HIỆN TƯỢNG TỪ VAY MƯỢN TRONG CÁC NGÔN NGỮ NGA, ANH, VIỆT PGS. TS. Nguyễn Quý Mão Đại học Ngoại ngữ - ĐHQG HN Tóm TắT Bài báo đề cập đến sự phát triển vốn từ vựng của ngôn ngữ. Một trong các khuynh hướng phát triển từ vựng là vay mượn từ ngữ của các ngôn ngữ có nền kinh tế phát triển, có ảnh hưởng chính trị, có công nghệ cao. Các nhà nghiên cứu phân định các hình thức vay mượn khác nhau giữa các ngôn ngữ. Các từ vay mượn được cho là có cấu trúc và vỏ âm thanh khác lạ so với các từ còn lại trong một ngôn ngữ nhất định. Từ góc độ lịch đại và đồng đại, một từ có thể là từ vay mượn sẽ trở thành từ quen thuộc, sử dụng như các từ khác còn lại. Trong tiếng Việt và tiếng Nga, hình thức vay mượn ngữ âm là phổ biến nhất. Bài báo đề cập đến sự phát triển vốn từ vựng của ngôn ngữ. Một trong các khuynh hướng phát triển từ vựng là vay mượn từ ngữ của các ngôn ngữ có nền kinh tế phát triển, có ảnh hưởng chính trị, có công nghệ cao. Các nhà nghiên cứu phân định các hình thức vay mượn khác nhau giữa các ngôn ngữ. Trong tiếng Việt và tiếng Nga, hình thức vay mượn ngữ âm là phổ biến nhất. Trong quá trình phát triển của mình tất cả các ngôn ngữ đều có các yếu tố vay mượn từ các ngôn ngữ khác. Những hiện tượng vay mượn ấy xuất hiện trước hết trong lớp từ vựng. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến sự vay mượn trong ngôn ngữ. Nói chung có thể có những yếu tố sau: yếu tố địa chính trị (các quốc gia gần nhau thường có vay mượn từ ngữ hoặc các cách phát âm, ví dụ các cộng đồng dân cư sống ở các vùng giáp ranh, biên giới quốc gia, yếu tố kinh tế, ảnh hưởng của các quan hệ kinh tế, chính trị giữa các quốc gia (thông thường các quốc gia phát triển hơn, văn minh hơn ―xuất khẩu‖ từ ngữ, khái niệm sang các quốc gia kém phát triển hơn). Trong cả quá trình phát triển của ngôn ngữ đôi khi rất khó xác định lớp từ nào dùng trong thời kỳ nào, có xuất xứ từ đâu, nếu không có ghi chép khoa học, không dựa vào điều kiện chính trị, kinh tế xã hội, ngôn ngữ phát triển, phản ánh những thay đổi trong đời sống chính trị, xã hội, ví dụ: cụm từ ―đấu tranh giai cấp‖ hay gặp trong ngôn bản và văn bản những năm 54-64 nay hầu như không còn dùng nhiều nữa, chỉ còn lại trong sách vở, tài liệu xuất bản hồi ấy. Từ ―bờ vùng, bờ thửa‖ rất thông dụng thời hợp tác xã nông nghiệp thịnh hành (năm 60-70 thế kỷ trước) có thể phải giải thích thì thế hệ thanh niên 9x mới hiểu, từ ―bèo dâu‖ cũng có thể đã khó hiểu ngay cả đối với thế hệ làm nghề nông sau này. Thay vào đó là các từ biểu hiện cách canh tác mới trong nông nghiệp như ―cánh đồng mẫu lớn‖, ―biến đổi gien‖, ―xuất khẩu gạo‖, ―gạo chất lượng cao‖… Từ ―xô viết‖, ―công xô môn‖ sau năm 75 không còn thịnh hành nữa. Thời bao cấp, cho đến tận Đại hội Đảng lần thứ VI, chúng ta không nghe thấy từ ―dự án‖, thay vào đó là từ ―kế hoạch‖. Cùng với sự thay đổi ở tầm vĩ mô của kinh tế, trong ngôn ngữ xuất hiện nhiều từ mới, ví dụ: nhà tài trợ, các nhà đầu tư, chứng khoán, chỉ số tiêu dùng v.v… Xét trong chuỗi dài của thời gian, từ mới sản sinh trong giai đoạn cụ thể, kể cả từ được cho là vay mượn, sẽ trở thành quen thuộc, đôi khi có cảm giác là không phải từ vay mượn của ngôn ngữ bên ngoài, ví dụ vào những năm 60-70 những từ vay mượn của tiếng Pháp để chỉ các bộ phận của xe đạp, một vật dụng không thể thiếu, và đắt tiền trong các gia đình Việt Nam, đã trở thành từ quá quen thuộc, mặc dù ngày nay những từ này có thể khó hiểu đối với học sinh cấp I, ví dụ: ―ghi đông, gác đờ bu, gác đờ xen, pê đan‖. Trong khi đó các từ khác như ―láp tóp, di động, trang web‖ đối với các em lại rất thân quen. Như vậy, cùng với thời gian, kho từ vựng của bất kì ngôn ngữ nào cũng thay đổi. Một số từ mất đi, không dùng nữa, một số từ mới sinh ra, trở nên thông dụng. Cùng với quá trình này là việc du nhập những từ mới, khái niệm mới, chủ yếu từ những ngôn ngữ có nền kinh tế, công nghệ phát triển, có ảnh hưởng lớn về chính trị, kinh tế. Những yếu tố vay mượn trong ngôn ngữ thường tuân thủ theo các quy tắc của các ngôn ngữ mà nó được du nhập vào. Theo Giáo sư Nguyễn Thiện Giáp các từ vay mượn trong tiếng Việt có những đặc điểm sau: • Những từ phiên âm (thường là từ tiếng Anh) được viết liền, ví dụ: cácbon, amin, amoniac, ampe... • Những từ phiên âm nhưng viết rời như: a-xít, a-mi-la-da, a-ni-lin, a-nô-phen, quặng a-patít, a-xê-ti-len... • Những từ có cách kết hợp âm vị bất thường so với các từ khác trong một ngôn ngữ cụ thể, ví dụ: pa-tê, noãn xào, xoong, séc, loong toong... • Những từ Hán Việt không hoạt động tự do như: sơn, thuỷ, gia, quốc, hải... • Tổ hợp các từ Hán Việt không hoạt động tự do như: ba đào, giai nhân, tham quan, sở dĩ, phạm trù, tiền phong... • Những từ không phải tiếp thu của ngoại ngữ nào nhưng lại có những nét làm cho nó khác hẳn các từ khác và được xử lí một cách khác cũng là từ ngoại lai đồng đại. Thí dụ: leeng keeng, loong coong, bù nhìn, mồ hóng, mồ hôi, lê ki ma, chôôc... (Nguyễn Thiện Giáp. Từ bản ngữ và từ ngoại lai. Ngonngu.net) Trong tiếng Nga quá trình xuất hiện các từ ngoại lai đã được nghiên cứu từ lâu. Đó chính là các công trình, các bài báo khoa học của Н.С. Арапова, В.М. Аристова, С.А. Беляева, О.Э. Бондарец, М.А. Брейтер, Э.Ф. Володарская, В.Г. Костомаров, Л.П. Крысин, Т.В. Максимова, Е.В. Маринова, Е.В. Сенько, Ю.С. Сорокин и др. [Арапова 2000, Аристова 1978, Беляева 1984, Бондарец 2008, Брейтер 1997, Володарская 2002, Костомаров 1999, Крысин 1968, 2000, 2007, Максимова 1998, Маринова 2008, 2012,Сенько 2012, Сорокин 1965 и др.] (www.dissercat.com) sau: Các nhà nghiên cứu người Nga phân chia các từ vay mượn từ ngôn ngữ khác ra các loại Vay mượn từ ngữ, vay mượn ngữ âm, vay mượn hình thái và sao chép. Trong báo chí Nga rất hay gặp tác giả bài viết dùng luôn tiếng Anh, đặc biệt khi viết về các chủ đề kinh tế. Hãy xem: Таиландский холдинг (holding) Charoen Pokphand Foods (CP Foods) намерен приобрести две птицефабрики в Ленинградской области – ―Восковицы‖ и ―Северная‖, принадлежащие в настоящий момент голландской компании Agro–invest Brinky B.V. (Newsru.com, 24 июля 2015 г.) Những cách dùng như vậy tuân thủ theo các quy tắc ngữ pháp cơ bản của tiếng Nga. Trong ví dụ trên đó là cách của danh từ, sự phù hợp giữa danh từ chủ ngữ và vị ngữ (biểu hiện bằng tính động từ rút gọn). Đây là hình thức vay mượn từ vựng. Từ được vay mượn tuân thủ theo quy tắc của ngôn ngữ hiện đang dùng. Theo quan sát của chúng tôi, các hình thức vay mượn theo kiểu ngữ âm là thông dụng nhất. Hãy xem các ví dụ trong báo chí Nga: – Стоимость приобретаемых активов оценивается в 680 млн долларов, сказано в пресс–релизе (release) CP Foods. (Newsru.com, 24 июля 2015 г., 17:57) – Компания подчеркивает, что правительство России поддерживает присутствие в стране тайских агропромышленных холдингов (holding) (Newsru.com, 24 июля 2015 г., 17:57) – Как отмечают эксперты, на таком формальном росте доходов сказались прошедшая в прошлом году девальвация рубля, а также проводимая правительством компания по деофшоризации экономики. – Мы видим, что много состоятельных клиентов переводят часть своих капиталов из офшоров (offshore) в Россию, — говорит руководитель налогово–юридического департамента KPMG Михаил Орлов. — Эти деньги декларируются в России, с них уплачиваются налоги. Соответственно, они попадают в статистику. Как отмечают эксперты, на таком формальном росте доходов сказались прошедшая в прошлом году девальвация рубля, а также проводимая правительством компания по деофшоризации экономики. (http://izvestia.ru/news/58914, 26.7.2015) – На YouTube набирает популярность ролик, на котором запечатлена операция по спасению сломанного дрона (drone) с крыши при помощи его собрата. Опубликованное 22 июля видео уже набрало свыше 800 тысяч просмотров и привлекло внимание ряда СМИ. (Newsru.com, 24 июля 2015 г., 17:57) – Apple потеснила Samsung на рынке смартфонов (smartphone). (Newsru.com, 24 июля 2015 г., 17:57) Trong thời đại ngày nay dưới tác động của quá trình liên kết kinh tế thế giới, các mối liên hệ ngôn ngữ xảy ra với tốc độ nhanh chóng. Trong cả quá trình ấy, tiếng Anh nổi lên như một ngôn ngữ chủ đạo. Trong tiếng Việt có rất nhiều từ ngoại lai có nguồn gốc là tiếng Anh được dùng thường xuyên, đặc biệt trong báo chí hoặc các tài liệu chuyên ngành. Hãy xem các ví dụ sau: • Chỉ một phút chậm chân, “view” của bài báo đã khác, danh tiếng của nhà báo cũng vì thế mà bị ảnh hưởng. Baodautu.vn. Tố Vương Nhà báo cám dỗ và lợi ích quốc gia... 19.6.2015 • Nếu không có tâm, nhà báo sẽ vì tham – sân – si, mà vi phạm đạo đức báo chí, thậm chí là vi phạm pháp luật. Baodautu.vn. Tố Vương Nhà báo cám dỗ và lợi ích quốc gia... 19.6.2015 • Petrovietnam đã tiếp nhận 100% cổ phần và nắm quyền điều hành Dự án khí Lô B thuộc Bể Malay – Thổ Chu nằm ngoài khơi vùng biển Tây Nam Việt Nam. Baodautu. vn. 19.6.2015 • Bổ sung dự án chế biến condensat (Condensate còn gọi là khí ngưng tụ hay lỏng đồng hành, là dạng trung gian giữa dầu và khí có màu vàng rơm. Condensate là hỗn hợp hydrocarbon lỏng tỷ trọng thấp có mặt như thành phần thể khí đặc trưng cho phân đoạn C5+.) vào quy hoạch ngành dầu khí. Baodautu.vn. 23.4.2015. Hà Quang. • Petrovietnam hoàn tất giao dịch mua lại tài sản của Chevron ở Việt Nam sẽ tạo điều kiện đẩy nhanh tiến độ Phát triển mỏ và các dự án thành phần, sớm đưa nguồn khí vào phục vụ để phát triển nền kinh tế quốc dân. Baodautu.vn. 18.6.2015. Thanh Hương. • Khôi phục nhà máy sản xuất ethanol. Nhà máy sản xuất ethanol phải dừng sản xuất từ giữa năm 2013 do vấn đề ô nhiễm môi trường. Baodautu.vn.19.6.2015. 6 cổ phiếu cần quan tâm ngày 19/6. Thanh Thúy. • Tỷ trọng tiêu thụ giấy Testiliner (sản phẩm có giá bán và biên lợi nhuận cao hơn giấy medium)/ tổng sản lượng giấy tăng từ mức trung bình khoảng 30% trong năm 2014 lên tới 50% trong 5 tháng đầu năm 2015. Baodautu.vn.19.6.2015. 6 cổ phiếu cần quan tâm ngày 19/6. Thanh Thúy. • Chúng tôi duy trì mức giá mục tiêu đối với cổ phiếu DHC 12 tháng tới là 29.900 đồng (upside 26,69%). Baodautu.vn.19.6.2015. 6 cổ phiếu cần quan tâm ngày 19/6. Thanh Thúy. Rất khó tìm thấy các trường hợp tiếng Anh, đặc biệt trong các phương tiện thông tin đại chúng, có yếu tố ngoại lai từ tiếng Việt, hay từ tiếng Nga. Ngay trong các công trình nghiên cứu của người Nga cũng chủ yếu là các từ ngoại lai trong tiếng Nga có nguồn gốc từ tiếng Anh. Điều này một lần nữa khẳng định ảnh hưởng của kinh tế, công nghệ đến sự thay đổi trong lớp từ vựng của ngôn ngữ nói chung. Như vậy từ ngoại lai trong tiếng Việt, đặc biệt trong thời hiện đại, chủ yếu có nguồn gốc từ tiếng Anh. Hình thức vay mượn theo kiểu ngữ âm là hình thức phổ biến nhất, dễ được thừa nhận, không bị nghi ngờ, tranh cãi. Trong tiếng Nga cũng thấy hiện tượng tương tự. Rất hiếm trường hợp tìm thấy yếu tố ngoại lai trong tiếng Anh có nguồn gốc từ tiếng Nga, hay từ tiếng Việt. Đây cũng là lời kết cho bài báo nhỏ này. Tài Liệu THA m KHảo 1. Nguyễn Thiện Giáp. Từ bản ngữ và từ ngoại lai. Ngonngu.net 2. Научная библиотека диссертаций и авторефератов disserCat. www.dissercat.com 3. CNN.com 4. Newsru.com 5. Izvestia.com
Trang 1MỤC LỤC
MỞ BÀI
Ngôn ngữ chính là một đại diện sáng giá cho tiếng nói của dân tộc Cũnggiống như những ngôn ngữ khác, hiện tượng tiếp nhận vay mượn từ ngữ của mộtngôn ngữ vào tiếng Việt không diễn ra một cách đơn giản mà các từ được vaymượn phải chịu sự biến đổi theo quy luật của Tiếng Việt trên tất cả bốn phươngdiện là chữ viết, ngữ âm, ngữ nghĩa và ngữ pháp Trong thời gian những năm trởlại đây hiện tượng vay mượn ngôn ngữ đã đi sâu và thâm nhập vào trong đời sốngvăn học và lấn sân sang các ngành truyền thông - báo chí.Tiếng Việt trong giaiđoạn hiện nay chứa nhiều từ ngữ giống hoặc tương đương với các từ ngữ trongnhiều thứ tiếng như tiếng Mường, tiếng Thái, tiếng Ba na, tiếng Tày, Tiếng Nùng,tiếng Khmer, Tiếng Hán, tiếng Pháp và tiếng Nga Đặc biệt trong thời gian gầnđây độ phủ sóng của tiếng Anh là lớn hơn cả và chúng ta có thể dễ dàng nhận thấyvăn học mượn nhiều ngôn ngữ của tiếng Hán, Pháp thì truyền thông báo chí lạimượn tiếng Anh khá nhiều trong các lĩnh vực như giải trí, ẩm thực và thể thao Sựphổ biến ấy đã đem đến rất nhiều vấn đề rất đáng bàn trong việc sử dụng từ mượntrong tiếng Việt hiện nay
Trang 2CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN 1.1 Một số vấn đề vay mượn trong ngôn ngữ
1.1.1 Hiện tượng vay mượn từ vựng
Khái niệm vay, mượn vốn là những từ được sử dụng trong đời sống hằngngày được chuyển dùng làm thuật ngữ ngôn ngữ học.Vay là nhận tiền hay vật củangười khác để sử dụng với điều kiện sẽ trả lại bằng cái cùng loại ít nhất có sốlượng hoặc giá trị tương đương, mượn là lấy của người khác để dùng trong mộtthời gian dài rồi sẽ trả lại, với sự đồng ý của người đó
Trước hết là vay mượn do không có hoặc thiếu, với nội dung thiếu thì phảivay mượn, thiếu cái gì thì phải vay mượn cái đó, trong vốn từ của một ngôn ngữnếu thiếu các đơn vị từ vựng thì về lý thuyết (hay nguyên tắc) có thể vay mượn củamột số ngôn ngữ khác đang có
Cũng có thể thấy, hàng loạt các từ tiếng Anh mang tải khái niệm mới đãnhập vào vốn từ của nhiều ngôn ngữ như tiếng Italia, tiếng Đức, tiếng Nhật (thậm
chí chúng còn được xuất hiện nguyên dạng tiếng Anh) Ví dụ: Supper stars, top mode, hobby, T – shirt…
Thứ hai có sẵn rồi nhưng vẫn vay mượn Bên cạnh việc vay mượn do thiếunhư nêu ở trên, còn thấy có một kiểu vay mượn nữa đó là vay mượn các đơn vị từvựng nước ngoài mà bản thân hệ thống từ vựng của ngôn ngữ đã có từ biểu thị Vídụ: hệ thống vốn từ tiếng Việt du nhập cả các từ mà có nghĩa tương đương với từ
Trang 3có sẵn trong tiếng Việt để thành lập các nhóm từ đồng nghĩa như: chết/hy sinh/từtrần, nhớ/tưởng/tưởng niệm, buồn/sầu/sầu não…
Chính hình thức vay mượn kiểu này đã làm nên sự phân hóa về ngữ nghĩacủa cả từ vay mượn cũng như các từ đồng nghĩa với chúng trong bản ngữ
Khi lý giải về kiểu vay mượn này có 2 luồng ý kiến đáng lưu ý:
− Luồng ý kiến đầu tiên cho rằng, hiện tượng “có nhưng vẫn vay”thường chỉ thấy ở các ngôn ngữ phương Đông
− Luồng ý kiến khác cho rằng đây là hiện tượng bình thường diễn ra ởmọi ngôn ngữ
1.1.2 Khái niệm vay mượn từ vựng
* Khái niệm:
Vay mượn là hiện tượng yếu tố của ngôn ngữ này du nhập vào ngôn ngữkhác được sử dụng và được đồng hóa bởi ngôn ngữ đó Nói cách khác vay mượn làhiện tượng thâm nhập của các yếu tố ngôn ngữ khác và cùng với các yếu tố ngônngữ vốn có, trở thành một trong những yếu tố của hệ thống ngôn ngữ nhờ quátrình đồng hóa Vay mượn xảy ra ở các bình diện của ngôn ngữ nhưng rõ nhất vẫn
là bình diện từ vựng
* Thuật ngữ “từ vay mượn”:
Xung quanh việc sử dụng thuật ngữ “vay mượn” còn có các tên gọi khác và
vì thế còn có các ý kiến khác
Ví dụ: trong tiếng Anh có một số thuật ngữ chỉ từ vay mượn như:
− Loan: chỉ đơn vị từ vựng đến từ ngôn ngữ hay phương ngữ khác đượcngôn ngữ đi vay sử dụng trong tiếng Việt tương đương với từ : từmượn, từ ngoại lai
Trang 4− Loan word : chỉ các từ vựng đến từ phương ngữ hay ngôn ngữ khácđược ngôn ngữ đi vay sử dụng thông qua thủ pháp dịch âm, phỏngdịch trong tiếng Việt tương đương với tù ngoại lai.
− Loan translation/calque: chỉ các từ vựng đến từ phương ngữ hay ngônngữ khác được ngôn ngữ đi vay sử dụng thông qua thủ pháp dịch,phỏng dịch trong tiếng việt tương đương với phỏng dịch, dịch, cankengữ nghĩa
− Loan brends: chỉ các từ vựng vay mượn từ ngôn ngữ hay phương ngữkhác bằng phương thức pha tạp giữa một phần ngữ âm mượn và mộtphần ngữ âm của ngôn ngữ đi vay trong tiếng Việt tương đương với từhỗn hợp ngoại lai
Cách dùng thông dụng hiện nay là Loan word, tương ứng trong tiếng Việthiện đang sử dụng ba cách gọi từ vay mượn, từ mượn, từ ngoại lai
Nhưng vay mượn ngôn từ vựng ở trong ngôn ngữ lại khác, vay không cónghĩa là không trả mà bên cho vay không hề làm mất đi đơn vị từ vựng đó Vì thếkhi bàn về tên gọi này Ray đã đề nghị nên thay vay mượn từ vựng bằng sao chép.Tác giả cho rằng chỉ như vậy mới thể hiện được chính xác được nội dung kháiniệm vừa nêu
1.1.3 Các cách vay mượn từ vựng
Vay mượn trên các bình diện ngôn ngữ: Một đơn vi từ vựng gồm có các bìnhdiện ngữ âm (vỏ âm thanh – cái biểu đạt), ngữ nghĩa (nội dung – cái được biểu đạt)hình thái cấu trúc và chữ viết, vì thế các bình diện vay mượn từ vựng được biểuhiện ở hình thức (ngữ âm), nội dung (ngữ nghĩa), cấu trúc (tạo từ mới)
* Bình diện hình thức:
Khi du nhập vào một ngôn ngữ khác, các đơn vị từ vựng ở bình diện hìnhthức (ngữ âm) có thế xảy ra ở các trường hợp sau:
Trang 5− Mượn nguyên xi cách phát âm nước ngoài tức là lặp lại nguyên cáchphát âm từ ngôn ngữ cho vay sang ngôn ngữ đi vay có thế nhận rakiểu mượn này là nhờ vào bình diện chữ viết.
− Phỏng âm cách phát âm của từ mượn trong nguyên ngữ chỉ là cơ sởcho việc tạo ra cách phát âm mới trong ngôn ngữ đi vay, nguyên tắcchung của cách phát âm là làm sao càng sát với âm đọc của chúngtrong ngôn ngữ cho vay càng tốt, cách mượn này cũng nhờ vào bìnhdiện chữ viết
− Thay đổi hoàn toàn vỏ ngữ âm: sự từ bỏ hoàn toàn vỏ ngữ âm nướcngoài vốn có của từ vay mượn có thế tìm thấy ở những đơn vị đượcmượn theo cách dịch tức là chỉ mượn nội dung ngữ nghĩa
* Bình diện hình thái cấu trúc:
Các đơn vị từ vựng nước ngoài khi du nhập vào một ngôn ngữ về hình tháicấu trúc có mấy trường hợp sau:
− Giữ nguyên hình thái, cấu trúc như trong nguyên ngữ
− Thay đổi cho phù hợp với hình thái câu trúc của ngôn ngữ đi vay
* Bình diện ngữ nghĩa:
Các đơn vị từ vựng nước ngoài có thế mang vào trong ngôn ngữ đi vay nộidung ngữ nghĩa ở các mức độ khác nhau tùy theo nhu cầu vay mượn của ngôn ngữđó:
− Mượn toàn bộ nội dung ngữ nghĩa của từ mượn đó
− Mượn một nghĩa hoặc một vài nghĩa của từ đa nghĩa
− Mượn và có những thay đổi nhất định nội dung vốn có
− Mượn và trên cơ sở nghĩa mượn để phát triển nghĩa mới
* Bình diện chữ viết:
Trang 6Các đơn vị từ vựng nước ngoài du nhập vào trong ngôn ngữ đi vay dưới cácdạng chữ viết sau:
− Mượn hoàn toàn cách viết nguyên ngữ
− Thay đổi một phần cho phù hợp với ngôn ngữ đi vay
− Thay đổi hoàn toàn cách viết của từ mượn
Qua việc tách ra để phân tích các bình diện vay mượn của từ có thế nhìnnhận một cách tổng thể sự vay mượn của từ diễn ra theo các cách dưới đây:
* Dịch nghĩa: đây là phương thức dịch từ ngữ cách làm này cho thấy chỉ có
nội dung (ngữ nghĩa) là được vay mượn còn toàn bộ hình thức bao gồm ngữ âm,chữ viết, hình thức cấu trúc là ngôn ngữ đi vay truyền thống gọi cách vay mượnnày là canke ngữ nghĩa hay dịch là loan tranlation
* Phiên âm: là hình thức vay mượn từ vựng bằng cách dựa trên (phỏng theo)
cách đọc của từ ngữ cho vay để ghi lại từ ngữ đó bằng cách đọc, cách viết củangôn ngữ đi vay, tất nhiên là mọi ngôn ngữ đều cố gắng xây dựng cho mình mộtphương thức phiên âm mang tính nguyên tắc
Đối với tiếng Nga : các từ được phiên âm sang tiếng Nga thường gắn với đặcđiểm của tiếng Nga như đặc điểm ngữ âm, đặc điểm hình thái về giống , số, cách,của từ trong tiếng Nga Ví dụ: cafe – cà phê, cravate – ca vát, acide – axit…
Đối với tiếng Việt: nếu như trước đây những năm 60,70 của thế kỷ XX,người ta chỉ nhắc đến khái niệm “phiên âm” thì gần đây lại xuất hiện khái niệm
“phiên chuyển” Ví dụ : milo – milô (nghiêng về chữ), valentine – va len thai(nghiêng về âm đọc)
Đối với tiếng Hán có thể phiên âm và có thể là sự kết hợp phiên âm và dịchnghĩa, kết hợp giữa phiên âm với việc thêm yếu tố chỉ loại
Trang 7* Chuyển tự: phương thức này được thực hiện do giữa các ngôn ngữ không
cùng hệ văn tự Chẳng hạn như sự vay mượn giữa tiếng Anh (thuộc hệ chữ cái Latinh) với tiếng Nga (ngôn ngữ thuộc hệ chữ Kirin)
* Mượn nguyên dạng của nguyên ngữ: cách vay mượn này thể hiện ở hình
thức chữ viết sử dụng nguyên cách viết chính tả đơn vị từ vựng của ngôn ngữ đivay, còn cách đọc thì cố gắng đọc sát với cách đọc của nguyên ngữ
1.2 Từ mượn trong tiếng Việt
1.2.1 Khái quát về vay mượn trong tiếng Việt
Nhìn từ góc độ vay mượn từ vựng, vốn từ vựng của một ngôn ngữ, về líthuyết sẽ được phân làm hai: những từ bản ngữ và những từ vay mượn Thuật ngữ
từ vay mượn, cũng vì thế, thường được dùng trong sự đối lập với từ bản ngữ Vớicách nhìn này, về mặt lí thuyết, có thể hình dung hệ thốn từ vựng tiếng Việt sẽđược lưỡng phân, một bên là từ thuần Việt và một bên là từ vay mượn hay từ ngoạilai Mặc nhiên, khi nói đến “từ thuần Việt” cũng là nhằm đối lập với từ khôngthuần Việt – tức là những từ không phải gốc tiếng Việt Tuy nhiên, đây chỉ là líthuyết Và, cách dùng “thuần Việt” hay, một cách khiêm tốn “Việt” cũng chỉ làmang tính tương đối Quá trình hình thành, chia tách dân tộc, ngôn ngữ cũng nhưquá trình hình thành, tiếp xúc giũa các ngôn ngữ với hàng loạt tác dụng của cácnhân tố như thời gian, không gian, xã hội đã làm cho khó mà có thể tách ra đượcmột cách rạch ròi các từ bản ngữ với không bản ngữ
Có thể từ các gốc độ khác nhau để xem xét các từ mượn trong tiếng Việt
* Xuất phát từ nguồn gốc:
Có thể tách ra được các từ ngữ gốc ngoại trong tiếng Việt theo nguồn gốcngôn ngữ mà chúng vay mượn Hiện về cơ bản có thể tách ra theo bốn nguồnchính:
Trang 8− Những từ vay mượn có nguồn gốc từ tiếng Hán.
− Những từ vay mượn có nguồn gốc từ tiếng Pháp
− Những từ vay mượn có nguồn gốc từ tiếng Anh
− Những từ ngữ vay mượn từ các ngôn ngữ khác (như tiếng Nga,…).Tuy nhiên, từ “nguồn gốc” ở đây cũng chỉ được dùng với nghĩa tương đối,tức là để tạm chỉ các từ ngữ được mượn trực tiếp từ một ngôn ngữ cụ thể, bởi nếutruy nguyên về nguồn gốc lại là cả một vấn đề
* Xuất phát từ góc độ sử dụng:
Nói cách khác là nhìn nhận chúng từ mức độ Việt hóa Từ đó, có thể nóirằng, một từ ngữ là “mượn” hay là “gốc ngoại” khi nào tính Việt hóa của nó chưacao, còn mang “dấu ấn” của yếu tố ngoại Trong khi đó, những từ vốn là mượn sẽkhông là gốc ngoại nữa khi chúng đã được Việt hóa cao, không còn “dấu ấn” hay
“dáng vẻ” của ngoại
* Căn cứ vào thời kì gắn bó với bối cảnh du nhập:
Dựa vào thời kì gắn với bối cảnh du nhập của các từ mượn trong tiếng Việt
có thể phân chia các từ mượn có cùng một nguồn gốc (tiếng Hán, tiếng Anh, tiếngPháp) thành các lớp Cách phân loại này giúp cho việc nhận diện đặc trưng trong
xã hội ngôn ngữ học về các từ mượn
* Xuất phát từ bình diện cấu trúc hệ thống:
Có thể phân loại các từ vay mượn thành các tiểu loại dựa vào bình diện cấutrúc hệ thống của nó, gồm:
− Yếu tố cấu tạo từ
− Từ gồm từ đơn tiết với từ đa tiết
− Cụm từ cố định trong đó gồm các thành ngữ, quán ngữ
* Xuất phát từ góc độ kiểu vay mượn:
Trang 9Có thể phân chia từ mượn thành:
− Các từ mượn được dịch ra tiếng Việt
− Các từ mượn theo phiên âm hay phiên chuyển
− Các từ mượn theo cách viết như nguyên ngữ
* Xuất phát từ góc độ “bảo lưu” hay “thay đổi”:
Có thể chia tách lớp từ mượn trong tiếng Việt thành hai loại:
− Loại từ mượn giữ nguyên như trong ngôn ngữ mượn, tức là bảo lưunhư trong nguyên ngữ
− Loại từ mượn thay đổi ít hay nhiều so với chúng trong nguyên ngữ
1.2.2 Hiện tượng từ mượn trong văn học/báo chí
Trải qua các giai đoạn lịch sử, tiếng Việt đã có tiếp xúc với các ngôn ngữkhác như tiếng Hán, tiếng Pháp, Việc tiếp xúc, giao thoa giữa các ngôn ngữ dẫnđên việc mượn từ của nhau cũng là điều rất bình thường Các từ mượn được đãđược đưa vào sử dụng rất nhiều trong các tác phẩm văn học thời xưa Cho đến nay,các tác phẩm văn học vẫn có dung lượng từ mượn rất lớn, đặc biệt là trong ngànhbáo chí, việc sử dụng từ mượn tràn lan Với xu hướng toàn cầu hoá, hội nhập quốc
tế như hiện nay, thì việc những từ vay mượn lại càng có điều kiện để xuất hiệnrộng khắp với mức độ chóng mặt Nói đến nhu cầu sử dụng từ mượn thường có hainhu cầu chính Thứ nhất là nhu cầu định danh chính xác sau là nhu cầu gợi cảm.Phải công nhận là từ mượn làm cho vốn từ ngữ trở nên rất phong phú, có thể tự dochọn lựa từ ngữ khi cần sử dụng Nhu cầu định danh và nhu cầu gợi cảm cũngđược đáp ứng khi sử dụng từ mượn Về nhu cầu gợi cảm, cũng cần thấy rằngkhông phải chỉ từ mượn có khả năng đáp ứng, mà trái lại, ưu thế ở mặt này nóichung thuộc về từ bản ngữ Nhưng thế nào là sự gợi cảm của từ? Có thể tạm nóirằng từ mà có sức gợi cảm là khi mà ngoài chức năng định danh, nó còn có thể tạonên những mối liên hệ đặc biệt giữa ý thức với thực tế, trong một hoàn cảnh nhất
Trang 10định Như vậy, nhu cầu gợi cảm một từ cũng có thể xem là nhu cầu về phong cáchngôn ngữ, và cũng có thể nhận thấy rằng trong những hoàn cảnh nhất định, từmượn cũng có tác dụng riêng Tuy nhiên, càng dần con người ta càng lợi dụng từmượn, dung lượng từ mượn trong một tác phẩm văn học hay đặc biệt trong một bàibáo, một chương trình truyền hình là quá nhiều Sự lạm dụng ấy phải chăng đangdần làm mất đi sự trong sáng của tiếng Việt, làm nội dung các bài viết lu mờ đi sựthuần Việt? Việc phân tích rõ hơn hiện tượng mượn từ ở chương sau sẽ trả lời chocâu hỏi này.
CHƯƠNG 2: HIỆN TƯỢNG VAY MƯỢN TRONG VĂN HỌC/BÁO CHÍ 2.1 Đặc điểm của hiện tượng vay mượn từ vựng
2.1.1 Vay mượn từ vựng là hiện tượng phổ biến của mọi ngôn ngữ
Vay mượn từ vựng là hiện tượng phổ biến của mọi ngôn ngữ Với khoảngtrên 6 800 ngôn ngữ trên thế giới hiện nay, dường như không có ngôn ngữ nào mà
Trang 11trong hệ thống từ vựng của mình mà không có hiện tượng vay mượn Nói cáchkhác, sự xuất hiện từ nước ngoài trong một ngôn ngữ có thể xem là một hiện tượngtất nhiên, khó tránh khỏi, dù muốn hay không.
Mức độ về số lượng các đơn vị từ vựng vay mượn giữa các ngôn ngữ có thểkhác nhau Ngay trong hệ thống từ vựng của một ngôn ngữ, mức độ vay mượn củatừng thời kì là khác nhau Vay mượn có thể từ nhiều nguồn khác nhau với các mức
độ khác nhau
2.1.2 Vay mượn từ vựng là một trong những phương thức quan trọng
để bổ sung cho vốn từ vựng của một ngôn ngữ
Một trong những nguồn bổ sung từ vựng không kém phần quan trọng cùngvới việc tạo từ mới của một ngôn ngữ là vay mượn từ vựng từ ngôn ngữ khác Các
từ mượn mang vào hệ thống từ vựng của một ngôn ngữ các đơn vị từ vựng baogồm đủ loại như các đơn vị dưới từ: từ và các cụm từ; các mô hình cấu tạo từ; cácnghĩa hoặc nét nghĩa mới Sự có mặt của các đơn vị từ vựng nước ngoài đối với hệthống từ vựng của một ngôn ngữ không những làm tăng về mặt số lượng mà còntác động đến “chất lượng”
2.1.3 Vay mượn từ vựng là một hiện tượng ngôn ngữ xã hội học
Là một hiện tượng của ngôn ngữ học xã hội, hiện tuongj vay mượn từ vựngluôn chịu tác động của các nhân tố ngôn ngữ - xã hội
Trước hết, một hiện tượng mới xuất hiện ở một nơi nào đó trên thế giới(được ngôn ngữ của vùng đó ghi lại) thì sớm hay muộn sẽ đi vào các ngôn ngữ trênthế giới dưới nhiều hình thức khác nhau (dịch, phiên âm, mượn nguyên dạng…)
Thứ hai, dưới tác động dưới các nhân tố ngôn ngữ - xã hội, các đơn vị từvựng nước ngoài có thể nhập vào một ngôn ngữ bằng nhiều con đường khác nhau,
Trang 12ở các thời kì khác nhau, được xử lí khác nhau và do đó tồn tại dưới các dạng khácnhau.
Thứ ba, nhiều khi, quá trình vay mượn lại diễn ra theo con đường mượn củamượn
Thứ tư, vay mượn từ vựng là hiện tượng ngôn ngữ học xã hội còn thể hiện ởcon đường du nhập thông qua cá nhân song ngữ hoặc từng xã hội đa ngữ với cánhân đa ngữ
Thứ năm, đặc điểm ngôn ngữ học xã hội của các từ ngữ vay mượn còn đượcthể hiện ở khả năng đồng hóa của chúng khi tham gia vào hoạt động với tư cách làcác đơn vị từ vựng của từng phương ngữ
2.1.4 Vay mượn từ vựng là một hiện tượng ngôn ngữ - văn hóa
Vay mượn từ vựng là hệ quả của tiếp xúc ngôn ngữ - văn hóa Thực tế chothấy, trong quá trình phát triển của mình, các ngôn ngữ lại không chịu ảnh hưởng
và chịu tác động của văn hóa ngoại lai
2.2 Hiện tượng vay mượn trong văn học
Hiện tượng vay mượn ngôn ngữ trong văn học chính là sản phẩm của sự tiếpxúc ngôn ngữ, điển hình cho sự vay mượn này là các tác phẩm văn học trung đạiViệt Nam mang hơi hướng của các yếu tố ngôn ngữ Hán Việt
Sau thời Bắc thuộc, sang giai đoạn tự chủ xây dựng chế độ vương quyền củamình, các triều đại phong kiến Việt Nam dùng tiếng Hán Việt, chữ Hán như ngônngữ và văn tự văn hoá đương nhiên của Việt Nam Dấu chỉ của thực tế đó là nhữngvăn kiện chính thức hoặc huyền thoại, cắm mốc cho các sự kiện lịch sử, đều bằng
tiếng Hán Việt và ghi lại bằng chữ Hán: Chiếu dời đô của Lí Thái Tổ, bài thơ thần Nam quốc sơn hà vang vọng trên bờ sông Như Nguyệt, Hịch tướng sĩ của Trần Hưng Đạo, Bình Ngô đại cáo và Quân trung từ mệnh tập dưới ngòi bút của
Trang 13Nguyễn Trãi thời Lê Trong lĩnh vực phục hưng nền văn hoá dân tộc tiếng Hán Việt
và chữ Hán là công cụ để ông cha ta thời Lí - Trần xây dựng cả một gia tài văn họcchữ Hán đồ sộ Nền giáo dục cổ điển Việt Nam bắt đầu từ triều Lí (1076) cũngđược xây dựng theo mô hình Nho học, ngôn ngữ dùng trong giáo dục cũng là tiếngHán Việt và chữ Hán Các học quan, thầy dạy đều xuất thân từ Hán học Nền giáodục này góp phần chủ yếu đào tạo nên các thế hệ trí thức hoạt động trên mọi lĩnhvực của đời sống một quốc gia độc lập thời phong kiến Việt Nam tồn tại mãi đếntriều Nguyễn
Một trong những biểu hiện thành công của quá trình tiếp biến văn hoá vàtiếp xúc ngôn ngữ Việt - Hán là sự xây dựng chữ Nôm Việt Nam (khoảng thế kỉXIII) Từ thành công đó một nền văn học Hán Nôm ra đời tiếp tục giai đoạn vănhọc cổ điển sáng tác chỉ bằng tiếng Hán Việt và chữ Hán Các nhà văn hoá ViệtNam xuất thân từ Hán học là tác gia lớn, vừa có tác phẩm bằng tiếng Hán Việt, chữHán, vừa sáng tạo những kiệt tác bằng tiếng Việt và chữ Nôm như Nguyễn Trãi,Nguyễn Hữu Hào, Nguyễn Du, Nguyễn Đình Chiểu Họ cùng với đông đảo tácgiả khuyết danh của các truyện thơ Nôm làm phong phú cho kho tàng văn chươngchữ Nôm, góp phần chung vào dòng văn học Hán Nôm xuất hiện từ thế kỉ XV trở
đi Hiện tượng văn hoá ấy là một bước phát triển mới của thái độ ứng xử ngôn ngữđúng đắn ở người Việt Nam
Văn học không còn đơn thuần chỉ mượn tiếng Hán nữa mà đã mượn thêmnhiều ngôn ngữ phương Tây, đặc biệt là tiếng Anh Với sự toàn cầu hóa và việctiếng Anh là ngôn ngữ chung của thế giới thì nhu cầu sử dụng tiếng Anh trong toàndân tăng cao Và đối với tác giả văn học cũng vậy họ cũng dùng tiếng Anh trởthành một phương tiện để thể hiện quan niệm nghệ thuật mới hay là cá tính sángtạo của bản thân Tiếng Anh xuất hiện hầu hết trong các tác phẩm văn học và đôikhi nó cũng trở thành yếu tố chính để tạo nên đặc sắc nghệ thuật cho tác phẩm