Trịnh Công Sơn đã ra đi nhưng những ca khúc bất tử của ông vẫn được ngân lên trong lòng công chúng yêu nhạc.Nhạc Trịnh,có người yêu và không phải không có người ghét nhưng không ai phủ nhận được tài năng của ông. Những ca từ của nhạc sĩ luôn có một sự sống bất diệt,một niềm đau đáu, một tình yêu nhẹ nhàng, một nổi buồn man mác, một chất rất riêng không thể nhầm lẫn được. Tuy rất gần, mang theo thứ tâm tư có trong mỗi con người nhưng tính văn học trong ca từ nhạc Trịnh rất đậm nét, phần lời luôn được đánh giá cao nhờ đậm chất thơ. Trong mỗi ca khúc của nhạc sĩ, chất thiền và những triết lý về thân phận con người dung hòa từ nhiều tư tưởng, đôi khi pha lẫn hơi hướng siêu thực, trừu tượng khiến khán giả không chỉ nge nhạc mà còn phải thẩm thấu được ca từ, suy niệm những ý nghĩa trong từng lời nhạc. Điều làm nên sự đặc biệt trong nhạc Trịnh có lẽ chính là sự xa mà gần, gần mà lại khó ngâm, càng nghe càng thích, càng nghe càng thấy phảng phất tâm trạng của mình trong đó. Người nghe nhạc Trịnh, yêu nhạc Trịnh mỗi lần nghe là một lần không chỉ lắng tai mà còn phải lắng lòng mới cảm nhận được hết vẻ đẹp, cảm nhận hết ý nghĩa của lương tâm và nhân ái trong âm nhạc. Với sự ảnh hưởng của triết học hiện sinh sâu sắc, ca từ trong nhạc trịnh thấm đẫm tư tưởng của triết học hiện sinh. Khiến cho ca từ trong nhạc Trịnh Công Sơn trở nên rất “đắt” và mang một bề dày ý nghĩa sâu sắc. Vì vậy mà qua bao thế hệ, nhạc Trịnh vẫn có một chỗ đứng vững chắc trong làng công chúng yêu nhạc và mãi mãi đi cùng năm tháng.
Trang 1A MỞ ĐẦU
Xã hội ngày càng phát triển hiện đại thì con người luôn phải sống gấp gáp, quay cuồng vì mưu sinh, vì đồng tiền Vô hình chung, điều đó đã khiến cho con người ngày càng cách xa nhau và tạo nên một khoảng cách khó mà rút ngắn Và khi đó, con người ta sẽ cảm thấy cô đơn, lạc lõng giữa dòng đời vội vã, để rồi những lúc lắng lòng con người ta lại tìm đến với nhạc Trịnh như một sự chiêm nghiệm, như tìm lại chính mình để suy ngẫm về kiếp người, về những nỗi khổ của đời người Đểrồi thấu hiểu được căn nguyên của mọi khổ đau, bế tắc và tự tìm ra giải pháp cho chính mình nhằm hướng đến hạnh phúc bình yên trong tâm hồn
Nhạc Trịnh mang đậm dấu ấn hiện sinh thông qua ngôn từ, hình ảnh kỳ lạ, độc đáo.Hiện sinh là phong trào triết học lớn, làm khuynh đảo tinh thần thế kỷ XX Triết học hiện sinh vẫn còn có tác động trong thế kỷ XXI và nếu như hiểu được triết học hiện sinh sẽ giúp chúng ta dễ dàng tiếp cận nhiều vấn đề trong các lĩnh vực nghệ
thuật khác nhau như văn học, âm nhạc, hội họa… Ở Việt Nam có thể kể đến Bướm Trắng của Nhất Linh, thơ Vũ Hoàng Chương, Vũ Bằng với tác phẩm Em ơi đừng tuyệt vọng và các truyện của Nguyễn Huy Thiệp, Nam Cao
Chúng ta không thể không nhắc đến Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, ông từng nói từ khi còn trẻ ông đã luôn ám ảnh bởi cái chết nên âm nhạc của ông mang trong đó một
Trang 2sự mất mát của những số phận con người Nhạc Trịnh thấm đượm màu sắc hiện sinh của các tác giả văn học phương Tây thập niên 60 như Jean Paul Sartre, Albert
Camus,… Tiêu biểu là các ca khúc Cát bụi, Đêm thấy ta là thác đổ, Chiếc lá thu phai, Một cõi đi về, Phôi pha,… Trong đó nhiều bài mang hơi hướng thiền có một chiều kích tâm linh sâu rộng như Một cõi đi về, Giọt nước cành sen,
Ngay vừa khi ra đời, chủ nghĩa hiện sinh đã đem lại hiệu ứng sôi nổi và sâu rộng trong nhiều lĩnh vực của đời sống và trong đó có âm nhạc Nó lấy con người làm trung tâm, làm đối tượng và mục tiêu để hướng đến Chủ nghĩa hiện sinh luôn coi con người là một nhân vị, có thể tự do lựa chọn cách sống của mình, thái độ sống đối với cuộc sống Ở Việt Nam ,chủ nghĩa hiện sinh đã mang đến một sức hút khó cưỡng đối với những người sáng tác, đó là nền tảng để cho những tác giả phản ánh trong tác phẩm của mình Đó là những tư tưởng về nhân vị, tự do, về cuộc sống bất
an và âu lo, sự ê chề của kiếp người, sự hoài nghi thực tại và nỗi ám ảnh về sự đổ
vỡ đã hiện diện trong những sáng tác nghệ thuật cùng những đau khổ, dằn vặt, lo
âu trong cuộc kiếm tìm và lựa chọn tự do của con người
Thế giới âm nhạc của ông là cuộc hành trình khám phá không biết mệt mỏi của người nghệ sĩ đi tìm giá trị đích thực trong hiện thực cuộc sống Đó là nỗi trăn trở
về thân phận dâu bể của con người, nỗi hoài nghi về số kiếp, những trầm luân biến đổi Trong đó, dấu ấn của chủ nghĩa hiện sinh đã in đậm trong cuộc đời cũng như hành trình sáng tác âm nhạc của ông Nó làm nên một diện mạo âm nhạc mang đậm dấu ấn hiện sinh Với đề tài dấu ấn hiện sinh trong ca từ nhạc Trịnh, chúng tôi muốn tìm ra cảm quan riêng của nhạc sĩ khi các ca khúc của ông mang một “chiều kích tâm linh” sâu rộng và đi khai phá các lớp hình tượng tiêu biểu, nhằm thông qua đó làm lộ rõ dấu ấn hiện sinh trong các ca khúc của ông
Trang 3PHẦN 1: CHỦ NGHĨA HIỆN SINH
1.1 Nguồn gốc, đặc trưng của chủ nghĩa hiện sinh
Theo dòng vận động của tiến trình lịch sử, chủ nghĩa tư bản phương Tây bước vào thế kỷ XX, bước qua chủ nghĩa cổ điển để manh nha, tiến vào thời kỳ hiện đại
Từ những bước tiến vào thời kỳ hiện đại với những cuộc cách mạng công nghiệp, khoa học và công nghệ đã làm biến đổi nền sản xuất của xã hội Với sự tiến bộ về khoa học -kỹ thuật, xã hội phương Tây được miêu tả là thành quả của chủ nghĩa duy lý Chính vì vậy mà xã hội Phương Tây đã đạt đến giai đoạn cao nhất và nó bắtđầu rơi vào những cuộc khủng hoảng trầm trọng về nhân vị Từ đó, chủ nghĩa hiện sinh được ra đời với tên Existentialisme – gốc chữ la tinh Existentia, có nghĩa sinh tồn Chủ nghĩa hiện sinh là phản ứng đối lập với chủ nghĩa duy lý của Phương Tây hiện đại Về nguồn gốc tư tưởng và triết lý của chủ nghĩa hiện sinh ta có thể tìm thấy ở các tác phẩm của Paxcan, Kireepxki, Dostoepsky , Sự xuất hiện những tư tưởng về triết học hiện sinh của Soren Kierkegaard và Friedrich Nietzsche là hai nhà triết học được xem là nền tảng cho chủ nghĩa hiện sinh Họ chú trọng vào những sự trải nghiệm chủ quan, sự hiện sinh của con người hơn là tin vào những lýthuyết khoa học không để đi sâu vào bản thể con người “Nhiệm vụ của triết học theo Soren Kierkegaard, chỉ là “mô tả” cuộc sống con người như nó đang tồn tại
Trang 4(hiện sinh) Nhưng đây là con người duy nhất, cắt đứt với mọi quan hệ xã hội, bởi
vì mỗi con người là “hiện sinh độc đáo” Hơn nữa đó là những con người huyền bí,
vì mỗi con người là một vũ trụ đóng kín không ai hiểu nổi và cũng không thể tự thông báo cái nội tâm phức tạp của mình cho bất kỳ một ai” Chủ nghĩa hiện sinh
đề cao giá trị, bản thể con người và những thể nghiệm trong đời sống “hiện sinh” của họ.1 Nó chống lại sự nghèo nàn về tình cảm của con người mà đó là hậu quả của chủ nghĩa duy lý Thường xuyên đề cập đến các vấn đề như nỗi cô đơn, sự buồn chán, lạc lõng giữa xã hội, cái phi lý, tự do và hư vô
1.2 Sự hiện diện của chủ nghĩa hiện sinh ở Việt Nam
Sự sụp đổ của chế độ Ngô Đình Diệm ở miền Nam Việt Nam đã dẫn đến sự đổ vỡ
về hệ tư tưởng duy linh nhân vị Lúc đó, chủ nghĩa hiện sinh được người ta đưa vào miền Nam, nhằm phục dựng lại những giá trị nhân bản của con người mà đã bịquên lãng “Gọi là đưa bên ngoài vào nhưng không hoàn toàn là sản phẩm ngoại lai Nó được cấu trúc lại bằng những yếu tố bản địa hòng đưa lại một bộ mặt khôngchỉ là sự sao chụp đúng hệt như khi nó xuất hiện ở Phương Tây” 2
Theo Nguyễn Tiến Dũng, ngay từ năm 1955, chủ nghĩa hiện sinh đã có mặt trong chương trình của hệ thống giáo dục tiếng Pháp, tiếng Việt ở bộ môn “ Siêu hình học” hoặc “Đạo đức học” ở các trường như: Đại học Vạn Hạnh, Đại học Văn khoa Sài Gòn, Văn khoa Huế, Đại học Đà Lạt và chủ nghĩa hiện sinh cũng là đề tài nghiên cứu của nhiều luận án tiến sĩ và cao học, đồng thời được xuất hiện trên nhiều tờ báo Tư tưởng hiện sinh đã giúp con người tìm về cái cá nhân của chính mình, tôn vinh giá trị con người, thức tỉnh trước những điều vô lý trong đời sống hiện sinh Trong tôn giáo thì Phật giáo mang đậm những dấu ấn hiện sinh, trong giáo lý của mình thì Phật giáo coi đời là bể khổ, con người trầm luân trong thảm kịch bể khổ của kiếp người Và trong kho tàng văn học Trung đại Việt Nam, ta có thể bắt gặp nhiều tư tưởng thấm đẫm dấu ấn hiện sinh qua Nguyễn Du trong truyệnKiều Từ đây, ta có thể nhận thấy dấu ấn hiện sinh đã có sự manh nha từ trước vào nền văn học Việt Nam chứ không phải mới xuất hiện từ sau khi chế độ Ngô Đình Diệm sụp đổ Những người công giáo là những người đã mang chủ nghĩa hiện sinhsớm nhất vào miền Nam Việt Nam và sự lan truyền của tư tưởng hiện sinh đã làm cho các nhà hiện sinh vô thần như Heidegger, Simon de Beauvoir, đặc biệt là Sartre đã hiện diện đậm nét trên diễn đàn tư tưởng của Sài Gòn lúc bấy giờ
1.3 Vài nét về nhạc sĩ Trịnh Công Sơn
Trịnh Công Sơn sinh tại cao nguyên Lạc Giao, tỉnh Đắk Lắk nhưng lúc nhỏ sống ở làng Minh Hương, tổng Vĩnh Tri, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế và ông lớn lên tại Huế Lúc nhỏ ông học theo học các trường Lyceè Francais và
Provindence ở Huế, sau vào Sài Gòn theo học triết học trường Tây Lyceé J.J
1 [Phương Lựu(Chủ biên), Nguyễn Trọng Nghĩa, Lê Lưu Oanh, Lý luận văn học tập 3, tiến trình văn học, NXB ĐHSP,
2008, tr310]
2 [Nguyễn Tiến Dũng, Chủ nghĩa hiện sinh: lịch sử, sự hiện diện ở Việt Nam, NXB Tổng hợp TPHCM, 2005, tr134]
Trang 5Rousseau Sài Gòn và tốt nghiệp tú tài tại đây Sau đó nên ông thi và theo học ngành Tâm lý giáo dục trẻ em tại trường Sư phạm Qui Nhơn Sau khi tốt nghiệp ông dạy tại một trường tiểu học ở Bảo Lộc, Lâm Đồng Trước ngày 30 tháng 4 năm
1975, ông lên đài truyền thanh Sài Gòn hát bài Nối vòng tay lớn, bài hát nói về ước
mơ hòa hợp dân tộc hai miền Nam Bắc mà ông viết từ năm 1968 Những năm sau
1975, sau thời gian tập trung lao động, ông làm việc tại Hội Âm nhạc Thành phố
Hồ Chí Minh ở tạp chí Sóng nhạc Từ thập niên 1980, Trịnh Công Sơn bắt đầu
sáng tác lại, và có viết một số bài có nội dung ca ngợi chế độ mới như Thành phố mùa xuân, Em ở nông trường em ra biên giới, Huyền thoại Mẹ Sau đó nhà nước
Việt Nam đã nới lỏng quản lý văn nghệ, ông lại tiếp tục đóng góp nhiều bản tình ca
có giá trị Ông cũng là một diễn viên điện ảnh nghiệp dư, năm 1971 ông thủ vai chính trong phim Đất khổ Ông mất tại Thành phố Hồ Chí Minh vào ngày 1 tháng
4 năm 2001 Từ đó hàng năm giới hâm mộ đều lấy ngày này làm ngày tưởng niệm.Suốt đời, Trịnh Công Sơn yêu nhiều nhưng không chính thức kết hôn với ai, và cũng chưa có con
Có thể nói tên tuổi của Trịnh Công Sơn được nhiều người biết đến hơn từ khi ông cùng ca sĩ Khánh Ly hát tại Quán Văn, một quán cà phê đơn sơ dựng trên bãi đất
cỏ sau Trường Đại học Văn khoa Sài Gòn do nhóm sinh viên mang tên Khai Hóa trong phong trào phục vụ thanh niên xã hội chủ trương vào cuối những năm 1966 Những năm sau đó, Trịnh Công Sơn được công chúng biết đến và hưởng ứng nồng nhiệt trong những sáng tác của ông Trịnh Công Sơn sáng tác được khoảng hơn
600 ca khúc, những tác phẩm không những mang đậm một phong cách riêng mà còn gửi gắm một triết lý Ông từng lý giải cho cái sự sáng tác của mình: "Tôi chỉ làmột tên hát rong đi qua miền đất này để hát lên những linh cảm của mình về nhữnggiấc mơ đời hư ảo " Hai mảng đề tài lớn nhất trong âm nhạc Trịnh Công Sơn là tình yêu và thân phận con người Ngoài ra ông còn sáng tác ở đề tài nhạc phản chiến ở những thể loại nhạc khác Bên cạnh việc sáng tác ông còn tham gia ở nhiềulĩnh vực khác nhau như thơ ,hội họa, điện ảnh…
Tình yêu là đề tài lớn và ảnh hưởng nhất trong các tác phẩm của Trịnh Công Sơn Nhạc tình của ông đa số là nhạc buồn, thường nói lên tâm trạng buồn bã, cô đơn
như trong Sương đêm,Ướt mi và những ca khúc nhạc tình vẫn mênh mang nỗi buồn kiếp người như Diễm xưa, Biển nhớ, Tình xa, Tình sầu, Tình nhớ, Em còn nhớ hay
em đã quên, Hoa vàng mấy độ, Cỏ xót xa đưa, Gọi tên bốn mùa, Mưa hồng, Với
giai điệu gần gũi, ca từ có màu sắc trừu tượng và ý nghĩa sâu lắng, nhạc của ông dễdàng đi vào lòng công chúng Trịnh Công Sơn từng nói, từ khi còn trẻ ông đã luôn
ám ảnh bởi cái chết nên âm nhạc của ông mang trong đó một sự mất mát của
những số phận con người Âm nhạc ông đượm màu sắc Phật giáo và mang đậm dấu ấn của triết học hiện sinh Phương Tây Minh chứng cho điều đó là các ca khúc
Cát bụi, Bài ca trên những xác người, Chiếc lá thu phai, Một cõi đi về, Phôi pha,
Trang 6Khi tên tuổi định hình bằng nhạc tình, thì vai trò xã hội của Trịnh Công Sơn lại gắnliền với một loại nhạc mang tính chất chống lại chiến tranh, kêu gọi hòa bình mà người ta thường gọi là nhạc phản chiến, hay còn gọi là Ca khúc da vàng theo tên các tập nhạc của ông phát hành cuối thập niên 1960 Những ca khúc da vàng
thường nói lên thân phận của những người dân một nước nhỏ bị lôi kéo vào chiến tranh và nằm trong vòng toan tính, giành giật ảnh hưởng của những nước lớn (thường là khác màu da)
Ngoài các bản nhạc tình và nhạc phản chiến, Trịnh Công Sơn còn để lại những tác
phẩm viết về quê hương: Chiều trên quê hương tôi viết cho trẻ em: Em là hoa hồng nhỏ, Mẹ đi vắng và cả những bài nhạc đỏ: Huyền thoại mẹ, Em ở nông
trường - em ra biên giới, Nối vòng tay lớn, Ánh sáng Mạc Tư Khoa, Chưa mất niềm tin, Huế - Sài Gòn - Hà Nội Trong đó nổi tiếng hơn cả là các bài Em là hoa hồng nhỏ và Nối vòng tay lớn - có thể nói rằng không một thanh thiếu niên Việt
Nam nào lại không biết đến hai bài hát này
Cuộc đời và sự nghiệp của ông đã cống hiến và dành một lòng nhiệt huyết cho nghệ thuật Với tài năng thiên bẩm về nghệ thuật của mình, ông đã cho ra những cakhúc mang một màu sắc rất riêng, có bề sâu về nội hàm giá trị hòa cùng những thanh âm ngọt ngào, sâu lắng, trữ tình Chính vì vậy, các khúc nhạc trữ tình của ông có một chỗ đứng vững chắc trong lòng người yêu nhạc qua bao thế hệ
PHẦN 2 DẤU ẤN HIỆN SINH TRONG CA TỪ NHẠC TRỊNH
CÔNG SƠN
2.1 Hình tượng mang tính biểu trưng về thân phận con người
Dấu ấn hiện sinh trong ca từ nhạc Trịnh Công Sơn đầu tiên phải nhắc đến những biểu tượng về thân phận con người Khó tìm thấy nhạc sĩ nào mà số lượng ca khúc viết về kiếp người nhiều như nhạc sĩ họ Trịnh Cuộc đời ông bị ám ảnh với hai chữ
“ kiếp người” Bên cạnh tình yêu đây cũng là một mảng sáng tác lớn của Trịnh Công Sơn Để khắc họa về thân phận kiếp người với những hỷ, nộ, ái, ố thì Trịnh Công Sơn đã gửi gắm điều đó qua các hình tượng như đá, núi, mặt trời, lửa, nắng Mỗi biểu tượng mang một ý nghĩa riêng, mỗi biểu tượng hiện lên để phản ánh chânxác nhất thân phận về kiếp người trong cuộc hiện sinh đầy khắc nghiệt
2.1.1 Đá- nỗi buồn của kiếp nhân sinh
Trong số các biểu tượng của nhạc Trịnh, thính giả không khó khăn khi nhận ra
“đá” là một hình ảnh xuất hiện dày đặc Đá hiện lên như là sự trơ lì, câm lặng, cam
Trang 7chịu của kiếp người, hình tượng đá mang tính biểu trưng rất cao Trong Diễm xưa ông từng hai lần nhắc đến “đá” :
“Mưa vẫn mưa bay cho đời biển động
Làm sao em biết bia đá không đau
Xin hãy cho mưa qua miền đất rộng
Ngày sau sỏi đá cũng cần có nhau"
( Diễm xưa)
Bởi lẽ “đá” chính là đại diện cho nỗi buồn của kiếp nhân sinh Những sỏi đá trong cuộc đời cứ được mặc định sẽ mãi ở đó và như vậy Nhưng qua ca từ của mình, Trịnh Công Sơn đã thổi hồn vào “đá”, vào những vô tri trong đời để từ đó “đá” cũng đầy những biến động và đau đớn Như chính cuộc đời của mỗi con người luôn đắm chìm trong nỗi buồn nhân thế Hay chăng, trong Ngẫu nhiên, nhạc sĩ tài hoa đã mượn “đá” để diễn tả kiếp người như “bóng câu qua cửa sổ” và sự vô thường của cuộc đời đồng thời cất cao lên tiếng bi ai của loài người:
“Hòn đá lăn trên đồi
Hòn đá rớt xuống cành mai
Rụng cánh hoa mai gầy
Chim chóc hót tiếng qua đời”
( Ngẫu nhiên)
Thoát khỏi tiếng bi ai văng vẳng của kiếp người, Trịnh Công Sơn còn thổi một cái hồn tươi vui, sự động viên ,an ủi đối với con người trước những nỗi buồn của thời cuộc, để con người quên đi những ngày tháng u tối, quên đi bom rơi đạn lạc Để từ
đó, hát lên những khúc ca của tình yêu, của niềm vui mới:
“Hãy ru nhau trên những lời gió mới
Hãy yêu nhau cho gạch đá có tin vui
Hãy kêu tên nhau trên ghềnh dưới bãi
Dù mai nơi này người có xa người”
(Hãy yêu nhau đi)
Bên cạnh “đá”, những hình ảnh như “cát, bụi, đất” cũng được xuất hiện trong âm nhạc của cố nhạc sĩ Và cũng như “đá”, chúng cũng nhằm một mục đích mang đếnnhững ý nghĩa về nhân sinh buồn tủi Điều này rõ nét nhất Cát bụi với những lời casâu lắng ,buồn man mác:
“Hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi
Để ngày mai tôi về làm cát bụi”
(Cát bụi)
Và trong lời ca:
“Chìm dưới cơn mưa một người chết đêm qua
Chìm dưới đất kia một người sống thiên thu”
(Chìm dưới cơn mưa)
Trang 8Dù là “đá” hay “đất”, “cát”, “bụi” nhưng trong nó tất cả đều mang một ý nghĩa nhân sinh sâu sắc Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn với tâm thức luôn mang ám ảnh về đời người đã thể hiện điều đó thật khéo léo qua các hình tượng tưởng chừng vô tri Vớinhạc Trịnh, “đá” đã mang một màu sắc rất mới trong âm nhạc, đá hiện ra như một biểu tượng với chức trách chuyển chở bao nỗi niềm của kiếp người trong cuộc hiệnsinh đầy giông bão này Và chỉ có nhạc Trịnh thì “đá” mới có thể hoàn thành tốt sứmệnh mà Trịnh Công Sơn đã gửi gắm.
2.1.2 “Mặt trời”- biểu tượng về sự nhỏ bé của kiếp người
Bên cạnh “đá”, hình ảnh “mặt trời” cũng xuất hiện rất nhiều trong nhạc Trịnh “Mặt trời” luôn gợi nhắc về sự bao la và rộng lớn, điều đó đối lập với kiếp người nhỏ bé như hạt “cát bụi” Viết về “mặt trời” cũng là lúc Trịnh Công Sơn ý thức về thân phận con người giữa cuộc đời, giữa vũ trụ
“Chiều cuối trời nhiều mây
Đơn côi bàn tay quên lối”
(Nhìn những mùa thu đi)
Và trong lời ca:
“Còn lời ru mãi, vang vọng một trời
Mùa xanh lá vội, ru em miệt mài”
(Ru em từng ngón xuân nồng)
Chính sự đối lập rõ nét này đã giúp nhạc sĩ thể hiện được sự xót xa khi ngậm ngùi nhận ra còn người vô cùng nhỏ bé Những ám ảnh này chính là nét hiện sinh rõ rệt trong âm nhạc Trịnh Công Sơn :
“Trên hai vai ta đôi vầng nhật nguyệt
Rọi suốt trăm năm một cõi đi về”
(Một cõi đi về)
Mặt trời như luôn dõi theo từng số phận, từng con người trong cuộc đời Mặt trời luôn hiện hữu như một sự chứng giám cho kiếp người “ở trọ” nhỏ bé, vô thường: “Em hãy ngủ đi
Mặt đất im, mặt trời cúi nhìn”
(Em hãy ngủ đi)
Hoặc như :
“Ôi cát bụi tuyệt vời
Mặt trời soi một kiếp rong chơi”
(Cát bụi)
Sự đối lập giữa “trời” và “ người” là một phạm trù dễ dàng tìm kiếm trong nhạc Trịnh Điều đó chứng tỏ trong ông luôn có những suy tư, trăn trở về cõi người vô thường và nhỏ bé Hơn ai hết Trịnh Công Sơn ý thức được đời người hữu hạn giữa
vũ trụ vô biên Nhưng rồi đến cuối cùng, trong ông vẫn tha thiết yêu cuộc đời ngắnngủi đó :
“Xin trên những nụ cười
Trang 9Còn rạng rỡ mặt trời”
(Nghe tiếng muôn lòng)
2.1.3 “Nắng”- biểu tượng của cảm xúc con người
Cảm xúc con người có thể tìm thấy trong nhạc Trịnh với muôn hình vạn trạng Và
“nắng” cũng xuất hiện với đầy đủ những cung bậc như vậy Ông tâm sự: "Trước kia mình tưởng mưa buồn, nhưng giờ mình thấy nắng thật sự buồn Bởi dung nhan của nắng luôn thay đổi và màu sắc của nó mới thật gần với đời sống của con người
Nó có sớm mai,có trưa,có tàn phai, có một buổi chiều của một đời người Còn mưachỉ ào xuống rồi thôi, và mưa chỉ có một màu" Nếu lúc nhạc sĩ cảm thấy buồn thì: “Nhìn những mùa thu đi
Em nghe sầu lên trong nắng”
Và lá rụng ngoài song
Nghe tên mình quên lãng”
(Nhìn những mùa thu đi)
Có khi lạc loài và bơ vơ trước số phận, trước cuộc đời rộng lớn thì tác giả tự hỏi: “Đi về đâu hỡi em
Khi trong lòng không chút nắng”
(Đời gọi em biết bao lần)
Thế nhưng tự bản thân nhạc sĩ lại tìm cách thoát khỏi tuyệt vọng đó, lúc này
“nắng” mang một màu rất khác:
“Em vào mùa hạ nắng thắp trên cao
Và mùa xuân nào ngẩn ngơ tình mới”
(Tôi ru em ngủ)
Có khi “nắng” chiếu soi những sự yên bình, tìm về sự an nhiên tự tại trong tâm hồn:
“Đời xin có nhau, dài cho mãi sau
Nắng không gọi sầu”
(Hạ trắng)
Nhưng cũng có lúc “nắng” lan tỏa nhiều sức sống mãnh liệt:
“Chiều đi như nắng
Vẫn cho đời lửa bếp hồng khơi”
(Chiều trên quê hương tôi).
Trong nhiều ca khúc, "nắng” là biểu tượng của niềm vui, niềm hi vọng của con người giữa một thế giới nhỏ hẹp và có quá nhiều nỗi buồn này:
“Mỗi ngày tôi chọn một lần thôi
Chọn tiếng ru con nhẹ bước vào đời
Tôi chọn nắng đầy
Chọn cơn mưa tới
Để lúa reo mừng tựa vẫy tay “
(Mỗi ngày tôi chọn một niềm vui).
Trang 10Nắng với những ý nghĩa biểu trưng nói trên đã trở thành một biểu tượng đặc biệt trong ca từ Trịnh Công Sơn Nắng đã rọi vào, sưởi ấm và hong khô những tâm hồn giá lạnh trong cuộc hiện sinh trần trụi của kiếp người Nắng đã tạo được sức nóng, thắp lên được ngọn lửa của sự hy vọng và xua tan đi bầu tử khí của thời cuộc bấy giờ.
2.1.4 “Núi”- điểm tựa nâng đỡ kiếp người
Khi nhắc đến núi, ai cũng phải nghĩ đến sự lớn lao, vững chải và to lớn Với tính chất như vậy, “núi” trong nhạc Trịnh Công Sơn như là một điểm tựa vững chắc nâng đỡ những kiếp người mong manh, nhỏ bé và hơn hết núi còn là điểm hẹn trăm năm của đời người, nó mang một chiều kích tâm linh sâu thẳm
Với những kiếpngười mong manh yếu đuối, họ chỉ mong tìm đến “non ngàn” để cưngụ về tâm hồn và thể xác hòng quên đi những nhọc nhằn, đau đớn:
“Tìm em tôi tìm mình hạc xương mai
Tìm trên non ngàn một cành hoa khôi
Nụ cười mong manh một hồn yếu đuối
Một bờ môi thơm một hồn giấy mới”
(Đóa hoa vô thường)
Núi còn như là điểm hẹn tâm linh của những kiếp người xấu số trong cõi nhân gianmộng ảo này:
Khi đất nước tôi thanh bình
Tôi sẽ đi thăm
Tôi sẽ đi thăm, nhiều nghĩa địa buồn
Khi đất nước không còn chiến tranh
Mẹ già lên núi tìm xương con mình”
(Tôi sẽ đi thăm)
Những “núi”, “non” liên tiếp được nhắc đến và nằm trong ngữ cảnh trơ trọi, một mình trước cuộc đời “Núi” vốn dĩ đã “ cô đơn”, trong nhạc Trịnh nó còn cô đơn hơn bao giờ hết:
“Về chân núi thăm nấm mồ
Giữa đường trưa có tôi bơ phờ “
(Lời thiên thu gọi)
Bên cạnh làm điểm tựa nâng đỡ cho con người, núi có là biểu trưng của sự cô đơn,
lẻ loi Tác giả mượn “núi” để diễn tả sự nhớ nhung, rồi từ nhớ nhung là sự chờ đợi,trong chờ đợi vốn dĩ đã cô đơn:
“Ngày mai em đi
Đồi núi nghiêng vai đợi chờ”
(Biển nhớ)
Chính những ngọn núi đã mang đầy đủ tâm trạng của người nhạc sĩ luôn cảm thấy
cô đơn và bơ vơ trước cuộc đời Dù “đi lên non cao, đi về biển rộng”, cũng chỉ mỗitâm hồn cô đơn đó, cô đơn đến khi rời xa cõi tạm này vẫn chưa một lần hạnh phúc
Trang 11Chúng ta đã nhiều lần bắt gặp ngọn núi trong âm nhạc, nhưng để tạo thành hệ thống như nhạc Trịnh thì chắc rất lâu nữa mới tìm thấy được Núi hiện ra như là sự nâng đỡ vững chắc cho những tâm hồn đổ vỡ về kiếp sống đồng thời núi còn là ám thị của sự cô đơn, lẻ loi Trịnh Công Sơn đã rất tài hoa khi thổi vào trong “núi” mộtcái hồn riêng không lẫn khuất vào đâu được, cùng tâm hồn nhạy cảm và ám ảnh hiện sinh tất cả đã tạo nên sự yêu mến trong lòng công chúng.
2.1.5 “Lửa” – hình tượng đa nghĩa
Khi nhắc đến “lửa” con người có thể suy nghĩ theo hai chiều hướng khác nhau, có thể nó là sự gợi nhắc đến cảnh chiến tranh với bom rơi, đạn lạc, với sự bốc cháy dữdội của những làng mạc, đô thị trong thời chiến Nhưng lửa còn có thể được hiểu làánh sáng của nguồn hy vọng, thắp lên niềm hy vọng cho những kiếp người khốn khổ trong cuộc hiện sinh này
Cái chết là một trong những chủ đề quen thuộc và xuyên suốt của nhạc Trịnh Và dường như mỗi lần cái chết xuất hiện, ta thấy ám ảnh của ngọn lửa Ông đã từng
mơ ước:
“Khi đất nước tôi thanh bình, tôi sẽ đi thăm
Tôi sẽ đi thăm, làng xóm thành đồng
Đi thăm từng khu rừng cháy nám”
( Tôi sẽ đi thăm)
“Lửa” và cháy cứ quanh đi quẩn lại trong trực diện của ông Dòng nhạc tiền chiến của Trịnh Công Sơn từng gây nhiều tranh cãi, nhưng hơn ai hết ông đã lột trần sự thật về cái chết của kiếp người đau đớn đến tận cùng:
“Ôi đêm dài hỏa châu đốt sáng
Cho dòng máu trong con tim phai mờ
Ôi đem dài Việt Nam buốt cóng
Xin cầm lấy con tim của nhau
Ôi da vàng Việt Nam cháy nóng”
(Đêm bây giờ đêm nay)
Không những biểu hiện cái chết, ngon lửa còn là sự hy vọng, sự khao khát hòa bình của hơn ba mươi triệu đồng bào Việt Nam đang kháo khát hòa bình:
“Hãy sống giùm tôi hãy nói giùm tôi hãy thở giùm tôi
Qủa tim này dành cho lửa hồng
Cho hòa bình, cho con người còn chờ đấu tranh”
(Hãy sống giùm tôi)
Trang 12Lửa trong ca từ nhạc Trịnh còn biểu trưng cho sự soi sáng và lý trí và nỗi khắc khoải đi tìm hòa bình, tìm về cội nguồn dân tộc:
“Đoàn người đi vào quê hương mình
Từng bó đuốc sáng trong tay mình
Tìm quê hương xưa giống tiên rồng giống da vàng
Đoàn quân người đi luân phiên
Tìm bóng dáng đất Việt”
(Hành ca)
Bên cạnh biểu trưng cho niềm hy vọng, khao khát hòa bình, tự do thì “lửa” còn là biểu tượng của sự ấm áp hạnh phúc cho tình yêu lứa đôi:
“Ngoài phố mùa đông
Đôi môi em là đốm lửa hồng
Ru đời đi nhé cho ta nương nhờ lúc thở than”
(Ru đời đi nhé)
Qua đây, ta có thể thấy “lửa” là hình tượng mang tính đa nghĩa vì nó biểu trưng cho nhiều ý niệm, nó nói lên sự tan thương của kiếp người trong thời chiến, nó thắp lên niềm hy vọng, khao khát cho con người tìm về hòa bình nguồn cội thì nó cũng thắp sáng lên được hạnh phúc của đôi lứa yêu nhau
2.2 Hình tượng mang tính biểu trưng về nguồn sống
Trong quan niệm của chủ nghĩa hiện sinh về con người Tính cốt lõi của nó là về nguồn sống, sự tồn tại của thế giới loài người trong vũ trụ Nhằm mục đích khẳng định sự tồn tại Ở đó con người ý thức được cuộc đời, về nguồn sống để họ tồn tại trên cõi đời Trong những ca từ của mình nhạc sĩ thể hiện nguồn cảm hứng khi nói
về cuộc đời, về sự tồn tại của kiếp người thông qua khá nhiều biểu tượng Dễ nhận thấy rằng số bài hát của ông xuất hiện những từ “biển, sông” khá nhiều Phải chăng
“biển, sông” là nguồn cảm hứng về sự sống hay những cảm xúc về quê hương, conngười, đặc biệt về tình yêu được nhạc sĩ mượn để đưa vào những sáng tác của
mình Những bài hát Biển nhớ, Sóng về đâu, Lặng lẽ nơi này, Lời của dòng sông,
Em đi trong chiều hay Bốn mùa thay lá,… đó là những bài hát hình ảnh dòng sông,
biển được nhắc đến khá nhiều, nó mang đến những ý nghĩa khác nhau, nhưng tựu trung lại thì chúng đều thể hiện những giá trị về cảm thức của nhà văn về sự sống,
về những cảm xúc trước cuộc đời
2.2.1 Biển – không gian hoài niệm rộng lớn
Những cảm xúc mạnh mẽ, dâng trào của lòng người thường được nghệ thuật biểu đạt thông qua hình ảnh “biển” Nhạc Trịnh đã dâng đời ca khúc lừng danh Biển nhớ thể hiện nỗi nhớ, tình yêu chứa chan như hồn biển dâng trào, là ám chỉ cho sự chờ đợi, gọi về bên nhau, gọi lại những kỷ niệm xa xưa:
“Ngày mai em đi, biển nhớ em quay về nguồn
Gọi trùng dương gió ngập hồn”
( Biển nhớ )
Trang 13Hay trong ca khúc Lặng lẽ nơi này, một ca khúc mà tiết tấu thể hiện nhịp vỗ dập
dồn, đưa đẩy của biển, sau khi hát về: “Tình yêu như biển, biển rộng hai vai”, biển bao dung nhưng đôi khi cũng hẹp hòi, ích kỷ: “Tình yêu như biển, biển hẹp tay người, biển hẹp tay người lạc lối” Hình ảnh "biển" hiện lên bao la , rộng lớn từng cơn sóng biển hay những cơn sóng cảm xúc về tình yêu ,về khát vọng chạm đến tình yêu cứ như con biển ngoài khơi Hình ảnh ấy thể hiện những cảm xúc về tình yêu và sự nhận thức của nhạc sĩ
Mãi mãi, “biển” trong ca từ Trịnh Công sơn là không gian của sự hoài niệm và chờđợi Biển như là trái tim của con người, nơi con người tìm được sự giao thoa và đồng vọng về tâm hồn
“Biển nghìn thu ở lại
Biển đánh bờ, xôn xao bờ đánh biển
Đừng đánh nhau… Ơi biển sẽ tàn phai
Đừng gạch tên vì yêu đừng xé nát
Biển là em ngọt đắng trùng khơi”
(Biển nghìn thu ở lại )
Đặc biệt là ca khúc Sóng về đâu:
“Biển sóng biển sóng đừng xô nhau
Ta xô biển lại sóng nằm đau
Biển sóng biển sóng đừng xô tôi
Đừng xô tôi ngã giữa tim người”
(Sóng về đâu)
Cả giai điệu và ca từ ca khúc Sóng về đâu đều nhấn mạnh nhiều lần và đẩy lên cao
trào lời nhắn nhủ: “Đừng xô nhau” Đó chính là những âu lo nhưng suy tư trắc trở của nhạc sĩ, có lẽ hằn lên nỗi đau những nỗi trầm buồn Bởi nhạc sĩ cảm nhận đượcrằng cuộc sống này, sự sống này là những đau buồn chứ đâu phải chỉ có niềm vui
Và khi con người hoài nghi về cuộc sống thực tại của mình, cuộc sống chứa chất nhiều nỗi buồn đau thì lúc đó thì không gian “biển” mở ra để ôm trọn, ru dỗ những kiếp người tủi phận:
“Trong khi ta về ta lại nhớ ta
Đi lên non cao đi về biển rộng
Đôi tay nhân gian chưa từng độ lượng
Ngọn gió hoang vu thổi suốt xuân thì”
(Một cõi đi về)
Như vậy, ca từ nhạc Trịnh đã mở ra không gian biển mênh mang và chất chứa những ẩn ức của con người và chờ mong được hoài vọng, vỗ về những nỗi lòng sâu kín của kiếp người
2.2.2 Sông- dòng đời chảy trôi
Điểm lại những tác phẩm thơ và nhạc ta thấy hình ảnh dòng sông được rất nhiều nghệ sĩ đưa vào tác phẩm của mình, như một hình ảnh nghệ thuật để qua đó biểu
Trang 14hiện tình cảm với quê hương, với tuổi thơ của mình và mang một nhiệm vụ chuyênchở những ẩn ức trong tâm hồn con người Trong ca từ của nhạc sĩ Trịnh công Sơn đưa hình ảnh dòng sông cũng được nhắc đến khá nhiều lần, vậy “dòng sông” của Trịnh Công Sơn có gì khác “dòng sông” của những nhạc sĩ, thi sĩ khác
Trong ca khúc Lời của dòng sông tác giả viết:
“Dòng sông đêm thắp nến
Mặt trời quên dấu chim”
( Lời của dòng sông )
Hay “người tìm về dòng sông, hỏi thăm về đời mình” (Lời của dòng sông) Dòng
sông ở đây như một người cố nhân để người tìm về tìm lời giải đáp về kiếp sống này Và rồi người hỏi thăm về đời mình chỉ nhận được câu trả lời: “ …hoang vu dòng nước lũ …” Đôi lúc dòng sông hiện lên với khung cảnh quê hương chiến tranh, chết chóc Dòng sông quặn đau vì bom đạn tàn phá quê hương, mang dáng dấp một bà mẹ Việt Nam héo hon đau khổ:
“Em đi qua cầu,
tiếng súng vang theo, làng mạc, quê hương có dáng buồn rầu…
Một dòng sông sâu chở hồn thương đau…”
(Em đi trong chiều )
Đôi lúc nhạc sĩ nhận ra rằng: Dòng sông như một chứng nhân lịch sử, như một sự tuần hoàn vô tận của cuộc sống, như một dòng trôi mãi mãi không ngừng nghỉ của thời gian mà so với cuộc đời của con người chỉ là một khoảnh khắc thật nhỏ bé, vô nghĩa
“Ngồi bên dòng sông nhớ đời mình,
một trăm năm sau mãi ngủ yên,
khi ngàn lá vẫn còn xanh, khi đời sống vẫn bình yên”
(Ngồi bên dòng sông)
Dòng sông cũng là biểu tượng về cội nguồn của dân tộc, như dòng lịch sử đất nước
để ta chiêm nghiệm lại quá khứ hào hùng của dân tộc mình:
“ Một ngày mùa đông,
Một người Việt Nam ra bên dòng sông nhớ về cội nguồn,
Nhớ về đoạn đường từ đó ra đi,
Nhớ về biển rộng, thuyền ghe lướt sóng,
Nhớ về nghìn trùng nòi giống của chim”
(Ngụ ngôn mùa đông ).
Rồi từ dòng sông nhạc sĩ nghĩ về mối tình của mình Dòng sông luôn trôi mãi nên
nó thường gợi lên sự ra đi, sự chia ly, bắt đầu từ suối khe trong rừng sâu nó bỏ đi rabiển lớn và nước thì chảy xuôi không bao giờ quay lại giống như những người tình lần lượt đi qua đời ta:
Trang 15“ Từng người tình bỏ ta đi như những dòng sông nhỏ,
2.3 Hình tượng mang tính nội tâm con người
2.3.1 Đôi môi –tình yêu trọn vẹn và toàn bích
Trong ca từ nhạc Trịnh, chúng ta sẽ thấy một sự đặc biệt nằm ở hình tượng đôi môi Thông thường khi liên tưởng đến tâm hồn con người, chiều sâu nhận thức người ta vẫn chỉ nghĩ đến đôi mắt vốn được xem là “cửa sổ của tâm hồn” Nhưng không chỉ vậy, trong các sáng tác của Trịnh Công Sơn hình tượng đôi môi vốn quen thuộc nay lại trở nên lạ lẫm và hấp dẫn bởi khả năng chuyên chở cảm xúc chiều sâu nội tâm của con người
Điệu tâm hồn của con người thông qua biểu tượng đôi môi được ghi lại bởi hai khoảnh khắc “môi cười” và “môi sầu” Đôi môi trở thành tín hiệu đầy mới mẻ và làm mới cho khả năng biểu đạt tâm trạng của con người Đôi môi như biểu lộ hết những ẩn ức chất chứa luôn chực trào dâng nơi tâm hồn con người Khi nghe nhạc Trịnh, cái hương vị man mác khó diễn tả cộng với cái hồn luôn khoan thai nền nã tạo nên một hiệu ứng thật đặc biệt Nghe những ca từ vang lên, người ta không chỉ thấy cái suy tư của nhạc sĩ mà còn thấy cả những riêng tư thầm kín của chính mình.Đôi môi chúm chím, nhỏ nhắn trong ca từ Trịnh Công Sơn lại đong đầy muôn vàn những tâm trạng của con người Đôi môi ấy có khi lại chất đầy nỗi cô đơn, sự lặng lẽ:
“ Em đi qua cầu
Chở chiều trên vai
Ngậm buồn trên môi
Trái tim đã hoài
Một người nằm xuống
Một người nơi đây”
(Em đi trong chiều).
Nỗi cô đơn mông lung khó định hình và nắm bắt lại gãy gọn trên đôi môi người con gái Đôi môi xinh đẹp trong quan niệm cha ông lại sống động trong từng nốt nhạc khi phô bày hết nết trầm tĩnh, phẳng lặng của tâm hồn con người Nét tâm trạng được biểu lộ trên từng vần chữ cũng chính là dòng tâm trạng sâu sắc mà tác giả muốn phơi bày:
“Ngoài hiên mưa rơi rơi
Buồn dâng lên đôi môi
Buồn đau hoen ướt mi ai rồi”