Cuộc truy vấn cái Tôi là một hành trình đầy đau thương của nhân loại, không chỉ với các nhà văn nhà thơ. Franz Kafka, nhà văn vĩ đại của thế kỉ 20, qua tác phẩm Hóa thân đã khẳng định rằng cô đơn chính là bản chất của con người, dù cho con người đang sống, bị níu giữ trong tình thương yêu. Và câu hỏi về cái Tôi, về bản thể làm cho con người ý thức được hơn về nỗi đau, về sự tồn tại. Mỗi cá nhân, mỗi cái tôi, mỗi phong cách, nhưng điểm giống nhau giữa các nhà văn, nhà thơ chính là sự cô đơn. Tuy họ giống nhau ở sự cô đơn nhưng họ vẫn cô đơn. Không có nỗi cô đơn nào giống nỗi cô đơn nào. Mỗi chúng ta là một cỗ cô đơn, vì mỗi cá thể là độc lập. Còn bởi, sự thấu hiểu chẳng bao giờ là có thể đi đến được cuối cùng.
Trang 2MỞ ĐẦU
Sự va chạm giữa hai nền văn minh phương Đông - phương Tây trên chính các đất nước phương Đông Các hệ giá trị cũ và mới được đặt lên bàn cân để lựa chọn Cuối cùng thì con người thường chọn đi về phía ánh sáng
Luồng gió lạ của phương Tây thổi vào Việt Nam đầu thế kỉ 19 đã mang vào những hương vị mới Trong văn học Việt, yếu tố quan trọng được đẩy vào chính là cái Tôi Thật xa lạ và cũng thật gần gũi biết bao Lần đầu tiên, con người nhìn vào chính mình, tìm hiểu chính mình, kể mọi thứ về bản thân mình Quá trình tìm và hiểu bản thân được diễn ra rộng khắp ở các văn đàn nghệ thuật,
mở màn cho văn học Việt Nam hiện đại Điều này giúp ta nhớ tới câu cách ngôn ở ngôi đền thờ Apolo ở Delphile nổi tiếng: “know thyself” (hãy nhận thức bản thân mình), câu nói đã trở thành kim chỉ nam của Socrate
Tuy nhiên, con người có thể hiểu được chính con người không, chúng ta có thể hiểu được chính bản thân mình? Điều này vẫn còn
là một câu hỏi chưa có câu trả lời thỏa đáng Tuy vậy chúng ta vẫn đang truy vấn Dầu cho càng đi sâu càng mơ hồ, càng đi càng
sợ hãi và mang về đầy những thương tích
“Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu Nhưng càng đi sâu càng lạnh.” (Hoài Thanh)
Trang 3Phần 1: “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu” - Sự xuất hiện và những đặc điểm của cái Tôi
1.1 Vấn đề cái Ta thời trung đại
Con người tri nhận về mình thế nào đều dựa trên nền tảng của văn hóa Thời Trung đại, “cái Ta” là từ được dùng để nói về cá nhân mỗi người Đây cũng chính là sự khác nhau giữa con người trung đại và con người hiện đại Con người trung đại là con người của cộng đồng, con người của bổn phận Ở đó không đẻ ra cá nhân mà đẻ ra các loại hình nhân cách: Đấng trượng phu, người quân tử, kẻ chân nhân, đạo sư
Văn học của thời trung đại chủ yếu xoay quanh cái Ta Cả mấy thế
kỉ, chủ thể sáng tạo chỉ quan tâm đến đất nước, thiên nhiên, con người cao lớn, vĩ đại Cái ta hiện hữu trong mọi thủ pháp và thi pháp, những "vô ngã, phi ngã" trở thành chân lý sáng tác chung Hay như "thuật nhi bất tác", "hậu cổ bạc kim" trở thành thi pháp quen thuộc
Và giờ đây, trong câu nói của Hoài Thanh, "bề rộng" mà nhà phê bình đang nhắc đến chính là chính là dòng tộc, cộng đồng, là dân sinh rộng lớn, là cái Ta của văn chương tiền hiện đại
1.2 Giai đoạn giao thời và “cái Tôi” xuất hiện:
(1) Khi giai đoạn phong kiến sắp đến hồi kết, cái Ta rệu rã và cái Tôi xâm nhập vào văn chương nghệ thuật Sự xuất hiện này quá mức đột ngột khiến mọi người đều ngỡ ngàng Vì nó quá mới, hoặc cũng có thể là vì nó quá cũ mà hầu như mọi người không nhìn thấy Ở đây chúng tôi dùng từ “hầu như” là bởi lẽ, cuối thế kỉ
18 – đầu thế kỉ 19, ở một số tác phẩm đã manh nha cái tư tưởng
về sự ý thức cá nhân Và đến khi cái Tôi bước đầu được tiếp nhận
và sử dụng, ta thấy nó vẫn mang dáng dấp của cái Ta Lúc ấy con
người cá nhân vẫn chưa thoát khỏi được các vấn đề chí, khí, đạo…
mà nguyên nhân là Việt Nam thời bấy giờ đang là thuộc địa của Thực dân Pháp
Trang 4“Sinh vi nam tử yếu hy kỳ,
Khẳng hứa càn khôn tự chuyển di
Ư bách niên trung tu hữu ngã,
Khởi thiên tải hậu cánh vô thuỳ.”
(Đã sinh làm kẻ nam nhi thì cũng phải mong có
điều lạ,
Há lại để trời đất tự chuyển vần lấy sao!
Giữa khoảng trăm năm này, phải có ta chứ,
Chẳng nhẽ ngàn năm sau lại không có ai (để lại tên tuổi) ư?)
(Phan Bội Châu, Xuất dương
lưu biệt)
Hành trình của cái Tôi trong văn học Việt cho thấy nó gắn liền với những bước thăng trầm của hệ tư tưởng, từ đạo Khổng cho đến văn minh phương Tây Và mỗi sự phát triển đều luôn dựa từ những
(2) Sự lạ lẫm của cái Tôi buộc mọi người phải định nghĩa nó là gì, lối tư duy suy nghiệm đã không khỏi định hình cái Tôi dựa trên cái
Ta Thời gian này, cái Tôi bỗng biến thành đối tượng của các cuộc bút chiến nảy lửa, của những xung đột giá trị cũ và mới, của va
chạm các hệ tư tưởng mãnh liệt Đó là buổi ban đầu của cái Tôi,
nói như Hoài Thanh thì là: "Ngày thứ nhất, ai biết đích là ngày nào, cái tôi bước vào thật bỡ ngỡ".1
1.3 Thời đại của những cái Tôi
“Mất bề rộng“, cái Ta dần mờ nhạt rồi bị xóa sổ khỏi văn đàn Sự mất đi cái Ta làm các kết nối giữa các cái Tôi bị đứt gãy Con người chuyển hướng sang khai quật chính bản thân mình, đào xới sâu vào các thực tại cá nhân do bên ngoài phản ánh vào tâm trí Họ bắt đầu phóng thích bản ngã Điều này thể hiện rõ rệt ở các tác phẩm nghệ thuật, không chỉ ở văn chương
1 Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh - Hoài Chân, tr.58, NXB Văn học, 2006.
Trang 5Giờ đây, cái Tôi đã không còn xa lạ nữa Con người đã không còn
bị buộc phải đi theo những hình mẫu như quân tử, chân nhân, đạo
sư Mỗi cá nhân được ý thức là một sự hiện hữu vẹn toàn và độc lập Trăm hoa nở rộ, hàng loạt các thi sĩ với hàng loạt các phong cách ra đời: "thoát lên tiên cùng Thế Lữ, phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, điên cuồng cùng Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, đắm say cùng Xuân Diệu" rồi "ngẩn ngơ buồn cùng Huy
học ở giai đoạn này Có thể nói trong thơ Mới do chỉ chú trọng khám phá và biểu hiện cái Tôi cá nhân, cá thể, nên thế giới nghệ thuật của nó chủ yếu được xây dựng bằng chất liệu nội cảm với những trạng thái đa dạng, tinh tế của tình cảm cảm xúc, cảm giác, ấn tượng, tưởng tượng Tuy nhiên, trong một tập tiểu luận phê bình văn học của Đỗ Lai Thúy, ông không gọi thơ Mới là: Thơ như là mỹ học của “cái mới” mà lại gọi thơ Mới là “thơ như là mỹ
học của cái Khác” Ông đã giải thích rằng: “Cái mới trong quan
niệm trước đây chỉ là sản phẩm của sự phủ định một cái gì đó đã tồn tại, tức là cái cũ, như hạt lúa phủ định cây lúa, mầm cây phủ định cái quả Như vậy, trong trường hợp này, cái mới thực chất chỉ
là sự lặp lại cùng một cái trong thời gian Nếu có chút khác biệt nào đó thì tức khắc bị thôn tính vào sự thống/ đồng nhất như là một phạm trù đúng hơn, cao hơn và danh giá hơn Cái mới đích thực, ngược lại, phải là sự khẳng định sự khác biệt, cái khác biệt.
Vì thế, khẳng định cái Khác chính là sự phát sinh ra những khái niệm mới, là sự thử nghiệm các hình thái mới của kinh nghiệm cũng như những khả thể khác biệt của hiện hữu” 3
2 Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh - Hoài Chân, tr.60, NXB Văn học, 2006.
3 Thơ như là mỹ học của cái khác, Đỗ Lai Thúy, tr 82, NXB HNV, 2012.
Trang 6Phần 2: “Càng đi sâu càng lạnh”- Bàn luận về các vấn đề sâu kín của bản thể/ cái Tôi.
(Ở phần này, nhóm chúng tôi đưa ra 6 chủ đề về cái Tôi được các tác giả hiện đại khai thác mà chúng tôi tìm hiểu và nhìn thấy được Các tác phẩm dùng để chứng minh được lấy trong phạm vi văn học Việt Nam hiện đại.)
Con người chính là trung tâm của mọi ngành khoa học
Và vật chất phức tạp nhất địa cầu chính là não bộ con người Đến nay, dù cho khoa học đã rất phát triển, con người vẫn còn vô số các thứ cần phải tìm hiểu để thực sự hiểu hết mình Câu hỏi “Tôi là ai?” đã ám ảnh không biết bao nhiêu con người trong đó có các triết gia, nhà văn từ quá khứ đến hiện giờ, và sẽ còn ám ảnh tiếp nhân loại trong các thế kỉ tới Nhận thức được Tôi là lúc ta tự đặt
ra những câu hỏi cho mình, sau đó là đi tìm kiếm lời giải Hỏi về cái Tôi thì chỉ có đi kiếm câu trả lời từ bên trong, từ chính cái Tôi
Ở các nhà văn, họ đi sâu vào bên trong, cố để nắm bắt Nhưng những phức cảm của tâm hồn đâu dễ dàng nắm bắt? Sự khó hiểu
đó làm họ hoang mang
“Sao ở đâu mọc lên trong đáy giếng
Lạnh như hồn u tối vạn yêu ma?
Hồn của ai trú ẩn ở đầu ta?
Ý của ai trào lên trong đáy óc
Để bay đi theo tiếng cười, điệu khóc?
[…]
Ai bảo giùm: Ta có có Ta không?”
(Chế Lan Viên, Ta)
Khẳng định bản thân là nhu cầu của tất cả cá nhân, nhất
là giai đoạn cái Tôi cá nhân vừa được khai phá thì nhu cầu đó càng
Trang 7mãnh liệt hơn bao giờ hết Nhưng việc quá độc tôn cái Tôi sẽ khiến bản thân trở nên lạc lõng Nhắc đến đây, những câu thơ của Xuân Diệu bỗng xuất hiện:
"Ta là Một, là Riêng, là Thứ Nhất
Không có chi bè bạn nổi cùng ta"
(Xuân Diệu, Hy Mã Lạp
Sơn)
Nhu cầu đứng tách biệt đã khiến Xuân Diệu chỉ muốn độc hành
Để rồi bản thân của nhà thơ luôn bị ám ảnh bởi sự cô đơn và lạc lõng
"Cô đơn muôn lần, muôn thuở cô đơn
Người lên trời, ôi Hy Mã Lạp Sơn"
(Xuân Diệu, Hy Mã Lạp
Sơn)
Càng đi sâu càng thấy mình trở nên đơn độc, lạc lõng ngay trong xúc cảm, nỗi niềm của riêng ta Hình ảnh ánh trăng trong thơ Hàn Mặc Tử tượng trưng cho một thế giới hư ảo, siêu thực Từ nguồn ánh sáng mơ hồ, mỏng manh của thiên nhiên, Hàn Mặc Tử đã giải tỏa những ẩn ức bên trong bản thể của mình qua những vần thơ để nói lên sự cô đơn, buồn bã bởi những nội cảm sâu xa
“Ánh trăng mỏng quá không che nổi
Những vẻ xanh xao của mặt hồ
Những nét buồn buồn tơ liễu rủ
Những lời năn nỉ của hư vô”
(Hàn Mặc Tử, Huyền ảo)
Trang 8Sự chóng vánh của đời người chính là một trong vô số nỗi đau khổ của mọi con người Tần Thủy Hoàng vì ám ảnh điều này nên mới tìm mọi cách có được thuốc trường sinh bất tử Ý thức về nhân sinh ngắn ngủi, dễ dàng bị thời gian bỏ rơi và lãng quên đã làm nên những vần thơ đẹp nhất nhưng cũng buồn nhất của Xuân Diệu Nỗi đau này đến từ sự ý thức về tồn tại Ông gào thét:
“Đốt muôn nến sánh mặt trời chói lói;
Thà một phút huy hoàng rồi chợt tối,
Còn hơn buồn le lói suốt trăm năm
Em vui đi, răng nở ánh trăng rằm,
Anh hút nhuỵ của mỗi giờ tình tự
Mau với chứ! Vội vàng lên với chứ!
Em, em ơi! Tình non sắp già rồi ”
(Xuân Diệu, Giục giã)
“Tôi là con nai bị chiều đánh lưới
Chẳng biết đi đâu đứng sầu bóng tối “
(Xuân Diệu, Khi chiều giăng lưới)
Trong “bề rộng” của cuộc đời, người nghệ sĩ phóng tầm nhìn vươn xa để tri nhận thực tại Thế giới mênh mông của thực tại gắn cùng với sự bao la trong tâm thức con người càng tạo nên
sự tò mò nhất là đối với người nghệ sĩ Người nghệ sĩ trước khi sáng tác nên tác phẩm cần phải trải nghiệm, nếm qua các hương
vị khác nhau của cuộc đời Để rồi từ đó, đánh thức lên trong họ tình cảm thiết tha với vạn vật Thế giới nghệ thuật trong thơ Huy Cận là một thế giới đầy chiêm nghiệm Càng thiết tha với đời thực, người nghệ sĩ càng cô đơn lạc lõng Trong mỗi vần thơ của Huy Cận, nổi bật không phải ở những lời thơ trau chuốt mà đọng
Trang 9lại là ẩn ức, nỗi niềm riêng “Cái sâu” trong thơ Huy Cận chính là ở những cách nhìn, những trải nghiệm của ông Khi thấm thía được cuộc đời, Huy Cận đã gieo vào thơ ca những “điệu buồn” sâu sắc:
“Lớp lớp mây cao đùn núi bạc Chim nghiêng cánh nhỏ: bóng chiều sa
Lòng quê dờn dợn vời con nước Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”
(Huy Cận, Tràng giang)
“Nắng chia nửa bãi, chiều rồi
Vườn hoang trinh nữ xếp đôi lá rầu
Sợi buồn con nhện giăng mau,
Em ơi! Hãy ngủ anh hầu quạt đây
Lòng anh mở với quạt này,
Trăm con chim mộng về bay đầu giường.”
(Huy Cận, Ngậm ngùi)
Khi mọi lẽ sống chỉ còn tập trung lại ở chính bản thân mình, không vì một ai khác hay một cái gì khác bên ngoài, con người bỗng thấy cuộc đời này vốn không có mục đích Thế là chẳng có một cái gì đó có thể neo giữ con người với cuộc đời này Mỗi cá nhân là một chỉnh thể độc lập, dù có mối liên hệ với nhau nhưng lại chẳng phụ thuộc gì vào nhau Trong hành tinh cô đơn của mỗi tâm hồn, ta chẳng tìm được gì khác ngoài chính bản thân
ta Sự mênh mông không gì níu giữ làm con người cảm thấy vô định, không nơi để tìm về, bám víu:
“Hành trình quả đất - lưu trú
Chỉ là một chặng nhỏ
Trang 10Trong cuộc đi côxmic khôn cùng
Khách đến từ muôn nẻo phố
Sao đèn chong lim dim hạt đậu giữa sân
ga
Đi thôi đầy những khách đầu thai
Ở xê-ni-ma kinh nghiệm địa cầu.”
(Trần Dần, Tôi không phải
người buổi chiều)
Sự cô đơn, bất lực trước số mệnh của kiếp người đã được Trịnh Công Sơn viết lên những câu hát:
“Ta thấy em trong tiền kiếp với cọng buồn cỏ cây
Ta thấy em đang ngồi khóc khi rừng chiều đổ mưa Rừng thu lá úa em vẫn chưa về
Rừng đông cuốn gió em đứng bơ vơ”
(Trịnh Công Sơn, Rừng xưa đã
khép)
TỔNG KẾT
Cuộc truy vấn cái Tôi là một hành trình đầy đau thương của nhân loại, không chỉ với các nhà văn nhà thơ Franz Kafka, nhà văn vĩ
đại của thế kỉ 20, qua tác phẩm Hóa thân đã khẳng định rằng cô
đơn chính là bản chất của con người, dù cho con người đang sống,
bị níu giữ trong tình thương yêu Và câu hỏi về cái Tôi, về bản thể làm cho con người ý thức được hơn về nỗi đau, về sự tồn tại
Mỗi cá nhân, mỗi cái tôi, mỗi phong cách, nhưng điểm giống nhau giữa các nhà văn, nhà thơ chính là sự cô đơn Tuy họ giống nhau ở
Trang 11sự cô đơn nhưng họ vẫn cô đơn Không có nỗi cô đơn nào giống nỗi cô đơn nào Mỗi chúng ta là một cỗ cô đơn, vì mỗi cá thể là độc lập Còn bởi, sự thấu hiểu chẳng bao giờ là có thể đi đến được cuối cùng
Trang 12Tài liệu tham khảo
1 Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh - Hoài Chân, tr.60, NXB Văn
học, 2006
2 Thơ như là mỹ học của cái khác, Đỗ Lai Thúy, tr 82, NXB
HNV, 2012
Trang 13Mục lục
MỞ ĐẦU 1
Phần 1: “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu” - Sự xuất hiện và những đặc điểm của cái Tôi 2
1.1 Vấn đề cái Ta thời trung đại 2
1.2 Giai đoạn giao thời và “cái Tôi” xuất hiện: 2
1.3 Thời đại của những cái Tôi 3
Phần 2: “Càng đi sâu càng lạnh”- Bàn luận về các vấn đề sâu kín của bản thể/ cái Tôi 5
TỔNG KẾT 10
Tài liệu tham khảo 11
Trang 14Danh sách nhóm 1:
1, Võ Thị Ngọc Ánh
2, Lê Hoàng Diễm
3, Ngô Mỹ Duyên
4, Đặng Mỹ Duyên
5, Nguyễn Thị Điệp
6, Trần Thị Hạnh Đoan
7, Phan Thị Hai
8, Nguyễn Thị Trang
9, Nguyễn Thị Phương Yên