1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

VĂN HỌC CÁCH MẠNG TRONG GIAI ĐOẠN 1900 NAY

15 251 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 37,9 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Như vậy, văn học giai đoạn 19451975 có những đóng góp quan trọng cho sự nghiệp phát triển của nền văn học Viêt Nam. Đặc biệt, nó gắn liền và thúc đẩy sự tiến lên của Cách Mạng nước ta. Có thể nói cuộc chiến đấu của dân tộc ta chống lại hai kẻ thù xâm lược là Pháp và Mỹ, cũng như cuộc chiên đấu bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc là động lực vô tận sản sinh ra nhiều thế hệ nhà văn vừa tài ba vừa tràn đầy tinh thần yêu nước, thương dân, vừa hết lòng ngợi ca chủ nghĩa anh hùng cách mạng . Những bài văn ,bài thơ ấy như ngọn lửa cổ vũ , mang đến động lực ,truyền bá lí tưởng cách mạng cho nhân dân ; tăng sức mạnh cho người lính trong khoảng thời gian đất nước phải chiu bao đau thương ,khổ cực, phẫn uất .Và Những giá trị ấy sẽ còn mãi với bạn đọc

Trang 1

MỞ ĐẦU

Cách mạng tháng Tám thành công đã mở ra một thời đại mới cho nền văn học Việt Nam 1945-1975 Ta có thể thấy đó là giai đoạn phát triển rực rỡ nhất Nếu văn học giai đoạn 1900 – 1945 viết về hiện thực cuộc sống hay mang khuynh hướng lãng mạn nhưng lại rất đề cao cái tôi cá nhân, thì văn chương 1945 – 1975 lại có sự đột phá trong việc sáng tạo và xây dựng hình tượng nghệ thuật, ở đây không còn là cái tôi cá nhân đơn độc mà là cái tôi cá nhân hòa chung với cái tôi của cộng đồng, của toàn dân tộc

Những tác phẩm văn học trong giai đoạn này mang trong mình một sứ mệnh cao cả, song hành với trách nhiệm mà thời đại giao phó Văn học không chỉ tạo động lực cho những con người ngoài chiến trận mà còn góp phần quan trọng đưa cách mạng đến một thắng lợi nhất định

Trang 2

MỤC LỤC

Trang

Mở đầu 1

Nội dung 2

I Sơ lược bối cảnh lịch sử Việt Nam từ 1945 đến 1975 2

II Văn học 1945-1975 là nền văn học Cách Mạng 3

2.1 Th hi n qua quá trình phát tri n ch y u 3 ể ệ ể ủ ế 2.2 Thể hiện qua Đặc điểm của nền văn học cách mạng 4

2.2.1 Nền văn học phát triển theo hướng Cách mạng, 4

gắn chặt và cổ vũ Cách mạng 2.2.2 Nền văn học hướng về quần chúng nhân dân mà 8

đặc biệt là công nông binh 2.2.3 Giai đoạn văn học sáng tác theo 10

khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn 2.2.4 Nghệ thuật văn học 1945-1975 12

mang âm hưởng Cách mạng Kết Luận 14

Trang 3

NỘI DUNG

I. Sơ lược bối cảnh lịch sử Việt Nam từ 1945 đến 1975:

Giai đoạn 1945-1975 , đất nước ta đã trải qua hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mĩ đầy thảm khốc Trong thời gian đó có những sự kiện, chiến thắng bước ngoặt cho dân tộc : Cách mạng tháng Tám 1945 , Chiến thắng Điện Biên Phủ (1954), Chiến thắng Điện Biên Phủ trên không (1972) Đảng và toàn dân ta cùng đấu tranh chống lại Chiến tranh đặc biệt ,chiến trang cục bộ , Việt Nam hóa chiến tranh của Mĩ Từ đó, tiến lên giải phóng hoàn toàn miền Nam,thống nhất đất nước

Nền kinh tế Việt Nam lúc bấy giờ rất nghèo nàn , đời sống người dân gặp nhiều khó khăn Suốt 30 năm ấy, biết bao đau thương ,thảm khốc nhưng đáng tự hào vì con người Việt Nam vẫn nồng nàn lòng yêu nước, căm thù giặc, một lòng hướng đến Cách Mạng

Trong bối cảnh như vậy, văn học giai đoạn 1945 - 1975 vẫn phát triển và đạt được nhiều thành tựu to lớn đóng góp cho kho tàng văn học Việt nam cũng như văn học thế giới Và cũng chính bối cảnh đó đã tác động đến tư tưởng , cảm hứng sang tác của các nhà văn , nhà thơ

Ví Dụ: Trong giai đoạn sau cách mạng Tháng 8, thơ của Xuân Diệu đã tạm gát đi cái tình cảm nhỏ bé của cá nhân và hướng đến cái tình cảm chung của cộng đồng, của dân tộc

"Tôi cùng xương thịt với nhân dân của tôi

Cùng đổ mồ hôi, cùng sôi giọt máu

Tôi sống với cuộc đời chiến đấu

Của triệu người yêu dấu gian lao

(Những đêm hành quân - Xuân Diệu)

Trang 4

II Văn học 1945-1975 là nền văn học Cách Mạng :

2.1 Th hi n qua quá trình phát tri n ch y u :ể ệ ể ủ ế Chia làm 3 chặng:

+ 1945 - 1954:

• Nội dung : Các sáng tác tái hiện không khí phấn khởi khi mới giành độc lập

Bên cạnh đó còn tập trung phản ánh cuộc kháng chiến chống Pháp Văn học gắn bó sâu sắc với đời sống cách mạng; hướng tới khám phá sức mạnh và phẩm chất tốt đẹp của quần chúng công nông binh; thể hiện niềm tự hào dân tộc và niềm tin vào tương lai tất thắng của kháng chiến

• Thể loại: Truyện và kí ( Làng - Kim Lân, Chí Phèo - Nam Cao,

….)

Thơ ( Bên kia sông Đuống – Hoàng Cẩm , Tây Tiến - Quang Dũng,….)

Kịch (Bắc Sơn-Nguyễn Huy Tưởng,….),…

+ 1955-1964 :

• Nội dung : Văn học chủ yếu hướng đến hình ảnh người lao động, những đổi thay của con người trong bước đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội với cảm hứng lãng mạn, lạc quan… mở rộng

đề tài, bao quát nhiều vấn đề, nhiều phạm vi của hiện thực đời sống

• Thể loại: Văn xuôi (Người lái đò Sông Đà - Nguyễn Tuân, Mùa Lạc –Nguyễn Khải,…), kịch nói

+ 1965 - 1975:

• Nội dung : Cao trào sáng tác viết về cuộc kháng chiến chống

Mĩ trong cả nước, chủ đề bao trùm: tinh thần yêu nước, ngợi ca chủ nghĩa anh hùng cách mạng

Trang 5

• Thể loại: Văn xuôi (Rừng xà nu - Nguyễn Trung Thành, ) truyện, kí (kí chống Mĩ - Nguyễn Tuân,…) ; thơ (Mặt đường khát vọng - Nguyễn Khoa Điềm, Người em gái bên cầu sông

Vệ - Trần Quang Long… )

Như vậy văn học thời kì này có nhiều sự chuyển biến trong quá trình phát triển ; đa dạng phong phú về đề tài cũng như thể loại, tất cả đều chủ yếu nhằm hướng đến Cách Mạng , cổ vũ tinh thần đấu tranh 2.2 Thể hiện qua Đặc điểm của nền văn học cách mạng:

Nếu như văn học giai đoạn 1932-1945 cái tôi bắt đầu cất lên những tiếng nói đầu tiên của mình, bắt đầu biết nêu lên những khát vọng, giả tỏa những uất ức bấy lâu nay bị kìm hãm đem đến một luồng gió lạ trong văn học, tạo nên một dấu ấn đặc biệt mà nổi bật lên

là phong trào thơ mới thì văn học 1945 -1975 lại mang trong mình một sứ mệnh quan trọng, có nhiều bước đột phá so với văn học thời kì trước bởi

Ta có thể hiểu văn học Cách mạng là nền văn học xoay quanh những chủ đề chiến tranh , lòng yêu nước , ca ngợi chủ nghĩa anh hùng ; đề cao lý tưởng Cách Mạng và hướng đên Cách Mạng

2.2.1 Nền văn học phát triển theo hướng Cách mạng , gắn chặt

và cổ vũ Cách mạng :

Văn học thời bấy giờ chủ yếu phản ánh hiện thực cách mạng sôi

nổi trong hai cuộc kháng chiến và xây dựng chủ nghĩa xã hội Đây là giai đoạn cả nước vùng dậy, sẵn sàng chống giặc, thực hiện kế hoạch

“vườn không nhà trống” Thanh niên tình nguyện vào bộ đội, sẵn sàng chịu mọi gian khổ thiếu thốn kể cả hi sinh tính mạng vì lợi ích của Tổ quốc, của dân tộc Lợi ích cá nhân lúc này lại càng trở nên tầm thường nhỏ bé, thậm chí vô nghĩa

Ví Dụ : Trong ‘’Vợ nhặt’’ của Kim Lân ta có thể thấy được tinh thần, nhiệt huyết và niềm sung sướng của Tràng khi phá được kho

Trang 6

thóc với hình lá cờ đỏ sao vàng bay phấp phới: “…Trong óc Tràng vẫn thấy đám người đói và lá cờ đỏ bay phấp phới…”.

Ví D : ụ ‘’ N ướ c chúng ta

N ướ c nh ng ng ữ ườ i ch a bao gi khu t ư ờ ấ

Đêm đêm rì r m trong ti ng đ t ‘’ ầ ế ấ

(Đ t n ấ ướ c – Nguy n Đình Thi ) ễ

Bài th đơ ược sáng tác trong kho ng th i gian 1948-1955 - nả ờ ước

ta đang kháng chi n ch ng Pháp Nh ng câu th th m nhu n t ế ố ữ ơ ấ ầ ư

tưởng Cách M ng c a tác gi ; lòng yêu nạ ủ ả ước ; t hào v nhân ự ề dân ; th hi n ý th c đ c l p t ch Ta có th th y :tác ph m ể ệ ứ ộ ậ ự ủ ể ấ ẩ văn h c g n bó sâu s c v i Cách M ng ọ ắ ắ ớ ạ

Ví Dụ : Hay ta có thể thấy tinh thần lạc quan, yêu đời của những anh chiến sĩ lái xe dù trong mưa bom, bão đạn

Bom giật bom rung kính vỡ rồi

Ung dung buồng lái ta ngồi

Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng ”

(Bài thơ tiểu đội xe không kính – Phạm Tiến Duật)

Văn học không chỉ phản ánh hiện thực cách mạng mà còn thể hiện được lí tưởng cách mạng mà Đảng và cách mạng soi đường Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta đã anh dũng chiến đấu chống đế quốc

và những người nghệ sĩ đã dùng cây bút của mình để tham gia vào cuộc kháng chiến Tác phẩm văn học thời kì này phản ánh chân xác thực tế cách mạng và tiếp thêm sức mạnh tinh thần cho những con người cầm súng ngoài chiến trận

“Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ

Trang 7

Mặt trời chân lí chói qua tim Hồn tôi là một vườn hoa lá Rất đậm hương và rộn tiếng chim.

……….”

(Tố Hữu - Từ ấy)

Có thể thấy việc giác ngộ lí tưởng cộng sản, là một cột mốc quan trọng trong cuộc đời của Tố Hữu Bằng những hình ảnh ẩn dụ: nắng

hạ, mặt trời chân lí, chói qua tim, Tố Hữu đã khẳng định lí tưởng cách mạng như một nguồn sáng mới làm bừng sáng tâm hồn nhà thơ

Đọc những tác phẩm văn học trong giai đoạn này cả một chiến trường khắc nghiệt như hiện ra, khói lửa, nước mắt và máu hòa trộn vào nhau tạo nên một kí ức lịch sử khắc nghiệt, không bao giờ lãng quên Tái hiện lại chặng đường chiến đấu anh dũng kiên cường của đồng bào ta.“Những đứa con trong gia đình” (Nguyễn Đình Thi),

“Rừng Xà Nu” (Nguyễn Trung Thành), “Tây Tiến” (Quang Dũng),… Văn học cổ vũ cách mạng nên quá trình vận động phát triển hoàn toàn ăn nhịp với từng bước đi của cuộc chiến đấu theo sát từng nhiệm

vụ chính trị của đất nước Tất nhiên, đối với một giai đoạn văn học phục vụ kháng chiến, nhân vật trung tâm của nó phải là người chiến sĩ trên mặt trận vũ trang và những lực lượng trực tiếp phục vụ chiến trường: bộ đội, giải phóng quân, dân quân du kích, dân công, giao liên, thanh niên xung phong v.v… Đó là những con người phải chịu nhiều hy sinh và tổn thương nhất của cuộc chiến đấu vì lợi ích chính trị thiêng liêng của Tổ quốc, vì độc lập tự do và chủ nghĩa xã hội

Ta có thể thấy trong bài thơ ‘’Tiếng hát con tàu ‘’ của Chế Lan Viên tư tưởng chủ đạo là cổ vũ động viên thanh niên lên đường xây dựng Tổ quốc

“Tây Bắc ư? Có riêng gì Tây Bắc?

Khi lòng ta đã hóa những con tàu Khi tổ quốc bốn bề lên tiếng hát

Trang 8

Tâm hồn ta là Tây Bắc, chứ còn đâu.

(…)

Lấy cả những cơn mơ!

Ai bảo con tàu không mộng tưởng?

Mỗi đêm khuya không uống một vầng trăng,

Lòng ta cũng như tàu, ta cũng uống

Mặt hồng em như suối lớn mùa xuân’’

Bài thơ còn là tấm lòng của những người gắn bó sâu nặng nghĩa tình với nhân dân, với đất nước Lời mời gọi lên Tây Bắc trở thành lời giục giã, lời mời gọi những tâm hồn hãy đến với đời sống cần lao và rộng lớn của nhân dân Trong bài thơ Tiếng hát con tàu, khát vọng lên đường ấy mỗi lúc càng được bộc lộ cụ thể hơn, say mê hơn và rạo rực hơn : “Khi lòng ta đã hóa những con tàu”, “Tàu hãy vỗ giùm ta đôi cánh vội Mắt ta thèm mái ngói đỏ trăm ga”, “Mắt ta nhớ mặt người, tai ta nhớ tiếng” … Khát vọng ấy càng trở nên mãnh liệt hơn bao giờ hết khi có sự gặp gỡ giữa đòi hỏi của nhân dân, đất nước với nhu cầu tình cảm của nhà thơ “Đất nước gọi ta hay lòng ta gọi” Ở đây tiếng gọi của cuộc sống lớn, của nhân dân , đất nước đã thực sự trở thành sự thôi thúc bên trong của chính nhà thơ Bài thơ thể hiện một cái nhìn mới của nhà thơ trước cuộc đời, trước con người Nhưng có lẽ điều cô đọng lại trong tác phẩm là những suy tư mang đậm màu sắc triết lí, lắng sâu trong tâm hồn người đọc những rung động trước tình cảm gắn bó của nhà thơ với nhân dân, với đất nước Và cũng chính vì lẽ đó

mà mỗi người nhận thức riêng cho mình một con đường đi tới để được hoà mình vào cuộc sống mới, để được sống trong những cảm xúc chân thành như của chính nhà thơ Và chính bài thơ đã tạo được nhiều động lực để các thanh niên vững tâm cầm súng ra chiến trường, bảo vệ đất nước

Trang 9

2.2.2 Nền văn học hướng về quần chúng nhân dân mà đặc biệt là công nông binh :

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng đưa ra quan điểm khi sáng tác là

“Viết cho ai? Viết để làm gì?” Và có thể mói nền văn học giai đoạn này đã làm được những điều mà thời đại giao phó, đối tượng mà mà văn học 1945-1975 hướng đến là những công nông binh đã dũng cảm trên mặt trận chiến đấu, những con người hết lòng tận tình vì cách mạng Cho nên văn học phục vụ chính trị, cổ vũ chiến đấu tất phải hướng về công nông binh Đó là phương hướng cơ bản xác định nội dung và hình thức của văn học giai đoạn 1945-1975

“Tây tiến đoàn binh không mọc tóc Quân xanh màu lá dữ vai hùm Mắt trừng gửi mộng qua biên giới Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm.

Rải rác biên cương mồ viễn xứ Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh

Aó bào thay chiếu anh về đất Sông Mã gầm lên khúc độc hành.”

( Tây Tiến –Quang Dũng )

Đó chính là những con người luôn hướng tới một lí tưởng cao đẹp khát vọng hạnh phúc, cuộc sống nơi chiến trường khó khăn bao nhiêu thì lại càng tôi thêm nghĩa khí , ý chí chiến đấu lên bấy nhiêu Viết về người lính tong Tây Tiến Quang Dũng không chỉ đưa bạn đọc đến với chiến trường đầy gian lao mà còn muốn thể hiện lòng biết ơn

sự ngưỡng mộ của mình dành cho những con người nơi chiến trận

Trang 10

Ví dụ : “Một tay láy chiếc đò ngang

Bến sông Nhật Lệ quân sang đêm ngày

Sợ gì sóng gió tàu bay Tây kia ta đã thắng, Mỹ này ta chẳng thua

………”

( Mẹ Suốt – Tố Hữu ).

Viết lên những vần thơ như thế, ngòi bút trong giai đoạn văn học 1945-1975 không thể không cảm phục nhân dân lao động là lực lượng chủ yếu làm nên thành công của cuộc cách mạng,mà còn gánh cả cuộc kháng chiến trên đôi vai nhỏ bé của mình Trong truyện ngắn “Những đứa con trong gia đình”của Nguyễn Đình Thi cũng đã tái hiện lại hình ảnh truyền thống làm cách mạng của một gia đình, cho dù sự sống và cái chết chỉ là ranh giới mỏng manh nhưng họ vẫn quyết theo đuổi con đường cách mạng Tất cả những hình ảnh chân thật bắt nguồn tự đời sống và rồi đi vào những trang văn đã khiến bạn đọc lúc bấy giờ

và cho đến ngày hôm nay không khỏi ca tụng ngưỡng mộ, họ mang trong mình một vai trò to lớn đối với sự tồn tại của dân tộc

Việc xác định được vai trò vĩ đại của quần chúng nhân dân lao động, công nông là một phát hiện to lớn trong sáng tác của giới văn nghệ sĩ yêu nước sau cách mạng tháng Tám và trong chiến tranh giải phóng dân tộc, đặc biệt là những năm tháng chống thực dân Pháp và

đế quốc Mỹ Trước sự nghiệp to lớn của Cách mạng, trước vai trò vĩ đại của nhân dân lao động, họ cảm thấy chính trị, phục vụ công nông binh Có thể nói được viết về đề tài này là niềm vinh dự lớn cho Nguyễn Tuân, Xuân Diệu, Hoài Thanh, Nam Cao v.v… Họ đã sống cùng, chiến đấu cùng và sát cách cùng với công nông binh để “Cách mạng hoá tư tưởng, quần chúng hoá sinh hoạt” Và tính giai cấp giữa những người nghèo khổ cũng là đề tài để các nhà văn chắp bút mang đến cho nhân loại những tác phẩm có giá trị

Trang 11

Một chủ đề nổi trội khác của văn học 1945-1975 là khẳng định sự đổi đời của nhân dân nhờ Cách mạng Đồng thời cũng là sự hồi sinh

về mặt tinh thần, từ chỗ đắm chìm trong bóng tối, ma mị của bọn thực dân đến chỗ được giải phóng về tư tưởng, được giải thoát về tâm

hồn ( Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài, Đứa con nuôi, Mùa lạc của Nguyễn Khải, v.v…).

Không chỉ vậy văn học còn phê phán cái nhìn có định kiến sai trái đối với quần chúng hoặc những mâu thuẫn của các nhân vật có quan

điểm khác nhau và đề cao quan điểm đúng như trong (Đôi mắt của Nam Cao), hoặc mô tả quá trình thay đổi của một nhân vật từ chỗ hiểu

sai mà xem thường quần chúng, đến chỗ hiểu đúng mà thán phục quần chúng ( như trong nhiều truyện ngắn của Nguyễn Khải, Nguyễn Kiên Nguyễn Minh Châu v.v…)

Bên cạnh đó văn học còn trực tiếp ca ngợi quần chúng, với việc sáng tạo xây dựng hình tượng đám đông sôi nổi, hăng hái tham gia các mặt trận chiến đấu của công nhân, nông dân, bộ đội, … đầy nhiệt

huyết và hào hùng ( Kí sự Cao Lạng của Nguyễn Huy Tưởng, Mặt đường khát vọng của Nguyễn Khoa Điềm, Đoàn thuyền đánh cá của Huy Cận, Đường ra mặt trận của Chính Hữu v.v…); đồng thời xây

dựng những nhân vật anh hùng kết tinh những phẩm chất cao đẹp của

giai cấp, của nhân dân, của dân tộc ( Rừng xà nu của Nguyên Ngọc, Những đứa con trong gia đình của Nguyễn Đình Thi, Bác ơi!, Theo chân Bác, Mẹ Tơm, Mẹ Suốt của Tố Hữu v.v…).

Văn học viết cho đại chúng tất nhiên phải dễ đọc, dễ hiểu và được đông đảo quần chúng ưa thích Là tiếng nói cất lên từ niềm tin về một đất nước hòa bình, hạnh phúc

2.2.3 Giai đoạn văn học sáng tác theo khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn :

Tính sử thi được thể hiện ở vấn đề dân tộc Tiếng nói của văn học không thể là tiếng nói riêng của mỗi cá nhân mà phải đề cập tới số mệnh chung của đất nước, của cộng đồng Văn học mang đậm chất sử

Ngày đăng: 28/11/2017, 09:53

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w