" (ba hồ) gồm Pé Lầm, Pé Lù và Pé Lèng Hồ có chiều dài hơn8km, chỗ rộng nhất khoảng 2 km, sâu trung bình từ 20 đến 30m, nằm ở độ cao 145m

so với mặt nước biển, diện tích mặt hồ khoảng 500ha được bao bọc bởi những dãynúi đá vôi có nhiều suối ngầm và hang động Ðoạn giữa hồ hơi eo lại, giữa lòng hồ cóhai đảo nhỏ (đảo An Mã và đảo Bà Góa) Xung quanh hồ là quần thể các điểm thamquan du lịch hấp dẫn như Ao Tiên, động Puông, thác Đầu Đẳng… Các nhà khoa học

đã phát hiện trong lòng hồ có nhiều loài cá nước ngọt (106 loài) đặc trưng của vùngĐông Bắc Việt Nam, trong đó có các loài quý hiếm như cá chép kính, rầm xanh, anh

vũ, cá lăng Về địa chất địa mạo, đây là vùng đá vôi cổ rộng lớn, có đặc điểm kiến tạorất đặc biệt, Viện Địa chất đã phối hợp với Hội Địa chất Bỉ đã tiến hành nghiên cứuvùng đá vôi hồ Ba Bể và khẳng định đây là vùng đá vôi có niên đại 450 triệu năm.Ðiều kỳ thú là trong quá trình biến đổi địa chất, đá vôi đã biến thành những mảng đáhoa cương, theo các nhà địa chất thì việc đá vôi trở thành đá hoa cương là điều vôcùng độc đáo và hiếm thấy Giữa một vùng núi đá vôi lại có một hồ nước trong xanh,đáy hồ có một lớp đất sét dày tới 200 mét, chính địa tầng sét này ngăn không chonước thoát xuống và hồ được hình thành, với vẻ đẹp mênh mông sông nước giữa núirừng xanh thẳm với nhiều thảm thực vật quý hiếm và cảm nhận những nét nguyên sơgiữa đại ngàn Toàn cảnh hồ như một bức tranh thủy mặc làm say đắm lòng người

Trang 19

+ Thác Nà Khoang: Thác Nà Khoang nằm ở chân đèo Gió, cạnh Quốc lộ 3,cách thị trấn Nà Phặc, huyện Ngân Sơn 6km, cách thành phố Bắc Kạn 35km về phíaBắc Thác ở đoạn cuối của suối Nà Đeng có độ dốc lớn trước khi chảy vào suối BảnMạch Thác Nà Khoang gồm 4 tầng, chiều dài khoảng 600m, chiều rộng trung bình15m, phía trên thác còn có một hồ nước nhỏ trong xanh là địa điểm tắm lý tưởng chonhững du khách muốn tránh sự ồn ào, đắm mình trong thiên nhiên Khu vực xungquanh thác chủ yếu là rừng tái sinh, có độ che phủ trung bình từ 75 - 85%, về độngvật có nhiều loài chim, sóc, bò sát, cá Với phong cảnh đẹp, hấp dẫn, khí hậu mát

mẻ, trong lành và có giá trị nghiên cứu về địa chất, địa mạo, hệ sinh thái Thác NàKhoang đã được công nhận là di tích danh lam thắng cảnh cấp tỉnh

+ Thác Nà Noọc: Thác Nà Noọc (còn gọi là thác Bạc) nằm ở chân đèo Áng

Toòng thuộc phường Xuất Hóa, thành phố Bắc Kạn, đây là thác nước tự nhiên, cóchiều dài khoảng 5 km, bắt nguồn từ hai dòng suối là suối Nặm Dất và suối Nà Khuthuộc xã Tân Sơn, huyện Chợ Mới Khu vực thác Nà Noọc chủ yếu là rừng nguyênsinh với thảm thực vật, động vật phong phú, không chỉ có giá trị về nghiên cứu sinhthái, địa chất, địa mạo mà còn là một địa điểm du lịch sinh thái hấp dẫn bởi nơi đâysơn thủy hữu tình với khí hậu trong lành, mát mẻ quanh năm Các hoạt động du lịch

có thể tổ chức ở khu vực này gồm: Tắm vượt thác, trekking, tham quan tìm hiểu hệsinh thái…

+ Thác Tát Mạ (xã Hoàng Trĩ, huyện Ba Bể): Là thác nước tự nhiên thuộc BảnVàng, xã Hoàng Trĩ, huyện Ba Bể, cách hồ Ba Bể 7km về phía Tây Nam Thác caohơn 40m, nước từ trên cao đổ xuống như một dải lụa, phía dưới thác tạo thành các hồnhỏ, các hồ này là những bãi tắm tự nhiên rất đẹp

+ Thác Đầu Đẳng: Cách hồ Ba Bể khoảng 3 km về phía tây, nơi tiếp giáp giữatỉnh Bắc Kạn với tỉnh Tuyên Quang Thác là nơi dòng sông Năng bị đứt gẫy vớinhững tảng đá lớn nhỏ chồng lên nhau cao hàng trăm mét, dài hơn 1 km, nước từ trêncao đổ xuống ầm ầm, tung bọt trắng xoá quanh năm, tạo thành bản nhạc hùng tránggiữa đại ngàn núi non hùng vĩ Thác Đầu Đẳng có nhiều loài cá quý trong đó có loài

cá chiên, có con nặng hàng chục kg, vào dịp tháng 3, tháng 4 sau những trận mưa đầu

mùa từng đàn cá đua nhau vượt thác, tạo nên cảnh tượng kỳ thú “Cá vượt vũ môn”,

ngoài ra quanh khu vực vườn quốc gia còn một số thác tự nhiên khác

+ Thác Roọm: Là thác nước tự nhiên thuộc xã Quang Thuận, huyện BạchThông, cách trung tâm thành phố Bắc Kạn 8km theo đường tỉnh lộ 257 hướng BắcKạn – Chợ Đồn Thác Roọm gồm quần thể bãi đá lô nhô dài chừng 1 km hòa vớithiên nhiên núi rừng tạo nên phong cảnh kỳ thú

- Hang động

Trang 20

+ Động Puông: Xuôi dòng sông Năng hướng về hồ Ba Bể, đôi bờ của dòngsông là những vách núi đá vôi dựng đứng Dòng sông Năng theo thời gian hàng triệunăm đã bào mòn xuyên qua khối núi đá vôi Lũng Nham tạo ra động Puông dài 300mét, cao hơn 30 mét với nhiều nhũ đá muôn hình vạn trạng, huyền ảo và lung linh kỳ

bí bên cạnh hồ Ba Bể lạ kỳ Dòng sông uốn mình thơ mộng qua những khúc quanhhẹp trong lòng hang, luồn dưới những rèm thạch nhũ đá đẹp lạ lùng

+ Động Hua Mạ: Nằm trên dãy núi Hua Mạ (núi đầu ngựa) thuộc xã Quảng

Khê, huyện Ba Bể, cách hồ Ba Bể 6km về phía Tây Nam Động Hua Mạ thuộc dạngđộng treo, nằm ở độ cao 350m so với mặt nước biển, động sâu gần 700m, trần độngchỗ cao nhất 50m, rộng trung bình từ 30 – 50m, nền động khô ráo, mát về mùa hè,

ấm về mùa đông Trong động có nhiều nhũ đá vôi với hình thù độc đáo như tượngPhật Bà Quan Âm trên tòa sen, thầy trò Đường Tăng đi lấy kinh, khu ruộng bậcthang, rèm đá, cổng trời…

+ Hang Thẳm Làng: Từ trung tâm xã Yên Hân (Chợ Mới), men theo conđường nhỏ chừng 2km, du khách sẽ tới thôn Nà Làng Hang Thẳm Làng - một hangđộng tự nhiên có vẻ đẹp cuốn hút Hang có nhiều cửa thông lên trên đỉnh núi, để điqua hang, người ta phải vượt qua một cửa nhỏ chỉ vừa thân người chui lọt Bên tronghang có mạch nước ngầm phun chảy thành suối, bốn mùa không hề cạn nước Chẳngnhững có hang đẹp, trên núi Thẳm Làng vẫn còn lưu giữ được hệ động, thực vật kháphong phú như: Khỉ, sơn dương, gà rừng, chim công… Rừng Thẳm Làng còn nhiềuloại gỗ quý như đinh, sến, táu, đặc biệt còn nhiều cây gỗ nghiến lâu năm, được thiên

nhiên ưu ái như vậy, nên từ xưa đã lưu truyền câu nói “Nà Làng gạo trắng nước trong, ăn no tắm mát thì lên Nà Làng” Từ đó, người dân trong vùng bắt đầu biết đến

hang Thẳm Làng như một cảnh đẹp thiên tạo và thường lui tới hang này để thămquan tìm hiểu

+ Động Nàng Tiên (Na Rì): Động Nàng Tiên thuộc xã Lương Hạ, huyện Na

Rì, cách thị trấn Yến Lạc 5 km về phía Đông, động sâu hơn 200m, trần động chỗ caonhất khoảng 30m, lòng động rộng trung bình 20m, trong động có nhiều nhũ đá đẹp

Động Nàng Tiên được hình thành hàng triệu triệu năm nay do sự bào mòn vàlắng đọng của nước trong núi đá vôi đã tạo thành những khu ruộng bậc thang tuyệtđẹp Đặc biệt trong động còn có một vòm đá rộng, bên trong có một phiến đá lớnphẳng, kích thước như một chiếc gường, xung quanh nhũ đá rủ xuống như tấm rèmmềm mại, lấp lánh tựa như căn phòng ngủ lộng lẫy Tương truyền các tiên nữ nhà trờikhi ghé thăm trần gian đã nghỉ lại tại căn phòng này, nên động có tên gọi là độngNàng Tiên như hiện nay

Trang 21

Năm 1999, động Nàng Tiên đã được Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Vănhóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng di tích danh lam thắng cảnh cấp quốc gia, nếuđược đầu tư và khai thác hợp lý, động Nàng Tiên với vẻ đẹp đầy huyền bí chắc chắn

sẽ trở thành một trong những điểm tham quan hấp dẫn không chỉ của Bắc Kạn màcòn của cả khu vực Đông Bắc Bắc Bộ

+ Động Áng Toòng: Nằm ở đèo Áng Toòng, phường Xuất Hóa, thành phố BắcKạn Đây là hang động tự nhiên mới được phát hiện ngày 26/7/2011 có giá trị thẩm

mỹ độc đáo; được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp hạng là di tích danh lamthắng cảnh cấp quốc gia năm 2013 Hệ thống hang chia thành 2 tầng, tầng 1 chạytheo hướng Bắc - Nam, có chiều dài 120 m có chỗ hẹp, chỗ rộng tạo thành 3 độngliên tiếp; tầng 2 chạy theo hướng Đông - Tây có chiều dài 350m Toàn tuyến hang làmột hệ thống thạch nhũ đa dạng về màu sắc, phong phú về hình dáng; chỗ thì có màuvàng nhạt tạo thành hình như dải lụa, như bãi nấm; có chỗ thì thạch nhũ lại có màuvàng chen lẫn trắng, trắng tinh khiết như thủy tinh, được đùn ra từ các kẽ đá chảylênh láng khắp mặt động trông như dòng sông băng tinh khiết; trên trần các thạch nhũchảy xuống như những bông hoa thủy tinh rực rỡ, cả không gian động Áng Toòng làmột công trình nghệ thuật hoàn hảo, đẹp đến mê đắm lòng người

Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch có Quyết định số 3993/QĐ-BVHTTDL ngày12/11/2013, xếp hạng động Áng Toòng là di tích danh thắng cấp quốc gia, đây là cơ

sở quan trọng để tỉnh Bắc Kạn có kế hoạch đầu tư tôn tạo động Áng Toòng trở thànhđiểm đến hấp dẫn của du khách

Ngoài ra còn một số hang động khác nằm trong vực ngoài vườn quốc gia Ba

Bể, như hang Thẳm Phầy dưới chân thác Tát Mạ – Xã Hoàng Trĩ; thác Vằng Áng,hang Dơi xã Vi Hương (Bạch Thông)…

- Vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên

+ Vườn quốc gia Ba Bể: Nằm ở phía tây bắc huyện Ba Bể, cách thành phố Bắc

Kạn 68 km theo hướng tây bắc, cách Thủ đô Hà Nội 220 km về phía Bắc Được thành

lập theo Quyết định số 83/TTg ngày 10/11/1992 của Thủ tướng Chính phủ, vườnquốc gia Ba Bể có diện tích 23.000 ha, nằm trong vùng núi đá vôi Caxtơ cổ, có cấutạo địa chất đặc biệt, nhiều núi cao, hang động, sông hồ, suối ngầm, tạo nên cảnhquan đặc biệt hấp dẫn Năm 2004, vườn quốc gia Ba Bể được công nhận là vườn disản ASEAN; năm 2011 được công nhận là khu RAMSAR thứ 1938 của thế giới và làkhu Ramsar thứ 3 của Việt Nam; Năm 2012, hồ Ba Bể được công nhận là di tíchdanh thắng quốc gia đặc biệt

Vườn quốc gia Ba Bể khu rừng đặc dụng, nơi bảo tồn các nguồn gen quý hiếm,

về thực vật có: 162 họ, 672 chi, 1.268 loài thực vật bậc cao có mạch, trong đó có 77

Trang 22

loài được ghi tên trong sách đỏ Việt nam, 38 loài có mức độ đe doạ toàn cầu được ghitrong sách đỏ Thế giới 52 loài đặc hữu của Việt Nam như: Trúc dây, táo đỏ Vềđộng vật có: 81 loài thú, trong đó có 27 loài được ghi trong sách đỏ Việt Nam, 19 loàiđược ghi trong sách đỏ thế giới; 322 loài chim, trong đó có 21 loài ghi trong sách đỏViệt Nam, 6 loài được ghi trong sách đỏ thế giới; 44 loài bò sát lưỡng cư, trong đó có

17 loài được ghi trong sách đỏ Việt Nam, 17 loài được ghi trong sách đỏ thế giới; 106loài cá, trong đó có 11 loài được ghi trong sách đỏ Việt Nam, 1loài được ghi trongsách đỏ thế giới Ba Bể là vùng sinh cảnh quan trọng của 2 loài linh trưởng là voọcđen má trắng và voọc mũi hếch và 01 loài bò sát đặc hữu hẹp đó là cá cóc bụng hoa.Nhiều loài bị đe doạ diệt chủng đã tập trung ở đây như: Hổ, gấu, sơn dương, sói đỏ,báo hoa mai

Vườn quốc gia Ba Bể khu du lịch sinh thái, với hơn 20 điểm tham quan hấp dẫnnhư: Động Puông, thác Đầu Đẳng, Ao Tiên, hồ Ba Bể, đảo đền An Mã, đảo Bà Goá,hang Thẳm Khít, động Nà Phoòng, động Hua Mạ; các tuyến du lịch đi bộ trong rừngnguyên sinh; các bản làng du lịch văn hoá vùng hồ như bản Pác Ngòi, Bó Lù, CốcTộc, Hin Đăm, Khau Qua, Nặm Dài, Cám Thượng, Cám Hạ ; với cảnh quan thiênnhiên tuyệt đẹp, bản sắc văn hoá độc đáo, vườn quốc gia Ba Bể - khu du lịch sinhthái, nghỉ dưỡng hấp dẫn đối với du khách trong và ngoài nước

+ Khu Bảo tồn thiên nhiên Kim Hỷ: Có diện tích trên 14 nghìn ha, trải dài từcác xã Vũ Muộn, Cao Sơn (huyện Bạch Thông) tới các xã Kim Hỷ, Lương Thượng,

Ân Tình, Côn Minh (huyện Na Rì), là nơi lưu giữ được hiện trạng nguyên sơ củathiên nhiên kỳ thú cùng với những giá trị đa dạng sinh học phong phú

Khu Bảo tồn thiên nhiên Kim Hỷ được các nhà khoa học đánh giá cao về sựphong phú của nhiều loại động, thực vật quý hiếm thuộc diện phải được quản lý vàbảo vệ nghiêm ngặt, trong đó phải kể đến là loài voọc má trắng, sóc, khỉ là những loàihiện có nguy cơ bị tuyệt chủng trên toàn cầu; đặc biệt, đến với khu Bảo tồn thiênnhiên Kim Hỷ bạn sẽ được chứng kiến sự đa dạng của loài dơi ở đây, được coi là đadạng thành phần cao nhất Việt Nam

Khu Bảo tồn thiên nhiên Kim Hỷ còn là nơi lưu giữ một số nguồn gien quýhiếm của các loại thực vật đặc hữu có nguy cơ tuyệt chủng như cây thiết san giả haycòn gọi là thông đá mà trên thế giới hiện nay còn sót lại ở 4 tỉnh miền núi phía Bắcnước ta và 2 tỉnh Quảng Tây, Quảng Đông (Trung Quốc)

Khu Bảo tồn thiên nhiên Kim Hỷ có nhiều tiềm năng để xây dựng chương trình

du lịch, tạo ra được nhiều tour du lịch sinh thái và sản phẩm du lịch mạo hiểm, khámphá…

Trang 23

+ Khu Bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc: Được UBND tỉnh Bắc Kạnthành lập tại Quyết định số 342/QĐ-UB ngày 17/3/2004 với tổng diện tích tự nhiên là1.788 ha nằm trên địa phận hai thôn Nà Dạ và Bản Khang thuộc xã Xuân Lạc, huyệnChợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn.

Ngày 14/01/2014, UBND tỉnh Bắc Kạn ban hành Quyết định số UBND phê duyệt Quy hoạch bảo tồn và phát triển bền vững khu bảo tồn loài và sinhcảnh Nam Xuân Lạc, tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 2013-2020, theo đó Khu bảo tồn có diệntích 4.155,67 ha, trong đó phân khu bảo vệ nghiêm ngặt 2.552,50 ha; phân khu phụchồi sinh thái 1.586,12 ha; phân khu dịch vụ - hành chính 9,04 ha; vùng đệm trong8,01 ha, nằm trên địa bàn các xã: Xuân Lạc, Bản Thi, Đồng Lạc huyện Chợ Đồn.Vùng đệm ngoài 16.371,53 ha nằm trên địa bàn 4 xã Xuân Lạc, Bản Thi, Đồng Lạc

109/QĐ-và Yên Thịnh, huyện Chợ Đồn

Khu bảo tồn hiện có 373 loài động vật, trong đó có 20 loài quý hiếm; hệ thựcvật khá phong phú gồm 515 loài thực vật bậc cao, trong đó có 30 loài quý hiếm đượcghi trong sách đỏ Việt Nam Có những loài tưởng như đã tuyệt chủng trong vòng 25năm qua như: Vạc hoa lại được phát hiện xuất hiện tại khu bảo tồn này

1.2 Các đặc điểm dân số, kinh tế - xã hội và tài nguyên du lịch nhân văn

1.2.1 Đặc điểm về dân tộc, dân số

Dân tộc: Bắc Kạn có 7 dân tộc chủ yếu, bao gồm: Tày, Nùng, Dao, Kinh,

Mông, Hoa, Sán Chay Trong đó có 4 nhóm dân tộc chính (chiếm tới 97,2% dân sốtoàn tỉnh) gồm: Kinh 20%, Tày 60%, Nùng 7,4% và Dao 9,8% Còn 3 nhóm khác có

số dân ít hơn gồm: Mông, Hoa, Sán Chay, mỗi dân tộc có nét văn hóa, phong tục tậpquán mang đậm bản sắc riêng của đồng bào các dân tộc miền núi phía Bắc, tạo nênsức hấp dẫn đối với khách du lịch

Dân số: Năm 2015 dân số trung bình của tỉnh là 313.084 người, tăng 1,55% sonăm 2014, trong đó khu vực thành thị chiếm 18,92% khu vực nông thôn là 81,08%;

tỷ lệ tăng tự nhiên là 10,21%0 nam chiếm 50,25% và nữ chiếm 49,75%; Tốc độ tăngdân số trung bình cả giai đoạn 2011-2015 là 1,03% /năm

Trang 24

Nguồn: Niêm giám thống kê năm 2015 tỉnh Bắc Kạn

Dân số phân bố khá đều cho 8 đơn vị hành chính cấp huyện; mật độ dân số trungbình toàn tỉnh năm 2015 là 64,43 người/km2 trong đó đông nhất tập trung ở thành phốBắc Kạn là 301,3 người/km2; huyện Ngân Sơn có mật độ dân thấp nhất là 46,26người/km2 Lao động và việc làm: Lao động từ 15 tuổi trở lên năm 2015 có 211,99ngàn người, chiếm 67,71% số dân toàn tỉnh trong đó có 209,75 nghìn đang làm việc

- Lao động được qua đào tạo nghề còn thấp, năm 2015 tỷ lệ lao động được đàotạo nghề mới đạt 15,22% trong tổng số lao động, trong đó người dân tộc thiểu sốđược đào tạo nghề chỉ chiếm khoảng 3,5% số lao động Lao động có tay nghề cao, kỹthuật giỏi và có trình độ cơ bản từ trung cấp đến đại học được tập trung chủ yếu trongcác cơ quan nhà nước cấp tỉnh và ở thành phố Bắc Kạn, các đơn vị quốc doanh

- Lực lượng lao động có chiều hướng tăng ở thành thị và giảm ở nông thôn.Tuy nhiên, số lao động thiếu việc làm theo mùa vụ hiện nay còn khá lớn, theo ướctính, lao động khu vực nông nghiệp hiện nay mới sử dụng khoảng 83% thời giantrong năm, còn lại là thời gian nông nhàn

Bảng 2: Dân số, lao động và chuyển dịch cơ cấu lao động tỉnh Bắc Kạn đến năm 2015

ĐV: 1000 người

TăngBQ(%năm)

Trang 25

Nguồn: Niêm giám thống kê tỉnh Bắc Kạn năm 2015

Cùng tình trạng chung của cả nước, tính đến năm 2015 cơ cấu dân số Bắc Kạnđang có thiên hướng mất cân đối về giới Số lượng nam giới chiếm tới 50,76%, trongkhi nữ giới chỉ chiếm 49,24% Về cơ cấu dân số giữa khu vực nông thôn và thành thịcũng còn chênh lệch lớn, dân số khu vực thành thị chỉ chiếm 16,46% dân số, trongkhi đó dân cư khu vực nông thôn chiếm tới 83,54% dân số của tỉnh

1.2.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội

Trong những năm qua, được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và các Bộ,

ngành Trung ương, sự chỉ đạo sát sao của Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân và Ủy bannhân dân tỉnh, Bắc Kạn đã từng bước có những nỗ lực vượt bậc, đạt được nhiều thànhtựu quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội

- Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân của tỉnh trong giai đoạn 2011-2015 đạt5,9%/năm, trong đó: Khu vực nông - lâm - ngư nghiệp tăng 9,4%/năm; khu vực côngnghiệp - yây dựng tăng 11,21%/năm; khu vực dịch vụ tăng 15,67%/năm

- Tổng giá trị gia tăng (GRDP) theo giá hiện hành năm 2015 đạt 7.823 tỷ đồng,tăng 490 tỷ đồng so với năm 2014 Thu nhập bình quân đầu người năm 2015 đạt 25triệu đồng, tăng 1,1 triệu đồng so với năm 2014

Trang 26

- Cơ cấu ngành kinh tế chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp, dịchvụ: Năm 2015, khu vực nông - lâm - ngư nghiệp chiếm 35,95%; khu vực công nghiệp

- xây dựng chiếm 15,33%; khu vực dịch vụ chiếm 46,37% So với năm 2014, khuvực nông - lâm - ngư nghiệp tăng 2,7%, khu vực công nghiệp - xây dựng giảm 3,4%,khu vực dịch vụ giảm 1,5%

- Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn giai đoạn 2011 - 2015 tăng bình quân10,5%/năm Chi ngân sách nhà nước tăng bình quân 1,75%/năm Năm 2015, thu ngânsách nhà nước đạt 6.585.334 triệu đồng, chi ngân sách nhà nước đạt 6.494.260 triệuđồng, nhiều công trình kết cấu hạ tầng thiết yếu được đầu tư xây dựng, lĩnh vực vănhóa - xã hội được quan tâm phát triển

- Về công nghiệp - xây dựng: Là tỉnh có tiềm năng về rừng, khoáng sản theokết quả công tác điều tra địa chất đã thống kê và và xác định trên địa bàn tinht BắcKạn có 176 mỏ và điểm khoáng sản, điểm khoáng hóa chủ yếu thuộc 15 loại khpángsản được chia thành 5 nhóm:

Khoáng sản kim loại: Có 13 mỏ và điểm quặng Sắt ở huyện Chợ Đồn, huyệnNgân Sơn, huyện Pác Nặm, với trữ lượng tài nguyên quặng Sắt dự báo 10.000.000tấn Kim loại thông thường: Có 3 điểm quặng Đồng và khoáng hóa ở các huyện: Na

Rì, Pác Năm, chưa được điều tra đánh giá; Chì, Kẽm có 58 mỏ và điểm khoáng sảntập trung chủ yếu tại các huyện: Chợ Đồn, Ngân Sơn và một số điểm ở huyện PácNặm, Na Rì, Chợ Mới, với trữ lượng tài nguyên dự báo lá 1,9 triệu tấn kim loại.Antimon: Có 3 điểm quặng và khoáng hóa ở huyện Na Rì, chưa được điều tra đánhgiá Kim loại quý hiếm có 10 mỏ và điểm quặng vàng ở các huyện Ngân Sơn, ChợMới, Pác Nặm, Bạch Thông, Na Rì, chưa được điều tra đánh giá Khoáng chất côngnghiệp: Trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn có đá kiềm (syenit nephelin), đá vôi xi măng, sét

xi măng, đá vôi trắng, dolomit, pyrit, barit, graphit và thạch anh, đá ốp lát, vật liệumài (granat), Fluorit ở huyện Ngân Sơn, Chợ Mới, Bạch Thông, chưa được điều trađánh giá Vật liệu xây dựng thông thường: Khá phổ biến gồm đá vôi làm vật liệu xâydựng thông thường; đất sét làm gạch, ngói; cát, sỏi phân bố tại các huyện Ngân Sơn,Chợ Mới, Na Rì, Ba Bể, Pác Nặm, Chợ Đồn, Bạch Thông và thành phổ Bắc Kạn.Ngoài ra còn có antimon, ti tan, kaolin, slíc…

Giá trị sản xuất công nghiệp của tỉnh giai đoạn 2011 - 2015(theo giá hiệnhành) tăng 2,94%; giá trị sản xuất công nghiệp năm 2015 (theo giá hiện hành) đạt1.358,434 tỷ đồng; giá trị sản xuất ngành xây dựng năm 2015 đạt 1,528 tỷ đồng.Trong giai đoạn 2011 – 20156 (theo giá hiện hành) tăng trưởng 5,71%, cùng với đónăm 2015 tổng số vốn đầu tư phát triển công nghiệp – xây dựng là 811.347 triệuđồng

Trang 27

- Về nông - lâm nghiệp: Bắc Kạn có tổng diện tích đất rừng là 420.990,5 ha,trong đó cơ cấu rừng so với tổng diện tích đất lâm nghiệp như sau: Rừng sản xuất276.557,3ha chiếm 65,69%; rừng phòng hộ 118.449,2ha chiếm 28,14%; rừng đặcdụng 25.984ha chiếm 6,17% Bắc Kạn có tỷ lệ che phủ rừng hơn 70,8% vào năm

2015 Hiện trạng đất rừng của tỉnh Bắc Kạn được cụ thể: Năm 2015 tổng số diện tíchrừng là 336.925 ha; trong đó rừng tự nhiên 276.791 ha, rừng trồng 60.134 ha Khaithác lâm sản năm 2015 đối với gỗ được 148.450 m3; củi là 656.490 nghìn Ste

Đối với sản xuất lương thực: Năm 2015 toàn tỉnh gieo trồng được 41.010 nghìn

ha lúa, ngô; tăng 328 nghìn ha so với năm 2014; tổng sản lượng lương thực có hạtnăm 2015 đạt 185.067 nghìn tấn; tăng 8.897 nghìn tấn so với năm 2014; sản lượnglương thực bình quân đầu người đạt 591,11 kg, tăng 19,7 kg so với năm 2014 Côngtác phòng chống dịch bệnh cho đàn gia súc, gia cầm được các địa phương quan tâmthực hiện tốt

- Về thương mại - dịch vụ - du lịch: Tốc độ tăng trưởng của khu vực thươngmại, dịch vụ trong những năm qua đạt kết quả khá và ổn định Giai đoạn 2011 - 2015tăng trưởng bình quân đạt 12,6%/năm, tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ năm

2015 đạt 3.847.069 triệu đồng

Hoạt động vận tải trên địa bàn tỉnh cơ bản đáp ứng được nhu cầu vận chuyển

và đi lại của người dân và khách du lịch, trong đó: Vận chuyển hành khách 942,6nghìn người, hành khách luân chuyển là 82,68 triệu người/km; vận chuyển hàng hóaước đạt 1.358,5 nghìn tấn, với khối lượng hàng hóa luân chuyển là 22,886 triệutấn/km Doanh thu vận tải đầu năm 2015 đạt 168,037 tỷ đồng, tăng 2% so với năm2014

Số lượt khách du lịch đến Bắc Kạn giai đoạn 2005 - 2015 tăng bình quân19,96%/năm, trong đó khách du lịch quốc tế tăng bình quân 12,03%/năm, khách dulịch nội địa tăng bình quân 20,3%/năm Tổng thu từ du lịch năm 2015 đạt 252 tỷđồng (tăng 3,3 lần so với năm 2010); hệ thống cơ sở lưu trú du lịch phát triển nhanh

1.2.3 Các tài nguyên du lịch văn hóa điển hình

- Di tích lịch sử văn hóa: Theo số liệu thông kê, trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn hiện

có 175 di tích, trong đó có 13 di tích được xếp hạng cấp quốc gia (trong đó có 1 ditích cấp quốc gia đặc biệt) và 36 di tích xếp hạng cấp tỉnh, hầu hết các di tích đượcxếp hạng đều là những địa điểm liên quan đến chủ tịch Hồ Chí Minh và các tổ chứcđoàn thể Việt Nam trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp Đặc điểm chung của các ditích cách mạng thường chỉ là những địa danh như làng, bản và không phải là nhữngcông trình xây dựng cụ thể, vì vậy việc khai thác phục vụ du lịch thường bị hạn chế

Trang 28

Trong khi đó, các di tích danh thắng, mặc dù số lượng ít, nhưng lại có giá trị đặc biệtđối với du lịch

Một số di tích tiêu biểu của Bắc Kạn

+ Di tích lịch sử Nà Tu: Thuộc thôn Nà Tu, xã Cẩm Giàng, huyện Bạch Thông.Nơi đây, ngày 28/3/1951 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đến thăm phân đội thanh niênxung phong 312 làm nhiệm vụ bảo vệ cầu Nà Cù, Bác đã tặng thanh niên 4 câu thơnổi tiếng:

Không có việc gì khó Chỉ sợ lòng không bền Đào núi và lấp biển Quyết chí ắt làm nên + Di tích Khuổi Linh: Thuộc xóm Nà Đeng, xã Nghĩa Tá, huyện Chợ Đồn Đây

từng là nơi ở, làm việc của đồng chí Tổng bí thư Trường Chinh và văn phòng Trungương Đảng năm 1950

+ Di tích Bản Ca: Thuộc Bản Ca, xã Bình Trung, huyện Chợ Đồn, là nơi ở và

làm việc của Chủ tịch Hồ Chí Minh cuối năm 1947

+ Di tích Nà Pậu: Thuộc Bản Thít, xã Lương Bằng, huyện Chợ Đồn, là nơi ở

và làm việc của Chủ tịch Hồ Chí Minh đầu năm 1951

+ Di tích đồi Khau Mạ: Thuộc Bản Vèn, xã Lương Bằng, huyện Chợ Đồn, lànơi ở, làm việc của đồng chí Thủ tướng Phạm Văn Đồng và Văn phòng Chính phủnăm 1950 - 1951 Tại đồi Khau Mạ, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã cùng với Trungương Đảng, Bộ Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam dưới sự chỉ đạo của Chủtịch Hồ Chí Minh tổ chức họp bàn mở Chiến dịch Biên giới năm 1950, mở ra thời kỳmới cho cách mạng Việt Nam

+ Di tích chiến thắng đèo Giàng: Nằm trên trục Quốc lộ 3 đoạn từ Bắc Kạn đi

Cao Bằng, cách thành phố Bắc Kạn 24km về phía Bắc Trong chiến dịch Việt BắcThu Đông năm 1947, nơi đây đã diễn ra trận phục kích và chiến đấu ác liệt của Trungđoàn Thủ đô tiêu diệt toàn bộ đoàn xe cơ giới của Pháp, trận đánh thắng lợi vang dội

đã ghi thêm một mốc son vào trang sử hào hùng của dân tộc

+ Di tích lịch sử cách mạng đồn Phủ Thông: Nằm gần ngã ba Phủ Thông, thị

trấn Phủ Thông, huyện Bạch Thông, cách thành phố Bắc Kạn 19 km về phía Bắc.Tháng 10 năm 1947, quân đội viễn chinh Pháp với gần 1.200 quân đã nhảy dù xuốngthành phố Bắc Kạn và tiến quân lên chiếm đóng, xây đồn kiên cố tại Phủ Thôngnhằm khống chế và tiêu diệt lực lượng của ta Quân ta đã tổ chức tập kích công đồn 3lần và giành thắng lợi, đây là những trận công đồn đầu tiên và khẳng định bướctrưởng thành của quân đội ta, đồng thời là cuộc tập dượt, rút kinh nghiệm để đập tan

Trang 29

cứ điểm Điện Biên Phủ, đánh bại thực dân Pháp xâm lược (năm 1996, Bộ Văn hoá Thông tin đã xếp hạng di tích đồn Phủ Thông là di tích lịch sử cấp quốc gia).

Nghề thủ công truyền thống: Bắc Kạn có 7 dân tộc sinh sống, mỗi dân tộcđều có những nghề truyền thống đặc trưng Tuy nhiên, với quy mô lớn để trở thànhlàng nghề thì hiện nay Bắc Kạn vẫn chưa có làng nghề nào có thể khai thác phục vụ

du lịch; sản phẩm thủ công chưa nhiều, chưa trở thành hàng hóa, chỉ sản xuất phục vụcác nhu cầu sử dụng hàng ngày; người làm đồ thủ công chưa tách khỏi sản xuất nôngnghiệp

+ Người Tày có kinh tế truyền thống là nông nghiệp, chủ yếu là trồng lúanước, tiếp đến là chăn nuôi, thu hái lâm thổ sản và làm thủ công gia đình như kéo sợi,dệt vải, đan lát, đan chài lưới, ép mía, nấu mật, ép hạt lai, hạt dọc lấy dầu thắp, làmngói đất lợp nhà, đóng bàn ghế, làm cối xay, cối giã… Phần lớn phụ nữ Tày đều biếtkéo sợi, dệt vải; nghề đan lát với nghệ thuật đan trên nhiều chủng loại vật liệu, làm ranhiều loại sản phẩm gia dụng như giần sàng, nong nia, dậu gánh, phên phơi thóc, ki,sảo, đơm đó, lồng gà

+ Người Dao chủ yếu làm nông nghiệp, chăn nuôi và thu hái lâm thổ sản Một

số ít hộ người Dao trước đây có thêm nguồn thu nhỏ từ các nghề thủ công truyềnthống như chạm bạc, trồng bông, dệt vải; nét đặc sắc trong trang phục người daođược may thêu rất rực rỡ, nhiều màu sắc (hiện nay về trang phục truyền thống, ngườiDao ít sử dụng, nghề này đang dần dần không tồn tại, cần có kế hoạch được bảo tồn)

+ Người Kinh thường có nhiều nghề, nhưng nhìn chung hoạt động kinh tếtruyền thống của người Kinh vẫn bao gồm các ngành nghề cơ bản như làm nôngnghiệp, thủ công nghiệp như đúc đồng, rèn sắt, chạm khắc, khảm trai, sơn mài, dệtlụa, làm giấy…

+ Người Nùng chuyên trồng trọt và làm các nghề thủ công như đan lát, dệt, rènđúc, làm hương, nghề mộc Trước kia hầu như gia đình nào cũng có khung cửi, nghềtrồng bông, dệt, nhuộm vải được duy trì khá lâu bền Bà con cũng rất khéo trong nghềđan lát, họ đan được những đồ gia dụng bằng tre, đẹp và bền, hầu như người đàn ôngnào cũng thạo nghề đan lát, cày bừa, cũng như người phụ nữ nào cũng thạo nghề kéosợi, dệt và nhuộm vải

+ Người Mông Bắc Kạn quen sống ở vùng cao, xa xôi hẻo lánh, canh tác

nương rẫy hầu hết là nương du canh, ít có thổ canh để trồng các loại cây lương thực,thực phẩm và chăn nuôi một số loài gia súc Tuy nhiên, để phục vụ cho một số nhucầu sinh hoạt tối thiểu, người Mông ở Bắc Kạn cũng trồng cây lanh để lấy sợi dệt vải,may thêu trang phục, làm thêm một số nghề như đan lát, đồ gỗ, rèn sắt

Trang 30

+ Người Hoa ở Bắc Kạn phần lớn sống tập trung tại các khu vực có điều kiệnvừa làm ruộng, vừa làm nghề buôn bán để sinh sống.

+ Người Sán Chay tập trung đông và sinh sống ở các xã Bộc Bố, Giáo Hiệu(huyện Pác Nặm), họ cũng trồng trọt và chăn nuôi là chính, ngoài ra họ còn có nghềthủ công và trao đổi hàng hóa Đồng bào Sán Chay rất thông thạo làm các sản phẩmthủ công gia đình như các đồ đan như phên, sọt, dậu, nong, nia, làm nón đan tre lợp lá

cọ rất đẹp, tước sợi dây sắn rừng để đan làm túi lưới (slung), phụ nữ còn dùng sợilanh dệt vải, thêu khăn, yếm; đàn ông biết làm đồ gỗ như làm nhà, làm bàn ghế, càybừa, quạt hòm, cối xay, cối giã…

- Lễ hội, văn hóa, văn nghệ dân gian: Là một tỉnh miền núi có 7 dân tộc chungsống, Bắc Kạn có nền văn hóa văn nghệ dân gian phong phú

+ Lễ hội: Các lễ hội của đồng bào Bắc Kạn luôn gắn bó với cuộc sống lao độngsản xuất của người dân Lễ hội thể hiện ước mơ khao khát của con người về đời sống

ấm no hạnh phúc, là cầu nối giữa con người với thế giới thần linh, lễ hội là hình thứcgiao tiếp để con người gửi đi thông điệp cầu xin thần linh bao bọc che chở, giúp đỡcon người chiến thắng cái ác, chiến thắng bệnh tật và cho mùa màng bội thu Những

lễ hội tiêu biểu như lễ cầu mùa của người Dao, lễ cấp sắc, lễ hội Lồng Tồng, hội xuân

Ba Bể

Lễ cầu mùa: Lễ cầu mùa là một nét văn hóa rất đặc trưng của người Dao, được

tổ chức trang trọng, có sự tham gia của cả cộng đồng, đồng bào dân tộc sinh sống tạimột bản, một vùng vào dịp cuối năm hoặc đầu năm mới Già làng, trưởng bản, cácthầy mo và bà con trong bản họp bàn nhau lại để chuẩn bị cho lễ cúng với các côngviệc cụ thể như: Chọn thầy cúng, chuẩn bị lễ vật, chọn địa điểm và ngày cúng Lễcúng thường được tổ chức vào ngày Thìn hoặc ngày Sửu vì theo quan niệm của đồngbào Dao tổ chức lễ cúng vào ngày này làng bản sẽ gặp nhiều may mắn

Lễ cúng được diễn ra trên một khu đất bằng phẳng, ở một khu ruộng hoặc trênmột quả đồi nơi có không gian thoáng đãng thuận lợi cho việc tổ chức; bằng các nghi

lễ truyền thống, múa cầu mùa của người Dao cũng thể hiện sự tôn kính với thần rừng,thần núi, thần trời và thần đất; đây không chỉ là nơi thể hiện nét đặc sắc trong truyềnthống của bà con dân tộc Dao mà còn là nơi thể hiện ý nghĩa tâm linh sâu sắc trongđời sống văn hóa của họ

Lễ hội Lồng Tồng: Trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn diễn ra nhiều lễ hội Lồng Tồng

trong đó phải kể đến một số lễ hội Lồng Tồng tiêu biểu sau:

Lễ hội Lồng Tồng Ba Bể (hội xuân Ba Bể): Là lễ hội đầu năm của đồng bào các dân tộc vùng hồ Ba Bể Lễ hội gồm 2 phần lễ và hội Phần lễ, được tổ chức cầu cho mưa thuận, gió hòa, mùa màng bội thu, cuộc sống ấm no hạnh phúc Phần hội,

Trang 31

gồm các chương trình văn nghệ dân gian hát then, đàn tính, múa khèn ; các trò chơidân gian như: Kéo co, đẩy gậy, tung còn, bắt vịt, đua thuyền độc mộc, chọi bò, đấu

võ dân tộc, thi đấu bóng chuyền Lễ hội Lồng Tồng Ba Bể đã được Bộ trưởng bộ Bộtrưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ký quyết định số 4205/QĐ-BVHTTDL ngày

19/12/2014 công nhận là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia

Lễ hội Lồng Tồng bản Pjoo: Thuộc xã Lam Sơn, huyện Na Rì, lễ hội được tổchức vào ngày mồng 7 tháng Giêng, nhân dân và nhiều du khách gần xa đã nô nứcđến với Lễ hội và cùng nhau dâng cỗ, thắp hương cầu lộc Mâm cỗ cúng có đủ thànhphần như: Xôi, thịt gà, bánh kẹo, hoa quả… Được dâng lên thần núi, thần sông cùngnhững nén hương thơm bày tỏ lòng thành kính, cầu mong cho con người sức khỏe,con trâu, con lợn béo tốt, mùa màng bội thu; nhân dân ấm no, hạnh phúc Lễ hội diễn

ra nhiều hoạt động phong phú, sôi nổi: Như hát sli, lượn, chơi đàn tính, tung còn,bóng đá, kéo co, kéo cóc, đẩy gậy, bịt mắt đánh trống sôi nổi

Lễ hội Lồng Tồng Bằng Vân: Lễ hội Lồng Tồng Bằng Vân được tổ chức tại

xã Bằng Vân, huyện Ngân Sơn vào ngày 15 tháng giêng âm lịch hàng năm, gồm 2

phần lễ và hội Phần lễ cầu cho mưa thuận, gió hòa, nhân an, vật thịnh, mùa màng bội thu, cuộc sống ấm no hạnh phúc; Phần hội, có các trò chơi dân gian như: Kéo co,

tung còn, đẩy gậy, đi cầu thăng bằng, bịt mắt bắt dê; hát đối đáp giao duyên sli,

lượn (Tày, Nùng), Páo dung (Dao)…

Lễ hội Lồng Tồng Phủ Thông: Lễ hội được tổ chức tại thị trấn Phủ Thông,

huyện Bạch Thông Đây là lễ hội truyền thống được tổ chức vào ngày 10 tháng giêng

hằng năm với ý nghĩa cầu cho một năm mới an lành, mùa màng tươi tốt, vạn vật sinh

sôi nảy nở, đời sống của người dân được ấm no Lễ hội bao gồm 2 phần: Phần lễ,

cộng đồng người dân đã dâng những mâm cỗ được làm từ các sản vật của địa phươngtại Nghĩa trang liệt sĩ Phủ Thông nhằm bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới công lao to lớncủa các anh hùng liệt sĩ đã anh dũng hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc Đồngthời, báo công với các anh hùng liệt sĩ về những thành tích đạt được trong phát triểnkinh tế - xã hội của địa phương trong năm và cầu cho một năm mới an khang thịnh

vượng Phần hội, đông đảo nhân dân tham gia vào các hoạt động giao lưu văn hóa,

văn nghệ, thể thao và các trò chơi dân gian như: Tung còn, kéo co, bắn nỏ, chơi cờtướng

+ Hội chợ văn hóa truyền thống Xuân Dương: Hội chợ văn hóa truyền thốngXuân Dương được tổ chức ngày 25/3 âm lịch hằng năm, là ngày hội của những đôinam và nữ trong vùng, để những người lỡ duyên trước đó được gặp nhau, ôn lạichuyện cũ Hội chợ văn hóa truyền thống Xuân Dương bắt nguồn từ câu chuyện cảmđộng của đôi vợ chồng trẻ người dân tộc Tày yêu thương nhau hết mực, ở thôn Pác

Trang 32

Sen, xã Xuân Dương, huyện Na Rì (một ngày nọ, hai vợ chồng cùng làm đồng, chồngcuốc nơi cuối ruộng, vợ phát cỏ nơi đầu ruộng, một viên quan đi qua thấy người phụ

nữ đẹp đã cho quân bắt nàng mang đi Người vợ chống cự, kêu cứu thảm thiết nhưng

do thửa ruộng quá dài, người chồng không nghe thấy Nhiều năm sau, người vợ tìm

về gặp lại chồng cũ, lúc ấy, mỗi người đã có một gia đình riêng của mình, không thểtính đến chuyện hàn gắn, họ chỉ còn biết ôm nhau khóc, dân làng biết chuyện ai nấyđều cảm động, đồng ý cho những đôi lỡ duyên được gặp lại nhau tại Nà Lỳ (ruộngdài) vào ngày 25/3 âm lịch hàng năm); Hội chợ văn hóa truyền thống Xuân Dương,nét văn hóa hết sức đặc trưng của cộng đồng các dân tộc Tày, Nùng huyện Na Rì vàhuyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn

+ Tiết Thanh minh và ngày mùng 3 tháng 3: Được đồng bào dân tộc vùng caoBắc Kạn gìn giữ và lưu truyền qua bao thế hệ, trở thành một nét đẹp văn hóa khôngthể phai nhạt cho tới ngày nay; đây được coi là dịp lễ thiêng liêng, thể hiện lòngthành kính của con cháu với tổ tiên Vào dịp này, người dân Bắc Kạn có tục đi tảo

mộ, mâm lễ cúng tảo mộ được chuẩn bị chu đáo, gồm chai rượu, gà, xôi đăm đeng(loại xôi nhiều màu sắc, đặc trưng của khu vực miền núi phía Bắc), các loại bánh tráiđặc trưng của vùng cao: Bánh trứng kiến, bánh lá ngải, bánh mật, bánh gai… Đây làdịp duy nhất trong năm đồng bào dân tộc nơi đây sửa sang, quét dọn mộ phần của giađình, dòng họ

+ Tết rằm tháng bảy: Cùng với ngày xá tội vong nhân (Vu Lan) của người

Kinh, tết rằm tháng bảy của người dân tộc Tày ngoài ý nghĩa thờ cúng tổ tiên, cúngcác vong hồn còn là dịp để gia đình, dòng họ xum họp, con cái thể hiện lòng biết ơn,tình cảm và lòng hiếu thuận đối với cha mẹ Cứ đến tháng bảy âm lịch hàng năm,đồng bào Tày ở khắp các bản làng của Bắc Kạn lại chuẩn bị cho cái tết lớn thứ haisau tết Nguyên Đán, theo tục lệ, cứ đến rằm tháng bảy, người Tày ở Bắc Kạn sẽ làmbánh “Pẻng Tải”, bánh chưng nhân cá lá gừng, làm bún tươi, thịt vịt… Để thờ cúng tổtiên, cúng các vong hồn, cầu chúc sức khỏe, an lành đến với tất cả các thành viêntrong gia đình, dòng họ

+ Tết Đắp Nọi: Vào ngày 30 tháng Giêng hàng năm, đồng bào Tày, Nùng ở

Bắc Kạn tổ chức tết “Đắp nọi” (Đắp nọi nghĩa là ăn tết lại) Theo phong tục truyềnthống xưa, người Tày thường đi chơi hết tháng giêng, từ nhà này đến nhà khác, bảnnày đến bản khác; sau đó quay lại nhà mình “ăn tết lại” để đánh dấu kết thúc tháng ăntết, kết thúc cuộc vui, bắt đầu vào một mùa lao động mới

- Các phong tục tập quán: Mỗi dân tộc đều có những phong tục tập quán khácnhau Bắc Kạn có 7 dân tộc anh em cùng chung sống, mỗi dân tộc đều có nhữngphong tục riêng

Trang 33

+ Tục cướp vợ hay bắt vợ của người Mông (hiện nay tục lệ này đã mai một):

Ví dụ: Khi chàng trai Mông ưng một cô gái nào đó thì tổ chức đón đường, “bắt” côgái về làm vợ mình, cô gái bị “bắt” về, được nhà trai “Dùng gà trống đánh dấu nhậpnhà” buộc phải lấy chàng trai cho dù có đồng ý hay không Trong xã hội cũ, tục bắt

vợ thường diễn ra là do những gia đình nhà trai có quyền thế ép buộc các cô gái vềlàm vợ, khi các cuộc cưỡng hôn này tan vỡ thì thường người con gái chỉ biết tìm đếncái chết, bởi lẽ sau khi đã “Nhập ma” nhà trai, cô gái có tự ý bỏ về thì bố mẹ cô cũngkhông thừa nhận nữa Hiện nay, ở một số nơi vẫn còn tồn tại phong tục này nhưng đãkhác hẳn về tính chất, thường là có sự thỏa thuận từ hai phía cô gái và chàng trai, đểđặt gia đình hai bên vào một “sự đã rồi” Hoặc hai bên gia đình đã chuẩn bị sẵn lễcưới, còn việc “bắt vợ” chỉ là làm tăng thêm phần thi vị cho đôi lứa mà thôi

Ngoài ra người Mông còn có tục "Háy pù", tức là trong trường hợp trai gái yêunhau, cha mẹ thuận tình nhưng kinh tế khó khăn, trai gái hò hẹn nhau tại một địađiểm Từ địa điểm đó chàng trai dắt tay cô gái về làm vợ

+ Tục Phác: Không biết tự bao giờ, đồng bào Tày, Nùng ở vùng núi cao phía

Bắc trong những ngày vui, đám hiếu, hỉ, đám rước…; đã có tục Phác, đó là một nétvăn hóa đặc sắc mang tính cộng đồng cao của cư dân vùng núi

Từ Phác theo chiết tự tiếng Tày có nghĩa là “gửi” Phần lớn người Tày, Nùngkhi trong bản có gia đình cưới xin, ma chay, lễ lạt… Đều tự động mang gạo, gà, rượuđến góp với gia chủ; xuất phát của từ này có lẽ từ sự thiếu thốn về vật chất và hơn cả

là sự quan tâm giúp đỡ biểu hiện cho sự đoàn kết yêu thương đùm bọc lẫn nhau;những sản vật mang đến góp cho gia chủ được gia chủ ghi chép vào một cuốn sổ, đểđến khi nhà người khác có việc sẽ mang đến gửi trả đầy đủ và đóng góp thêm nếu cóđiều kiện Tục Phác đã đi vào đời sống sinh hoạt của người Tày, Nùng từ đời nàysang đời khác, từ thế hệ này đến thế hệ khác Nhiều đôi đến được với nhau, thành vợ,thành chồng, nhiều gia đình khó khăn có tiền lo ma chay lễ lạt, lo đầy tháng, cúnggiỗ…

- Về văn nghệ dân gian: Bắc Kạn có nhiều dân tộc anh em cùng chung sống từlâu đời Trong đó dân tộc Tày chiếm số đông, tiếp đến là các dân tộc Nùng, Kinh,Dao, Hoa, Mông, Sán Chay… Đồng bào Tày, Nùng, Kinh, Mông thường sống tậptrung thành làng, bản ở những vùng đồi thấp, ven trục đường chính và các huyện lỵ,tỉnh lỵ; đồng bào Dao, Mông, Sán Chay… thường sống phân tán ở những vùng núicao; miền đất này là nơi tinh hoa văn hóa nhiều dân tộc cùng tụ hội, làm nên bản sắcvăn hóa đậm đà, riêng biệt của một tỉnh miền núi vùng cao

+ Nghệ thuật hát then, đàn tính: Theo quan niệm dân gian, then có nghĩa là

Thiên, Thiên tức là “Trời”, vì vậy then được coi là điệu hát của thần tiên truyền lại;

Trang 34

trong đời sống của người Tày cổ, then được dùng trong những sự kiện trọng đại, như

lễ cầu an, cầu mùa ; thông qua làn điệu then lời cầu nguyện của người dân đượcchuyển đến nhà trời

Đàn tính là loại nhạc cụ dân gian độc đáo của người Tày có âm thanh mượt

mà, ấm áp, có sức cuốn hút, hấp dẫn kỳ diệu bởi nó gắn liền với văn hoá, đời sốngtinh thần của đồng bào dân tộc Tày từ bao đời nay Hộp đàn được làm từ vỏ bầu khô,mặt đàn làm từ thân cây vông, cán bằng cây dâu tằm

Bắc Kạn là một trong những tỉnh miền núi phía Bắc mà nghệ thuật hát then,đàn tính là nét văn hóa đặc sắc nhất, được bảo tồn và phát triển (hiện nay, làn điệuthen đang được tỉnh xây dựng hồ sơ đệ trình lên UNESCO vinh danh là di sản vănhóa phi vật thể đại diện của nhân loại)

+ Hát giao duyên của dân tộc Tày - Nùng: Hay còn gọi là hát Quan làng là

tiếng hát tình yêu trai gái của người Tày Hát giao duyên là lối hát trong một khônggian xã hội rộng lớn và chỉ có một tục thức hát theo mùa không tuỳ hứng Đây là sựkhác biệt giữa hát giao duyên với các loại hát thông thường; hát giao duyên là hátphong tục cùng với phong tục hát cưới, hỏi của đồng bào Tày; hát giao duyên thểhiện tình yêu người dân tộc tự nhiên như thiên nhiên hoang dã, tình cảm nhiều mà nóichẳng bao nhiêu, mang đậm âm vị hương sắc của núi rừng

Ngoài ra, kho tàng văn hóa dân gian các dân tộc Bắc Kạn đáng chú ý có thể

loại hát đối, gần giống như hát đối giao duyên của người Kinh, ví dụ như hát Phuối

pác, Phuối rọi của người Tày, Nùng; hát Páo dung của người Dao Tiền, đặc biệt hát

páo dung còn được chia thành các thể loại khác nhau, ngoài hát giao duyên, còn cóthể loại hát răn dạy, hát mời rượu, hát tiễn đưa, múa khèn của người Mông…

+ Phuối pác, Phuối rọi là những lời nói có vần, có điệu của nam nữ thanh niên

Tày, Nùng thường dùng hàng ngày Nội dung chính của các bài hát này là lòng yêulao động, tình yêu trai gái, tùy tài năng và cảm xúc của người hát mà làn điệu bài bản

các thể hát đó được biến hóa, sáng tạo không ngừng Phuối pác là thể dân ca hát đối

đáp, có làn điệu nhưng không ngân nga như lượn, thường được dùng nhiều nhất trong

2 trường hợp: Khi mới gặp nhau và lúc tạm biệt nhau ở chợ hay trong lễ hội…; đócũng là một hình thức thể hiện tình cảm, là những lời ướm hỏi trêu ghẹo tình tứ trongtình yêu rất lãng mạn

Hiện nay, toàn tỉnh Bắc Kạn có 9/431 di sản văn hóa phi vật thể được đưa vàodanh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia gồm: Chữ viết người Dao;lễ cấp sắc củangười Dao; chữ Nôm của dân tộc Tày và Lượn Slương của dân tộc Tày; lễ cấp sắccủa người Tày; lễ cầu năm mới, cầu mùa của người Dao

- Văn hóa ẩm thực Bắc Kạn

Trang 35

Trong các hành trình du lịch, văn hóa ẩm thực không phải là yếu tố quyết địnhnhưng sẽ là yếu tố đóng vai trò thiết yếu, có ý nghĩa làm cho mỗi hành trình du lịchthêm thú vị, hấp dẫn, nhiều trải nghiệm hơn, để lại ấn tượng đẹp khó quên trong lòngmỗi du khách, có thể khẳng định việc khám phá, thưởng thức văn hóa ẩm thực là mộtnhu cầu thực tế của du khách

Đặc sản ẩm thực của Bắc Kạn rất phong phú, với các sản phẩm nông sản địaphương như: Rau bồ khai, rau ngót rừng, gạo bao thai, măng vầu, giảo cổ lam, quýt,hồng không hạt, chè shan tuyết, trám đen…Với các sản phẩm hàng hóa như: Măngngâm ớt, miến dong, mật ong rừng, mứt mận, rượu men lá… Và đặc biệt là các món

ăn truyền thống như: Cơm lam, bánh gio, xôi đăm đeng, bánh trứng kiến, bánh lángải, pẻng phạ, lạp xường, khâu nhục, bánh khẩu Sli, bánh coóc mò, chè con ong,mèn mén, bún của người Tày… Một số đặc sản có thể kể đến:

+ Thịt lợn treo gác bếp - món ăn độc đáo của đồng bào Bắc Kạn: Sau khi làm

thịt lợn, lọc bỏ xương và tuyệt đối không rửa lại bằng nước, thịt pha xong, lau khô đểnguội, sau đó, thịt được ướp với một lượng muối vừa đủ để muối ngấm sâu vào thớthịt, tiếp theo, cho thịt vào sọt ủ 2 - 3 ngày, nguyên liệu đem ủ với thịt là một loạimen làm từ các lá cây rừng; Sau khi ủ, thịt được treo trên gác bếp, do nấu ăn hàngngày bằng củi nên gác bếp thường xuyên có khói, khói bám vào làm thịt có màu vàngđen, lượng mỡ gặp nóng chảy xuống một phần, phần còn lại rất trong, thịt treo nhưvậy để được cả năm mà không hỏng

+ Rau dớn - Đặc sản Bắc Kạn: Rau dớn là một loại cây thuộc họ quyết, giống

như cây dương xỉ, cành dài lá nhỏ, mặt lá có màu xanh nhẵn, cuống lá có lông Ở BắcKạn, rau dớn thường mọc ở vùng núi cao, nơi ngọn nguồn của các con sông, con suối

và thường mọc ở bờ suối, bờ khe, nơi có độ ẩm ướt cao Rau dớn ăn ngon nhất là saumùa lụt đến cuối mùa xuân, lá rau dớn non uốn cong như vòi voi, có nhựa nhớt, câyxanh tươi tốt quanh năm Đồng bào thường chỉ hái ngọn cong non, lá bánh tẻ để ăn

Đồng bào dân tộc ở Bắc Kạn có thể chế biến các món ăn độc đáo từ rau dớnnhư: Rau dớn xào tỏi, rau dớn xào cùng nước măng chua…, nhưng món ngon nhấtphải kể đến món nộm Rau dớn còn có tính mát, lợi tiểu, chống táo bón, làm ngưngcác cơn đau âm ỉ do viêm đại tràng, giúp dễ ngủ, giúp cơ thể khỏe mạnh nên rất đượcđồng bào ở Bắc Kạn ưa chuộng

+ Bánh trứng kiến: Bánh trứng kiến (tiếng Tày gọi là “Pẻng rày”), nguyên liệu

gồm: Trứng kiến, bột gạo, lá non của cây vả; thường được người Tày làm vào dịp tếtĐoan Ngọ Bánh trứng kiến là một trong những món ẩm thực mang giá trị văn hóacủa đồng bào dân tộc Tày Ăn miếng bánh trứng kiến có đủ hương vị của rừng, đồng

Trang 36

quê, đậm đà của muối biển, hơn thế người thưởng thức còn thấy hết mọi vị béo bùi,thơm ngon của bánh mà ít có thứ bánh khác ngon bằng.

+ Pẻng Phạ của người Tày chế biến không cầu kỳ nhưng mùi vị thơm ngonthích hợp với mọi lứa tuổi từ người già tới tụi trẻ con, do vậy hầu như nhà nào cũnglàm món bánh này trong những dịp ăn mừng Nguyên liệu chính để làm bánh là gạonếp, gạo nếp ngon đem xay khô thật mịn để làm bột nếp; bột được nhào với nước chèmạn pha đặc để lấy màu nâu và vị chát rồi thêm một chút rượu trắng cho dậy mùi;sau khi nhào thật kỹ cho bột dẻo và mịn có thể vê thành những viên cỡ quả nhãn Khi

mỡ nóng già thả bánh vào rán cho nổi mỡ, vàng ruộm thì vớt ra để cho ráo mỡ, bánhrán hết mới bắt tay vào áo bánh Đường được đổ vào xoong, châm thêm chút nướccho đường dễ tan chảy rồi đun sôi, thử độ kết đông của đường rồi bắt đầu thả bánhvào cho ngập đường Bánh vớt ra lăn ngay vào bột áo Bánh Pẻng Phạ bên trong dẻo,ngoài cứng giòn nên bánh giống như có nhân ăn rất thú vị

+ Khẩu Sli - đặc sản riêng của Bắc Kạn: Vào mỗi dịp lễ hội Lồng Tồng, thứ

bánh không thể thiếu để dâng lên trời đất, để cúng thần linh cầu mùa màng bội thu,mưa thuận gió hòa là bánh Khẩu Sli Bánh tròn như quả trứng chim cút, vàng óng vìđược tẩm mật mía, ăn vừa ngọt, vừa thơm, giòn tan nơi đầu lưỡi với hương vị mangbản sắc riêng của người Tày

+ Xôi ngũ sắc: Gạo nếp được nhuộm thành các màu xanh, đỏ, tím, đen rồi trộncác loại với nhau thành gạo nhiều màu Gạo được nhuộm từ nhiều loại lá cây khácnhau như màu tím nhuộm từ lá “cẳm”, màu vàng từ hoa “phón”…

+ Xôi trứng kiến: Đồ xôi lẫn với trứng kiến đen lấy từ tổ kiến.

+ Cơm lam: Là món ăn đặc trưng nhất của người Tày ở Bắc Kạn Trước tiên,

người ta ngâm gạo nếp rồi cho vào ống tre non cùng một ít nước, đậy nút kín rồi đemnướng trên lửa cho chín, để ống tre nguội, bóc vỏ ống để lại lượt áo mỏng bao quanhcơm, khi ăn, dùng dao xắt thành từng khúc nhỏ

2 Các nguồn lực cho phát triển du lịch

2.1 Hệ thống giao thông vận tải

- Giao thông đường bộ

Mạng lưới giao thông trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn chủ yếu là đường bộ với tổng sốchiều dài là 6.945km, bao gồm các loại đường:

+ Đường Quốc lộ: Có 03 tuyến Quốc lộ chạy qua đạt từ cấp V đến cấp IV miềnnúi, với tổng chiều dài là 400,68km, cụ thể Quốc lộ 3 - 125,6km, Quốc lộ 279 –134,58km, Quốc lộ 3B – 140,5km, ngoài ra còn tuyến đường cao tốc nối TháiNguyên – Bắc Kạn, đường Hồ Chí Minh đang được xây dựng và tuyến Quốc lộ 3C

đã được đầu tư chuẩn bị xây dựng

Trang 37

+ Đường tỉnh: Toàn tỉnh có 13 tuyến đường tỉnh với tổng chiều dài là436,45km, đạt từ giao thông nông thôn loại A đến cấp IV miền núi, cụ thể như đường

251 – 14,4km, đường 252 – 12,3km, đường 252B – 15,573km, đường 253 –15,7km…

+ Đường huyện có 513,9km, trong đó đường đất 70km, đường cấp phối148,4km, đường bê tông xây mới 35,9km, đường đá dăm láng nhựa 256,6km

+ Đường đô thị: 70,02 km tại nội thị trung tâm các huyện, thành phố

+ Đường chuyên dùng: 98km, tỷ lệ cứng hóa trên 40%

+ Đường xã: 1.300Km, tỷ lệ cứng hóa trên 40%

+ Đường thôn bản, lối mòn khoảng: 4.000 Km chủ yếu là đường đất

- Hệ thống đường không: Hiện đã được phê duyệt quy hoạch 01 sân bay QuânBình – Bạch Thông Sau năm 2020 khi điều kiện phát triển và nhu cầu về an ninhquốc phòng cần thiết sẽ xây dựng cảng hàng không tại sân bay Quân Bình, với tổngquy mô sử dụng đất khoảng 110,46 ha

- Hệ thống đường sông: Các tuyến sông chính của Bắc Kạn gồm có 5 tuyếnsông, chủ yếu là sông đầu nguồn, nhỏ, dòng chảy hẹp, nhiều ghềnh thác Mùa đôngkhô cạn, mùa hè lưu lượng nước tăng mạnh, hay gây ra lũ lụt; mực nước nông lạinhiều ghềnh thác nên hệ thống giao thông thuỷ của Bắc Kạn không có điều kiện pháttriển, chỉ lưu thông bằng thuyền nhỏ, bè mảng Tổng chiều dài các tuyến sông 343km; diện tích lưu vực là 3.935 km2; lưu lượng nước ít, tổng trữ lượng nước các sôngkhoảng 3.513 triệu m3 gồm có:

+ Sông Phó Đáy bắt nguồn từ núi Tam Tao, dài 36 km

+ Sông Năng bắt nguồn từ núi Phía Ria dài 87 km, đoạn qua tỉnh Bắc Kạn dài

45 km

+ Sông Bằng Khẩu bắt nguồn từ Đức Vân, dài 14 km

+ Sông Bắc Giang bắt nguồn từ Đèo Gió dài 65 km, đoạn chảy qua tỉnh BắcKạn là 35 km

+ Sông Cầu: Bắt nguồn từ đỉnh Tam Tao, xã Phương Viên huyện Chợ Đồn tỉnhBắc Kạn, chảy theo hướng Bắc - Đông - Nam chảy qua 39 xã, phường với diện tích6.030 km2 qua địa phận các huyện: Chợ Đồn, Bạch Thông và vòng qua Thành phốBắc Kạn qua Chợ Mới là cuối của sông Quảng Chu thuộc huyện Chợ Mới nhập vào.Chiều dài của sông chính ≈ 103 km

Chỉ có 1 tuyến đối nội vận tải thủy dài 26 Km trên sông Năng, huyện Ba Bểđược khai thác, đoạn: Chợ Rã - Ba Bể - Thác Đầu Đẳng dài 26 km phục vụ du lịch vàhàng hóa dân sinh

2.2 Hệ thống cung cấp điện, nước

Trang 38

2.2.1 Hệ thống cung cấp điện

Tổng chiều dài đường dây cao thế trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn là 1.502,38km,trong đó: Đường dây 220KV dài 73km, đường dây 100KV dài 137,8km Đến nay, cảtỉnh có tổng số 781 trạm biến áp; tổng chiều dài đường dây 35KV là 1.363,85km;tổng chiều dài đường dây 04KV là 1.570,89km

Cả tỉnh đã có 3 nhà máy thủy điện đang hoạt động (tăng 1 nhà máy so với năm2010), hòa vào lưới điện quốc gia: Thủy điện Tà Làng công suất 4,5MW, thủy điệnThượng Ân công suất 2,4MW, thủy điện Nặm Cắt 1 công suất 3,2MW Hệ thống cấpđiện của tỉnh Bắc Kạn đã cơ bản đáp ứng được nhu cầu sản xuất, kinh doanh, tính đếnhết năm 2013, cả tỉnh có trên 93% hộ dân được sử dụng điện lưới quốc gia, tăng 18%

hệ thống kênh mương, 10 xi phông; 24 trạm bơm điện phục vụ cấp nước cho sản xuất

và sinh hoạt Các công trình thủy lợi đảm bảo cung cấp nước cho sản xuất nôngnghiệp, cải tạo môi trường và an toàn cho nhân dân

Đối với việc cung cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn, trên địa bàntỉnh, các công trình nước sạch đã được đầu tư có hiệu quả và phát huy tác dụng, giảiquyết nguồn nước sinh hoạt hợp vệ sinh cho nông thôn, đặc biệt là những nơi cónhiều đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống, vùng đặc biệt khó khăn và tại các trườnghọc Đến hết năm 2015, tỷ lệ dân số nông thôn trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn được sửdụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh đạt trên 93%, tỷ lệ hộ gia đình ở nông thôn có nhàtiêu hợp vệ sinh đạt trên 61%

Hiện nay, trên địa bàn tỉnh có 5 trung tâm huyện, thị xã có hệ thống cung cấpnước sạch cho nhân dân, đó là thành phố Bắc Kạn, thị trấn Nà Phặc, thị trấn Chợ Rã,thị trấn Bằng Lũng, thị trấn Yến Lạc, năng lực khai thác đạt 8.650m3/ngày đêm vàkhả năng cấp nước bình quân là 90 lít/người/ngày

Bên cạnh đó, tỉnh Bắc Kạn cũng đã tập trung, lồng ghép các chương trình nhưchương trình 135, chương trình môi trường quốc gia nước sạch và vệ sinh môi trườngnông thôn, chương trình 134, chương trình 30a…; nhằm đầu tư nâng cấp, xây dựngcác công trình thủy lợi nhỏ và công trình cấp nước sinh hoạt nông thôn

2.3 Hệ thống thông tin, truyền thông

Trang 39

Trong thời gian qua, hạ tầng mạng viễn thông trên điạ bàn tỉnh Bắc Kạn pháttriển khá nhanh, góp phần không nhỏ vào sự phát triển kinh tế xã hội của tỉnh và nângcao chất lươṇg cuộc sống người dân

Tốc độ tăng trưởng của các dịch vụ viễn thông luôn đạt mức cao, đặc biệt làdịch vụ thông tin di động Hiện tại trên địa bàn tỉnh có 2 doanh nghiêp ̣ cung cấp dic ̣h

vu ̣điện thoại cố điṇh: Viễn thông Bắc Kạn và Viễn thông Quân đội chi nhánh BắcKạn; 4 doanh nghiệp cung cấp dịch vụ thông tin di động: Vinaphone, Mobifone,Viettel, Vietnamobile; 2 doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet: Viễn thông BắcKạn, Viễn thông Quân đội chi nhánh Bắc Kạn

Mạng truyền dẫn: Cáp quang, cáp đồng đã được triển khai rộng khắp trên địabàn toàn tỉnh, hầu hết các xã, phường, thị trấn có tuyến truyền dẫn cáp quang

Mạng thông tin di động: 446 vị trí cột ăng ten thu phát sóng trên địa bàn toàntỉnh, bán kính phục vụ bình quân 2,37km/côṭ Mạng thông tin di động trên địa bàntỉnh hiện nay sử dụng chủ yếu công nghệ 2G và 3G; công nghệ 3G đã được cácdoanh nghiêp ̣ triển khai tương đối rôṇg khắp trên điạ bàn tỉnh

Mạng Internet chủ yếu sử dụng công nghệ: ADSL; hiện nay, tỉnh đang triểnkhai công nghệ: FTTH (truy nhập Internet tốc độ cao bằng cáp quang đến thuê bao)

Mạng cáp viễn thông: Hệ thống mạng cáp viễn thông đã phát triển rộng khắptrên địa bàn tỉnh, đáp ứng đầy đủ nhu cầu sử dụng dịch vụ của người dân

Hiêṇ traṇg môṭ số chỉ tiêu viễn thông trên điạ bàn toàn tỉnh:

- Tổng số thuê bao điện thoại cố định năm 2015 đạt trên 18.129 thuê bao, mâṭ

đô ̣6 thuê bao/100 dân

- 100% các xã trên địa bàn tỉnh đã có sóng điện thoại di động Tổng số thuêbao điện thoại di động năm 2015 đạt trên 165.550 thuê bao, mật độ 56 thuê bao/100dân

- Dịch vụ Internet tốc độ cao (ADSL) đã được triển khai cung cấp đến cấp xã.Tổng số thuê bao Internet khoảng 16.107 thuê bao, mât đô ̣5,4 thuê bao/100 dân

Tỉnh đã từng bước đầu tư xây dựng hạ tầng thông tin theo hướng công nghệhiện đại, tiên tiến, phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, mạngtruyền số liệu chuyên dùng của tỉnh được đầu tư và lắp đặt, điểm cuối tại các sở, ban,ngành và 8 huyện, thành phố

Toàn tỉnh có 6% số hộ kết nối mạng Internet; 100% các doanh nghiệp cung cấpdịch vụ viễn thông đã triển khai cung cấp dịch vụ chất lượng cao bằng công nghệhiện đại; 3/5 doanh nghiệp đã cung cấp dịch vụ 3G tạo điều kiện cho việc triển khaikết nối Internet và truyền tải số liệu, ứng dụng công nghệ thông tin

Trang 40

Các cơ quan chính quyền đã sử dụng hạ tầng công nghệ thông tin được đầu tư.Việc triển khai mô hình chính quyền điện tử tại UBND cấp huyện bước đầu đem lạihiệu quả:

- Đến nay, trên địa bàn tỉnh đã có 26/28 cơ quan, đơn vị tham mưu quản lý nhànước trực thuộc tỉnh có trang/cổng thông tin điện tử, đạt 92,8%

- Phần mềm quản lý văn bản và hồ sơ được triển khai ở 28 đơn vị cấp sở,huyện để quản lý văn bản đi đến, chuyển nhận văn bản trên môi trường mạng

- Hệ thống thư điện tử của tỉnh đã được đưa vào sử dụng tại địa chỉhttps://mail.backan.gov.vn đến nay đã cấp thông tin cho 100% cán bộ, công chức các

cơ quan, đơn vị trên địa bàn tỉnh

Hạ tầng công nghệ thông tin tại các cơ quan nhà nước cũng được nâng cấp và

bổ sung đảm bảo phục vụ công tác chuyên môn và đảm bảo cho 80% cán bộ, côngchức của cơ quan quản lý nhà nước từ cấp huyện trở lên trên địa bàn tỉnh có điều kiện

sử dụng thư điện tử và khai thác thông tin trên mạng Internet phục vụ cho công việc.Hiện nay 100% các sở, ban, ngành và các huyện thị trong tỉnh đã có mạng LAN, tỷ lệkết nối Internet đạt trên 95%; 100% xã, phường được đầu tư máy tính hỗ trợ làm việc

và 65,6% xã, phường có kết nối Internet Đến nay 100% cán bộ, công chức cấp huyệntrở lên và 60% cán bộ, công chức cấp xã được phổ cập tin học cơ bản

2.4 Các nguồn lực khác

2.4.1 Hạ tầng đô thị: Hạ tầng đô thị của tỉnh từng bước được đầu tư Năm

2012, thành phố Bắc Kạn được công nhận là đô thị loại III, những năm tiếp theo, tỉnh

đã tập trung các nguồn lực đầu tư vào cơ sở hạ tầng, phát triển kinh tế - xã hội để đạttiêu chuẩn đưa thị xã trở thành thành phố Bắc Kạn Ngày 11/3/2015, Ủy ban Thường

vụ Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 892/NQ-UBTVQH13 chuyển 2 xã Xuất Hóa,Huyền Tụng thuộc thị xã Bắc Kạn thành 02 phường Xuất Hóa và phường HuyềnTụng thuộc thành phố Bắc Kạn và thành lập thành phố Bắc Kạn, thuộc tỉnh Bắc Kạn

Xã Vân Tùng, huyện Ngân Sơn chuẩn bị được công nhận là thị trấn Vân Tùng, làtrung tâm kinh tế chính trị của huyện Ngân Sơn

Với những tiềm năng, lợi thế như trên, tỉnh Bắc Kạn hy vọng sẽ sớm được đóntiếp các nhà đầu tư trong và ngoài nước, góp phần xây dựng quê hương Bắc Kạn giàuđẹp, văn minh và phát triển bền vững

2.4.2 Giáo dục và Đào tạo: Sự nghiệp Giáo dục và Đào tạo của tỉnh đã đạt

được những kết quả quan trọng Quy mô các loại hình trường lớp không ngừng được

mở rộng, cơ sở vật chất được tăng cường; công tác tuyển sinh các cấp học được triểnkhai thực hiện tốt, đảm bảo kế hoạch được giao; công tác phổ cập giáo dục tiếp tụcđược duy trì và nâng cao Cho tới nay, toàn tỉnh có 100% số xã đạt chuẩn phổ cập

Ngày đăng: 21/03/2017, 06:19

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 4: Khách du lịch quốc tế đến Bắc Kạn giai đoạn 2005 - 2015 - Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch tỉnh Bắc Kạn đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2030
Bảng 4 Khách du lịch quốc tế đến Bắc Kạn giai đoạn 2005 - 2015 (Trang 44)
Bảng 6: Khách du lịch nội địa đến Bắc Kạn giai đoạn 2005 - 2015 - Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch tỉnh Bắc Kạn đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2030
Bảng 6 Khách du lịch nội địa đến Bắc Kạn giai đoạn 2005 - 2015 (Trang 47)
Bảng 8: Hiện trạng CSLT du lịch của tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 2005 – 2015 - Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch tỉnh Bắc Kạn đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2030
Bảng 8 Hiện trạng CSLT du lịch của tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 2005 – 2015 (Trang 49)
Bảng 15: Dự báo chỉ tiêu GDP và nhu cầu vốn đầu tư cho du lịch - Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch tỉnh Bắc Kạn đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2030
Bảng 15 Dự báo chỉ tiêu GDP và nhu cầu vốn đầu tư cho du lịch (Trang 83)
Bảng 16: Dự báo nhu cầu cơ sở lưu trú của Bắc Kạn thời kỳ 2016 - 2030 - Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch tỉnh Bắc Kạn đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2030
Bảng 16 Dự báo nhu cầu cơ sở lưu trú của Bắc Kạn thời kỳ 2016 - 2030 (Trang 84)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w