Theo khoản 1 Điều 2 Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng ban hànhkèm theo Quyết định 493/2005/Q
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất cứ công trình nào khác.
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Thu Hiền
Trang 2MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ viii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HẠN CHẾ VÀ XỬ LÝ NỢ XẤU Ở NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 4
1.1 RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 4
1.1.1 Khái niệm 4
1.1.2 Các biểu hiện của rủi ro tín dụng 5
1.1.2.1 Không thu được lãi đúng hạn 5
1.1.2.2 Không thu được vốn đúng hạn 5
1.1.2.3 Không thu được đủ lãi 5
1.1.2.4 Không thu đủ vốn cho vay 6
1.1.3 Hậu quả của rủi ro tín dụng 6
1.1.4 Phân loại rủi ro tín dụng 7
1.1.5 Chỉ tiêu đánh giá rủi ro tín dụng 8
1.2 HẠN CHẾ VÀ XỬ LÝ NỢ XẤU TRONG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 10
1.2.1 Nợ xấu trong hoạt động tín dụng của Ngân hàng thương mại 10
1.2.1.1 Khái niệm nợ xấu 10
1.2.1.2 Nguyên nhân dẫn đến nợ xấu 11
1.2.1.3 Phân loại nợ xấu 15
1.2.1.4 Tác động của nợ xấu 17
1.2.2 Quan niệm về hạn chế và xử lý nợ xấu 20
1.2.3 Chỉ tiêu đánh giá hạn chế và xử lý nợ xấu 21
Trang 31.3 KINH NGHIỆM XỬ LÝ NỢ XẤU CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI
22
1.3.1 Chuẩn mực hệ thống quản lý thông tin tín dụng theo IAS - 39
(Chuẩn mực kế toán quốc tế) 22
1.3.2 Phương pháp trích lập dự phòng ở Anh 23
1.3.3 Phương pháp trích lập dự phòng của các ngân hàng ở Mỹ 24
1.3.4 Phương pháp trích lập dự phòng ở Pháp 26
1.3.5 Kinh nghiệm quản trị nợ xấu của các TCTD nước ngoài 26
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 27
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HẠN CHẾ VÀ XỬ LÝ NỢ XẤU TẠI NHNo & PTNT TỈNH GIA LAI 29
2.1 ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN TỈNH GIA LAI 29
2.1.1 Đặc điểm chung về quá trình hình thành; chức năng, nhiệm vụ của NHNo&PTNT Việt Nam 29
2.1.2 Đặc điểm về hoạt động của NHNo&PTNT tỉnh Gia Lai 31
2.1.2.1 Về nguồn vốn huy động 31
2.1.2.2 Tình hình cho vay 32
2.1.2.3 Kết quả hoạt động kinh doanh 34
2.2 THỰC TRẠNG HẠN CHẾ VÀ XỬ LÝ NỢ XẤU TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN TỈNH GIA LAI 35
2.2.1 Thực trạng hạn chế nợ xấu tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Gia Lai 35
2.2.1.1 Các biện pháp mà NH đã thực hiện để hạn chế nợ xấu trong thời gian qua 35 2.2.1.2 Đánh giá kết quả hạn chế nợ xấu 41
2.2.2 Thực trạng xử lý nợ xấu tại NHNo&PTNT tỉnh Gia Lai 47
2.2.2.1 Các biện pháp mà NH đã thực hiện để xử lý nợ xấu trong thời gian qua 47 2.2.2.2 Kết quả xử lý nợ xấu 53
Trang 42.3 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ CÔNG TÁC HẠN CHẾ VÀ XỬ LÝ NỢ XẤU
TẠI NHNo&PTNT TỈNH GIA LAI 55
2.3.1 Những ưu điểm 55
2.3.2 Hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế 57
2.3.2.1 Hạn chế 57
2.3.2.2 Nguyên nhân 64
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 67
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HẠN CHẾ VÀ XỬ LÝ NỢ XẤU TẠI NHNo & PTNT TỈNH GIA LAI 68
3.1 ĐỊNH HƯỚNG HẠN CHẾ VÀ XỬ LÝ NỢ XẤU CỦA NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỀN NÔNG THÔN TỈNH GIA LAI 68
3.1.1 Định hướng hoạt động kinh doanh của NHNo&PTNT VN đến năm 2015 68 3.1.2 Định hướng hạn chế và xử lý nợ xấu của Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Gia Lai 69
3.2 GIẢI PHÁP NHẰM HẠN CHẾ NỢ XẤU 70
3.2.1 Chấp hành đúng quy trình cho vay 70
3.2.2 Đa dạng hóa các sản phẩm dịch vụ ngân hàng 72
3.2.3 Nâng cao trình độ chuyên môn cho đội ngũ CBTD, cán bộ quản lý .73 3.2.4 Giáo dục phẩm chất đạo đức nghề nghiệp cho cán bộ 74
3.2.5 Tăng cường, duy trì công tác kiểm tra, giám sát và kiểm tra chuyên đề đối với hoạt động tín dụng 74
3.2.6 Hạn chế việc giải ngân bằng tiền mặt 75
3.2.7 Tích cực theo dõi thu hồi nợ gốc, nợ lãi 75
3.2.8 Chú trọng việc phân tích, dự báo thị trường và các nguyên nhân khách quan khác 75
3.3 GIẢI PHÁP NHẰM XỬ LÝ NỢ XẤU TẠI CHI NHÁNH 76
3.3.1 Giám sát nợ xấu một cách có hiệu quả thông qua hoạt động phân tích, phân loại nợ xấu theo định kỳ 76
3.3.2 Đẩy mạnh công tác thu hồi nợ trực tiếp 78
Trang 53.3.3 Cơ cấu lại nợ cho khách hàng trên cơ sở nguồn thu đảm bảo, chắc
chắn và phương án trả nợ cơ cấu khả thi 79
3.3.4 Tiếp tục khai thác xử lý các khoản nợ có tài sản bảo đảm 80
3.3.5 Trích lập và sử dụng quỹ dự phòng rủi ro hợp lý và có hiệu quả 81
3.3.6 Bán các khoản nợ xấu 82
3.3.7 Xóa nợ 82
3.4 CÁC GIẢI PHÁP HỔ TRỢ HOẠT ĐỘNG XỬ LÝ NỢ XẤU 82
3.5 KIẾN NGHỊ 83
3.5.1 Đối với Chính Phủ 83
3.5.1.1 Tăng cường vai trò của Công ty mua bán nợ và tài sản tồn đọng của doanh nghiệp trực thuộc Bộ Tài chính 83
3.5.1.2 Hoàn thiện cơ chế pháp lý trong việc xử lý tài sản bảo đảm 84
3.5.2 Đối với Ngân hàng Nhà nước 85
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 86
KẾT LUẬN 87
TÀI LIỆU THAM KHẢO 89
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN
Trang 6IPCAS Hệ thống thanh toán và kế toán khách hàng nội bộ ngân hàng
(Intra-Bank Payment and Customer Accounting System)
NHNo Ngân hàng nông nghiệp
NHNo&PTNT Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn
Trang 72.5 Số lượng các cuộc kiểm tra của Chi nhánh 2009-2011 402.6 Tình hình nợ xấu của Chi nhánh từ năm 2009 - 2011 422.7 Tình hình nợ xấu theo ngành nghề từ năm 2009 – 2011 442.8 Cơ cấu dư nợ theo thành phần kinh tế từ năm 2009 – 2011 452.9 Cơ cấu dư nợ tín dụng có tài sản bảo đảm từ năm 2009–2011 452.10 Tình hình trích lập dự phòng và XLRR tại Chi nhánh 50
2.13 Kết quả thu hồi nợ xấu của Chi nhánh (2009- 2011) 54
Trang 8DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Số hiệu
2.1 Tình hình huy động vốn của Chi nhánh (2009- 2011) 312.2 Tình hình nợ xấu của Chi nhánh (2009- 2011) 422.3 Tình hình nợ nhóm 2 của Chi nhánh (2009-2011) 432.4 Tình hình nợ nhóm 3 của Chi nhánh (2009- 2011) 462.5 Tình hình nợ nhóm 4 của Chi nhánh (2009- 2011) 462.6 Tình hình nợ nhóm 5 của Chi nhánh (2009- 2011) 46
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Cùng với xu hướng phát triển chung trong lĩnh vực ngân hàng, hệ thống ngânhàng thương mại Việt nam đã mở rộng phạm vi hoạt động của mình theo hướngtăng tỷ trọng dịch vụ, giảm tỷ trọng tín dụng Tuy nhiên không thể phủ nhận rằnghiện tại và trong tương lai tín dụng vẫn đem lại nguồn thu chính cho các ngân hàngnày Do vậy, kiểm soát chất lượng tín dụng là một thành phần không thể thiếu trongquản trị ngân hàng với mục tiêu đảm bảo cho hoạt động tín dụng an toàn, hiệu quả.Một hệ thống quản lý chất lượng tín dụng hiệu quả sẽ đảm bảo lợi ích lâu dài và bềnvững, giảm thiểu rủi ro gặp phải những khoản tín dụng không mong muốn làm giảmlợi nhuận hoặc ảnh hưởng đến danh tiếng của ngân hàng
Làm thế nào để hạn chế, quản lý và xử lý được nợ xấu là một đề tài mà cácnhà quản trị ngân hàng đã và đang nghiên cứu nhằm hoàn thiện trong điều kiện mới.Nghiên cứu được đường đi của nợ xấu thì mới có thể tìm ra được những nguyênnhân đã dẫn đến việc phát sinh ra nợ xấu Từ đó mới có thể đưa ra những biện pháp,chính sách phù hợp trong việc điều tiết các hoạt động tín dụng nhằm đảm bảo được
nợ xấu ở mức quy định của ngành Đảm bảo được một tiền đề vững chắc cho sựphát triển có định hướng, có mục tiêu và an toàn, hiệu quả về lâu dài
Đồng thời làm thế nào để có những biện pháp thu hồi được các khoản nợ xấu,
nợ đã xử lý rủi ro để có thể tái tạo, tránh mất mát về vốn lại là một câu hỏi lớn cầnđược tháo gỡ để triển khai thành một kỹ thuật có tính hệ thống trong NHNo&PTNTViệt Nam và Chi nhánh NHNo&PTNT Gia Lai
Nâng cao hiệu quả việc hạn chế, xử lý nợ xấu, nợ đã xử lý rủi ro tại các TCTD
có 3 ý nghĩa lớn: thứ nhất là giải phóng hàng tỷ đồng nợ đọng để tái quay vòng đầu
tư cho nền kinh tế; thứ hai là nâng cao chất lượng tín dụng; thứ ba là nâng cao nănglực tài chính các TCTD góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển bềnvững trong quá trình hội nhập quốc tế
Do đó, có thể nhận thấy trong thời điểm hiện nay cùng với sự tăng trưởng củatín dụng thì nợ xấu đang gia tăng cần phải được quan tâm giải quyết Góp phần đáp
Trang 10ứng đòi hỏi từ thực tiễn nêu trên, tôi đã lựa chọn đề tài: “Giải pháp hạn chế và xử
lý nợ xấu tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Gia Lai.”.
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về nợ xấu trong hoạt động tín dụngcủa Ngân hàng thương mại nhằm làm rõ nội dung và các nhân tố ảnh hưởng đến nợxấu Trên cơ sở nghiên cứu lý luận cơ bản về nợ xấu của các NHTM, từ kinhnghiệm xử lý nợ xấu của một số NHTM các nước để vận dụng vào hoàn cảnh thực
tế tại Việt Nam mà chủ yếu tập trung vào Ngân hàng nông nghiệp và phát triểnnông thôn tỉnh Gia Lai để đề xuất một số giải pháp hạn chế và xử lý nợ xấu
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề lý luận và thực tiễn về hạnchế và xử lý nợ xấu tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh GiaLai
4 Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa duy vật lịch sử và Chủ nghĩa duyvật biện chứng, các phương pháp được sử dụng trong quá trình thực hiện đề tàigồm: Phương pháp tổng hợp, phân tích, so sánh kết hợp với phương pháp thống kê
sử dụng trong quá trình nghiên cứu để đưa ra nhận xét, đánh giá các vấn đề Bêncạnh đó, đề tài cũng vận dụng kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học cóliên quan để làm sâu sắc hơn các cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài
5 Kết cấu đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục và tài liệu tham khảo, luận văn được kếtcấu theo 03 chương như sau:
Trang 11Chương 1: Những vấn đề cơ bản về hạn chế nợ xấu và xử lý nợ xấu ở ngân
hàng thương mại
Chương 2: Hạn chế và xử lý nợ xấu tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển
nông thôn tỉnh Gia Lai
Chương 3: Giải pháp hạn chế và xử lý nợ xấu tại Ngân hàng nông nghiệp và
phát triển nông thôn tỉnh Gia Lai
Trang 12CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HẠN CHẾ VÀ XỬ LÝ NỢ
XẤU Ở NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1.1 Khái niệm
Rủi ro tín dụng (credit risk) trong hoạt động ngân hàng là khả năng xảy ra tổnthất trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiệnhoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết Đối với NHTMrủi ro tín dụng phát sinh trong trường hợp ngân hàng không thu được cả gốc và lãivay không đúng hạn Nếu tất cả các khoản cho vay của ngân hàng đều được thanhtoán đầy đủ và đúng hạn cả gốc và lãi thì ngân hàng không bị rủi ro tín dụng Ngượclại, nếu người vay tiền không có khả năng trả nợ hoặc cố ý không trả nợ thì rủi rotín dụng nảy sinh, gây ra những tổn thất về tài chính và khó khăn trong hoạt độngkinh doanh của Ngân hàng thương mại
Theo khoản 1 Điều 2 Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng
để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng ban hànhkèm theo Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 của Thống đốc Ngân
hàng Nhà nước: “ Rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết”.[8, tr.3]
Rủi ro tín dụng không chỉ giới hạn ở hoạt động cho vay mà còn bao gồm nhiềuhoạt động mang tính chất tín dụng khác của NHTM như: hoạt động bảo lãnh, tài trợngoại thương, cho thuê tài chính
Rủi ro tín dụng là loại rủi ro cơ bản nhất của ngân hàng, nguyên nhân gây nênrủi ro tín dụng thường do:
- Do người vay vốn lâm vào trình trạng khó khăn về tài chính nên không có đủkhả năng thanh toán nợ cho ngân hàng
Trang 13- Do thiếu thông tin về khách hàng nên ngân hàng đã cho những khách hàngkinh doanh kém hiệu quả vay vốn, nên việc thu nợ gặp khó khăn, đến hạn kháchhàng không trả được nợ cho ngân hàng.
- Cán bộ ngân hàng bất cập về trình độ hoặc vi phạm đạo đức trong kinhdoanh, dẫn đến cho vay không đúng mục đích, thẩm định dự án đầu tư, phương ánkinh doanh không chính xác
- Giá trị tài sản bảo đảm tiền vay không đáp ứng được yêu cầu thu nợ của ngânhàng
- Quá chú trọng về lợi tức, đặt kỳ vọng vào lợi tức cao hơn khoản cho vay lành mạnh
- Các nguyên nhân khác như: người vay cố tình không trả nợ, hoặc các lý dobất khả kháng như người đi vay chết hoặc mất tích
1.1.2 Các biểu hiện của rủi ro tín dụng
1.1.2.1 Không thu được lãi đúng hạn
Cấp độ thấp nhất khi người vay không trả được lãi đúng hạn, khi đó Ngânhàng sẽ chuyển số lãi đó vào khoản mục lãi treo phát sinh nhập ngoại bảng để theodõi Hình thức rủi ro này được xếp vào mức rủi ro thấp vì ngoại trừ trường hợpkhách hàng muốn quỵt nợ, chiếm dụng vốn thì phần lớn đều xuất phát từ việc thiếucân đối trong kỳ hạn thu nợ và trả nợ của khách hàng
1.1.2.2 Không thu được vốn đúng hạn
Khi không thu được vốn đúng hạn thì rủi ro sẽ ở mức cao hơn, một phần domột lượng vốn vay lớn bị mất Khi đó, Ngân hàng sẽ chuyển số nợ đó sang mục nợquá hạn phát sinh Khoản mục này phát sinh vào thời gian đáo hạn của hợp đồng tíndụng Tuy nhiên, đấy chưa phải là khoản mất mát thực sự của Ngân hàng vì có thể
do tiến độ thực hiện hoạt động kinh doanh của khách hàng bị chậm so với kế hoạch
đã đề ra khi vay Ngân hàng, và khách hàng tạm thời chưa có đủ vốn trả nợ
1.1.2.3 Không thu được đủ lãi
Trong tình trạng này tình hình kinh doanh của khách hàng có thể đã kém hiệuquả đến mức không thể trả đủ lãi cho Ngân hàng Khi đó, Ngân hàng phải chuyển
Trang 14khoản lãi này vào khoản mục lãi treo đóng băng và thậm chí có thể phải thực hiệnmiễn giảm lãi cho khách hàng.
1.1.2.4 Không thu đủ vốn cho vay
Tình huống xấu nhất xảy ra khi ngân hàng không thu đủ vốn cho vay và lúcnày Ngân hàng đã bị mất vốn Tại thời điểm này, Ngân hàng sẽ chuyển khoản nợvào mục nợ không có khả năng thu hồi hoặc phải xoá nợ, coi như khép lại một hợpđồng tín dụng không có hiệu quả
Trên đây chủ yếu là bốn hình thức giúp cho NHTM phân biệt rủi ro tín dụng
và có biện pháp xử lý Tuy nhiên, không phải lúc nào gặp rủi ro tín dụng thì Ngânhàng đều phải trải qua bốn trường hợp trên Có trường hợp khách hàng đã trả lãi rấtđầy đủ và đúng hạn nhưng cuối cùng lại không thể trả được nợ gốc cho Ngân hàng
Vì vậy, khi nghiên cứu về rủi ro tín dụng, người ta thường chú trọng vào các trườnghợp có nguy cơ xảy ra rủi ro tín dụng như là lãi treo phát sinh và đặc biệt là nợ quáxấu phát sinh
1.1.3 Hậu quả của rủi ro tín dụng
Từ khái niệm về rủi ro tín dụng ta thấy rằng rủi ro tín dụng là kết quả của mốiquan hệ tín dụng không hoàn hảo, vi phạm các đặc trưng cơ bản của tín dụng là sựhoàn trả và tính thời hạn, gây nên sự đổ vỡ lòng tin của người cấp tín dụng vớingười nhận tín dụng Về bản chất, đây là loại rủi ro đa dạng và phức tạp, rất khóquản lý và thường xuyên là nguyên nhân dẫn đến rủi ro khác, rủi ro tín dụng củamột ngân hàng thể hiện ra bên ngoài chính là khối lượng nợ quá hạn mà ngân hàng
đó phải gánh chịu
Khi rủi ro tín dụng nảy sinh, tuỳ theo mức độ mà nó gây ra những tác hạinghiêm trọng không chỉ với hệ thống ngân hàng, với người vay và còn cả với nềnkinh tế và xã hội
Trước hết, đối với ngân hàng thương mại: ở mức độ thấp rủi ro tín dụng là
mất đi cơ hội, khả năng tích luỹ vốn, làm giảm sức mạnh của ngân hàng
Đối với người đi vay: thông thường rủi ro tín dụng là hệ quả của rủi ro kinh
doanh của khách hàng Với nợ quá hạn người đi vay hoàn toàn mất nguồn tài trợ từ
Trang 15các ngân hàng, cơ hội kinh doanh sẽ tuột mất, tài sản sẽ bị tịch thu hoặc phát mại,người đi vay sẽ đứng trước nguy cơ phá sản.
Đối với nền kinh tế xã hội: rủi ro tín dụng chứng tỏ người vay vốn đã không
thực hiện được hiệu quả đầu tư như đặt ra khi vay vốn tín dụng từ ngân hàngthương mại Do đó lợi ích kinh tế xã hội dự kiến nhận được đã không có, sản xuất
và lưu thông hàng hoá sẽ đình trệ, chức năng làm công cụ điều tiết nền kinh tế sẽ bịsuy yếu Quyền lợi của người gửi tiền sẽ không được đảm bảo
1.1.4 Phân loại rủi ro tín dụng
Có nhiều cách phân loại RRTD, việc phân loại rủi ro tín dụng tuỳ thuộc vàomục đích nghiên cứu, phân tích Đối với hệ thống NHTM thì việc phân loại RRTD
có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc thiết lập chính sách, qui trình, thủ tục và
cả mô hình tổ chức quản trị và điều hành nhằm bảo đảm nhận biết đầy đủ các yếu tốgây ra rủi ro và phân biệt trách nhiệm rõ ràng giữa các bộ phận, giữa các khâu trongtoàn bộ quá trình tác nghiệp thẩm định, cấp tín dụng giám sát thu hồi nợ và xử lý khoản
nợ nếu nó có dấu hiệu không bình thường Thực tế cho thấy sự phân chia trách nhiệmcàng rõ ràng, càng cụ thể, sẽ giúp cho quá trình quản trị RRTD có hiệu quả
- Theo đối tượng sử dụng vốn vay:
+ Rủi ro khách hàng cá thể: Thông thường số lượng khách hàng sẽ rất nhiều,
tuy nhiên mức độ rủi ro của từng khoản vay đơn lẻ sẽ thấp, mức độ ảnh hưởng củaviệc mất khả năng thanh toán của từng khoản vay là nhỏ; loại hình giao dịch, cơ cấugiao dịch dễ quản lý
+ Rủi ro khách hàng công ty, tổ chức kinh tế: Tùy theo qui mô của công ty, tổ
chức kinh tế là lớn hay nhỏ thì mức độ ảnh hưởng của rủi ro các khoản vay vào đốitượng này sẽ được đánh giá ở mức vừa hay lớn, tác động của nó đến khả năng thanhtoán khoản nợ là vừa hay cao
+ Rủi ro quốc gia hay khu vực địa lý: Những Ngân hàng hoạt động phạm vi
toàn cầu có sự phân chia theo lãnh thổ quốc gia, nếu trong phạm vi một quốc giaphân chia RRTD tập trung theo khu vực địa lý, ví dụ như mức độ rủi ro khu vựcMiền Bắc, Miền Trung, Miền Nam
Trang 16- Theo phạm vi ảnh hưởng:
+ Rủi ro giao dịch đơn lẻ: Được hiểu là rủi ro gắn với một giao dịch đơn lẻ
nào đó, cụ thể như rủi ro của một khoản vay đối với một khách hàng Loại rủi ronày gắn liền và xuất phát chủ yếu do đặc điểm cá biệt của khoản vay hoặc kháchhàng vay vốn
+ Rủi ro hệ thống: Được hiểu là RRTD gắn liền với nhóm khách hàng, một
ngành hàng, thậm chí với cả một nền kinh tế Rủi ro hệ thống mang tính chất vĩ mô
và liên quan nhiều đến việc quản lý danh mục cho vay
- Phân theo giai đoạn phát sinh:
+ Rủi ro trong thẩm định: Là rủi ro mà TCTD đánh giá sai khách hàng.
+ Rủi ro khi cho vay: Là rủi ro mà khi vốn vay sử dụng sai mục đích, làm cho
khoản vay không phát huy hiệu quả
+ Rủi ro trong quản lý, thu hồi nợ: Là rủi ro phát sinh do quá trình giám sát
thu hồi nợ không theo dõi được dòng tiền của khách hàng để khách hàng sử dụng vốnquay vòng vào việc khác không thu được nợ đúng kỳ hạn, hoặc không thu được nợ
- Phân theo sản phẩm tín dụng:
+ Rủi ro sản phẩm tín dụng nội bảng: Là RRTD phát sinh từ những khoản cho
vay, chiết khấu, thấu chi được hạch toán trong nội bảng
+ Rủi ro các sản phẩm phái sinh: Là RRTD phát sinh từ những sản phẩm
ngoại bảng trong tài trợ thương mại, như mở L/C, bảo lãnh
Việc phân loại RRTD theo sản phẩm tín dụng khác nhau có đặc điểm khácnhau cấu thành nên rủi ro khác nhau, để có thay đổi trong qui trình quản trị RRTDthích ứng
1.1.5 Chỉ tiêu đánh giá rủi ro tín dụng
Tuy rủi ro tín dụng là khách quan, song Ngân hàng phải quản lý rủi ro tín dụngnhằm hạn chế đến mức thấp nhất các tổn thất có thể xảy ra Từ những nguyên nhânnảy sinh rủi ro tín dụng, Ngân hàng cụ thể hóa thành những dấu hiệu chính phátsinh trong hoạt động tín dụng, phản ánh rủi ro tín dụng
- Tỷ lệ nợ từ nhóm 2 đến nhóm 5/tổng dư nợ: Chỉ tiêu này phản ánh mức độ
rủi ro tín dụng của ngân hàng Cho thấy với 100 đơn vị tiền tệ khi ngân hàng cho
Trang 17vay thì có bao nhiêu đơn vị tiền tệ mà ngân hàng không thu hồi được đúng hạn tạithời điểm xác định Tỷ lệ này càng cao thì khả năng rủi ro càng cao Nếu như lớnhơn 7% thì ngân hàng bị coi là có chất lượng tín dụng yếu kém, còn nếu nhỏ hơn5% thì được đánh giá là có nghiệp vụ tín dụng tốt, chất lượng cho vay cao Tuynhiên các con số được sử dụng để tính chỉ số này được đo tại một thời điểm nhấtđịnh nên chưa phản ánh hoàn toàn chính xác chất lượng tín dụng của ngân hàng.
- Tỷ lệ nợ xấu/tổng dư nợ: Đây là chỉ tiêu phản ánh chung tỷ lệ của toàn bộ
các khoản nợ xấu của ngân hàng so với tổng dư nợ Chỉ tiêu này chưa cho biết trongtổng số nợ đó, nợ không có khả năng thu hồi là bao nhiêu? Nợ có khả năng thu hồi
là bao nhiêu? Và như vậy nó cũng chưa phản ánh một cách chính xác nguy cơ rủi rocủa ngân hàng Ví dụ: hai ngân hàng cùng có tổng số nợ xấu nhưng ngân hàng cónhiều nợ không có khả năng thu hồi hơn hoặc tiềm lực tài chính thấp hơn sẽ cónguy cơ rủi ro cao hơn
- Tỷ lệ xóa nợ ròng/tổng dư nợ: đây là chỉ tiêu đánh giá khả năng thu nợ từ các
khoản nợ đã chuyển ra ngoại bảng và đang được các ngân hàng sử dụng biện phápmạnh để đòi Nếu chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ ngân hàng đang gặp rủi ro tín dụng
vì có quá nhiều các khoản nợ ngoại bảng mà ngân hàng không thể thu hồi và ngượclại (khoản nợ chuyển ra ngoại bảng là các khoản nợ quá hạn trên nhóm 5 và đượcngân hàng chuyển ra ngoại bảng và sử dụng những biện pháp mạnh để thu hồi).Xóa nợ ròng = dư nợ các khoản vay đã xóa nợ vì rủi ro- giá trị các khoản thu
bù đắp thiệt hại
- Tỷ lệ trích lập dự phòng/ tổng dư nợ: đây là tỷ lệ giữa số dư có của tài khoản
dự phòng rủi ro tín dụng chia cho tổng dư nợ cuối kỳ Theo quyết định số 493/2005của Thống đốc Ngân hàng Nhà Nước ngày 22/04/2005 thì tỷ lệ trích lập dự phòngrủi ro là 0%, 5%, 20%, 50%, 100% từ nhóm 1 đến nhóm 5 Nếu ngân hàng trích lập
dự phòng nhiều thì chứng tỏ ngân hàng đang có nhiều khoản nợ quá hạn (từ nhóm 2đến nhóm 5) Vì thế nếu chỉ tiêu này cao chứng tỏ ngân hàng đang gặp phải rủi ro vìphải trích lập dự phòng nhiều cho các khoản vay làm giảm lợi nhuận của ngân hàng
Trang 181.2 HẠN CHẾ VÀ XỬ LÝ NỢ XẤU TRONG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.2.1 Nợ xấu trong hoạt động tín dụng của Ngân hàng thương mại
1.2.1.1 Khái niệm nợ xấu
Về phương diện lý thuyết, khái niệm Nợ xấu (Non-performing loans) đượcdùng để chỉ các khoản nợ không có khả năng trả cả gốc lẫn lãi (default) hoặc sắprơi vào tình trạng này Thông thường, một khoản cấp tín dụng mà thời gian chi trảquá hạn từ 3 tháng trở lên được xem là một khoản nợ xấu Tuy nhiên, điều này cònphụ thuộc vào những điều khoản cụ thể của hợp đồng tín dụng giữa ngân hàng vàngười vay
Mặt khác, thời gian quá hạn dù là một tiêu chí chủ yếu nhưng cũng chỉ là mộttrong những tiêu chí để đánh giá một khoản nợ là nợ xấu Những tiêu chí định tínhkhác cũng được các ngân hàng sử dụng kết hợp với thời gian quá hạn để phân loại
nợ xấu
Định nghĩa chính thức của IMF về nợ xấu được coi là một cách hiểu khá baoquát của nợ xấu Theo đó, một khoản nợ được coi là xấu khi việc chi trả tiền lãi vàgốc quá hạn 90 ngày hoặc hơn, hoặc ít nhất 90 ngày kể từ ngày tiền lãi đã được vốnhóa (capitalized), hoặc nợ được gia hạn hoặc việc thanh toán dòng tiền trễ hạn dưới
90 ngày nhưng có những lý do xác đáng để nghi ngờ khả năng thanh toán đầy đủ
Ở Việt nam, dư nợ theo khoản 4 Điều 2 của Quy định về phân loại nợ, trích lập
và sử dụng dự phòng để XLRR tín dụng trong hoạt động ngân hàng của TCTD banhành kèm theo Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 của NHNN Việt
Nam bao gồm “các khoản cho vay, ứng trước, thấu chi, cho thuê tài chính, chiết khấu, tái chiết khấu thương phiếu và giấy tờ có giá khác, bao thanh toán và các hình thức tín dụng khác” [8, tr 3-4]
Nợ xấu theo khoản 6 Điều 2 của Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng
dự phòng để XLRR tín dụng trong hoạt động ngân hàng của TCTD ban hành kèm
theo Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 của NHNN Việt Nam “là các khoản nợ thuộc các nhóm nợ dưới tiêu chuẩn (nhóm 3), nợ nghi ngờ (nhóm 4) và nợ
Trang 19có khả năng mất vốn (nhóm 5)” [8, tr 4]
- Các khoản nợ quá hạn từ 91 ngày trở lên;
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ, kể cả chưa quá hạn và đã quá hạn(trừ các khoản nợ điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu chưa bị quá hạn phân loại vàonhóm 2);
- Các khoản nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng trả lãi;
- Các khoản nợ khoanh, nợ chờ xử lý;
- Các khoản nợ được phân vào nhóm 3, 4, 5 do:
+ Chuyển nhóm nợ kéo theo đối với các khoản nợ của cùng một khách hàng;
+ Chuyển nhóm nợ do khách hàng suy giảm khả năng trả nợ
Như vậy, nợ xấu theo quy định tại Quyết định 493 và Quyết định 18 được xácđịnh theo các yếu tố: đã quá hạn trên 90 ngày, nợ cơ cấu lại thời gian trả nợ hoặc cócác nhân tố khác làm ảnh hưởng đến khả năng thu hồi nợ gốc, lãi
Theo thông lệ quốc tế, việc phân loại nợ xấu bao gồm những khoản nợ đượcđánh giá là nợ dưới tiêu chuẩn, nợ khó đòi và nợ có khả năng mất vốn, trong đó:
- Nợ dưới tiêu chuẩn là nợ được đánh giá là không có khả năng thu hồi đầy đủgốc và lãi khi đến hạn
- Nợ khó đòi là nợ dưới tiêu chuẩn nhưng có nhiều thông tin có thể đánh giá làkhả năng thu hồi nợ không chắc chắn
- Nợ có khả năng mất vốn là những khoản nợ không thể thu hồi được
So với khái niệm phổ biến của thế giới, có thể thấy khái niệm “nợ xấu” của
Việt Nam đã tiếp cận với những chuẩn mực quốc tế
1.2.1.2 Nguyên nhân dẫn đến nợ xấu
Tìm hiểu các nguyên nhân gây ra nợ xấu là một trong những việc quan trọngcần phải làm để đưa ra được chiến lược cũng như phương pháp quản lý và xử lý phùhợp, khả thi và có hiệu quả Thông thường Nợ xấu phát sinh nguyên nhân sau:
a Nguyên nhân khách quan
+ Môi trường tự nhiên: những biến động lớn về thời tiết, khí hậu gây ảnhhưởng tới hoạt động sản xuất kinh doanh đặc biệt là lĩnh vực sản xuất nông nghiệp
Trang 20Điều kiện tự nhiên là yếu tố khó dự đoán, nó thường xuyên xảy ra bất ngờ với thiệthại lớn nằm ngoài tầm kiểm soát của con người Vì vậy khi có thiên tai địch họa xảy
ra, khách hàng cùng Ngân hàng sẽ có nguy cơ tổn thất lớn, phương án kinh doanh bị
đổ bể, doanh nghiệp không có nguồn thu điều đó đồng nghĩa với Ngân hàng phảicùng chia sẻ rủi ro với khách hàng của mình
+ Môi trường kinh tế:
Với tư cách là trung gian tài chính, rủi ro trong hoạt động của các Ngân hàngthương mại chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi trình độ phát triển của nền kinh tế CácNgân hàng thương mại nước ta hoạt động trong môi trường kinh tế chưa thật sựphát triển, cạnh tranh trên thị trường chưa thật sự bình đẳng, tốc độ cũng như trình
độ phát triển chưa cao dẫn đến các cá nhân và tổ chức cũng như các doanh nghiệpchưa thật sự có tiềm lực tài chính mạnh Bên cạnh đó, năng lực tổ chức, điều hànhthấp dẫn đến năng lực cạnh tranh thấp khiến các món cho vay đối với các cá nhân,
tổ chức này lại cấu thành nên các khoản nợ xấu của Ngân hàng thương mại
Mặc khác, với sự thay đổi liên tục các chính sách kinh tế vĩ mô như cơ chế lãisuất, tỷ giá chính sách xuất nhập khẩu, hàng tiêu dùng thay đổi qui hoạch xâydựng hạ tầng, thay đổi cơ chế tài chính, cơ chế sử dụng đất đai cũng ảnh hưởngtrực tiếp đến hoạt động của cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp, khiến đối tượng này rơivào thế bị động, do đó nó gián tiếp ảnh hưởng chất lượng nợ của các đối tượng nàytại các Ngân hàng thương mại
Hoặc khi các chính sách kinh tế của Nhà Nước không đồng bộ, các thủ tụchành chính phức tạp, rắc rối dẫn đến các tổ chức, cá nhân bị ảnh hưởng và hoạtđộng Ngân hàng cũng bị ảnh hưởng theo
Sự thay đổi các mối quan hệ quốc tế, các mối quan hệ ngoại giao của chínhphủ cũng là nguyên nhân gây rủi ro lớn cho kinh doanh tín dụng của Ngân hàng.Bên cạnh đó hoạt động kinh doanh tín dụng phụ thuộc vào thói quen, truyền thống,tập quán của người dân Những yếu tố đó nhiều khi gây khó khăn và hạn chế việc
mở rộng hoạt động kinh doanh của Ngân hàng
Những tác động của môi trường bên ngoài tới bên vay làm cho họ bị tổn thấttài chính dẫn đến việc không thực hiện được đầy đủ và đúng hạn cam kết trả nợ gốc
Trang 21và lãi đối với Ngân hàng thậm chí là mất khả năng thanh toán đi đến phá sản hoặcgiải thể.
Nhóm tác động bất khả kháng như biến động thị trường, thay đổi về lãi suất, tỷgiá, ảnh hưởng của các cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới và khu vực và nhữngnguyên nhân do thay đổi cơ chế chính sách của kinh tế vĩ mô gây ra cho khách hàngnhững gánh nặng nợ nần không đáng có
b Nguyên nhân chủ quan
Đây là nhóm nguyên nhân có tác động quan trọng đến việc phát sinh nợ xấu
Đa số các khoản nợ xấu có thể phòng tránh được nếu bản thân Ngân hàng chủ độnghạn chế tốt các nguyên nhân chủ quan Điều này được phản ảnh qua thực tế hoạtđộng của nhiều Ngân hàng trên thế giới với tỷ lệ nợ xấu chiếm mức thấp trong tổng
dư nợ khi họ chú trọng các biện pháp ngăn chặn nợ xấu phát sinh do nguyên nhânchủ quan Vậy chúng ta có thể tóm tắt một số nguyên nhân chính như sau:
- Sự quản lý yếu kém của Ngân hàng
Sự quản lý yếu kém trong hoạt động kinh doanh Ngân hàng thể hiện ở một sốnội dung như: chậm điều chỉnh ban hành mới các qui chế, chính sách phù hợp, chỉđạo nghiệp vụ không đi sâu đi sát, không có các chính sách phòng ngừa rủi ro hoặc
có nhưng không hoàn thiện
Hoạt động tín dụng của ngân hàng luôn đi đôi với rủi ro có thể xảy ra Cácngân hàng thường đặt mục tiêu lợi nhuận lên quá cao, gia tăng dư nợ tín dụng trongkhi chưa hoàn thiện được các chính sách tín dụng hoặc chính sách tín dụng khôngphù hợp, thiếu sự kiểm soát chặt chẽ là nguyên nhân dẫn đến phát sinh nợ xấu Nợxấu có thể phát sinh từ tất cả các khâu trong quá trình cấp tín dụng của NHTM baogồm: giai đoạn trước khi cho vay, giai đoạn giải ngân và giai đoạn quản lý khoảnvay của khách hàng
Ở giai đoạn trước khi cho vay, việc không chấp hành nghiêm túc chế độ tíndụng, điều kiện cho vay; xem xét, đánh giá khách hàng, khoản vay không kỹ, khôngtốt sẽ dẫn đến phát sinh nợ xấu trong tương lai
Ở giai đoạn giải ngân và giai đoạn quản lý khoản vay: Giải ngân không tuânthủ theo quy định tín dụng; yếu kém trong kiểm soát, theo dõi (không kiểm soát
Trang 22hoặc kiểm soát không chặt chẽ mục đích sử dụng vốn vay của khách hàng, việckiểm tra tình hình sản xuất kinh doanh và tình hình tài chính của khách hàng bịbuông lỏng, việc kiểm soát, theo dõi danh mục khoản vay không được thực thi mộtcách có hiệu quả) sẽ dẫn đến khả năng phát sinh nợ xấu trong tương lai.
- Trình độ yếu kém của đội ngũ cán bộ ngân hàng.
Chất lượng cán bộ tín dụng đóng vai trò then chốt trong việc sàng lọc đượccác khách hàng tốt, dự án tốt Cán bộ tín dụng phải tiếp xúc với nhiều khách hàng ởnhiều lĩnh vực kinh doanh khác nhau, nhiều vùng, lãnh thổ, thậm chí nhiều quốc giakhác nhau Để có được sự đánh giá chính xác về khách hàng, họ phải thực sự amhiểu khách hàng, lĩnh vực ngành nghề mà khách hàng kinh doanh, môi trường màkhách hàng sống Cán bộ tín dụng phải có kỹ năng phân tích tổng thể và chi tiết cácthông tin về khách hàng cũng như về dự án đề nghị vay vốn, đồng thời mỗi cán bộtín dụng cũng cần có khả năng dự báo các vấn đề liên quan đến khách hàng vayvốn Như vậy, cán bộ tín dụng cần phải được đào tạo bài bản và tự đào tạo kỹ lưỡng
và toàn diện
Mặc khác, đạo đức nghề nghiệp của các cán bộ tín dụng cũng rất quan trọng,ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng của các khoản cho vay Nợ xấu rất dễ phát sinhkhi cán bộ tín dụng cố ý làm sai quy trình tín dụng hay bỏ sót một vài bước trongquy trình để nhằm nhận được những khoản "bồi dưỡng" từ khách hàng
- Cơ chế trích lập quỹ dự phòng rủi ro không hợp lý.
Nguồn dự phòng rủi ro được trích lập hàng năm của ngân hàng được xác định
là một nguồn quan trọng để bù đắp những mất mát khi không thu hồi được nợ Quỹnày được dùng để xử lý các khoản nợ xấu theo danh mục cụ thể khi khoản nợ vay
đó đáp ứng những điều kiện theo quy định của từng quốc gia Mỗi quốc gia có đặcthù riêng nên cơ chế trích lập và sử dụng dự phòng rủi ro của từng quốc gia cũng có
sự khác biệt về nguồn trích lập, tỷ lệ trích lập và danh mục trích lập dự phòng rủi ro
Sự bất hợp lý trong trích lập và sử dụng dự phòng rủi ro của ngân hàng là mộttrong các nguyên nhân làm cho nợ xấu không được xử lý dứt điểm Khối lượng nợxấu ngày càng chồng chất khiến tình hình tài chính của ngân hàng ngày càng xấu,
đe doạ hoạt động và làm suy giảm uy tín của ngân hàng
Trang 23- Nạn tham nhũng, hối lộ trong hoạt động ngân hàng.
Cũng như các ngành kinh tế khác, nạn tham nhũng và hối lộ đã gây tổn thấtlớn cho hoạt động ngân hàng Tình trạng tham nhũng làm suy yếu hệ thống tàichính, ảnh hưởng tiêu cực đến sự phân bổ các nguồn lực tài chính trong nền kinh tế
và dẫn đến nợ xấu trong hệ thống ngân hàng
Do vai trò trung gian tài chính trong nền kinh tế nên ngân hàng là nơi tập trungnguồn lực tiền tệ của xã hội Sự thoái hoá, biến chất của một số cán bộ ngân hàngtạo cơ sở cho tệ nạn tham nhũng Các vụ án tham nhũng, hối lộ có quy mô lớn xảy
ra đa phần có sự tiếp tay của cán bộ ngân hàng Khả năng thu hồi những khoản nàyrất thấp Vì vậy, việc hạn chế tệ nạn này là một biện pháp để ngân hàng ngăn chặnphát sinh nợ xấu
- Nhóm nhân tố chủ quan gây ra từ phía khách hàng.
Nhiều khách hàng có hiệu quả sản xuất kinh doanh thấp, giá thành cao, doanhnghiệp kinh doanh chủ yếu bằng vốn vay ngân hàng nên gặp rủi ro cao, và kết quả
là gây thiệt hại lớn cho vốn tín dụng
Tài chính của nhiều doanh nghiệp không minh bạch gây ra khó khăn trongviệc thẩm định, đánh giá doanh nghiệp
Một số khách hàng có tư tưởng lợi dụng kẽ hở của pháp luật để tính toán lừađảo, chụp giựt, móc ngoặc, sử dụng vốn sai mục đích, vay không có ý định trả nợ.Trong đó, có giám đốc doanh nghiệp nhà nước còn có những hành vi phạm phápnhư tiêu pha vô tội vạ, tiền chùa biếu xén hoặc có ý chuyển tài sản Nhà nước sangtài sản cá nhân, mất mát vỡ nợ thì Nhà nước chịu
1.2.1.3 Phân loại nợ xấu
Người ta phân loại Nợ xấu chủ yếu dựa trên các đánh giá về khả năng thu hồicác món vay Hay nói cách khác khả năng thu hồi của món vay được xem như làtiêu chí duy nhất để quy đổi một món cho vay trở thành Nợ xấu
Đối với những khoản Nợ đã đến hạn nhưng chưa trả, người ta không quan tâmxem món nợ đó đã quá hạn bao nhiêu ngày mà xem xét khả năng thu hồi Nợ lúc này
là bao nhiêu Như vậy có nghĩa là một món cho vay cho dù mới chỉ quá hạn 1 ngày
Trang 24nhưng ngân hàng thấy rõ và xác minh được khả năng thua lỗ và có dấu hiệu của sựlừa đảo…thì món vay này cũng được coi là Nợ xấu.
Tương tự như vậy đối với những món vay trong hạn, mặc dù thời hạn trả nợchưa tới nhưng ngân hàng phát hiện ra những nguy cơ không thể thu hồi được món
nợ trong tương lai Ví dụ như doanh nghiệp đang rơi vào tình trạng làm ăn thua lỗkéo dài, giá trị TSBĐ bị sụt giảm, có dấu hiệu của lừa đảo hay phá sản…thì nhữngmón vay trong hạn này cũng bị chuyển sang Nợ xấu
Theo Điều 6 - Quyết định số 493/2005 của Thống đốc NHNN ngày 22/4/2005
về việc phân loại Nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng tronghoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng thì Nợ xấu được xác định dựa trên cả yếu
tố thời gian và cả khả năng thu hồi Căn cứ vào Quyết định này, Nợ xấu được phânvào ba nhóm với khả năng thu hồi giảm dần: Đó là Nợ nhóm 3 (dưới tiêu chuẩn),
Nợ nhóm 4 (nghi ngờ) và Nợ nhóm 5 (có khả năng mất vốn)
- Nợ nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm:
+ Các khoản nợ quá hạn từ 90 đến 180 ngày;
+ Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn
đã cơ cấu lại;
+ Các khoản nợ khác được phân loại vào nhóm 3 theo quy định tại Khoản 3 vàKhoản 4 Điều này
Nợ xấu thuộc nhóm này được coi là các khoản Nợ có khả năng thu hồi caonhất Ngân hàng sẽ trích lập một tỷ lệ DPRR cho Nợ xấu nhóm này là 20% dư nợcủa nhóm
- Nợ nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm:
+ Các khoản nợ quá hạn từ 181 đến 360 ngày;
+ Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn từ 90 đến 180 ngày theothời hạn đã cơ cấu lại;
+ Các khoản nợ khác được phân loại vào nhóm 4 theo quy định tại Khoản 3 vàKhoản 4 Điều này
Trang 25Nợ xấu thuộc nhóm này được đánh giá là có khả năng thu hồi thấp hơn so vớicác khoản Nợ của nhóm 3 Các khoản Nợ này được xếp vào những khoản Nợ màngân hàng có sự nghi ngờ về khả năng trả nợ Tỷ lệ trích lập DPRR cho Nợ xấuthuộc nhóm này là 50% dư nợ của nhóm.
Khả năng thu hồi các khoản Nợ thuộc nhóm này được coi như bằng 0, do vậy
tỷ lệ trích lập DPRR tương ứng là 100% dư nợ của nhóm
Còn riêng đối với các khoản nợ khoanh chờ Chính phủ xử lý thì được trích lập
dự phòng cụ thể theo khả năng tài chính của tổ chức tín dụng
1.2.1.4 Tác động của nợ xấu
Nợ xấu là kết quả của mối quan hệ tín dụng không hoàn hảo bởi nó vi phạmđặc trưng cơ bản của tín dụng là thời hạn tín dụng dẫn đến vi phạm đặc trưng thứhai là tính hoàn trả đầy đủ, gây nên sự đỗ vỡ lòng tin Khi tỷ lệ nợ xấu này cao thì
nó sẽ gây nên những hậu quả vô cùng nghiêm trọng đối với nền kinh tế cũng nhưhoạt động NHTM
a Tác động của nợ xấu đến hoạt động của NHTM
Nợ xấu gây nên việc đóng băng vốn và có thể làm mất vốn Các khoản nợ xấulàm ngân hàng không thu được gốc và lãi đúng hạn, vòng quay vốn tín dụng chậm,giảm tốc độ chu chuyển vốn làm giảm hiệu quả sử dụng vốn, thậm chí mất vốn Nếukhoản nợ xấu vượt quá khả năng bù đắp của ngân hàng thì dễ dẫn đến phá sản.Một ngân hàng có tỷ lệ nợ xấu và kéo dài sẽ phải đối mặt với nguy cơ mất vốn
và rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán Trong điều kiện tăng trưởng kinh tếsuy giảm, các doanh nghiệp, các hộ gia đình và ngay cả Chính phủ cũng có thể gặp
Trang 26khó khăn trong khi việc trả số nợ hiện tại của họ Một doanh nghiệp yếu kém, nợnần nhiều, làm ăn không có lãi, thị phần suy giảm sẽ khó có khă năng trả nợ gốc vàlãi đúng hạn Vì vậy, những diễn biến kinh tế vi mô ở khu vực sản xuất vật chất(real sector), cụ thể là khu vực các doanh nghiệp, sẽ ngay lập tức tác động đến hệthống ngân hàng, đặc biệt là đến danh mục tín dụng ngân hàng Khi các khoản chovay bị thất thoát, các NHTM sẽ bị mất vốn, giảm dự trữ và do đó toàn bộ hệ thốngngân hàng trở nên yếu kém.
- Nợ xấu làm giảm uy tín của ngân hàng.
Một khi một ngân hàng có mức độ rủi ro của các tài sản có cao thì ngân hàng
đó thường đứng trước nguy cơ mất uy tín của mình trên thị trường Không một aimuốn gửi tiền vào một ngân hàng mà ngân hàng đó có tỷ lệ nợ quá hạn, nợ xấu vượtquá mức cho phép, có chất lượng tín dụng không tốt và gây ra nhiều vụ thất thoátlớn Thông tin về việc một ngân hàng có mức độ rủi ro cao thường được báo chí nêulên và lan truyền trong dân chúng, điều này sẽ khiến cho việc huy động vốn củangân hàng gặp rất nhiều khó khăn
- Nợ xấu ảnh hưởng tới khả năng thanh toán của ngân hàng.
Hoạt động chủ yếu của ngân hàng là nhận tiền gửi và cho vay, nếu các khoảntín dụng gặp rủi ro thì việc thu hồi nợ vay sẽ gặp nhiều khó khăn trong khi đó cáckhoản tiền gửi vẫn phải thanh toán đúng hạn Trong lúc không huy động được vốn
do mất uy tín, người rút tiền ngày càng tăng lên kết quả là ngân hàng gặp khó khăntrong khâu thanh toán
Nợ xấu còn làm giảm khả năng thanh toán, nếu ngân hàng không thu được đầy
đủ, đúng hạn thì khó có đủ nguồn để thanh toán cho người gửi tiền Điều này làmcho hoạt động của ngân hàng không được bảo đảm khi người gửi tiền rút tiền
- Nợ xấu làm giảm lợi nhuận của ngân hàng.
Rủi ro nợ xấu liên quan trực tiếp tới chỉ tiêu lợi nhuận của ngân hàng Nợ xấulàm cho doanh thu thấp (do không thu được lãi vay), dẫn đến lợi nhuận thu đượcnằm ngoài dự kiến, thấp, thậm chí là lỗ Hơn nữa kể cả trường hợp không lỗ thì do
nợ xấu gia tăng dẫn đến phải tăng trích lập dự phòng rủi ro khiến lợi nhuận của ngânhàng bị suy giảm Bên cạnh đó, không phải ngân hàng nào cũng công bố con số nợ xấu
Trang 27thực tế của đơn vị mình, nợ xấu tiềm ẩn của ngân hàng Việt Nam được đánh giá là khálớn so với con số công bố Theo đó, số liệu tuyệt đối về lợi nhuận có thể tăng nhưng tỷ
lệ lợi nhuận trên doanh thu tại 1 số ngân hàng chắc chắn sẽ bị ảnh hưởng
- Nợ xấu có thể làm phá sản ngân hàng
Nếu rủi ro xảy ra ở mức độ ngân hàng không có khả năng ứng phó thì sẽ gâyphản ứng dây chuyền trong dân chúng, dân chúng sẽ đổ xô đến ngân hàng rút tiềngửi và ngân hàng không còn khả năng thanh toán sẽ đi đến phá sản
- Nợ xấu làm giảm khả năng hội nhập
Khi tỷ lệ nợ xấu cao NHTM không thể công khai thực trạng tài chính củamình Do vậy làm mất lòng tin của các khách hàng và bạn hàng trong nước và quốc
tế và giảm cơ hội chiếm lĩnh thị trường tài chính tiền tệ
Các NHTM Việt Nam chỉ hội nhập, hoạt động theo đúng chuẩn mực về antoàn, kế toán, phát triển và nâng cao khả năng cạnh tranh khi nợ xấu được xử lý về
cơ bản Do vậy các NHTM cần tập trung vào hoạt động và tự xử lý rủi ro theo đúng
cơ chế về trích lập dự phòng rủi ro theo thông lệ quốc tế
b Tác động của nợ xấu đến nền kinh tế
Theo các chuyên gia phân tích kinh tế, nhìn chung nợ xấu có những tác độngchính ảnh hưởng trực tiếp đến nền kinh tế và làm ảnh hưởng đến hoạt động của cácNgân hàng thương mại như sau:
+ Làm chậm quá trình tuần hoàn và chu chuyển vốn của các tổ chức tín dụng,giảm vòng quay của vốn, từ đó làm giảm hiệu quả sử dụng vốn, giảm lợi nhuận,giảm nộp Ngân sách
+ Chi phí phát sinh do nợ xấu là rất lớn (bao gồm chi trả lãi tiền gởi, chi phí nợxấu và các chi phí khác liên quan) Chi phí tăng cao ngoài dự kiến và những chi phínày làm giảm thiểu đáng kể, thậm chí gây lỗ cho các Ngân hàng khi hoạch toán kếtquả kinh doanh, Ngân hàng mất vốn phải khoanh nợ, giãn nợ, thậm chí là xóa nợ, dẫntới giảm thu nhập, giảm lương và bị cuốn vào vòng luẩn quẩn là cán bộ nghỉ việcnhiều, thiếu cán bộ có đủ năng lực trong nguồn nhân lực chất lượng cao lại rất quantrọng đối với nhiều Ngân hàng, dẫn đến khả năng cạnh tranh suy yếu, trình độ công
Trang 28nghệ hạn chế, uy tín đối với khách hàng bị suy giảm, hoạt động kinh doanh đi xuống + Nợ xấu hạn chế khả năng mở rộng và tăng trưởng tín dụng, khả năng kinhdoanh của các tổ chức tín dụng Mặc khác, nợ xấu tác động trực tiếp đến khả năngtài chính của tổ chức tín dụng khi phân tích đánh giá tình hình tài chính hoạt độngNgân hàng, là yếu tố bất lợi trong cạnh tranh, trong quá trình hội nhập và phát triển.+ Đối với nền kinh tế, tác động của nợ xấu chủ yếu là tác động gián tiếp thôngqua mối quan hệ hữu cơ: Ngân hàng- Khách hàng- Nền kinh tế Theo đó, nợ xấuảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh Ngân hàng và ảnh hưởng đến sự phát triển củanền kinh tế bởi khả năng khai thác và đáp ứng vốn, dịch vụ Ngân hàng cho nền kinh
tế Mặt khác, nợ xấu phát sinh do Ngân hàng, doanh nghiệp sản xuất kinh doanhkém hiệu quả sẽ tác động đến toàn bộ nền kinh tế do ứ đọng vốn, sản xuất kinhdoanh đình trệ
1.2.2 Quan niệm về hạn chế và xử lý nợ xấu
Nội dung của các khái niệm về hạn chế và xử lý nợ xấu có thể được tiếp cận theonhiều góc độ và mỗi cách tiếp cận khác nhau có thể phát sinh những cách hiểu tuy cónhững điểm tương đồng căn bản nhưng vẫn có những điểm khác biệt nhất định
Trong luận văn này, quan niệm về hạn chế và xử lý nợ xấu được sử dụng nhất quán
- “Hạn chế nợ xấu là quá trình sử dụng các công cụ, biện pháp trước, trong và sau quá trình cấp tín dụng nhằm giảm thiểu đến mức thấp nhất việc phát sinh các khoản nợ xấu” [7, tr 12]
Như vậy, mục tiêu của hạn chế nợ xấu là giảm thiểu tỷ lệ nợ xấu phát sinh.Mục tiêu này cũng là mục tiêu của quản trị rủi ro tín dụng Tuy nhiên, quá trình hạnchế nợ xấu chỉ tập trung vào một mục tiêu hẹp hơn là giảm thiểu tỷ lệ nợ xấu Đặcđiểm của quá trình hạn chế nợ xấu là các hoạt động nhằm đạt mục tiêu được triểnkhai trong toàn bộ quá trình cấp tín dụng từ những hoạt động trước khi cấp tín dụngđến cả những hoạt động sau khi đã giải ngân cho khách hàng vay
- “Xử lý nợ xấu là những hoạt động của NH được triển khai khi nợ xấu đã phát sinh nhằm giảm thiểu những tổn thất do nợ xấu gây ra bằng các công cụ phổ biến như: đòi nợ; tái cấu trúc các khoản nợ; bán nợ; phong tỏa tài sản của người vay, thanh lý tài sản thế chấp; gán nợ, xiết nợ; yêu cầu bồi thường từ những người
Trang 29có trách nhiệm liên đới; sử dụng quỹ dự phòng tài chính hoặc xử lý từ dự phòng RRTD và các biện pháp tài trợ RRTD khác”.[7, tr 13]
Mặc dù, xét về phương diện thời gian, xử lý nợ xấu và tài trợ rủi ro tín dụng đềubắt đầu khi rủi ro tín dụng (trong trường hợp này là nợ xấu) đã phát sinh Hai khái niệmnày có những điểm giống nhau và khác nhau ở những điểm chủ yếu sau:
- Tài trợ rủi ro tín dụng chỉ thực hiện đối với các khoản nợ đã được xác định làmất khả năng chi trả, tức xét về phương diện hạch toán là những khoản nợ đã đượcxuất ra ngoại bảng trong khi đó, xử lý nợ xấu bao gồm cả những khoản nợ của cả banhóm nợ: nợ dưới tiêu chuẩn, nợ nghi ngờ, nợ có khả năng mất vốn Nói cách khác,đối tượng của xử lý nợ xấu bao gồm cả những khoản nợ chưa xác định là thiệt hại
và vẫn còn theo dõi trong bảng cân đối kế toán
- Tài trợ RRTD chỉ thực hiện bằng biện pháp bù đắp tổn thất về phương diệntài chính như xử lý từ dự phòng, bồi thường từ bảo hiểm, phát mãi tài sản thếchấp… Trong khi đó, xử lý nợ xấu bao gồm cả các biện pháp tái cấu trúc các khoản
nợ như: gia hạn nợ, giãn nợ, đảo nợ, …
1.2.3 Chỉ tiêu đánh giá hạn chế và xử lý nợ xấu
Do nội dung của hạn chế và xử lý nợ xấu là có sự khác biệt nên chỉ tiêu đểđánh giá kết quả của hai quá trình này cũng khác nhau
Đối với quá trình hạn chế nợ xấu, có thể đánh giá qua chỉ tiêu mức giảm tỷ lệ
nợ xấu/tổng dư nợ qua thời gian hoặc xem xét sự biến động của cơ cấu các nhóm nợtrong nợ xấu Theo đó, tỷ lệ dư nợ của các nhóm có mức độ rủi ro cao hơn ngàycàng giảm Cụ thể, tỷ lệ nợ nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn) trong tổng dư nợgiảm so với hai nhóm còn lại; tỷ lệ nợ nhóm 4 (nợ nghi ngờ) trong tổng dư nợ giảm
so với tỷ lệ nợ nhóm 3
Đối với quá trình xử lý nợ xấu, có thể đánh giá qua các chỉ tiêu:
- Mức giảm tỷ lệ xóa nợ ròng/tổng nợ xấu
- Tỷ lệ các khoản nợ xấu đã thu hồi được
- Tỷ lệ các khoản nợ xấu đã tái cấu trúc
Trong đó, chỉ tiêu mức giảm tỷ lệ xóa nợ ròng/tổng nợ xấu là chỉ tiêu cơ bảnnhất vì nó phản ảnh khá toán diện các nỗ lực trong việc xử lý nợ xấu của ngân hàng
Trang 301.3 KINH NGHIỆM XỬ LÝ NỢ XẤU CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI
Tại nhiều nước trên thế giới, Ngân hàng Trung ương hoặc Cơ quan giám sátchỉ đưa ra những nguyên tắc chung, quy định mức sàn trong phân loại nợ và tríchlập dự phòng Căn cứ trên những nguyên tắc này, các ngân hàng cụ thể hóa cácnguyên tắc để xây dựng chính sách riêng cho mình phù hợp với quy mô và tính chấthoạt động của từng ngân hàng Do vậy, chính sách trích lập dự phòng của các ngânhàng khác nhau ở từng quốc gia cũng có nhiều điểm khác nhau dù vẫn phản ánhnhững nội dung của các nguyên tắc chung
1.3.1 Chuẩn mực hệ thống quản lý thông tin tín dụng theo IAS - 39 (Chuẩn mực kế toán quốc tế)
Theo chuẩn mực của IAS 39, khoản vay được phân thành 5 loại như sau:
* Phân loại: theo tuổi nợ
+ Chấp nhận - nợ quá hạn ít hơn 30 ngày;
+ Chú ý đặc biệt - nợ quá hạn từ 30 -> 90 ngày;
+ Dưới chuẩn - nợ quá hạn từ 90 -> 180 ngày;
+ Nợ khó đòi - nợ quá hạn từ 180 -> 365 ngày;
+ Tổn thất cho vay - nợ quá hạn vượt quá 365 ngày
Nợ quá hạn có thể là nợ gốc hoặc nợ lãi
* Phân loại theo định tính:
- Nợ dưới chuẩn:
+ Những điểm yếu tín dụng rõ ràng, ảnh hưởng đến khả năng thu hồi nợ.+ Khoản cho vay không được đảm bảo bằng tình hình tài chính hoặc khả năngthanh toán khả quan của khách hàng
Trang 31+ Với các khoản cho vay xếp loại “Dưới tiêu chuẩn”, Ngân hàng sẽ có thểphải chịu một số tổn thất nếu các điểm yếu tín dụng không được khắc phục.
- Nợ khó đòi:
+ Các khoản cho vay được xếp loại “Có vấn đề” là các khoản cho vay có đầy
đủ các điểm yếu của một khoản cho vay “dưới tiêu chuẩn”
+ Thêm vào đó, khoản cho vay này còn có những điểm yếu làm cho khả nănghoàn trả toàn bộ khoản vay, dựa trên các điều kiện hiện tại, là không chắc chắn
Ví dụ về một khoản cho vay “nghi ngờ” là một khoản cho vay có các đặc điểmcủa khoản cho vay “dưới tiêu chuẩn” và thêm vào đó, khoản cho vay này đã quáhạn lâu và không được đảm bảo đầy đủ bằng giá trị có thể thực hiện được của tàisản thế chấp
Điều này không có nghĩa là các khoản cho vay này hoàn toàn bị mất, nhưng trên thực
tế đó là các khoản vay cần được xóa mặc dù trong tương lai Ngân hàng có thể thu hồi đượcphần nào các khoản cho vay bằng nhiều biện pháp
Dự phòng được tính toán dựa trên giá trị của khoản vay không được đảm bảo,
ví dụ: số dư nợ gốc nhỏ hơn giá trị thế chấp = khoản cho vay ròng x tỉ lệ dự phòng
= khoản dự phòng Một số thể chế không khấu trừ giá trị thế chấp, ví dụ ở ViệtNam Giá trị ghi nhận trên Bảng cân đối kế toán là tổng số dư nợ gốc còn đang nợ -khoản dự phòng
1.3.2 Phương pháp trích lập dự phòng ở Anh.
Tại Anh, Cơ quan giám sát không đề ra chính sách chung mà từng ngân hàng
Trang 32quy định chính sách phân loại nợ và trích lập dự phòng phù hợp với các chuẩnmực quốc tế về kế toán (IAS 39) với mục tiêu là phân loại nợ và trích lập dựphòng phản ánh đúng chất lượng tín dụng và khả năng tổn thất mà ngân hànggặp phải trên cơ sở phân tích tình trạng lưu chuyển tiền tệ của khách hàng Cáckhoản dự phòng được trích lập bất cứ khi nào có thông tin về sự giảm sút chấtlượng các khoản vay.
Các khoản dự phòng chung thường chỉ chiếm một tỷ trọng nhỏ trong tổng dựphòng và phải được trích lập cho những khoản vay đã bị giảm sút về chất lượnghoặc có dấu hiệu cho thấy chất lượng bị giảm sút Thông thường việc suy xétnày dựa vào kinh nghiệm quá khứ và các thông tin có được ở hiện tại
Trong thực tế các ngân hàng cố gắng lượng hóa và dự báo các khả năng cóthể xảy ra trong tương lai để xây dựng chính sách trích lập dự phòng theohướng “mở” nhằm tạo điều kiện bù đắp cho các tổn thất có thể xảy ra trong suốtthời gian tồn tại của khoản tín dụng
1.3.3 Phương pháp trích lập dự phòng của các ngân hàng ở Mỹ
Theo các chuẩn mực kế toán tại Mỹ: Không công nhận các khoản tổn thấttrước khi cho rằng chúng có thể đã xảy ra, kể cả khi dựa vào kinh nghiệm quákhứ để có thể cho rằng các khoản tổn thất sẽ phát sinh trong tương lai
Tuy nhiên, các ngân hàng Mỹ trích lập dự phòng để bù đắp cho các khoảntổn thất tín dụng dự tính hiện có dù cho những tổn thất này phụ thuộc nhiềuvào đánh giá chủ quan của các ngân hàng Bộ phận thanh tra thường căn cứ vào hệthống quản lý và phương pháp đo lường rủi ro tín dụng của các ngân hàng vàthực hiện đánh giá danh mục cho vay và các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng thuhồi nợ của danh mục đó Nếu nhận thấy số dự phòng cho các khoản tổn thất tíndụng này thấp hơn mức phù hợp, ngân hàng này sẽ phải trích lập thêm dự phòng.Chất lượng danh mục tín dụng và chính sách tín dụng của ngân hàng luôn làđối tượng kiểm tra của thanh tra ngân hàng Ở Mỹ, cán bộ thanh tra tiến hành xếphạng chất lượng tài sản có của ngân hàng (bao gồm cả tín dụng) theo các cấp độ(bằng số) như sau:
1 = Hoạt động tốt (strong performance)
Trang 332 = Hoạt động khá (satisfactory performance).
3 = Hoạt động trung bình (fair performance)
4 = Hoạt động bên bờ thua lỗ (marginal performance)
5 = Hoạt động thua lỗ (unsatisfactory performance)
Ngân hàng nào được đánh giá càng cao thì càng ít bị nhà chức trách để ý và bịthanh tra Cán bộ thanh tra thường kiểm tra tất cả các khoản tín dụng có số dư lớnhơn một mức quy định nào đó, còn các khoản tín dụng nhỏ hơn thì chỉ tiến hànhkiểm tra ngẫu nhiên Những khoản tín dụng hoạt động tốt, nhưng có một vài điểmyếu nhỏ như đã không tuân thủ chính xác quy trình tín dụng hay không lưu trữ đầy
đủ hồ sơ khách hàng được gọi là “tín dụng có thiếu sót” (criticized loans) Nhữngkhoản tín dụng chứa đựng những điểm yếu căn bản hay theo nhà thanh tra là nguyhiểm như tập trung quá lớn cho một khách hàng hay một ngành, nghề nào đó đượcgọi là “tín dụng tập trung” (scheduled loans)
Khi cán bộ thanh tra phát hiện ra những khoản tín dụng chứa đựng rủi rokhông trả được nợ ngay lập tức theo như thỏa thuận thì chúng được xếp vào loạitín dụng xấu (adversely classified) Các khoản tín dụng xấu được phân thành 3nhóm:
- Tín dụng dưới tiêu chuẩn (substandard loans): Ngân hàng bộc lộ rủi ro do chấtlượng bảo đảm tín dụng giảm sút hay khách hàng có biểu hiện mất khả năng trả nợ
- Tín dụng có vấn đề (doubtful loans): Khả năng tốn thất tín dụng là rất lớn đốivới ngân hàng
- Tổn thất tín dụng (loss loans): Bao gồm những khoản tín dụng không thu hồiđược gốc và lãi
Tổng tổn thất tín dụng đối với ngân hàng được tính theo quy tắc chung là:+ Lấy dư nợ nhóm “Tín dụng dưới tiêu chuẩn” nhân với hệ số 0,20
+ Lấy dư nợ nhóm “Tín dụng có vấn đề” nhân với hệ số 0,50
+ Lấy dư nợ nhóm “Tổn thất tín dụng” nhân với hệ số 1,00
Cộng kết quả của các nhóm lại ta tính được “Tổng tổn thất tín dụng” đối vớingân hàng Nếu tổng tổn thất tín dụng lớn hơn quỹ dự trữ tổn thất tín dụng và vốn
cổ phần của ngân hàng, thì cán bộ thanh tra có thể yêu cầu ngân hàng thay đổi chính
Trang 34sách cho vay hay yêu cầu ngân hàng phải bổ sung quỹ dự trữ tổn thất tín dụng vàvốn cổ phần.
Tuy nhiên, chất lượng tín dụng và các tài sản có khác của ngân hàng mới chỉ
là một khía cạnh phản ánh chất lượng hoạt động của ngân hàng nói chung Việc xếphạng ngân hàng còn dựa vào sự xem xét của cán bộ thanh tra về các tiêu chí như: vốnchủ sở hữu, chất lượng quản lý, biểu đồ thu nhập, khả năng thanh khoản và mức độnhạy cảm với rủi ro thị trường Các tiêu chí này được biết đến một cách khá rộng rãivới tiêu đề “CAMELS”, bao gồm: Capital adequacy, Asset quality, Managenmentquality, Earnings record, Liqudity position, Sensitivity to marker risk
Những NH có hệ số xếp hạng tổng hợp theo tiêu chí “CAMELS” càng thấp,thì càng bộc lộ rủi ro, nên được các nhà thanh tra xếp vào nhóm 4 hay 5; những NH
có hệ số xếp hạng tổng hợp cao hơn sẽ được xếp vào các nhóm từ 1 đến 3
1.3.4 Phương pháp trích lập dự phòng ở Pháp
Các ngân hàng ở Pháp luôn dự phòng rủi ro cho tất cả các khoản tín dụng Cácchuẩn mực quản trị rủi ro đo lường rủi ro tín dụng theo hướng luôn tồn tại rủi ro trongcác khoản cấp tín dụng, cho dù khoản vay đó có suy giảm hay chưa suy giảm khả năngthanh toán Vì vậy việc trích lập dự phòng được thực hiện ngay từ khi khoản cho vayđược bắt đầu và ước tính được cho các tổn thất có thể xảy ra trong dài hạn Tỷ lệ tríchlập tăng dần với khả năng suy giảm của khoản nợ Mức trích lập khởi tạo tối thiểu là5% chênh lệch giữa giá trị khoản nợ và tài sản bảo đảm
Như vậy, việc trích lập DPRR tại các nước có điểm chung là đều dự phòng chonhững rủi ro có thể xảy đến trong tương lai Chính điều này góp phần hạn chế nhữngtổn thất của ngân hàng từ việc cấp tín dụng và đảm bảo an toàn cho hoạt động của cácngân hàng Phương pháp này thường được thực hiện ở các quốc gia phát triển, có thịtrường tài chính vững mạnh và hệ thống thông tin tín dụng chuẩn xác
1.3.5 Kinh nghiệm quản trị nợ xấu của các TCTD nước ngoài
- Chuyển nợ xấu thành chứng khoán (Khi cổ phần hóa, nợ xấu sẽ được chuyểnthành giá trị của chứng khoán)
Trang 35- Các khoản nợ xấu của khách hàng bắt buộc chuyển sang Công ty mua bán nợ
và tài sản tồn đọng để tiếp tục theo dõi xử lý theo thẩm quyền theo quy định củaNghị định về mua bán nợ (Hàn quốc, Trung quốc)
- Đối với những khoản nợ xấu của các doanh nghiệp mà ngân hàng khôngchuyển giao cho Công ty mua bán nợ và tổ chức, cá nhân khác, Nhà nước có cơ chế
để ngân hàng có thể chủ động áp dụng các biện pháp cơ cấu lại tài chính và hoạtđộng của doanh nghiệp
- Thực hiện kinh doanh dịch vụ đòi nợ (góp phần cho thị trường mua bán nợ,các khách hàng sẽ được tư vấn dịch vụ thu hồi nợ, chuẩn bị trước một bước chocông tác xử lý nợ)
- Hàn Quốc, Trung Quốc, Malaysia không đặt vấn đề bảo toàn vốn và có lợinhuận làm nguyên tắc hoạt động chính cho tổ chức xử lý nợ Thay vào đó họ chỉyêu cầu các tổ chức xử lý nợ của mình phải tối đa hóa giá trị thu hồi mà thôi.Nguyên tắc này để các tổ chức mua bán nợ có thể hoạt động mà không bị áp lực vềvấn đề cầu toàn 100% vốn của tài sản được thu hồi đủ
- Nhà nước có cơ chế hỗ trợ hoạt động của các tổ chức xử lý nợ cũng như thuhút sự tham gia của các nhà đầu tư tư nhân, các nhà đầu tư nước ngoài cùng thamgia để xử lý các món nợ xấu lớn
- Ngân hàng được tự bán tài sản bảo đảm, không phụ thuộc cơ quan chức năng
và cho ngân hàng cơ chế đặc biệt hoàn thiện thủ tục pháp lý khi bán tài sản bảođảm Ngoài ra, ngân hàng được tham gia vào quá trình cơ cấu lại doanh nghiệp vàchính phủ đồng ý chính sách chuyển nợ thành vốn góp và tham gia điều hành doanhnghiệp của ngân hàng
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Trong Chương 1, Luận văn đã hệ thống hóa những vấn đề lý luận về rủi ro tíndụng cũng như hạn chế và xử lý nợ xấu trong hoạt động tín dụng của Ngân hàng
Trang 36thương mại Trọng tâm của chương là quan niệm và các chỉ tiêu đánh giá hạn chế và
Trang 37CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HẠN CHẾ VÀ XỬ LÝ NỢ XẤU TẠI
NHNo & PTNT TỈNH GIA LAI
2.1 ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN TỈNH GIA LAI
2.1.1 Đặc điểm chung về quá trình hình thành; chức năng, nhiệm vụ của NHNo&PTNT Việt Nam
Ngày 26 tháng 03 năm 1988, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) banhành Nghị định 53/HĐBT về tổ chức và hoạt động của hệ thống Ngân hàng ViệtNam Cùng với ba ngân hàng chuyên doanh khác, Ngân hàng Phát triển Nôngnghiệp Việt Nam chính thức được thành lập Ngày 14/11/1990, Chủ tịch Hội đồng
Bộ trưởng ký Quyết định 400/CT thành lập Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam Sáunăm sau, ngày 15/10/1996, thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ, Thống đốcNgân hàng nhà nước ban hành quyết định 280/QĐ-NH5 thành lập và đổi tên Ngânhàng Nông nghiệp Việt Nam thành Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thônViệt Nam - Agribank
Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn hoạt động theo mô hìnhTổng công ty 90, là doanh nghiệp Nhà nước hạng đặc biệt, hoạt động theo Luật các
tổ chức tín dụng và chịu sự quản lý trực tiếp của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.Với tên gọi mới, ngoài chức năng của một ngân hàng thương mại, Ngân hàng Nôngnghiệp và Phát triển Nông thôn được xác định thêm nhiệm vụ đầu tư phát triển đối vớikhu vực nông thôn thông qua việc mở rộng đầu tư vốn trung, dài hạn để xây dựng cơ
sở vật chất kỹ thuật cho sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy hải sản góp phần thực hiệnthành công sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn
Trên hai mươi hai năm qua, từ một Ngân hàng nhỏ bé với tổng tài sản chưađến 1000 tỷ đồng, hoạt động chủ yếu là tín dụng, cơ sở vật chất kỹ thuật, công cụ,phương tiện làm việc nghèo nàn, lạc hậu, thô sơ Ngân hàng Nông nghiệp và pháttriển nông thôn Việt Nam đã phát triển thành một Ngân hàng thương mại kinh
Trang 38doanh đa năng hàng đầu ở Việt Nam, có vị thế trong khu vực và uy tín trên thế giớivới tổng tài sản trên 490.000 ngàn tỷ đồng, tổng dư nợ nền kinh tế 414.755 tỷ đồng,
cơ sở vật chất, công nghệ hiện đại, thu nhập và đời sống người lao động khôngngừng được cải thiện, thu nhập năm sau cao hơn năm trước, giữ vai trò Ngân hàngthương mại hàng đầu Việt Nam
Với qui mô trên 40.000 cán bộ nhân viên, trên 2.300 chi nhánh và phòng giaodịch trên toàn quốc Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam(Agribank) hiện đang phục vụ khoảng hơn 10 triệu khách hàng là hộ sản xuất, hơn30.000 khách hàng là doanh nghiệp, đóng góp to lớn vào việc thực hiện các mụctiêu phát triển kinh tế- xã hội của đất nước, nhất là trong lĩnh vực nông nghiệp, nôngthôn, xóa đói giảm nghèo và xây dựng hệ thống ngân hàng thương mại lớn mạnh ởViệt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới
Có thể thấy đặc điểm lớn nhất của NHNo&PTNT VN là: mặc dù là một Ngânhàng thương mại, nhưng từ lịch sử hình thành và phát triển, từ chức năng, nhiệm vụđược giao, nó đã và đang là một Ngân hàng thương mại Nhà nước vừa hoạt độngkinh doanh vừa đáp ứng những mục tiêu quản lý vĩ mô của Nhà nước Một trongnhững mục tiêu đó là tập trung các nỗ lực để phát triển nông nghiệp – nông thôn.Cho đến nay, NHNo&PTNT VN vẫn là Ngân hàng hàng đầu cho vay HSX ở tất cảcác địa bàn từ thành thị tới nông thôn; nhưng chủ yếu vẫn là cho vay HSX ở khuvực nông nghiệp – nông thôn, ngay cả ở những địa bàn mà mục tiêu kinh doanhchưa phải là mục tiêu có thể đáp ứng được trong ngắn hạn
Xét chung toàn NHNo&PTNT VN, một đặc điểm nổi bật là cho đến nay,NHNo&PTNT vẫn là Ngân hàng có quy mô hoạt động cao nhất; cụ thể:
- Quy mô tổng tài sản cao nhất trong tất cả các NHTM Việt Nam
Tổng tài sản của NHNo&PTNT VN năm 2010 là 523.498.000 triệu đồng,
chiếm tỷ trọng 44,64% trong tổng tài sản của 5 Ngân hàng thương mại cổ phần có
tổng tài sản cao nhất
Dư nợ cho vay khách hàng của NHNo&PTNT VN đến năm 2010 là414.755.000 triệu đồng, chiếm tỷ trọng 66,1% trong tổng cho vay khách hàng của 5Ngân hàng Thương mại cổ phần cao nhất
Trang 39Nguồn vốn huy động của NHNo&PTNT Việt Nam đến cuối năm 2010 là474.941.001 triệu đồng, chiếm tỷ trọng 70,1% trong tổng nguồn vốn huy động của 5Ngân hàng Thương mại cổ phần có nguồn vốn huy động cao nhất.
2.1.2 Đặc điểm về hoạt động của NHNo&PTNT tỉnh Gia Lai
2.1.2.1 Về nguồn vốn huy động
Hoạt động huy động vốn là một trong những hoạt động chủ yếu và quan trọngnhất của NHTM Hoạt động này mang lại nguồn vốn để ngân hàng có thể thực hiệncác hoạt động khác như cấp tín dụng và cung cấp các dịch vụ của ngân hàng chokhách hàng Thông qua nghiệp vụ huy động vốn ngân hàng có thể đo lường được uytín cũng như sự tín nhiệm của khách hàng đối với ngân hàng
Nguồn vốn huy động của Chi nhánh luôn đạt được mức tăng trưởng ổn định,đạt mức bình quân giai đoạn 2009 - 2011 là 24%/năm (năm 2009: 2.227 tỷ đồng;năm 2010: 2.720 tỷ đồng; năm 2011: 3.419 tỷ đồng) Cụ thể về cơ cấu nguồn vốnđược thể hiện dưới bảng sau:
Nguồn vốn huy động của Chi nhánh (2009- 2011)
(Nguồn: Báo cáo định kỳ của Chi nhánh từ năm 2009 - 2011)
Biểu đồ 2.1: Tình hình huy động vốn của Chi nhánh (2009- 2011)
Qua biểu đồ trên ta thấy tiền gửi kỳ hạn dưới 12 tháng chiếm tỷ lệ lớn trongtổng nguồn vốn huy động của Chi nhánh (năm 2009 là 683 tỷ đồng, chiếm 30,7%;năm 2010 là 1.248 tỷ đồng, chiếm 45,9%; năm 2011 là 2.178 tỷ đồng, chiếm
Trang 4045,9%) Trong khi đó tiền gửi kỳ hạn trên 12 tháng lại giảm dần qua các năm (năm
2008 là 534 tỷ đồng, năm 2010 là 154 tỷ đồng nhưng đến năm 2011 chỉ huy độngđược 136 tỷ đồng) Điều này cho ta thấy nguồn vốn mà Chi nhánh huy động đượcphần lớn là nguồn ngắn hạn Điều này cũng gây rủi ro thanh khoản khi Chi nhánhcho vay trung hạn hay dài hạn
Bảng 2.1: Cơ cấu nguồn vốn huy động theo đối tượng KH từ năm 2009 - 2011
5 Tiền gửi của các đối tượng khác 64 2,9% 6 0,2% 8 0,2%
(Nguồn: Báo cáo định kỳ của Chi nhánh từ năm 2009 - 2011)
Theo bảng tổng hợp cơ cấu nguồn vốn huy động của Chi nhánh theo đối tượng
KH cho thấy nguồn vốn huy động từ dân cư tăng dần Đây là loại tiền gửi chiếm tỷ
lệ lớn nhất trong tổng nguồn vốn Như vậy NH đã tập trung được một phần tiềnnhàn rỗi trong dân cư để đáp ứng được nhu cầu vay vốn và phát triển SXKD
Tiền gửi của TCTD chiếm tỷ lệ nhỏ trong tổng nguồn vốn huy động từ tiềngửi (năm 2009 tiền gửi của các TCTD là 10 tỷ đồng, năm 2011 là 21 tỷ đồng) Tiềngửi của các TCKT năm 2009 là 518 tỷ đồng, năm 2011 là 640 tỷ đồng Nguyênnhân tiền gửi của các tổ chức kinh tế tăng là do nhu cầu kinh tế trên địa bàn tỉnh GiaLai đang phát triển kéo theo sự ra đời và phát triển của nhiều tổ chức kinh tế, và
NH cũng đã có những chính sách ưu đãi để thu hút tiền gửi từ nguồn này
2.1.2.2 Tình hình cho vay
Cũng như nhiều tổ chức kinh doanh khác nguồn vốn của ngân hàng luôn đóngmột vai trò quan trọng trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng, trong đó nguồnvốn huy động có ý nghĩa quyết định Vì vậy, việc sử dụng vốn như thế nào để có