Ngôn ngữ học xã hội Bách khoa toàn thư mở Wikipedia Bạn có tin nhắn mới Tin nhắn! (thay đổi gần đây). Bước tới điều hướngBước tới tìm kiếm Ngôn ngữ học xã hội Khái niệm chính Chuyển đổi mã Hiện tượng song ngữ Biến đổi ngôn ngữ Ý thức hệ ngôn ngữ Kế hoạch hóa ngôn ngữ Đa ngôn ngữ Lĩnh vực nghiên cứu Ngữ điệu (Giọng) Tiếng địa phương Phân tích văn bản Biến thể ngôn ngữ Miêu tả ngôn ngữ Ngữ dụng học Con người Ngôn ngữ học xã hội Lĩnh vực liên quan Ngôn ngữ học ứng dụng Ngôn ngữ học lịch sử Nhân học ngôn ngữ Ngôn ngữ học văn hóa xã hội Xã hội học của ngôn ngữ Sửa bảng này Ngôn ngữ học xã hội (Sociolinguistics) là ngành học nghiên cứu ảnh hưởng của bất kỳ và tất cả các lĩnh vực xã hội, bao gồm các khái niệm văn hóa, kỳ vọng và ngữ cảnh, qua cách sử dụng ngôn ngữ; và những ảnh hưởng của việc sử dụng ngôn ngữ đến xã hội. Ngôn ngữ học xã hội khác với xã hội học ngôn ngữ (sociology of language) ở điểm nó tập trung vào ảnh hưởng của xã hội đến ngôn ngữ, trong khi xã hội học ngôn ngữ lại tập trung vào ảnh hưởng của ngôn ngữ đến xã hội. Ở một số phương diện, ngôn ngữ học xã hội trùng lắp với ngữ dụng học. Trong lịch sử, ngôn ngữ học xã hội có quan hệ nhập nhằng với nhân học ngôn ngữ (linguistic anthropology), gần đây giới nghiên cứu cũng đặt vấn đề đâu là điểm khác biệt đặc trưng giữa hai ngành học. Ngôn ngữ học xã hội cũng nghiên cứu sự khác biệt ngôn ngữ giữa các nhóm, được phân chia bởi những khác biệt xã hội, nhóm tộc người, tôn giáo, thân thế, giới tính, trình độ học vấn, tuổi tác, v.v.., và cách thức hình thành và duy trì các quy luật này trong việc phân loại các cá thể trong xã hội hoặc tầng lớp kinh tế xã hội. Do ngôn ngữ mỗi nơi mỗi khác, hẳn nó cũng khác biệt giữa các tầng lớp xã hội, và những ngôn ngữ nhóm xã hội (sociolects) này chính là đối tượng nghiên cứu của Ngôn ngữ học xã hội. Các nhà Ngôn ngữ học xã hội thường nghiên cứu ngữ pháp, ngữ âm, từ vựng, và các phương diện khác của ngôn ngữ nhóm xã hội (sociolects) giống như các nhà ngôn ngữ địa phương nghiên cứu sự tương đồng của tiếng địa phương giữa các vùng miền. Nhưng khác với chuyên môn nghiên cứu Ngôn ngữ địa phương, Ngôn ngữ học xã hội đi tiên phong trong việc nghiên cứu sự đa dạng, các biến thể của ngôn ngữ ở khu vực thành thị, và tập trung vào sự khác biệt giữa các tầng lớp xã hội. Ví dụ: Kết quả nghiên cứu thái độ xã hội cho thấy một từ quá thông dụng được cho là không phù hợp với ngữ cảnh của một cuộc đàm phán kinh doanh hoặc nghiên cứu khoa học. Mục lục 1 Lịch sử ngành 2 Ứng dụng của Ngôn ngữ học xã hội 3 Các khái niệm cơ bản 3.1 Cộng đồng ngôn ngữ (Speech community) 3.2 Mạng lưới xã hội (Social network) 4 Tính giai tầng của ngôn ngữ 4.1 Kỳ vọng giai tầng xã hội 4.2 Các mã ngôn ngữ xã hội 4.2.1 Mã hạn chế 4.2.2 Mã tường tận 5 Tham khảo 6 Đọc thêm Lịch sử ngành Những nghiên cứu đầu tiên về đề tài yếu tố xã hội thúc đẩy sự biến đổi của ngôn ngữ manh nha từ cuối thế kỷ 19. Những năm đầu thập niên 1900, Louis Gauhat (người Thụy Sĩ) có nhắc đến khái niệm xã hội của ngôn ngữ. Khoảng những năm 1930, khái niệm này được các nhà ngôn ngữ Ấn Độ và Nhật Bản nhắc đến. Nhưng không được giới khoa học xã hội phương Tây chú ý. Năm 1939, Thomas Callan Hodson, người Anh, lần đầu sử dụng thuật ngữ ngôn ngữ học xã hội (sociolinguistics) trong bài viết "Ngôn ngữ học xã hội Ấn Độ" ("Sociolingistics in India"), trong tập sách Man in India. Phương Tây chỉ bàn luận về ngôn ngữ học xã hội từ thập niên 1960, với nhà ngôn ngữ học tiên phong William Labov (Mỹ) và Basil Benstein (Anh). Trong thời gian này, William Stewart và Heinz Kloss đã thảo luận những khái niệm cơ bản về lý thuyết ngôn ngữ đa trung tâm (Pluricentric language), miêu tả các ngôn ngữ cơ bản khác biệt thế nào giữa các quốc gia (ví dụ: tiếng Anh Mỹ/Anh/Canada/Úc). William Labov được xem như cha đẻ của Ngôn ngữ học xã hội. Ông đóng góp nhiều nghiên cứu về sự khác biệt và biến đổi của ngôn ngữ[1], đưa xã hội học về ngôn ngữ lên vị trí của một ngành học chuyên sâu. Ứng dụng của Ngôn ngữ học xã hội Nghiên cứu về biến thể ngôn ngữ tập trung vào các yếu tố xã hội hạn chế ý nghĩa của ngôn từ trong ngữ cảnh của nó. Chuyển đổi mã (code-switching) là thuật ngữ chỉ việc sử dụng các loại ngôn ngữ khác nhau trong những tình huống xã hội khác nhau. Các khái niệm cơ bản Cộng đồng ngôn ngữ (Speech community) Khái niệm này miêu tả một nhóm người sử dụng một ngôn ngữ theo một cách riêng và các thành viên thống nhất cách sử dụng đó. Để được công nhận như một thành viên của cộng đồng ngôn ngữ, cá thể phải có khả năng/kỹ năng giao tiếp, tức là dùng ngôn ngữ một cách chính xác với tình huống xảy ra. Một cá thể có thể giao tiếp nhiều hơn một ngôn ngữ[2]. Cộng đồng ngôn ngữ có thể là các thành viên của một ngành nghề chuyên nghiệp, hoặc một nhóm xã hội xác định như học sinh trung học hoặc những người mê hip-hop, hoặc thậm chí là nhóm các thành viên có quan hệ mật thiết như gia đình và bạn bè. Thành viên của cộng đồng ngôn ngữ thường phát triển các từ lóng và từ chuyên dùng để đáp ứng những nhu cầu đặc biệt và quyền ưu tiên của nhóm. Các nhà Ngôn ngữ học xã hội tìm hiểu về mối quan hệ giữa xã hội hóa, kỹ năng giao tiếp và nhân thân của cá nhân thông qua cộng đồng thực hành (Community of Practice). Vì nhân thân (identity) là một khái niệm phức tạp, nghiên cứu xã hội hóa ngôn ngữ là một cách để phân tích các hoạt động thường nhật từ góc nhìn vi-tương tác. Việc học tập tiếp thu ngôn ngữ của một cá thể chịu ảnh hưởng lớn từ gia đình nhưng yếu tố xã hội xung quanh cá thể đó đóng vai trò khá quan trong, như trường học, đội thể thao, giáo hội. Cộng đồng ngôn ngữ có thể tồn tại ngay trong một cộng đồng thực hành lớn hơn nó.[3] Mạng lưới xã hội (Social network) Mạng lưới xã hội là một cộng đồng ngôn ngữ xác định, nhấn mạnh vào mối quan hệ giữa các cá thể thành viên trong cộng đồng với nhau. Ở tầm vĩ mô, Mạng lưới xã hội là một đất nước hoặc một thành phố; ở tầm cá nhân, đó là những người hàng xóm hoặc gia đình. Gần đây, Mạng lưới xã hội được còn hình thành qua mạng, qua các phòng chat, tổ chức, các trang web hẹn hò trực tuyến. Một cộng đồng phức hợp (multiplex) là một cộng đồng có nhiều thành viên có các mối quan hệ chồng chéo với nhau.. Ví dụ, những người hàng xóm sống cùng một con hẻm, làm chung một công ty, thậm chí là cùng kết hôn với anh/chị em của một gia đình. Để hiểu ngôn ngữ trong một xã hội, cá thể cũng phải hiểu các Mạng lưới xã hội đằng sau ngôn ngữ đó. Các Mạng lưới xã hội mật thiết hoặc rời rạc này có ảnh hưởng đến cấu trúc ngôn ngữ (cách phát âm, cách dùng từ) của cá thể[4]. Mối quan hệ trong Mạng lưới xã hội có thể hời hợt hoặc mật thiết, tùy thuộc vào độ tương tác giữa các thành viên[5]. Ví dụ, cộng đồng cùng làm việc trong văn phòng làm việc hoặc nhà máy có mối quan hệ mật thiết vì tất cả các thành viên tương tác với nhau. Một khóa học với hơn 100 học viên là một cộng đồng rời rạc, nhiều sinh viên chỉ tương tác với thầy giáo hoặc 1-2 sinh viên khác. Tính giai tầng của ngôn ngữ Giai tầng và nghề nghiệp là những điểm nhấn về ngôn ngữ trong xã hội. Một trong những kết quả nghiên cứu của Ngôn ngữ học xã hội chứng minh, tầng lớp xã hội và sự khác biệt ngôn ngữ có liên quan với nhau. Thành viên của giai cấp lao động thường ít tuân thủ theo ngôn ngữ chuẩn (standard language); trong khi các tầng lớp hạ, trung và trung thượng lưu tuân thủ theo ngôn ngữ chuẩn nhiều hơn. Tuy nhiên, tầng lớp thượng lưu, thậm chí trung thượng lưu, thường ít tuân thủ ngôn ngữ chuẩn hơn tầng lớp trung lưu. Tầng lớp xã hội và kỳ vọng của tầng lớp xã hội, đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành thói quen sử dụng ngôn ngữ. Kỳ vọng giai tầng xã hội Các nghiên cứu của William Labov (1960s), chỉ ra kỳ vọng xã hội ảnh hưởng đến cấu trúc ngôn ngữ. Kỳ vọng giai cấp xã hội cũng vậy. Trong quá trình định hướng kinh tế - xã hội đến giai cấp nhất định (thường là giai cấp thượng lưu hoặc trung thượng lưu), cá thể sẽ điều chỉnh cấu trúc ngôn ngữ của mình giống với mục tiêu đã định hướng. Tuy nhiên,vì không phải sinh ra trong môi trường đó, nên cá thể thường cố ý điều chỉnh, dẫn đến tình trạng quá đà và nảy sinh một số lỗi mới. Cá thể định hướng đến giai cấp thấp hơn cũng gặp tình trạng tương tự[6]. Trong các tình huống giao tiếp, luôn tồn tại một mối quan hệ chính - phụ (thầy giáo-học sinh, nhân viên- khách hàng), dẫn đến tình trạng khác biệt giai tầng ngôn ngữ[7]. Các mã ngôn ngữ xã hội Basil Bernstein, nhà ngôn ngữ học xã hội người Anh, tác giả của quyển Elaborated and restricted codes: their social origins and some consequences ("Mã tường tận và mã hạn chế: nguồn gốc xã hội và vai trò của chúng"), tái hiện một hệ thống mã xã hội ông dùng trong việc phân loại các cấu trúc ngôn ngữ cho các giai tầng xã hội khác nhau. Ông phân tích thành viên của tầng lớp trung lưu luôn có những cách cấu tạo ngôn ngữ rất khác biệt so với tầng lớp lao động. Mã hạn chế Theo học thuyết của Basil Bernstein, mã hạn chế là cấu trúc ngôn ngữ tầng lớp lao động sử dụng. Loại mã này giúp tăng cường sự liên kết giữa các thành viên trong nhóm, có xu hướng cư xử dựa trên các phân biệt cơ bản như "nam", "nữ", "người già", "người trẻ". Nhóm xã hội này dùng ngôn ngữ như một cách để đoàn kết các cá thể, và các thành viên không cần phải làm rõ nghĩa; vì họ cùng chia sẻ những trải nghiệm và hiểu biết chung (mà các nhóm xã hội khác không có) liên kết họ với nhau. Điểm khác biệt dễ nhận ra ở mã hạn chế là nhấn mạnh vào tinh thần đoàn kết, vào "chúng ta" hơn là cái tôi cá nhân. Mã tường tận Theo học thuyết của Basil Bernstein, mã hạn chế là cấu trúc ngôn ngữ tầng lớp trung-thượng lưu sử dụng để đạt được những lợi thế trong giáo dục và sự nghiệp. Sự liên kết giữa các thành viên trong nhóm khó định nghĩa, mỗi cá nhân đạt được vị trí/ thân phận xã hội nhờ vào tư chất và tính cách của mình. Không có sự phân chia nhiệm vụ rõ ràng theo lứa tuổi, giới tính; trong kết cấu xã hội này, các thành viên đàm phán và thực hiện vai trò của mình, hơn là chấp nhận vai trò định sẵn. Nhóm dùng mã ngôn ngữ xã hội tường tận cần kết hợp với ý kiến cá nhân để làm rõ nghĩa, vì cái tôi cá nhân được nhấn mạnh hơn tầng lớp lao động. Bảng biểu sau thể hiện sự khác biệt ngôn ngữ trên cơ sở thân phận xã hội Ngôn ngữ (của giai tầng xã hội thấp) Ngôn ngữ chuẩn (của giai tầng trung - thượng lưu) It looks like it ain''t gonna rain today. It looks as if it isn''t going to rain today. You give it to me yesterday. You gave it to me yesterday. Tham khảo [8] ^ Paolillo, John C. Analyzing Linguistic Variation: Statistical Models and Methods CSLI Press 2001, Tagliamonte, Sali Analysing Sociolinguistic Variation ^ Deckert, Sharon K. and Caroline H. Vikers. (2011). An Introduction to Sociolinguistics: Society and Identity. Page 59 ^ Deckert, Sharon K. and Caroline H. Vikers. (2011). An Introduction to Sociolinguistics: Society and Identity. Page 74-76 ^ Dubois, Sylvie and Horvath, Barbara. (1998). "Let''s tink about dat: Interdental Fricatives in Cajun English." Language Variation and Change 10 (3), pp 245–61. ^ Wardhaugh, Ronald (2006), An Introduction to Sociolinguistics, New York: Wiley-Blackwell ^ cần chú thích ^ Deckert, Sharon K. and Caroline H. Vikers. (2011). An Introduction to Sociolinguistics: Society and Identity. Page 44 ^ “Wiki Sociolinguistics”. Đọc thêm Chambers, J. K. (2009). Sociolinguistic Theory: Linguistic Variation and Its Social Significance. Malden: Wiley Blackwell. ISBN 978-1-4051-5246-4. Darnell, Regna (1971). Linguistic Diversity in Canadian Society. Edmonton: Linguistic Research. OCLC 540626. Kordić, Snježana (2009). "Plurizentrische Sprachen, Ausbausprachen, Abstandsprachen und die Serbokroatistik" [Pluricentric languages, Ausbau languages, Abstand languages and the Serbo-Croatistics]. Zeitschrift für Balkanologie (in German) 45 (2): 210–215. ISSN 0044-2356. Archived from the original on ngày 4 tháng 8 năm 2012. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2012. Labov, William (2010). Principles of Linguistic Change (3 volume set ed.). Malden: Wiley Blackwell. ISBN 978-1-4443-2788-5. Lakoff, Robin Tolmach (2000). The Language War. University of California Press. ISBN 978-0-520-92807-7. Meyerhoff, Miriam (2011). Introducing Sociolinguistics. Taylor & Francis. ISBN 978-1-135-28443-5. Milroy, Lesley; Gordon, Matthew (2008). Sociolinguistics: Method and Interpretation. John Wiley & Sons. ISBN 978-0-470-75820-5. Paulston, Christina Bratt; Tucker, G. Richard (2010). The Early Days of Sociolinguistics: Memories and Reflections. Dallas: SIL International. ISBN 978-1-55671-253-1. Tagliamonte, Sali (2006). Analysing Sociolinguistic Variation. Cambridge University Press. ISBN 978-0-521-77818-3. Trudgill, Peter (2000). Sociolinguistics: An Introduction to Language and Society. Penguin. ISBN 978-0-14-192630-8. Watts, Richard J. (2003). Politeness. Cambridge University Press. ISBN 978-0-521-79406-0. Zuckermann, Ghil''ad (2003). Language Contact and Lexical Enrichment in Israeli Hebrew. UK: Palgrave Macmillan. ISBN 9781403917232. / ISBN 9781403938695 (Language Contact and Lexical Enrichment)
Trang 1MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: PHƯƠNG NGỮ GIAI TẦNG 2
1.1 Khái niệm 2
1.1.1 Phương ngữ 2
1.1.2 Phương ngữ giai tầng 2
1.2 Đặc trưng của phương ngữ giai tầng 3
CHƯƠNG 2: QUAN ĐIỂM VỀ TÍNH GIAI CẤP CỦA NGÔN NGỮ 6
2.1 Quan điểm về tính giai cấp của ngôn ngữ 6
2.2 Quan điểm cá nhân về tính giai cấp của ngôn ngữ 7
2.3 Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và giai cấp, giai tầng 8
KẾT LUẬN 11
Tài liệu tham khảo 12
Trang 2MỞ ĐẦU
Ngôn ngữ là một hiện tượng xã hội còn vì nó phục vụ xã hội với tư cách là phương tiện giao tiếp, nó góp phần thể hiện ý thức xã hội
Mỗi tập thể khác nhau có một phong tục, tập quán, một cách thức khác nhau Thoát khỏi tập thể ấy, những từ ngữ ấy sẽ không được sử dụng và thậm chí không còn tồn tại nữa Ngôn ngữ của một nhóm người hay một tập thể đó trong xã hội được gọi
là phương ngữ xã hội
Phương ngữ xã hội bao gồm phương ngữ theo lãnh thổ, phương ngữ giai tầng, phương ngữ giới tính, phương ngữ tôn giáo
Trong đề tài nghiên cứu này, nhóm chúng tôi sẽ tập trung xoay quanh phương ngữ giai tầng và các vấn đề liên quan tới mối quan hệ giữa ngôn ngữ và tính giai cấp
Trang 3Chương 1: Phương ngữ giai tầng
1.1 Khái niệm
1.1.1 Phương ngữ
Phương ngữ hay phương ngôn, tiếng địa phương là các cách gọi khác nhau trong tiếng việt của cùng một thuật ngữ dialectus trong tiếng Latinh, dialect trong tiếng anh, dialecte trong tiếng Pháp, dialekt trong tiếng Đức Nó có nguồn gốc từ tiếng Hi Lạp dialektos với nghĩa “ngôn ngữ” được nói trong quan hệ giao tiếp” Thế kỉ thứ XII trước công nguyên, khi bán đảo Hi Lạp ở vào thời kì chưa thống nhất( Hi Lạp
cổ đại), khái niệm dialektos dùng để chỉ các biến thể ngôn ngữ sách vở có cùng nguồn gốc được dùng phổ biến tại các địa phương khác nhau: jonic dùng trong truyện kí lịch
sử, dovic dùng để sáng tác các bài thơ đẹp hoặc ca trù, attic chuyên dùng để viết bi kịch Đến thế kỉ thứ IV sau công nguyên, khi Hi Lạp trở thành một liên minh dưới chế
độ quân chủ với sự xuất hiện của một ngôn ngữ chung( lingua franca) là koine thì các ngôn ngữ trên được gọi là dialektos Như vậy, có thể thấy khái niệm dialektos ở các thời kì lịch sử xã hội khác nhau của Hi Lạp chỉ hai hiện tượng ngôn ngữ vừa giống nhau vừa khác nhau:
- Jonic, dovic, attic ở thời kì Hi Lạp cổ đại được gọi là phương ngữ do sự phân công giữa chúng trong các thể loại văn học khác nhau
- Jonic, dovic, attic ở thời kì Hi Lạp thống nhất được gọi là phương ngữ do sự xuất hiện một ngôn ngữ chung là koine
1.1.2 Phương ngữ giai tầng
Trong xã hội có giai cấp, các thành viên thuộc các giai cấp khác nhau có sự khác biệt và chênh lệch lớn trong đời sống thường cố ý tạo ra các khoảng cách, kể cả trong việc sử dụng ngôn ngữ, gọi là phương ngữ giai cấp Trong xã hội không có sự phân biệt giai cấp, các thành viên trong xã hội bình đẳng với nhau thì vấn đề phương ngữ giai cấp không được đặt ra và sự khác biệt ngôn ngữ ở đây là phong cách sử dụng hay là sự khác biệt về phân tầng xã hội trong việc sử dụng ngôn ngữ (phương ngữ giai
Trang 4tầng) Tuy nhiên việc tách phương ngữ giai cấp hay phương ngữ giai tầng cũng chỉ mang ý nghĩa tương đối và chỉ phù hợp ở một khía cạnh nào đó mà thôi
1.1.2 Đặc điểm của phương ngữ giai tầng
Trong một xã hội có giai cấp mà có sự phân biệt đẳng cấp nghiêm ngặt thì sẽ tạo nên một sự chênh lệch rất lớn giữa các giai cấp khác nhau ở các lĩnh vực của đời sống Đây chính là điều kiện làm cho ngôn ngữ mang nét đặc thù giai cấp “Nếu như những hàng rào về địa lí và khoảng cách không gian đã tạo ra phương ngữ địa lí thì những hàng rào của sự phân chia tầng lớp trong xã hội đã tạo thành những khác biệt
có tính giai cấp về ngôn ngữ” [5,tr.130] Trong xã hội có giai cấp, các thành viên thuộc giai cấp khác nhau có sự khác biệt và chênh lệch lớn trong đời sống thường cố ý tạo ra các khoảng cách kể cả trong sử dụng ngôn ngữ Còn trong xã hội không có sự phân biệt giai cấp, các thành viên trong xã hội bình đẳng với nhau thì vấn đề phương ngữ giai cấp không được đặt ra và sự khác biệt ngôn ngữ ở đây chính là phong cách sử dụng hay là sự khác biệt về phần tầng xã hội trong sử dụng ngôn ngữ (phương ngữ giai tầng) Giữa các tầng lớp xã hội đang tồn tại sự khác biệt trong sử dụng ngôn ngữ Luôn có sự phân bố trong việc lựa chọn, sử dụng các biến thể ngôn ngữ mang tính thời thượng của xã hội
Các nhà ngôn ngữ học xã hội Trung Quốc đã tiến hành một cuộc điều tra về sự phân tầng xã hội trong việc sử dụng các từ xưng gọi gồm những từ chỉ quan hệ thân thuộc như: ông bà, chú thím, và các từ chỉ quan hệ không thân thuộc như: Ngài, ông, đồng chí, thủ trưởng Kết quả điều tra ở 50 cộng tác viên( từ 35 tuổi trờ lên) cho thấy:
- Tầng lớp tri thức: Sử dụng từ xưng gọi chỉ quan hệ thân thuộc chiếm 76%; sử dụng từ xưng gọi không thân thuộc chiếm 24%
- Tầng lớp công nhân: Sử dụng từ xưng gọi chỉ quan hệ thân thuộc chiếm 87%;
sử dụng từ xưng gọi không thân thuộc chiếm 13%
Con số thống kê này cho thấy, tầng lớp công nhân ưa sử dụng từ xưng gọi chỉ quan hệ thân thuộc hơn Tiếp tục khảo sát ở lứa tuổi 35, các tác giả còn đưa ra một
Trang 5nhận định khá lý thú là, cách xưng gọi bằng từ thân thuộc hay không thân thuộc liên quan đến thành phần xuất thân của họ: Trong số một nửa những người ở lứa tuổi này
ưa sử dụng từ xưng gọi không thân thuộc thì có tới 78% những người xuất thân từ gia đình tri thức [ Chen Songlinh, 1985]
Sự chuyển biến của cách xưng hô trong tiếng Việt ở thời kì Đổi mới cũng là một minh chứng khá thú vị Ở môi trường cơ quan, thay vì sử dụng từ “đồng chí” như trước đây thì hiện nay, người ta bắt đầu ưa sử dụng cách xưng gọi mới là các từ chỉ quan hệ họ hàng thân thuộc như: ông, bà, cô, bác, anh, chị, Ví dụ: chị kế toán, anh thủ quỹ, bác bảo vệ, ông giám đốc, Ngoài ra, còn xưng gọi bằng chức danh của khách thể giao tiếp Ví dụ như khi khách thể giao tiếp là số đông ( như trong cuộc họp) người ta có thể dùng từ bà con đối với nông thôn, dùng các bạn đối với tuổi trẻ, dùng quý vị ở cơ quan, dùng anh chị em ở nhà máy, công trường Khi khách thể giao tiếp là cá thể, người ta bắt đầu sử dụng chức danh trước hoặc sau họ tên khách thể thiên về sự phân tầng xã hội như Bộ trưởng Nguyễn Văn A, Viện trưởng Phạm Hữu
B, Tiến sĩ Trần Mạnh C, Bác sĩ Bùi Thị B, Giám đốc Đỗ Thị H, Bà Nguyễn Thị B
-Tổ trưởng tổ X,
Sự phân tầng xã hội còn thể hiện trong cách viết hoa của tiếng Việt Ví dụ: Chủ trong Chủ tịch nước thì viết hoa, còn chủ trong chủ tịch xã thì không viết hoa; giáo sư, tiến sĩ gắn với tên riêng thì thường được viết hoa ( Giáo sư Nguyễn Văn A, Tiến sĩ Nguyễn Thị B), trong khi đó cử nhân, kĩ sư, thầy giáo gắn với tên riêng thì lại không viết hoa ( cử nhân Nguyễn Văn A, thầy giáo Nguyễn Văn B, kĩ sư Nguyễn Thị C) Sự tôn xưng được thể hiện bằng cách viết hoa hay không cũng là biểu hiện của sự phân tầng xã hội trong sử dụng ngôn ngữ
Một biểu hiện của sự phân tầng xã hội trong sử dụng ngôn ngữ trong tiếng Việt
có thể thấy trong việc giới thiệu chức danh tại các cuộc giao tiếp chính thức như các buổi hội họp Trong tiếng Việt hiện nay có hai kiểu giới thiệu đại biểu, đó là: (i) giới thiệu “ chức danh+ họ tên” và (ii) giới thiệu “ họ tên + chức danh” Đối với người có chức vụ cao, có thể sử dụng cả hai mô hình Ví dụ:
Trang 6(i) Đồng chí Nguyễn Thế Thảo, Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội
(ii) Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội – đồng chí Nguyễn Thế Thảo
Còn đối với người chức vụ thấp, chỉ sử dụng mô hình ( ii) Ví dụ: Đồng chí Nguyễn Thế Nhân, tổ trưởng tổ sản xuất thôn X xã X
Khi quan sát việc sử dụng nghi thức chào hỏi trong tiếng Việt cũng cho thấy, các tầng lớp xã hội sử dụng có những nét khác nhau Bên cạnh những cách chào hỏi chung mang tính mô hình ( chào + X) như “chào ông”, “chào bà” thì tầng lớp trí thức hay các viên chức công sở thường chào nhau bằng các câu như “ Khỏe chứ?”,
“Có gì mới không?”, “Sao rồi”, “Công việc đến đâu rồi” Trong khi đó, tầng lớp công nhân lại chào nhau bằng các kiểu câu như “Đi đâu đấy?”, “Đã về rồi à?”, “Đã nghỉ rồi à?”, Theo điều tra của chúng tôi, dường như nghi thức chào của người lao động thường được thể hiện bằng các phát ngôn gắn với điều họ đang quan tâm hằng ngày, trong khi đó nghi thức chào hỏi của giới tri thức, công chức lại bằng những câu mang tính lễ nghi, “hỏi không phải để hỏi mà là chào”
Từ những thể hiện ở trên, phần nào cho chúng ta thấy được rằng rõ ràng ý thức
về sự phân tầng xã hội được phản ánh trong ngôn ngữ là có thực
Trang 7Chương 2: Quan điểm về tính giai cấp của ngôn ngữ
2.1 Quan điểm về tính giai cấp của ngôn ngữ
Ngôn ngữ và giai cấp là một trong những vấn đề của ngôn ngữ học đại cương sớm được truyền thống ngôn ngữ học quan tâm đến theo ba nội dung chính sau:
(1) Ngôn ngữ có tính giai cấp hay không?
(2) Sự phân hóa giai cấp có dẫn đến sự phân hóa ngôn ngữ hay không?
(3) Nếu có sự ảnh hưởng của giai cấp tới ngôn ngữ thì sự ảnh hưởng đó là như thế nào?
Nếu triết học, luật pháp, chính trị, văn học nghệ thuật mang tính giai cấp
vì “tư tưởng của một thời đại là tư tưởng của giai cấp thống trị” thì ngôn ngữ không
mang tính giai cấp bởi nó không phải là tài sản riêng của một giai cấp nào mà nó là sản phẩm của toàn xã hội và phục vụ toàn xã hội với tư cách là phương tiện giao tiếp
và tư duy
Quan điểm này là quan điểm của những nhà ngôn ngữ học Mácxit, họ đã phê phán những quan điểm của Marr khi ông dựa vào lớp biệt ngữ để biện luận cho luận điểm ngôn ngữ mang tính giai cấp của mình Theo đó, biệt ngữ chỉ là những nhánh phụ của ngôn ngữ dân tộc, chúng không đủ sức làm nên diện mạo cho ngôn ngữ toàn dân Hơn nữa biệt ngữ cũng không tồn tại lâu dài và không được toàn xã hội chấp nhận, sử dụng Vả lại, quay ngược dòng lịch sử trở về thời công xã nguyên thủy, con người đã có ngôn ngữ để giao tiếp, lúc bấy giờ xã hội chưa có giai cấp nên hiển nhiên ngôn ngữ không thể mang tính giai cấp Ðến khi xã hội phân chia giai cấp, ngôn ngữ cũng không thể mang tính giai cấp, bởi vì giai cấp thống trị và giai cấp bị trị vẫn phải liên hệ với nhau về kinh tế, về tổ chức xã hội Ngôn ngữ có thể được các giai cấp sử dụng như một phương tiện đấu tranh giai cấp, nhưng bản thân nó không mang tính giai cấp, nó là phương tiện giao tiếp của toàn dân, phục vụ toàn dân
Đối ngược hoàn toàn với quan điểm của các nhà ngôn ngữ học Macxit là quan
điểm của N.Ja.Marr với “Học thuyết mới về ngôn ngữ” Ông khẳng định ngôn ngữ có
Trang 8bản chất giai cấp Lí giải bản chất của ngôn ngữ theo cách nhìn xã hội học dung tục, Marr khẳng định rằng, ngôn ngữ không chỉ là một hiện tượng xã hội mà còn thuộc về thượng tầng kiến trúc Theo luận điểm của học thuyết này, khởi thủy ngôn ngữ loài người là ngôn ngữ cử chỉ chứ không phải là ngôn ngữ âm thanh Marr cho rằng, thời
kì này không có ngôn ngữ âm thanh của loài người kéo dài cho đến khi xã hội phân chia thành giai cấp với một bên là thầy mo và một bên là dân thường gồm 4 yếu tố ca, бep, ŭop, poա Theo Marr, đây chính là cơ sở tạo nên ngôn ngữ âm thanh ngày nay và ngay từ khi sinh ra, ngôn ngữ đã có tính giai cấp Với ông, các giai đoạn ngôn ngữ gắn với các giai đoạn phát triển xã hội theo chủ nghĩa Marx: xã hội tiền giai cấp, chế độ chiếm hữu nô lệ, chế độ quân chủ phong kiến, chủ nghĩa tư bản; và do vậy, sẽ
cần phải nảy sinh một ngôn ngữ mới của xã hội cộng sản chủ nghĩa, đó sẽ là “ngôn ngữ mới và duy nhất, ở đó cái đẹp đẽ cao nhất được hòa quyện với sự phát triển trí tuệ cao nhất”.
2.2 Quan điểm cá nhân về tính giai cấp của ngôn ngữ
Với quan điểm cá nhân của nhóm, nhóm chúng tôi bảo vệ quan điểm của các nhà ngôn ngữ học Macxit, điều đó đồng nghĩa với ngôn ngữ không có tính giai cấp Ngôn ngữ thuộc về tất cả các thành viên trong xã hội, không phải là tài sản riêng của
cá nhân bởi nếu ngôn ngữ chỉ thuộc một giai cấp nào đó thì giữa các giai cấp trong xã hội làm sao có thể giao tiếp được với nhau Ngôn ngữ tồn tại trong xã hội loài người là
để cho con người trong xã hội giao tiếp với nhau chứ không phải để con người “chạy theo những toan tính riêng tư” Ngôn ngữ tự nhiên không phân biệt giới tính, tuổi tác, địa vị xã hội, trình độ học vấn… mà nó phục vụ cộng đồng một cách vô tư
Truyền thống ngôn ngữ học phủ nhận tính giai cấp của ngôn ngữ đồng thời cũng phủ nhận sự phân hóa giai cấp dẫn đến sự phân hóa ngôn ngữ Giai cấp thuộc phạm trù chính trị học còn ngôn ngữ thuộc phạm trù ngôn ngữ học, hai vấn đề thuộc hai phạm trù khoa học khác nhau Với tư cách là công cụ giao tiếp của toàn xã hội, ngôn ngữ có quan hệ mật thiết với các lĩnh vực vủa đời sống xã hội Nói cách khác, hoạt động giao tiếp của con người có mặt trong mọi lĩnh vực đời sống chính trị, kinh
tế, xã hội, văn hóa Chính vì thế, sự phân hóa giai cấp (trong lĩnh vực kinh tế - chính trị) không dẫn đến sự phân hóa ngôn ngữ Ngay cả khi có sự thay dổi hình thái kinh tế
Trang 9- xã hội thì giao tiếp chung giữa các giai cấp trong xã hội vẫn bình thường Mọi sự phân chia tiến trình biến đổi của ngôn ngữ theo sự biến đổi của hình thái kinh tế - xã hội là bất hợp lí
Tuy nhiên, không thể phủ nhận giai cấp có ảnh hưởng tới ngôn ngữ và sự phân hóa giai cấp có tác động đến một bộ phận nào đó của cấu trúc ngôn ngữ cũng như việc
sử dụng ngôn ngữ Cho nên “trong một chừng mực nào đó ngôn ngữ là thước đo của ứng xử giai cấp” Thực tế cho thấy, các giai cấp khác nhau đều muốn đem vào ngôn ngữ chung của toàn xã hội những ý nghĩ, tư tưởng, thiên kiến, thói quen, của giai cấp mình
Ví dụ, chế độ phong kiến phương Đông đã tạo ra sự cách biệt giữa tầng lớp thống trị và bị trị, tầng lớp nho sĩ và dân thường và theo đó đã để lại trong lớp từ xưng
hô những sự đối lập rõ nét như thấn - dân, vua - tôi, phu (chồng) - thê (vợ cả), thiếp (vợ lẽ), Ở các nước thuộc địa, ngôn ngữ thực dân cũng phục vụ đặc quyền của giai cấp thống trị Nếu nhìn từ góc độ văn hóa - ngôn ngữ có thể thấy, trong một xã hội (ở cấp quốc gia chẳng hạn) có thể có các giai cấp khác nhau hoặc có các tầng lớp xã hội khác nhau với sự khác nhau về đời sống (vật chất, tinh thần, vị trí xã hội) mà các giai cấp hoặc tầng lớp xã hội khác nhau có những biểu hiện về đặc trưng văn hóa khác nhau ở các phương diện như tư tưởng, quan niệm giá trị, hoạt động tâm lí, phương thức hành vi, Những sự khác biệt đó được thể hiện trong sử dụng ngôn ngữ
2.3 Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và giai cấp, giai tầng
Với tư cách là hiện tượng xã hội đặc biệt, sự phát triển của ngôn ngữ phải do những điều kiện kinh tế, chính trị, văn hoá và các điều kiện xã hội khác quy định Người ta chỉ có thể hiểu được một ngôn ngữ và quy luật phát triển của nó khi người ta nghiên cứu nó theo sát lịch sử của xã hội, lịch sử của dân tộc có ngôn ngữ đó
Giai tầng và nghề nghiệp là những điểm nhấn về ngôn ngữ trong xã hội Một trong những kết quả nghiên cứu của Ngôn ngữ học xã hội chứng minh, tầng lớp xã hội
và sự khác biệt ngôn ngữ có liên quan với nhau Thành viên của giai cấp lao động thường ít tuân thủ theo ngôn ngữ chuẩn (standard language); trong khi các tầng lớp hạ, trung và trung thượng lưu tuân thủ theo ngôn ngữ chuẩn nhiều hơn Tuy nhiên, tầng
Trang 10lớp thượng lưu, thậm chí trung thượng lưu, thường ít tuân thủ ngôn ngữ chuẩn hơn tầng lớp trung lưu Tầng lớp xã hội và kỳ vọng của tầng lớp xã hội, đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành thói quen sử dụng ngôn ngữ
Theo học thuyết của Basil Bernstein, mã hạn chế là cấu trúc ngôn ngữ tầng lớp trung-thượng lưu sử dụng để đạt được những lợi thế trong giáo dục và sự nghiệp Sự liên kết giữa các thành viên trong nhóm khó định nghĩa, mỗi cá nhân đạt được vị trí/ thân phận xã hội nhờ vào tư chất và tính cách của mình Không có sự phân chia nhiệm
vụ rõ ràng theo lứa tuổi, giới tính; trong kết cấu xã hội này, các thành viên đàm phán
và thực hiện vai trò của mình, hơn là chấp nhận vai trò định sẵn
Bảng biểu sau thể hiện sự khác biệt ngôn ngữ trên cơ sở thân phận xã hội:
Ngôn ngữ (của giai tầng xã hội thấp)
Ngôn ngữ chuẩn (của giai tầng trung - thượng lưu)
It looks like it ain’t gonna rain today It looks as if it ain’t going to rain today
You give it to me yesterday You gave it to me yesterday
Cần nhấn mạnh rằng, bản thân ngôn ngữ không có tính giai cấp, nhưng những giai cấp và tầng lớp xã hội khác nhau có ảnh hưởng tơi việc sử dụng ngôn ngữ và làm cho ngôn ngữ trong sử dụng vừa phản ảnh vừa mang tính đặc thù giai cấp hoặc đặc thù của một tầng lớp xã hội nào đó Đây cũng chính là nguyên nhân nảy sinh ra sự phân tầng xã hội trong sử dụng ngôn ngữ: biến thể của ngôn ngữ giai cấp (phương ngữ giai cấp) và biến thể ngôn ngữ của các tầng lớp xã hội (phương ngữ giai tầng)
Ngoài ra, ảnh hưởng đến sự phát triển của ngôn ngữ còn phải kể đến những nhân tố khách quan như: hình thức cộng đồng dân tộc người, dân số, trình độ học vấn,