1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khai thác giá trị di sản văn hóa cồng chiêng để phát triển du lịch ở Gia Lai

6 100 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 387,55 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết trình bày các nội dung chính sau: Di sản văn hóa cồng chiêng Gia Lai - Tiềm năng để phát triển du lịch, một số giải pháp khai thác giá trị cồng chiêng để phát triển du lịch ở địa phương.

Trang 1

SỐ 05 NĂM 2018

Đặt vấn đề

Gia Lai là một địa phương

có vị thế quan trọng trong

chiến lược phát triển của khu

vực Tây Nguyên và đang sở

hữu nguồn tài nguyên du

lịch phong phú, đa dạng với

nhiều danh lam thắng cảnh

đẹp hùng vĩ, nhiều di tích văn

hóa-lịch sử tiêu biểu, nhiều

giá trị văn hóa phi vật thể độc

đáo trong đời sống đương đại

Những giá trị văn hóa truyền

thống của 2 dân tộc thiểu số

Bahnar, Jrai ở Gia Lai như: kiến

trúc, trang phục, lễ hội, ẩm

thực, múa, âm nhạc, điêu khắc,

văn học dân gian rất độc

đáo và là nguồn tài nguyên

quý giá để có thể khai thác

phát triển du lịch địa phương

Hai dân tộc thiểu số Bahnar,

Jrai hiện đang sở hữu một hệ

thống các lễ hội gồm: bỏ mả,

lễ mừng chiến thắng, lễ khánh

thành nhà rông, lễ cầu an, lễ

mừng lúa mới, lễ mừng sức

khỏe, lễ cúng giọt nước Các

lễ hội này có sức thu hút đặc

biệt với khách du lịch và một

yếu tố không thể thiếu trong

các lễ hội của người DTTS tại

thần và vật chất của đồng bào DTTS tại chỗ Bahnar, Jrai ở Gia Lai, cồng chiêng có tiềm năng trở thành một sản phẩm du lịch đặc trưng nếu chủ thể trình diễn nó cùng cấp ủy, chính quyền địa phương biết cách khai thác trong đời sống hôm nay của cộng đồng các dân tộc Tây Nguyên nói chung

và Gia Lai nói riêng

1 Di sản văn hóa cồng chiêng Gia Lai - Tiềm năng

để phát triển du lịch

Gia Lai là một tỉnh miền núi biên giới, nằm trong vùng tam giác phát triển của khu vực Đông Dương là Việt

Nam-chỗ ở Gia Lai đó là nghệ thuật trình diễn cồng chiêng Cồng chiêng, nghệ nhân, trang phục, các sắc thái biểu cảm, các bài chiêng buồn bã tiễn đưa trong lễ bỏ mả hay vui vẻ, hân hoan, sôi động trong các

lễ mừng lúa mới, cúng giọt nước, cúng nhà rông, mừng chiến thắng cùng nhiều yếu tố khác của lễ hội đã làm

nên một Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên

đặc sắc được  UNESCO  công nhận là kiệt tác truyền khẩu

và phi vật thể nhân loại cách đây 13 năm (ngày  15 tháng

11  năm  2005) Với giá trị to lớn của nó trong đời sống tinh

Khai thác giá trị di sản văn hóa cồng chiêng để

phát triển du lịch ở Gia Lai

ThS HOÀNG THANH HƯƠNG

Trung tâm Thông tin công tác Tuyên giáo Gia Lai

Trang 2

TẠP CHÍ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ VÀ MÔI TRƯỜNG

Lào-Campuchia, có vị trí rất

quan trọng trong chiến lược

phát triển kinh tế-xã hội nói

chung và phát triển du lịch nói

riêng của vùng Tây Nguyên

Gia Lai có diện tích tự nhiên

trên 15.536 km2; dân số toàn

tỉnh trên 1,4 triệu người với

34 dân tộc anh em sinh sống,

trong đó dân tộc thiểu số

chiếm 44,5%, chủ yếu là dân

tộc Jrai và Bahnar có quá trình

lịch sử-văn hóa lâu đời

Ở Gia Lai, tại 17 huyện, thị

xã, thành phố nhiều buôn làng

DTTS đồng bào Bahnar, Jrai

hiện vẫn còn giữ được không

gian làng truyền thống với

kiến trúc nhà sàn, nhà rông,

nhà mồ, còn giữ được các lễ

hội dân gian cùng những nét

sinh hoạt cộng đồng, còn giữ

được những bộ cồng chiêng

quý cùng các đội nghệ nhân

cồng chiêng trẻ/già Điều này

là những điều kiện bước đầu

để cấp ủy, chính quyền địa

phương, các nhà đầu tư có thể

chú ý đến việc chọn địa điểm,

chọn loại hình di sản, chọn

sản phẩm du lịch đặc trưng

để đầu tư khai thác du lịch lâu

dài cho địa phương Có thể kể

tên một số làng như: làng Ốp,

thành phố Pleiku có không

gian đẹp, ngay tại trung tâm

thành phố Làng có nghề làm

rượu cần ngon, có nhà rông

đẹp, đặc biệt có hai đội cồng

chiêng trẻ/già một do bí thư

đoàn thanh niên của làng phụ

trách, một do già làng Ksor Núi

làm đội trưởng Chỉ cần có sự

kiện gì, Phòng Văn hóa- Thông

Trong một báo về tình hình kinh tế - xã hội, chính sách dân tộc, văn hóa truyền thống hai xã biên giới Ia Chía

và Ia O của huyện Ia Grai, chúng tôi tổng hợp được vào năm 2016, xã Ia O có 517 bộ cồng chiêng, được coi như một hiện tượng điển hình về bảo tồn cồng chiêng; trong

đó có 202 bộ chiêng quý Rất nhiều làng có số lượng cồng chiêng lên tới 70 - 80 bộ như: làng Dăng có 86 bộ; làng Cúc

có 80 bộ; làng Mít Jép có 78 bộ; làng Bi có 71 bộ; các làng Lân, O mỗi làng có 52 bộ cồng chiêng Làng có ít cồng chiêng nhất của xã này là làng Mít Kom cũng có số lượng cồng chiêng lên tới 27 bộ Riêng

xã Ia Chiă chỉ còn 09 bộ cồng chiêng [1] Đây mới chỉ là những số liệu về hai xã biên giới của một huyện trên địa bàn của tỉnh Cách đây khá lâu, vào năm 2003, Sở Văn hóa

- Thông tin (nay là Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch) tiến hành điều tra di sản văn hóa phi vật thể trong khu vực người Jrai, thống kê được 421 nghệ nhân thuộc lĩnh vực âm nhạc dân gian Năm 2005, điều tra trong khu vực người Bahnar, thống kê được 1.748 nghệ nhân âm nhạc dân gian, chủ yếu là sử dụng cồng chiêng Theo thống kê năm 2008, toàn tỉnh có 5.655 bộ cồng chiêng, phần lớn là những bộ cồng chiêng có giá trị cao, trong

đó, huyện Ia Grai có số lượng cồng chiêng lớn nhất (1.116 bộ/92 làng) Toàn tỉnh lúc đó

tin thành phố gọi điện thông báo, lãnh đạo phường Hoa Lư thông báo là đội cồng chiêng của làng có mặt đầy đủ phục

vụ các sự kiện chính trị, văn hóa, văn nghệ một cách nhiệt tình, chuyên nghiệp Hay xa hơn là tại ngôi làng kháng

chiến Stơr, thuộc xã Tơ Tung,

huyện Kbang, cách thành phố Pleiku hơn 80km, cách đường quốc lộ 19 khoảng 10km, cách thị trấn Kbang 16km Làng Stơr được công nhận là Di tích lịch sử-văn hóa quốc gia năm

1993 Tại khu di tích hiện có nhà lưu niệm Anh hùng Núp, nhà rông của đồng bào dân tộc Bahnar, có các đội cồng chiêng và nghệ hát dân ca giỏi, làm tượng gỗ, đan lát đẹp

Làng được đầu tư tôn tạo và nằm cách không xa các điểm

di tích, điểm du lịch khác như:

thác Hang Dơi, hồ thủy điện

Ka Nak, di tích Vườn mít-Cánh đồng Cô Hầu nên làng Stơr

có khả năng thu hút du khách đến tham quan du lịch và giao lưu cồng chiêng Và còn nhiều những đội cồng chiêng với các các nghệ nhân giỏi, tâm huyết đang tích cực truyền nghề lại cho thế hệ trẻ trong làng mình

và các làng lân cận như thế

ở Gia Lai hôm nay như ở các làng “Làng Phung (Plei Phun), làng Kép (huyện Chư Păh), Làng Blôm ( huyện Ia Pa), làng Chiêng (huyện Kbang), làng

Đê Ktu (huyện Mang Yang), làng Ốp (TP Pleiku), làng Tờ Nùng (huyện Kông Chro), làng Hway (huyện Đak Pơ)” [3]

Trang 3

SỐ 05 NĂM 2018

có khoảng 900 nghệ nhân

đánh chiêng giỏi và hơn 60

nghệ nhân biết chỉnh chiêng

[1] Những con số đã cho thấy

tiềm năng lớn từ di sản văn

hóa cồng chiêng của hai DTTS

tại chỗ Bahnar, Jrai trong khai

thác phát triển loại hình du

lịch văn hóa ở địa phương Mới

đây nhất, tháng 11/2018 tại

Kbang - một huyện phía đông

của tỉnh, nơi có người Bahnar

Bơnâm sinh sống lâu đời, nơi

đang còn bảo tồn được nhiều

giá trị văn hóa truyền thống

của đồng bào DTTS tại chỗ

như nghề dệt, tạc tượng, kiến

trúc, lễ hội, cồng chiêng

Chúng tôi có cuộc trao đổi với

Phó phòng Văn hóa-Thông tin

huyện, anh A Ngưi, anh cho

biết huyện hiện còn 631 bộ

cồng chiêng, 103 đội cồng

chiêng với gần 2.000 nghệ

nhân trẻ/già Nhiều xã, thị trấn

của huyện như: xã Đông, Kông

Lơng Khơng, Tơ Tung, Lơ Ku,

thị trấn Kbang trong các làng

có từ 1-3 đội cồng chiêng

Người già truyền nghề cho

lớp trẻ, các đội chiêng đánh

rất hay, tham gia các cuộc sinh

hoạt văn hóa văn nghệ cộng

đồng rất đông đủ, khi tham

gia những cuộc thi các đội

cồng chiêng của huyện Kbang

thường đạt giải cao trong tỉnh,

khu vực

Trong truyền thống của

cư dân bản địa Tây Nguyên,

cồng chiêng không tồn tại

là một loại nhạc cụ hay một

phương tiện giải trí đơn thuần

mà có vị trí vô cùng quan

trọng trong đời sống tinh thần

của con người Cồng chiêng

có mặt sớm trong hầu hết các tộc người đã cư trú lâu đời ở Tây Nguyên Cồng chiêng là một phần máu thịt của văn hóa Tây Nguyên Ở Gia Lai, hai DTTS tại chỗ Bahnar, Jrai đang

sở hữu di sản văn hóa phi vật thể độc đáo này, họ là chủ nhân của không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên và với họ cồng chiêng là thứ âm nhạc không thể thiếu trong các nghi lễ vòng đời Từ khi sinh ra đến khi chết đi, tiếng cồng chiêng thấm đẫm trong tâm thức của mỗi người Vui thì có điệu chiêng hân hoan chào đón ngày ra đời, ngày làm lễ thổi tai khi 3 tháng tuổi, ngày đầy 1 tuổi, ngày thành niên 13-14 tuổi, ngày cưới, ngày mừng sức khỏe, ngày kết nghĩa anh em, ngày có khách đến chơi thăm và buồn thì có tiếng chiêng khi ngày qua đời

về với làng ma (atâu), trong lễ

bỏ mả Âm thanh cồng chiêng trong các nghi lễ cúng tế theo tín ngưỡng đa thần của người Jrai mang ý nghĩa kết nối với các đấng thần linh (Yang)

Theo Tiến sĩ Nguyễn Thị Kim Vân - Giám đốc Bảo tàng tỉnh Gia Lai nó có vai trò giống như khói nhang của người Việt, tiếng chiêng vang lên, ngân xa

là phương tiện để kết nối giữa con người với thần linh, mong cầu các Yang chứng giám và che chở, hỗ trợ, giúp đỡ mọi người trong làng, plei, bon, buôn mạnh khỏe, no đủ Cồng chiêng còn kết nối mọi người trong cộng đồng với nhau khi

vui lúc buồn, cứ nghe nhà nào, làng nào có tiếng cồng chiêng

là đồng bào trong làng, bà con làng gần, làng xa sẽ tìm đến hoặc để chia sẻ hoặc để chung vui Cồng chiêng là tài sản của những gia đình khá giả trong các buôn làng từ xưa đến nay

Một bộ cồng chiêng hiện tại rẻ giá cũng 40 -50 triệu đồng, đắt cũng đến 70 - 80 triệu đồng/

bộ Đây là tài sản vô cùng quí báu của cộng đồng các dân tộc Tây Nguyên và có tác động rất lớn đến quá trình phát triển kinh tế, xã hội nói chung cũng như du lịch nói riêng tại Tây Nguyên trong đó có Gia Lai

2 Thực trạng

Gia Lai còn là một tỉnh còn nghèo, kinh tế chậm phát triển, đồng bào dân tộc thiểu

số chiếm hơn 44% dân số, đời sống đồng bào trong vùng DTTS còn gặp khó khăn Hoạt động văn hoá - thông tin còn hạn chế Công tác bảo tồn và phát huy các di sản văn hoá dân tộc đôi lúc chưa được quan tâm đúng mức, những

năm gần đây “nạn chảy máu

cồng chiêng” diễn ra mạnh

trong các buôn làng

Gần đây, đạo Tin Lành phát triển khá nhanh, tập trung ở nhiều huyện, thị xã, của tỉnh gây khó khăn trong việc quản lý và bảo vệ nền văn hóa truyền thống Những tôn giáo du nhập này đã tác động mạnh đến đời sống văn hóa xã hội của người Bahnar, Jrai Các giáo sỹ đã chủ động

“phá thần” trong tín ngưỡng

Trang 4

TẠP CHÍ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ VÀ MÔI TRƯỜNG

cổ truyền và tạo ra những vị

thần mới Họ đã xóa bỏ cơ sở

niềm tin trong tín ngưỡng cổ

truyền của đồng bào Những

người theo đạo buộc phải từ

bỏ các vị thần theo tín ngưỡng

”vạn vật hữu linh” mà xưa nay

họ vẫn tin theo, thờ cúng, cầu

xin được phù hộ Thay vào đó

là những vị thánh thần của

tôn giáo mới Vì vậy, đồng bào

đã bỏ đi nhiều phong tục tập

quán của mình như: không tổ

chức các lễ hội truyền thống,

không tổ chức hoặc tham gia

các sinh hoạt văn hóa truyền

thống, không đánh chiêng,

uống rượu, tạc tượng gỗ

Các lễ hội truyền thống dần

được thay thế bằng các nghi

lễ tôn giáo Thay vì cúng tế là

cầu nguyện Như vậy tôn giáo

đã và đang từng bước làm

thay đổi toàn bộ niềm tin tín

ngưỡng, phong tục tập quán

của cư dân các dân tộc tại chỗ

Không còn những sinh hoạt

văn hóa truyền thống thì các

loại hình văn hóa văn nghệ

dân gian khó có môi trường

phát triển Trong đó có trình

diễn cồng chiêng Muốn đánh

được cồng chiêng thì phải học,

ngoài năng khiếu bẩm sinh thì

phải có sự học hỏi kiên trì Do

vậy, khi không có môi trường

để trình diễn cồng chiêng, thế

hệ trẻ không có cơ hội để tiếp

cận, thưởng thức cái đẹp, lắng

nghe thanh âm hay/đẹp thì

khó nảy sinh lòng yêu thích

Do vậy, lực lượng kế cận khó

được hình thành và phát triển

Sự giảm sút hoặc mất hẳn lực

lượng nghệ nhân cồng chiêng trẻ trong tương lai là điều khó tránh khỏi

Sau hơn 30 năm đổi mới, bên cạnh những thành tựu từ cuộc sống hiện đại đã/đang đem lại thì những hạn chế

mà nó tác động tới văn hóa

cổ truyền Tây Nguyên cũng không nhỏ trong đó có việc duy trì và tổ chức các hoạt động lễ hội dân gian Kinh

tế xã hội có nhiều thay đổi

Đồng bào không chỉ làm lúa rẫy mà còn làm cà phê, tiêu, mía, mì, chè, điều Nông lịch thay đổi, thời gian nông nhàn không còn Các lễ hội diễn ra việc tổ chức càng ngày càng đơn giản, đã bớt nhiều bước

từ khâu chuẩn bị, trang trí, tiến hành nghi lễ, thời gian tổ chức, ẩm thực Đặc biệt, nghệ thuật trang trí trong các không gian lễ hội nơi các kiến trúc nhà rông, nhà mồ bị giản lược, hoa văn bị cắt bỏ nhiều, cồng chiêng, nghệ nhân và các bài cồng chiêng cũng ít được phát triển Nhiều làng, vùng cồng chiêng bị các nhà buôn gạ ép bán với giá rẻ, trao đổi hàng hóa với giá chênh lệch thấp,

bị đánh cắp Giới trẻ trong các buôn làng thích nghi nhanh chóng với những chương trình giải trí mới trên các phương tiện thông tin hiện đại, dần không còn yêu thích âm nhạc dân tộc mình, lười học đánh cồng chiêng, tham gia các lễ hội hay hoạt động chung của cộng đồng tại làng, bon, plei

Do vậy, nhiều giá trị văn hóa,

bản sắc văn hoá dân tộc ở các buôn làng Jrai, Bahnar đang bị mai một nhanh chóng trong nhịp sống hiện đại, trong đó

có di sản văn hóa cồng chiêng

3 Một số giải pháp khai thác giá trị cồng chiêng

để phát triển du lịch ở địa phương

3.1 Những hoạt động xây dựng, bồi dưỡng, phát triển lực lượng nghệ nhân

3.1.1 Đối với cấp Trung ương

Tổ chức các hội thảo, hội nghị khoa học cấp khu vực

về không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, vai trò của nghệ nhân để khẳng định những giá trị độc đáo của âm nhạc cồng chiêng trong kho tàng văn hóa dân gian và sự đóng góp to lớn của các nghệ nhân trong việc làm nên một Không gian văn hóa cồng chiêng ở Tây Nguyên Thực hiện Nghị quyết Trung ương

V, khóa III về “Xây dựng nền văn

hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”, Nghị quyết số

33 của BCH Trung ương Đảng

khóa XI ”về xây dựng và phát

triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước”.

Đưa nội dung âm nhạc cồng chiêng vào trong chương trình giáo dục của khoa âm nhạc tại các trường trung cấp, cao đẳng, đại học để học sinh, sinh viên hiểu những nét đại cương về âm nhạc dân gian Tây Nguyên

Trang 5

SỐ 05 NĂM 2018

Để tôn vinh những người

đánh cồng chiêng giỏi, chỉnh

chiêng giỏi nên xét danh hiệu

”Nghệ nhân ưu tú” cho những

người có tay nghề, trình độ

cao, được cộng đồng công

nhận, bầu chọn Có chế độ,

chính sách thỏa đáng động

viên, khuyến khích họ cống

hiến và truyền nghề cho thế

hệ trẻ trong cộng đồng

Định kỳ tổ chức thi trình

diễn cồng chiêng cấp khu vực,

quốc tế, tạo điều kiện cho các

nghệ nhân học hỏi, nâng cao

tay nghề, giao lưu truyền đạt

kinh nghiệm và kích thích lòng

yêu nghề cùng nhau giữ gìn

âm nhạc dân gian Tây Nguyên

3.1.2 Đối với cấp tỉnh

Đẩy mạnh công tác tuyên

truyền để đồng bào hiểu được

không gian văn hóa công

chiêng Tây Nguyên là một di

sản văn hóa quý giá có giá

trị to lớn trong đời sống vật

chất, tinh thần của đồng bào

các dân tộc tại địa phương

cần chung tay giữ gìn và phát

huy Hiện nay nhiều đồng bào

vẫn chưa nhận thức được đầy

đủ đằng sau những điệu cồng

chiêng, những chiếc cồng

chiêng, những buổi tham gia

trình diễn trong các hoạt động

thi diễn hay sinh hoạt cộng

đồng kia lại là những di sản rất

quý giá bởi đó là bản sắc riêng,

độc đáo của dân tộc mình

Trong sự hội nhập toàn cầu

nếu không giữ được văn hóa

của dân tộc mình thì mình thì

sẽ mau bị nhấn chìm, hòa tan

Nói như cố thủ tướng Phạm

Văn Đồng: “Nói đến văn hóa là

phải nói đến dân tộc và nói đến dân tộc phải nói đến văn hóa

Cho nên văn hóa còn thì dân tộc còn, văn hóa suy thì dân tộc suy, văn hóa mất thì dân tộc diệt”

[6] Do vậy cần phải nâng cao

ý thức cho đồng bào về văn hóa dân tộc, văn hóa của chính tộc người mình Họ phải biết yêu quý, trân trọng, giữ gìn nó bởi đây là niềm tự hào của dân tộc, của mỗi cá nhân Từ ý thức

ấy mỗi người sẽ tự tìm ra cách bảo vệ nền văn hóa của mình

Với vai trò “Đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài văn hóa nghệ thuật” của Trường trung cấp Văn hóa Nghệ thuật

và đào tạo lực lượng giáo viên

âm nhạc THCS của Trường Cao đẳng Sư phạm Gia Lai, hai trường trên vừa là nơi truyền nghề vừa là nơi giới thiệu các giá trị của nghệ thuật âm nhạc dân gian Bồi dưỡng năng lực cho giáo viên âm nhạc, tăng cường sự giao lưu, tiếp xúc giữa học viên thanh nhạc với nghệ nhân Bổ sung trong chương trình giảng dạy ngoại khóa những tiết học về diễn tấu cồng chiêng, nhạc cụ dân tộc

Để phát hiện, bồi dưỡng lực lượng nghệ nhân kế cận, cần tạo điều kiện thuận lợi cho thế hệ trẻ có cơ hội tiếp cận với nghệ thuật diễn tấu cồng chiêng và các nghệ nhân

có kinh nghiệm Đó là các sinh hoạt trong lễ hội, tổ chức cuộc thi, mở lớp dạy đánh cồng chiêng Có như thế, người

già mới tăng thêm niềm hứng khởi, người trẻ nảy sinh sự yêu thích, ham học hỏi, nâng cao tay nghề

Cần bảo tồn cồng chiêng

và diễn tấu cồng chiêng ngay trong đời sống cộng đồng

Khôi phục và phát huy các lễ hội truyền thống để qua môi trường lễ hội các nghệ nhân

có thể thể hiện tài năng của mình, có nhiều cống hiến, đóng góp cho cộng đồng

Muốn không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên tồn tại lâu bền, nghệ nhân

có đất sống thì cấp ủy, chính quyền nên tạo ra nhu cầu cần đến âm nhạc cồng chiêng trong đời sống xã hội để khai thác nó phát triển ngành du lịch Đó là gắn hoạt động trình diễn cồng chiêng cùng những sản phẩm phụ trợ khác (ẩm thực, trang phục, hàng lưu niệm, hàng nông thổ sản ) với các hoạt động du lịch Coi văn hóa cồng chiêng như một sản phẩm hàng hóa có thể khai thác phục vụ du khách theo nhu cầu Có như vậy lực lượng nghệ nhân mới có điều kiện duy trì, phát triển, mới

có thể đem hết tài năng góp phần tô đậm thêm vẻ đẹp và giá trị cho kho tàng văn hóa dân gian các dân tộc thiểu số

ở Tây Nguyên nói riêng và Việt Nam nói chung

Cần nghiên cứu xây dựng chương trình văn nghệ cồng chiêng tại các buôn làng để hấp dẫn du khách Hoạt động cùng tham gia giao lưu văn

Trang 6

TẠP CHÍ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ VÀ MÔI TRƯỜNG

nghệ, cồng chiêng sẽ tạo sự

kết nối giữa du khách với dân

làng Để làm được điều này,

đòi hỏi các cấp, ngành liên

quan có những biện pháp

bảo vệ và duy trì mô hình làng

truyền thống, hỗ trợ kinh phí

để xây dựng và bảo vệ một số

thiết chế, hoạt động văn hóa

của hai dân tộc tại chỗ trên cơ

sở tôn trọng ý kiến, nguyện

vọng của đồng bào tại địa

phương

Thực tế từ nhận thức về

vai trò, vị trí của du lịch đối

với sự nghiệp phát triển kinh

tế - xã hội của tỉnh, Ban thường

vụ Tỉnh ủy Gia Lai đã ban hành

Nghị quyết số 13-NQ/TU ngày

26/8/2008 về phát triển du lịch

đến năm 2015 và định hướng

đến năm 2020 Nghị quyết

đã xác định rõ mục tiêu phát

triển ngành du lịch nhanh

và bền vững để đến năm

2015 trở thành ngành kinh

tế có đóng góp quan trọng

trong GDP của lĩnh vực dịch

vụ; phấn đấu sau năm 2020

ngành du lịch là một trong

những ngành kinh tế quan

trọng của tỉnh; góp phần đẩy

mạnh sự nghiệp công nghiệp

hóa, hiện đại hóa và hội nhập

quốc tế Thời gian qua, tỉnh Gia

Lai đã có những chính sách ưu

đãi thu hút đầu tư vào tỉnh,

trong đó có lĩnh vực du lịch

Trong nỗ lực để ngày càng cải

thiện môi trường đầu tư, ngoài

các chính sách ưu đãi đầu tư

của Nhà nước áp dụng trên

toàn quốc, tỉnh Gia Lai đã ban

hành nhiều chính sách ưu đãi

để mời gọi các doanh nghiệp

Kon Pơdram, xã Hà Đông

“Làng nghề truyền thống” tại

xã Glar, huyện Đắk Đoa” [5] Từ những chính sách này, “Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên” đang thực sự là một thế mạnh để thu hút sự quan tâm của du khách trong và ngoài nước đến với Gia Lai

4 Kết luận

Gia Lai là tỉnh miền núi,

có nhiều tiềm năng về văn hóa truyền thống của hai tộc người Bahnar, Jrai, đặc biệt

là di sản văn hóa phi vật thể cồng chiêng Với một vài vấn

đề nhỏ vừa trao đổi, hy vọng

sẽ góp thêm ý kiến về việc khai thác loại hình du lịch văn hóa

để phát triển ngành du lịch tại tỉnh nhằm nâng cao đời sống cho người dân địa phương, đồng thời góp phần quảng

bá hiệu quả các giá trị di sản văn hóa truyền thống đến du khách trong nước, quốc tế khi đến Gia Lai./

Tài liệu tham khảo

1 Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Gia

Lai (2018), Báo cáo bảo tồn và phát huy

giá trị văn hóa các dân tộc thiểu số giai đoạn 2005 đến 2015

2 Sở Văn hóa, Thể thao và Du

Lịch Gia Lai (2016), Quy hoạch phát

triển du lịch tỉnh Gia Lai đến 2020, tầm nhìn đến năm 2030

3 Trung tâm Văn hóa Điện Ảnh

Du Lịch Gia Lai - Sở VHTTDL (2012), Ấn

tượng Gia Lai, 2012.

4 Nguyễn Đức Hoàng (2015),

Báo cáo đề tài khoa học cấp tỉnh “Xây dựng sản phẩm du lịch đặc trưng của tỉnh Gia Lai”.

5 Sở Văn hóa, Thể thao và Du

Lịch Gia Lai (2018), Kế hoạch phát

triển du lịch tỉnh Gia Lai giai đoạn 2017-2020.

6 Hoàng Vinh chủ biên (1996),

Một số vấn đề lý luận văn hóa thời kỳ đổi mới, Nhà xuất bản Chính trị Quốc

gia Hà Nội, tr 19.

đầu tư vào tỉnh, được thể hiện bằng Quyết định số 05/2012/

QĐ-UBND ngày 19/3/2012 về việc ban hành Quy định về

ưu đãi và hỗ trợ đầu tư, quy trình và thủ tục thực hiện ưu đãi và hỗ trợ đầu tư áp dụng trên địa bàn tỉnh Gia Lai Kế hoạch số 1767/KH-UBND ngày 10/6/2013 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Gia Lai về triển khai Nghị quyết số 13-NQ/TU của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ được ban hành đã cụ thể hóa nhiệm

vụ theo từng giai đoạn cụ thể, chú trọng phát triển du lịch dựa vào thế mạnh tiềm năng

về sinh thái, văn hóa, lịch sử

“Từ nay đến năm 2020 tỉnh đang ưu tiên đầu tư các dự

án phát triển khu, điểm du lịch trong đó có cụm du lịch cộng đồng (Homestay) gắn với bảo tồn không gian văn hóa cồng chiêng tại làng Đê Ktu, Đê Kốp, Đê Đoa, Đê Hren (huyện Mang Yang)” [4] ”Giai đoạn 2017-2020 chú trọng công tác quy hoạch chi tiết, thu hút kêu gọi đầu tư của các thành phần kinh tế vào các dự

án, chương trình du lịch, tập trung vào dự án: Làng Văn hóa

du lịch Xây dựng mô hình du lịch cộng đồng (homestay), khai thác du lịch văn hóa trên

cơ sở phát huy giá trị của di sản văn hóa phi vật thể “Không gian văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên” của Gia Lai, bao gồm một số điểm làng sau: Làng

Ốp, phường Hoa Lư, thành phố Pleiku; Làng Kép, xã Ia Mơ Nông, huyện Chư Păh; Làng Kon Mahar xã Hà Đông Làng

Ngày đăng: 11/05/2020, 03:43

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w