1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Môi trường và phát triển bền vững

211 148 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 211
Dung lượng 13,85 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mặt khác, sự chạy đua vũ trang của các nước giàu và đẩy nhanh “công nghiệp hoá, hiện đại hoá” ở các nước nghèo để phát triển theo mô hình các xã hội phương Tây đã gây ra những tác động

Trang 1

Chương Nội dung Số tiết

Mở đầu

1 Những thách thức về môi trường

1.1 Con người và trái đất

1.2 Tài nguyên thiên nhiên

1.3 Sự bùng nổ dân số

1.4 Biến đổi khí hậu toàn cầu

Câu hỏi ôn tập

3

2 Môi trường và phát triển

2.1 Mối quan hệ giữa môi trường và phát triển

2.2 Nông nghiệp và môi trường

2.3 Công nghiệp hóa và nguồn năng lượng

2.4 Đô thị hóa và môi trường

2.5 Các vấn đề của toàn cầu hóa

Câu hỏi ôn tập

4+1

3 Những nguyên tắc phát triển bền vững

3.1 Cơ sở của phát triển bền vững

3.2 Mô hình và nội dung phát triển bền vững

5 Các chiến lược môi trường toàn cầu

5.1 Những áp lực môi trường toàn cầu

5.2 Những khó khăn trong bảo vệ môi trường và PTBV

5.3 Các chiến lược về phát triển bền vững trên thế giới

Câu hỏi ôn tập

3+2

6 Chiến lược bảo vệ môi trường và phát triển bền vững tại

Việt Nam

6.1 Mục tiêu và định hướng bảo vệ môi trường

6.2 Kế hoạch phát triển bền vững của Việt Nam

6.3 Định hướng tăng trưởng xanh của Việt Nam

6.4 Những thách thức cho mục tiêu phát triển bền vững ở Việt

Nam

Câu hỏi ôn tập

3+2

Trang 2

MỞ ĐẦU

Hội nghị Quốc tế lần I tại Stockhom (Thụy Điển, 1972) đã cảnh báo thế giới về một vấn đề của phát triển kinh tế: một mặt, cần tăng tối đa nhịp điệu phát triển kinh tế

để đáp ứng những nhu cầu cơ bản của loài người đang ngày càng tăng lên Mặt khác,

sự chạy đua vũ trang của các nước giàu và đẩy nhanh “công nghiệp hoá, hiện đại hoá”

ở các nước nghèo để phát triển theo mô hình các xã hội phương Tây đã gây ra những tác động xấu chưa từng có đối với môi trường, đặc biệt đối với hệ sinh thái - nguồn nuôi dưỡng sự sống trên Trái Đất

Thập niên 1980 trở lại đây đã chứng kiến sự bùng phát và ảnh hưởng của các hiện tượng: hạn hán, bão lụt, ô nhiễm không khí, mưa axit, các sự cố hạt nhân và rò rỉ hoá chất độc hại, sự suy thoái làm giảm quỹ đất trồng trọt, việc sử dụng lan tràn hoá chất bảo vệ thực vật gây ô nhiễm các nguồn nước, gây thủng tầng ozon, góp phần vào hiện tượng nóng lên toàn cầu dưới ảnh hưởng của hiệu ứng nhà kính Vì vậy, nếu các quốc gia không cùng nhau để chấm dứt hiện trạng suy thoái môi trường thì đến năm

2050, với dân số thế giới khoảng 9-10 tỷ, với nhiệt độ toàn cầu tăng thêm khoảng 30C, thì sự suy thoái tài nguyên và môi trường sẽ dẫn nhân loại đến cuộc đại khủng hoảng của thế kỷ 21, tạo ra một vòng xoáy làm tan rã xã hội loài người (UNDP, 1990) Cuộc Đại khủng hoảng thế kỷ này sẽ bao gồm những vấn đề nan giải như nạn đói, gây ô nhiễm và suy thoái hệ nuôi dưỡng sự sống, dịch bệnh, xung đột môi trường, biến động khí hậu đi kèm thiên tai với tốc độ dữ dội, vượt quá khả năng thích ứng của xã hội cũng như khả năng của mọi trình độ công nghệ trên Trái Đất

Các nguyên nhân sâu xa của khủng hoảng môi trường bắt nguồn từ mô hình phát triển lấy tăng trưởng kinh tế làm trọng tâm, khuyến khích một xã hội tiêu thụ, dựa trên nền tảng những phát minh công nghệ tiêu tốn năng lượng, tài nguyên và gây ô nhiễm,

sự trốn tránh trách nhiệm đối với thế hệ tương lai thông qua việc bỏ qua các chi phí môi trường và lạm dụng quá mức tài nguyên cũng như không gian sinh tồn của các giống loài khác

Chúng ta không sở hữu Trái Đất mà chúng ta đang vay mượn, sử dụng Trái Đất cùng với các thế hệ con cháu Chúng ta sinh ra từ những quá trình tự nhiên không phải

để thống trị, mà để sống hòa hợp với thiên nhiên Sự phát triển của mỗi người, mỗi cộng đồng và mỗi quốc gia đều phụ thuộc vào những điều kiện môi trường của mình

và không một thế hệ nào được phép tự cho mình cái quyền được lạm dụng hay phá huỷ những yếu tố cần thiết cho sự tồn tại của các thế hệ sau Những luận lý này cần phải được phổ cập trong xã hội bằng một chương trình giáo dục môi trường nhằm thay đổi nhận thức của con người, sao cho công dân và các nhà lãnh đạo có thể thay đổi các hành động, ra quyết định về mọi vấn đề theo hướng bền vững

Trang 3

Phát triển bền vững là chiến lược duy nhất có thể cung ứng một cuộc sống chất lượng cho nhân loại trong khi tránh được những thảm họa sinh thái trong 30-40 năm tới,

là cần phải giảm thiểu lối sống tiêu thụ hiện nay đang đẩy con người vào vòng xoáy của

mô hình phát triển kinh tế tập trung vào khai thác quá mức nguồn tài nguyên của Trái đất Do vậy, giáo trình “Môi trường và phát triển bền vững” là tài liệu được biên soạn nhằm mục đích cung cấp cho sinh viên những kiến thức cơ bản về môi trường, gắn kết những vấn đề môi trường và phát triển, tạo cơ sở để nghiên cứu những lĩnh vực khác

về khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và nhân văn cũng như việc quản lý khoa công nghệ

học-Bài giảng này được biên soạn dành cho sinh viên chuyên ngành Kỹ thuật Môi trường và các ngành có liên quan Đồng thời cũng là tài liệu tham khảo cho những người làm công tác khoa học, các nhà quản lý về khoa học-công nghệ, các nhà quản lý

xã hội, các chuyên gia dự án phát triển và độc giả có quan tâm đến vấn đề môi trường

và phát triển

Trang 4

Chương 1 NHỮNG THÁCH THỨC VỀ MÔI TRƯỜNG

Chương này trình bày những thách thức về môi trường mà Trái đất và con người

đã, đang và sẽ phải đối mặt, thông qua việc tìm hiểu về sự hình thành và phát triển của xã hội loài người, giới thiệu chung về nguồn tài nguyên của Trái đất, cũng như những tác động của sự bùng nổ dân số và sự biến đổi khí hậu toàn cầu đang diễn ra hiện nay

1.1 Con người và Trái đất

Tác động của con người lên Trái đất được trình bày như 1 quá trình từ khi con người xuất hiện trên Trái đất cho đến sự hình thành của xã hội công nghiệp hiện đại

1.1.1 Sự xuất hiện của loài người

Theo chiều phát triển của lịch sử thì loài người được bắt nguồn từ một loài vượn cổ nào đó, có thể là ở Châu Phi cách ngày nay khoảng 5 triệu năm về trước Các dấu vết hóa thạch thuộc về giống Homo đã tìm thấy vào kỷ Pleistocene, có tuổi khoảng 2 triệu năm, còn dấu vết con người hiện đại tìm thấy khoảng 100.000 năm về trước

Để dễ hình dung về sự xuất hiện của con người, Trái đất với lịch sử khoảng 4,5 tỷ năm được vẽ thành chiếc đồng hồ với 12 múi giờ (hình 1.1) thì con người hiện đại (Homo sapien) mới chỉ xuất hiện trong những giây cuối cùng của lịch sử Trái đất (khoảng trên dưới

2 triệu năm), nói một cách chính xác là vào khoảng 11:59:13 Tuy chỉ xuất hiện trong khoảng thời gian ngắn, nhưng loài người đã kịp gây ra những tác động đáng kể, góp phần tạo ra những thách thức về môi trường mà chúng ta đang phải đối mặt hiện nay

Hình 1.1 Mô hình đồng hồ biểu diễn lịch sử sự sống trên Trái đất

Trang 5

Con người là loài sinh vật khởi đầu việc tổ chức sản xuất ra nguồn tài nguyên của Trái Đất bằng biện pháp nông nghiệp Cũng từ đó con người đã chuyển đổi nhiều vùng thiên nhiên rộng lớn trên đất liền thành vùng nông nghiệp và đã sử dụng hơn 1/3 sản lượng sơ cấp nguyên của Trái Đất Các nền văn minh nông nghiệp được phát triển độc lập với nhau tại một số khu vực vào khoảng 10.500 năm về trước và đều là ở những vùng có dân cư phát triển như khu vực Lưỡng Hà (Iraq), đồng bằng sông Hằng (Ấn Độ), sông Hoàng Hà (Trung Quốc) Dân số tăng một cách chậm chạp cho đến đầu thế kỷ 19, khi nông nghiệp và công nghiệp phát triển thì dân số cũng phát triển một cách nhanh chóng cho đến ngày nay

Hình 1.2 Biểu đồ mức tăng dân số thế giới từ khoảng 10.000 năm trước công nguyên

đến năm 2000 Tuy mới xuất hiện trong một thời gian khá ngắn so với lịch sử lâu dài của Trái đất song con người đã góp phần chính vào việc hủy diệt nhiều loài động thực vật trong thời tiền sử và đang phải chịu trách nhiệm về sự biến đổi nhiều vùng sinh thái tự nhiên Việc khai thác quá mức tài nguyên đã gây nên sự suy giảm về nguồn tài nguyên, làm giảm đa dạng sinh học và làm biến mất nhiều loài trong tự nhiên

Loài người được sinh ra trên Trái Đất một cách tự nhiên như muôn loài khác, là một thành phần của thế giới sinh vật, sinh sống trong một hệ sinh thái Loài người cũng phải lệ thuộc vào các loài khác và các quần xã trong hệ sinh thái để có được những nhu cầu cơ bản cho cuộc sống để tồn tại và phát triển và cũng phải góp phần vào việc bảo tồn Sinh quyển

Trang 6

Như chúng ta đã biết, các hợp chất hữu cơ được tạo ra trong các sinh vật quang hợp

là điểm khởi đầu mà năng lượng mặt trời được chuyển vào Sinh quyển Con người và các loài động vật khác không có khả năng thu được năng lượng bằng cách quang hợp, phải ăn

và tiêu hoá các sản phẩm sơ cấp hay các động vật ăn các sản phẩm sơ cấp để có được năng lượng cần thiết từ các hợp chất hữu cơ giàu năng lượng cần thiết cho các hoạt động của bản thân mình Trong lúc con người không làm được điều cơ bản gì khác các loài động vật khác, nhưng nhờ có tổ chức xã hội và kỹ thuật mà loài người đã có khả năng khai thác được tài nguyên thiên nhiên một cách mạnh mẽ hơn các loài khác và vì thế mà loài người cũng là loài động vật duy nhất đạt được kết quả đó

Trong quá trình phát triển của trí thông minh và cả những tiến bộ về sinh học trên con đường hoàn thiện của mình Con người đã phát minh ra những phương pháp khai phá thiên nhiên, những công cụ, những kỹ thuật không ngừng được hoàn thiện cho phép chúng ta khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên Tuy nhiên, việc khai thác quá mức các loại tài nguyên, với tốc độ nhanh và với khối lượng ngày càng nhiều đã dấn đến sự suy tàn của môi trường sống của chính loài người

1.1.2 Những tác động ban đầu của con người

Từ khi xuất hiện trên Trái đất, loài người cũng như nhiều loài động vật khác trên thế giới sống một cách hết sức hài hòa với thiên nhiên, ít nhất là về mặt sinh thái học Tổ tiên đầu tiên của loài người vào thời đại đồ đá cũ, với số lượng dân cư chưa lớn, nên tác động lên thiên nhiên cũng hạn chế Họ săn bắt, hái lượm, sinh sống trong thiên nhiên như

là một thành viên của quần thể sinh vật, tương tự như những thành viên khác của quần thể cùng tham gia vào chu trình vật chất và dòng năng lượng của Sinh quyển Nhưng từ khi các thợ săn thời đồ đá cũ tìm ra lửa, họ đã có cách tác động mới lên thiên nhiên, có tính chất phá huỷ, làm suy thoái, khác với những hoạt động yếu ớt, kém hiệu quả trước đó của mình

Ngày nay chúng ta tin rằng, bằng cách dùng lửa, loài người đã tạo ra được một thứ công cụ có thể đánh đuổi hay bao vây con mồi và với lửa đã hàng trăm nghìn năm qua, loài người cũng đã tạo nên sự đảo lộn trong các quần xã thực vật ở nhiều miền khác nhau trên Trái đất Châu Phi là nơi bị tàn phá đầu tiên và rồi đến các vùng khác như Trung Âu, Bắc Á cũng đã có lúc bị lửa tàn phá dữ dội vào thời đồ đá cũ Tại các vùng nhiệt đới và

ôn đới, nhiều khu rừng nguyên thuỷ rộng lớn đã bị lửa tàn phá và lửa cũng đã hạn chế sự phục hồi rừng sau đó Các lớp phủ thực vật tự nhiên ở các vùng nhiệt đới thuộc châu Phi, Châu Á và Châu Mỹ đã tiếp tục bị con người làm suy tàn để tạo nên các vùng đồng cỏ, thuận lợi cho các loài thú móng guốc phát triển hơn là ở các rừng nguyên sinh Vì vậy,

Trang 7

chính những đám cháy do con người gây nên và cả những đám cháy tự nhiên đã làm cho nhiều vùng rừng biến thành những trảng cỏ ở Tây Phi, Bắc Á, tạo nên các đồng cỏ cho loài động vật ăn cỏ phát triển

Tuy nhiên các thợ săn thời đồ đá cũ không phải chỉ làm biến đổi và suy thoái các quần thể thực vật trên những vùng rộng lớn, bằng cách dùng lửa kết hợp với một số kỹ thuật săn bắn, họ cũng đã làm biến đổi cấu trúc của của hệ động vật có xương sống cỡ lớn

có mặt ở khắp các vùng trên Trái đất vào thời đó Các thợ săn vào thời đại đồ đá cũ, khoảng 12.000 năm về trước cũng đã tiêu diệt hơn 60% các loài thú lớn, trong đó có voi Ma mút và loài bò bison cổ (khu vực Bắc Mỹ) Các nghiên cứu gần đây cũng đã tìm thấy dấu vết các

hố chứa đầy xác chết của loài này bị các thợ săn bao vây bằng lửa và dồn chúng vào trong một hẻm núi hay các đường hầm do chính họ tạo ra Các nhà cổ sinh vật học cũng đã chứng minh được nhiều loài thú lớn khác và cả những loài chim cỡ lớn ở Madagascar (Châu Phi)

đã bị tiêu diệt do con người

1.1.3 Sự phát triển của nền nông nghiệp

Vào đầu thời đại đồ đá mới, con người đã bắt đầu biết trồng trọt và chăn nuôi Sự phát minh về nông nghiệp cùng với sự tăng dân số chưa từng có của con người đã tác động lên Sinh quyển một cách mạnh mẽ Đây là cuộc cách mạng thứ hai về kỹ thuật của

xã hội loài người, là động lực tác động lên các cấu trúc xã hội và nền văn hóa nông nghiệp vẫn còn kéo dài cho đến ngày nay tại nhiều khu vực có nền kinh tế chậm phát triển Do nông nghiệp phát triển mà rừng nguyên sinh đã bị thay thế bằng các đồng cỏ để chăn nuôi và các vùng canh tác Sự phát triển của trồng trọt cũng đã gây nên sự nhiễu loạn lớn đầu tiên cho Sinh quyển Sự nhiễu loạn đó còn được thúc đẩy mạnh hơn do những người chăn nuôi đã làm biến đổi cấu trúc các quần xã động vật bằng cách làm giảm thiểu các loài động vật lớn sống trên đồng cỏ do các động vật hoang dã đe doạ sự phát triển của các động vật chăn nuôi Các hoạt động nông nghiệp được bắt đầu bằng các hành động phá huỷ những hệ sinh thái tự nhiên rộng lớn để thay thế vào đó là những vùng trồng trọt với số loài thực vật hết sức hạn chế, đựơc chọn lọc theo nhu cầu lương thực và thực phẩm của con người

Những hệ sinh thái như vậy đã sản xuất ra các sản phẩm sơ cấp (các thực vật trồng trọt hay tự nhiên) mà con người dùng làm lương thực và thực phẩm trực tiếp hay gián tiếp qua các sản phẩm thứ cấp (động vặt chăn nuôi, hay động vật hoang dã được săn bắt…) và dùng làm nguyên liệu (gỗ, củi, sợi thực vật…) Con người là vật tiêu thụ chính của hệ sinh thái đó Sự mở rộng nông nghiệp đã dần dần phá huỷ nhiều hệ sinh thái tự nhiên trên đất liền Việc phá huỷ bừa bãi nhiều khu rừng rộng lớn, thiếu quy hoạch trên những vùng

Trang 8

đất nhạy cảm, dễ suy thoái ở các miền ôn đới và nhiệt đới đã làm cho nhiều vùng bị suy thoái nặng nề đến mức không thể phục hồi lại được Ngoài ra, việc tạo nên những hệ nông nghiệp, trong đó con người đã giảm thiểu tính đa dạng loài vốn có tại những vùng sinh thái trước đó, bằng mọi cách để loại trừ tất cả những loài có thể cạnh tranh với một số ít loài được trồng trọt, nông nghiệp còn kéo theo công việc chăn nuôi một số ít loài động vật, trong đó có một số loài được sử dụng làm sức kéo Để cho công việc nông nghiệp đạt hiệu quả cao, tăng nhanh khối lượng lương thực trên một đơn vị diện tích, đồng thời khối lượng năng lượng được sử dụng cũng được tăng lên một cách tương ứng

Từ khi phát minh ra việc trồng trọt và chăn nuôi, dân số tăng lên khá nhanh do khối lượng lương thực được sản xuất ngày càng nhều Xã hội loài người đã dần chuyển từ phương thức du cư đến định cư Nhiều kỹ thuật trồng trọt và chăn nuôi mới được phát minh, như sử dụng phân bón từ phân hữu cơ và kỹ thuật về thuỷ lợi Thêm vào đó, con người dần dần cũng

đã biết khai thác nguồn lợi thủy sản biển dồi dào để bổ sung cho nguồn thức ăn nuôi sống mình Đối với môi trường tự nhiên của Trái đất, sự phá hủy các quần xã thực vật tự nhiên để

tổ chức trồng trọt hay chăn nuôi thường là khởi đầu của hiện tượng khô hạn rồi tiến tới sa mạc hóa cả những vùng rộng lớn

Việc làm đảo lộn các vùng tự nhiên đã xảy ra vào khoảng vài nghìn năm về trước vào đầu công nguyên Nhiều vùng đất đã từng là cái nôi của nền văn minh như vùng đất phía nam Palestine, bắc Syria, Ai Cập và vùng Lưỡng Hà (Iraq ngày nay) Nền nông nghiệp đã xuất hiện tại đây vào khoảng 10.000 năm về trước Vào thời kỳ phồn thịnh nhất, các vùng đất này có hệ sinh thái đa dạng và là nơi sản xuất lương thực lớn nuôi sống lượng dân cư đông đúc, góp phần tạo ra các nền văn minh cổ đại của loài người Quá trình rồng trọt và chăn nuôi phát triển đã phá hủy dần rừng tự nhiên, rồi tiếp theo là đất và nguồn nước… Kết quả cho đến hiện tại, các vùng đất phong phú thời tiền sử ở Trung Đông từ khoảng 8.000 năm về trước đã trở thành các vùng sa mạc rộng lớn

Tuy rằng trong thời kỳ này, con người đã làm biến đổi khá nhiều các yếu tố của môi trường tự nhiên để mở rộng nông nghiệp, nhưng các hoạt động của con người trong một xã hội nông nghiệp vẫn nằm trong giới hạn của các chu trình sinh học và không làm biến đổi dòng năng lượng của Sinh quyển, như trong nền văn minh kỹ thuật về sau Hệ sinh thái nhân sinh trong nền văn hoá nông nghiệp vẫn có tính tự cân bằng cao

1.1.4 Tác động của xã hội công nghiệp hiện đại

Vào đầu thế kỷ thứ 18, những thành tựu kỹ thuật mang tính công nghiệp được sử dụng, tạo điều kiện cho sự nảy nở của một xã hội kỹ thuật mà hiện nay chúng ta đang sinh sống trong đó Trong thời gian này, cấu trúc kinh tế của nhiều quốc gia thay đổi nhanh

Trang 9

chóng Sự phát minh của những máy công nghiệp, việc áp dụng các kỹ thuật mới, đã thúc đẩy một cách mạnh mẽ nền sản xuất hiện đại Cũng trong thời kỳ này, nhiều loài cây mới cũng được trồng trọt, tiến bộ về kỹ thuật trồng trọt và chăn nuôi phát triển nhanh chóng và

từ đó năng suất trong nông nghiệp tăng nhanh Tất cả những biến đổi đó đã tạo nên những

sự thay đổi một cách cơ bản mối quan hệ của xã hội loài người lên thiên nhiên Những tác động của loài người lên thiên nhiên đã thể hiện một cách rõ ràng bắt đầu từ nửa sau của thế kỷ 19 cùng với sự phát triển của nền công nghiệp hiện đại

Tính đa dạng của các quần xã sinh vật có trong các hệ sinh thái mà con người khai thác bị suy thoái ngày càng nặng nề Sự tạo lập các vùng thành thị hoàn toàn nhân tạo, sự đơn điệu hoá các vùng nông thôn bằng cách trồng trọt một số ít loài cây trên những vùng rộng lớn làm nguyên liệu cho công nghiệp đã phá hủy tính đa dạng của hệ thực vật tự nhiên, rừng bị suy thoái, phá hủy các sinh cảnh mà chúng ta cho là không có hiệu quả kinh tế, không khai thác được như các vùng đất ngập nước Trong lúc đó sinh khối của các loài động vật hoang dã, không được con người chọn làm đối tượng chăn nuôi hầu như

bị loại trừ ra khỏi những vùng “phát triển” Những sự mất mát đó về đa dạng sinh học đã tạo nên sự mất cân bằng quan trọng và kéo theo ảnh hưởng lên các hoạt động của hệ sinh thái

1.2 Tài nguyên thiên nhiên

Tài nguyên (resources) nói chung là tất cả các dạng vật chất, tri thức, thông tin được con người sử dụng để tạo ra của cải vật chất hay tạo ra giá trị sử dụng mới Tài nguyên là đối tượng sản xuất của con người Xã hội loài người càng phát triển thì số loại hình tài nguyên và số lượng mỗi loại tài nguyên được con người sử dụng và khai thác ngày càng gia tăng Tài nguyên có thể chia làm 2 loại lớn: tài nguyên thiên nhiên và tài nguyên xã hội Tài nguyên xã hội thể hiện bởi sức lao động chân tay và trí óc, khả năng tổ chức và chế độ xã hội, tập quán, tín ngưỡng của các cộng đồng người Phần này chỉ tập trung giới thiệu chung về tài nguyên thiên nhiên

Các nghiên cứu về Khoa học môi trường thường chia tài nguyên thiên nhiên (natural resources) thành hai loại: tài nguyên tái tạo và tài nguyên không tái tạo

- Tài nguyên tái tạo (renewable resources) là loại tài nguyên có thể tự duy trì, tự bổ sung theo thời gian bởi các quá trình tự nhiên như: quần thể động - thực vật, hay tài nguyên vô tận như gió, năng lượng mặt trời

- Tài nguyên không tái tạo (non-renewable resources) là dạng tài nguyên chỉ cung cấp được trong một giới hạn nhất định và không hồi phục được, hoặc có thể phục hồi

Trang 10

nhưng sau một thời gian rất dài (vài triệu năm) như các nguồn nhiên liệu than, dầu mỏ, khí đốt, các loại khoáng sản

Dựa theo bản chất tự nhiên của tài nguyên, nguồn tài nguyên thiên nhiên được phân thành các loại: tài nguyên đất, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, tài nguyên rừng, tài nguyên biển

1.2.1 Tài nguyên rừng

Rừng là hệ sinh thái có độ đa dạng sinh học cao nhất ở trên cạn, nhất là rừng ẩm nhiệt đới Ngoài ý nghĩa về tài nguyên động thực vật, rừng còn là một yếu tố địa lý có vai trò quan trọng trong việc tạo cảnh quan và tác động mạnh mẽ đến các yếu tố khí hậu, đất đai Chính vì vậy, rừng không chỉ có chức năng trong phát triển kinh tế-xã hội, mà còn có

ý nghĩa đặc biệt trong bảo vệ môi trường Tùy theo nhận thức và các lợi ích khác nhau mà rừng được đánh giá khác nhau Hiện nay rừng được đánh giá theo các vai trò chính như sau:

- Rừng là hệ sinh thái đa dạng và giàu có nhất trên cạn, đặc biệt là các khu rừng nhiệt đới ẩm

- Rừng có vai trò to lớn về môi trường sống và là nguồn cung cấp nguyên vật liệu cơ bản cho con người

- Rừng cung cấp lương thực, thực phẩm, nguyên liệu cho sự phát triển của con người: công nghiệp chế biến, dược liệu, du lịch, giải trí

- Rừng là “lá phổi xanh” hấp thụ CO2, tái sinh oxy, điều hòa khí hậu cho cả hành tinh Diện tích rừng bình quân thế giới trên đầu người là 0,6 ha/người, tuy nhiên con số này có sự chênh lệch lớn giữa các quốc gia Khu vực Châu Á có có diện tích rừng trên đầu người thấp nhất, trong khi đó Châu Đại dương và Nam Mỹ là cao nhất Chỉ có 22 quốc gia có trên 3 ha rừng trên đầu người, cụ thể là ở Brazil, Canada và CHLB Nga Còn lại 3/4 dân số thế giới sống trong các quốc gia có diện tích rừng trên đầu người nhỏ hơn 0,5 ha trong đó phần lớn ở các quốc gia có dân số đông như ở Châu Á, Châu Âu và kể cả Châu Phi

Phần lớn đất rừng rất thích hợp cho canh tác nông nghiệp, do vậy rừng bị thu hẹp chủ yếu để lấy đất làm nông nghiệp, trồng trọt và chăn nuôi Trong thời gian khoảng 5.000 năm con người thu hẹp diện tích của rừng từ 50% trên bề trái đất xuống còn 17% Các ước tính mới nhất dự báo rằng với tốc độ khai thác hiện tại thì trong vòng 160 năm nữa Trái đất sẽ không còn rừng và trở nên trần trụi Vào giai đoạn đầu của nền văn minh nông nghiệp thì rừng lá thưa hoặc ôn đới bị triệt hạ và nay đến lượt các khu rừng nhiệt

Trang 11

đới Tốc độ tàn phá thay đổi theo thời gian, các nghiên cứu trên ảnh hàng không và ảnh vệ tinh cho thấy hàng năm trên thế giới mất đi trung bình 16,1 triệu ha rừng, trong đó rừng nhiệt đới bị suy giảm với tốc độ lớn nhất 15,2 triệu ha (FAO, 2001)

Hình 1.3 Sự suy giảm của rừng Amazon theo thời gian do khai thác gỗ và phục vụ sản

xuất nông nghiệp (WWF, 2010) Hiện nay rừng nhiệt đới chỉ còn khoảng 50% diện tích so với trước đây Rừng bị triệt hạ mạnh nhất ở khu vực Mỹ Latinh, Trung Mỹ, rừng và đất rừng giảm tới 38%, từ

115 xuống còn 71 triệu ha, trong khoảng thời gian từ 1950 đến 1983 Cùng thời gian đó, rừng ở Châu Phi giảm 23%, từ 901 triệu ha xuống còn 690 triệu ha

Trang 12

Nạn ô nhiễm môi trường đã tạo nên những trận mưa axit làm hủy diệt nhiều khu rừng, đặc biệt ở các nước Châu Âu, hiệu ứng nhà kính làm cho trái đất nóng lên và nước biển dâng cao nhất định sẽ để lại ảnh hưởng đến sự phân bố rừng trên Trái đất

Theo báo cáo của Tổ chức Đánh giá Tài nguyên Rừng (Forest Resources Assessment- FRA, 2000), hiện nay có khoảng 178 triệu ha rừng trồng, chiếm 5% diện tích rừng thế giới Châu Á chiếm tỷ lệ lớn nhất với 62% rừng trồng của thế giới Mười quốc gia chiếm tỷ lệ lớn nhất về rừng trồng thế giới là Trung Quốc, Ấn Độ, CHLB Nga, Mỹ, Nhật Bản, Indonesia, Brazil, Thái Lan, Ukraina và Cộng hoà Iran (chiếm khoảng 80%), các quốc gia còn lại chiếm khoảng 20%

Năm 1945, Việt Nam có 13,3 triệu ha rừng tự nhiên, chiếm 43,8% diện tích đất đai, năm 1975 diện tích rừng chỉ còn 9,5 triệu ha (chiếm 29% diện tích tự nhiên), năm 1985 còn 7,8 triệu ha (23,6%) đến năm 1989 chỉ còn 6,5 triệu ha (19,7%) (Viện Điều tra Quy hoạch rừng Việt Nam, 1989)…Tốc độ mất rừng ở Việt Nam trong những năm 1985-1995 vào khoảng 200.000 ha/năm Trong đó, 60.000 ha do khai hoang, 50.000 ha do cháy và 90.000 ha do khai thác quá mức gỗ và củi Trên nhiều vùng trước đây là rừng xanh bạt ngàn thì nay chỉ còn là đồi trọc, diện tích rừng còn lại rất ít, chẳng hạn như vùng Tây Bắc chỉ còn 2,4 triệu ha, Tây Nguyên chỉ còn 2,3 triệu ha Rừng miền Đông Nam Bộ còn lại khá hơn song cũng đang bị tập trung khai thác Rừng ngập mặn ven biển trước năm 1945 phủ một diện tích 400.000 ha nay chỉ còn gần một nửa (khoảng 200.000 ha) chủ yếu là thứ sinh và rừng trồng Diện tích đất trống đồi núi trọc đang chịu xói mòn nặng lên đến con số 13,4 triệu ha

Trang 13

Hình 1.4 Bản đồ hiện trạng rừng tại Việt Nam (1992-1993) Trong kế hoạch trồng 5 triệu ha rừng (Dự án 661) thì từ năm 1998 đến năm 2010 của nước ta, diện tích và độ che phủ có phần tăng lên, độ che phủ rừng là 27,8% vào năm 1990 tăng lên 36,7% năm 2004 (bảng 1.1)

Bảng 1.1 Diễn biến diện tích rừng ở Việt Nam qua các năm (đơn vị tính triệu ha)

Tổng diện tích (ha) 14,30 11,16 10,60 9,89 9,17 9,30 10,99 11,78 12,30 Rừng trồng (ha) 0,00 0,01 0,42 0,58 0,74 1,05 1,52 1,91 2,21 Rừng tự nhiên (ha) 14,30 11,07 10,18 9,30 8,43 8,25 9,47 9,86 10,89

Độ che phủ (%) 43,00 33,80 32,10 30,00 27,80 28,20 33,20 35,8 36,7

1.2.2 Tài nguyên đất

Trang 14

Trên quan điểm sinh thái, đất không phải là một khối vật chất trơ mà là một hệ thống cân bằng của một tổng thể gồm các khoáng chất, vật chất hữu cơ và những sinh vật sống trong đất Thành phần vật chất của đất gồm các khoáng chất 40%, nước 35%, không khí 20% và các chất mùn hữu cơ 5%

Đất là một bộ phận quan trọng của môi trường mà chúng ta đang sống Đất được con người sử dụng vào 2 nhóm mục đích cơ bản: xây dựng nhà ở, công trình và sản xuất nông - lâm - nghiệp Có thể nêu lên các chức năng cơ bản của đất:

- Là môi trường cho con người và các sinh vật sinh trưởng và phát triển

- Là môi trường cho các quá trình biến đổi và phân hủy các khoáng chất và vật chất hữu cơ

- Là nơi cư trú cho hệ động thực vật trên cạn

- Là nền móng cho các hoạt động (sinh hoạt, xây dựng, phát triển kinh tế) của con người

Theo tài liệu của Tổ chức Nông Lương Thế giới (FAO) thì diện tích của phần đất liền trên thế giới là 13.400 triệu ha, trong số này có 1.500 triệu ha (11%) là đất canh tác, 3.200 triệu ha (24%) là đồng cỏ chăn nuôi gia súc, 4.100 triệu ha (31%) là diện tích rừng

và đất rừng, 4.400 triệu ha (34%) còn lại là diện tích đất dùng vào các việc khác (dân cư, đầm lầy, đất ngập mặn ) Diện tích đất có thể dùng cho canh tác được đánh giá vào khoảng 3.200 triệu ha và hiện mới khai thác khoảng 1.500 triệu ha Tại các vùng khác nhau, tỷ lệ đất đã sử dụng canh tác so với đất có tiềm năng canh tác cũng khác nhau Trong đó, tại khu vực Châu Á, tỷ lệ này rất cao, đạt đến 92% cho thấy khu vực này đã sử dụng gần hết quỹ đất có thể canh tác của mình Ở Châu Mỹ Latinh con số này chỉ đạt 15%, tình chung các nước phát triển là 70% và các nước đang phát triển là 36%

Nguyên nhân dẫn đến việc chưa khai thác hết diện tích đất có khả năng canh tác gồm: thiếu nước, khí hậu không phù hợp, thiếu vốn đầu tư Sự phát triển các đô thị, các khu công nghiệp và cơ sở hạ tầng khác đã chiếm dụng một diện tích đất khá lớn Ở Mỹ, hàng năm mất

đi khoảng 1triệu ha đất màu mỡ để làm đường cao tốc và các hoạt động phi nông nghiệp khác

Tài nguyên đất trên thế giới đang bị suy thoái ở nhiều nơi, với các hiện tượng chủ yếu như:

- Nhiễm mặn, nhiễm phèn, chua hóa tại các vùng ven biển;

- Xói mòn, bạc màu, rửa trôi, đặc biệt tại các vùng trung du và miền núi;

Trang 15

- Ô nhiễm hóa chất tại các khu vực phát triển công nghiệp, giao thông, đô thị

Các nguyên nhân dẫn đến suy thoái tài nguyên đất gồm:

- Thảm phủ bị phá hoại, làm giảm khả năng che phủ cho đất;

- Sự thay đổi của điều kiện thời tiết theo chiều hướng ngày càng cực đoan;

- Ô nhiễm do công nghiệp (nước thải, khí thải, chất thải nguy hiểm)

- Phương thức canh tác không bền vững (sử dụng nhiều phân bón hóa học, thuốc trừ sâu )

Một trong những hậu quả mà con người đang phải đối mặt là hiện tượng sa mạc hoá các vùng đất trù phú, làm giảm khả năng canh tác và diện tích sinh sống của con người Hiện tượng sa mạc hóa đang là mối quan tâm lớn trên thế giới, các dữ liệu phân tích cho thấy:

- Tính trung bình hiện có khoảng 10% đất nông nghiệp trên thế giới đang bị sa mạc hóa, ở các nước Châu Á lên tới 30-35%

- Tốc độ dịch chuyển ranh giới sa mạc Sahara là 100 mét/năm, tức diện tích sa mạc tăng lên khoảng 100.000 ha/năm chỉ tính riêng cho sa mạc Sahara

Hình 1.5 Bản đồ vị trí các sa mạc và nguy cơ sa mạc hoá trên thế giới

Ở nước ta, diện tích đất tự nhiên có khoảng 33 triệu ha (xếp thứ 58/200 nước), trong đó có 22 triệu ha đất phát triển tại chỗ và 11 triệu ha đất bồi tụ Bình quân đất tự

Trang 16

nhiên theo đầu người rất thấp: 0,444 ha/người (2001), bằng 1/6 mức bình quân của thế giới Bình quân diện tích nông nghiệp chỉ khoảng 0,12 ha/người

Đa số diện tích chưa sử dụng nằm ở vùng đất trống, đồi núi trọc Đây cũng là đối tượng khai hoang mở rộng diện tích đất nông lâm nghiệp tại nước ta Trong tổng số diện tích đất chưa sử dụng thì khoảng 8 triệu ha có thể sử dụng cho lâm nghiệp, chỉ có gần 3 triệu ha có thể sử dụng cho nông nghiệp Như vậy, trong tương lai diện tích đất nông nghiệp tối đa cũng chỉ có khoảng 12 triệu ha Khi ấy bình quân diện tích đất nông nghiệp trên đầu người ở nước ta với tỷ lệ tăng dân số như hiện nay, thì vẫn không vượt qua ngưỡng 1.300m2 Con số này thấp hơn nhiều so với tính toán của FAO là với trình độ sản xuất trung bình như hiện nay trên thế giới mỗi đầu người cần có 4.000m2 đất canh tác

Do điều kiện thiên nhiên nhiệt đới ẩm của Việt Nam, cùng với sự gia tăng dân số mạnh và kỹ thuật canh tác lạc hậu kéo dài và do hậu quả chiến tranh, đã làm trầm trọng hơn nhiều vấn đề về môi trường đất Cụ thể từ những quan trắc trong nhiều năm qua cho thấy thoái hóa đất là xu thế phổ biến đối với nhiều vùng rộng lớn, đặc biệt là vùng đồi núi, nơi tập trung hơn 3/4 quỹ đất, nơi cân bằng sinh thái bị phá vỡ nghiêm trọng Các loại hình thoái hóa môi trường đất ở Việt Nam thể hiện rất phức tạp và đa dạng, có thể kể đến như:

- Hiện tượng rửa trôi, xói mòn, suy kiệt dinh dưỡng đất, hoang hoá (Ninh Thuận, Bình Thuận) và khô hạn, cơ cấu cây trồng nghèo nàn, đất mất khả năng sản xuất ở trung

du, miền núi (khu vực Tây Bắc, Tây Nguyên) Nguyên nhân chủ yếu do lượng mưa tập trung lớn vào mùa mưa (đến 80%), tình trạng phá rừng, đốt nương làm rẫy và canh tác không hợp lý trên đất dốc

- Hiện tượng mặn hóa, phèn hoá: khoảng 3 triệu ha, tập trung chủ yếu ở đồng bằng sông Hồng và sông Mekong

- Hiện tượng đất bạc màu do di chuyển cát: khoảng 0,5triệu ha ở đồng bằng ven biển miền Trung

- Hiện tượng ngập úng, ngập lũ, lầy hóa: có diện tích khoảng 1,4 triệu ha

- Hiện tượng ô nhiễm môi trường đất, nước và bùn do nước thải xung quanh đô thị, các khu công nghiệp và những nơi sử dụng thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ, những nơi bị rải chất chất độc màu da cam trong chiến tranh

Nguyên nhân của vấn đề suy thoái đất có thể kể đến gồm:

- Phương thức canh tác nương rẫy lạc hậu của bà con các dân tộc vùng cao

- Tình trạng khai thác không hợp lý, chặt phá, đốt rừng bừa bãi, sức ép tăng dân số

và các chính sách quản lý không hợp lý

Trang 17

- Việc khai hoang chuyển dân miền xuôi lên trung du, miền núi chưa được chuẩn bị tốt về quy hoạch, kế hoạch và đầu tư, di dân tự do

1.2.3 Tài nguyên nước

Nước là thành phần thiết yếu cho nhu mọi cơ thể sống, chiếm tới 80-90% trọng lượng sinh vật sống trong môi trường nước và khoảng 44% trọng lượng cơ thể người Nước đáp ứng các yêu cầu đa dạng của con người như tưới tiêu cho nông nghiệp, sản xuất công nghiệp, tạo ra điện năng và giải trí Hằng năm có khoảng 5 triệu km3 nước bay hơi

từ đất và các nguồn nước mặt (sông, hồ, đại dương…) sau đó ngưng tụ và mưa xuống, lượng nước do khối nước trên bay hơi hấp thụ xấp xỉ gần 3x1020kcal/năm theo trình tuần hoàn của nước

Hình 1.6 Chu trình tuần hoàn của nước Đặc điểm chính của các nguồn nước:

- Nguồn nước mưa: lượng nước mưa phân bố không đều trên Trái đất, nhìn chung nước mưa là nguồn nước tương đối sạch, đáp ứng được các tiêu chuẩn dùng nước Nguồn nước mưa có thể là nguồn nước sử dụng chủ yếu của một số vùng hải đảo, đồi núi, các vùng bị nhiễm phèn, mặn

- Nguồn nước mặt: là nguồn nước có mặt thoáng tiếp xúc với không khí và thường xuyên được bổ sung bởi nước mưa, nước ngầm tầng nông và nguồn nước thải từ khu dân

cư Vì vậy chất lượng nguồn nước mặt bị thay đổi tùy theo mùa

- Nguồn nước ngầm: là nguồn nước tồn tại trong các khoảng trống dưới đất, trong các khe nứt, thấm trong các lớp đất đá và có thể tập trung thành từng bể, bồn, dòng chảy dưới lòng đất

Trang 18

Tài nguyên nước ở trên thế giới theo tính toán hiện nay là 1,39 tỷ km3 tập trung phần lớn ở biển và đại dương với khoảng 1,348 tỷ km3 (chiếm trên 97%), phần còn lại chứa trong khí quyển và thạch quyển Trong đó, trên 97% lượng nước của trái đất là nước mặn, khoảng 2% là nước ngọt tập trung trong băng ở hai cực, 0,57% là nước ngầm, còn lại là nước sông, hồ Lượng nước trong khí quyển chiếm khoảng 0,001%, trong sinh quyển 0,002%

Hình 1.7 Sự phân bố nguồn nước trên Trái đất Lượng nước ngọt được con người sử dụng có nguồn gốc ban đầu là nước mưa ước chừng khoảng 105.000 km3, trong đó khoảng 1/3 chảy ra sông, còn lại 2/3 quay trở lại khí quyển do bốc hơi bề mặt và thoát hơi nước ở thực vật Nếu xem 1/3 lượng nước mưa kể trên (khoảng 40.000 km3) là nguồn nước cung cấp tiềm năng cho con người thì với số dân hiện tại, mỗi người mỗi ngày nhận được trung bình 16 lít nước

Từ khi sinh ra, con người đã tác động vào chu trình nước chủ yếu trong phạm vi của phần nước mưa trên bề mặt Trái đất Con người cần nước cho đời sống và các hoạt động sản xuất nông nghiệp, công nghiệp… Khi dân số tăng nhanh, quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa, nông nghiệp phát triển thì nhu cầu về nước rất lớn và tác động của con người

cả về chất và lượng của nguồn nước ngày càng mạnh Ví dụ để sản xuất một tấn giấy cần

250 tấn nước, 1 tấn phân đạm cần 600 tấn nước, có những ước tính để làm ra một chiếc bánh hamburger phải tiêu tốn 2.400 lít nước từ việc trồng lúa mì, xay bột, làm nhân bánh, trồng rau… Như vậy, trong đời sống và sản xuất, con người đã phải sử dụng thêm đến nguồn nước ngầm

Bảng 1.2 Thể tích các nguồn nước tự nhiên trên thế giới

Trang 19

Các vấn đề môi trường hiện nay liên quan tới tài nguyên nước ở quy mô toàn cầu

có thể phân loại thành các dạng sau:

- Lượng mưa trên trái đất phân bố không đều, phụ thuộc vào địa hình và khí hậu Theo các vùng khí hậu trên thế giới, có thể phân chia lượng mưa trung bình hàng năm như sau: vùng hoang mạc dưới 120 mm, khí hậu khô 120-250 mm, khí hậu khô vừa 250-500mm, khí hậu ẩm vừa 500-1000 mm, khí hậu ẩm 1000-2000 mm, khí hậu rất ẩm trên 2000mm Do vậy có nơi bị thiếu nước, hạn hán, trong khi đó nhiều vùng thường bị mưa

và ngập lụt hàng năm

- Con người ngày càng khai thác và sử dụng nhiều tài nguyên nước hơn Lượng nước ngầm khai thác trên thế giới năm 1990 gấp 30 lần lượng nước khai thác năm 1960 Điều này làm cho nguồn nước ngọt có thể sử dụng được có nguy cơ giảm về trữ lượng, gây ra các thay đổi mạnh mẽ cân bằng nước tự nhiên

- Các nguồn nước trên Trái đất đang bị ô nhiễm bởi các hoạt động của con người như ô nhiễm nước mặt, ô nhiễm nước ngầm, nước biển bởi các tác nhân như thuốc trừ sâu, hóa chất, kim loại nặng, vật chất hữu cơ, các vi sinh vật gây bệnh… Do vậy, vấn đề bảo đảm nguồn nước sạch cho dân cư và các vùng trên thế giới đang là mục tiêu được quan tâm hàng đầu của các tổ chức môi trường quốc tế và các quốc gia

Trang 20

Hình 1.8 Sự suy giảm diện tích của hồ Chad (Châu Phi) theo thời gian

Hiện tượng thiếu nước để dùng đã xảy ra ở nhiều vùng rộng lớn (Trung Đông, Châu Phi) Ở Trung Đông, nước ngọt được sản xuất từ các nhà máy cất nước biển hoặc phải mua nước từ các nước khác, thậm chí phải lấy băng từ Nam cực Do chặt phá rừng mà nguồn nước ngọt ở nội địa đã bị suy giảm nhanh chóng, nhiều dòng sông vào mùa mưa đã trở nên không có nước Có thể nói, nhân loại đang đứng trước ngưỡng cửa của sự khủng hoảng nước

do lượng nước cần cung cấp đã không đủ mà chất lượng nước lại xấu đi do ô nhiễm

Ở nước ta, tiềm năng nước ngọt còn khá lớn Việt Nam là nước có lượng mưa trung bình vào loại cao, khoảng 2.000 mm/năm, gấp 2,6 lượng mưa trung bình của vùng lục địa trên thế giới Tổng lượng dòng chảy hằng năm trên các sông suối Việt Nam khoảng 853

km3 (tương đương 27.100 m3/s), trong tổng lượng dòng chảy phát sinh trên lãnh thổ Việt Nam là 317 km3/năm chiếm 37% tổng lượng dòng chảy, phần còn lại sản sinh từ các nước láng giềng là 536 km3/năm chiếm 63%

Trang 21

Hình 1.9 Bản đồ địa hình và mạng lưới sông suối tại Việt Nam Cùng với nước tầng mặt, chúng ta còn có một lượng nước ngầm đáng kể Theo các tính toán dự báo hiện nay, trữ lượng có tiềm năng khai thác khoảng 60 tỷ m3/năm và trữ lượng khai thác khoảng 5% Nước ngầm được sử dụng rộng rãi cho cấp nước ở các đô thị, đặc biệt đối với thành phố Hà Nội trước khi mở rộng năm 2008 sử dụng 100% nước ngầm Nước ngầm là nguồn nước tốt, sử dụng an toàn, lâu bền Hiện nay khoảng 25% nguồn nước cấp là nước ngầm, trong tương lai, chắc chắn tỷ lệ này sẽ được tăng lên Về chất lượng nước ngầm nói chung trên cả nước đều đáp ứng các yêu cầu sử dụng, đặc biệt

là cho nước sinh hoạt Nhìn chung, hàm lượng BOD và COD của nước ngầm đều thấp hơn giới hạn cho phép Tuy vậy, đã xuất hiện ô nhiễm nước ngầm, rõ rệt nhất là ô nhiễm dinh dưỡng do các hợp chất nitơ, phosphat do các nguồn nước thải ngấm từ trên xuống

Trang 22

Ngoài ra còn phát hiện ô nhiễm kim loại nặng, trong đó đáng chú ý là As, Fe, Mn, Hg tình trạng ô nhiễm vi sinh cũng khá phổ biến Bên cạnh đó, do sử dụng không hợp lý, khai thác bừa bãi làm cho lượng nước ngầm bị suy giảm nghiêm trọng, ảnh hưởng đến kết cấu của các lớp đất tầng mặt

Về chất lượng, nước của các sông ngòi nước ta hiện nay, mặc dù đã có xuất hiện các hiện tượng ô nhiễm về các chất hữu cơ, các chất dinh dưỡng, kim loại nặng và hóa chất độc ở một vài nơi, song nhìn chung, có thể thỏa mãn các nhu cầu về kinh tế, xã hội

do độ khoáng hóa thấp (200 mg/l), phản ứng trung tính hoặc kiềm yếu, thuộc loại nước mềm hoặc rất mềm

Nhìn chung, tài nguyên nước mặt và nước ngầm có thể khai thác và sử dụng ở Việt Nam rất phong phú, nhưng lượng nước tạo ra tính đến nay trong lãnh thổ chỉ có khoảng

325 tỷ m3/năm (khoảng 4200 m3/người/năm), không thuộc nhóm các quốc gia giàu tài nguyên nước Hiện nay chúng ta mới sử dụng khoảng 20-30% lượng nước trên toàn bộ lãnh thổ Tuy nhiên, do nguồn nước phân phối rất không đều trong năm nên đã gây bất lợi trong sử dụng nước

Các vấn đề môi trường liên quan với tài nguyên nước ở nước ta có thể kể đến như sau:

- Lượng mưa phân bố không đều trong năm Tình trạng thiếu nước mùa khô, lũ lụt mùa mưa đang xảy ra tại nhiều địa phương với mức độ ngày càng nghiêm trọng Ví dụ tình trạng giảm trữ lượng nước ở các hồ chứa Hòa Bình, Trị An… hay lũ quét ở các tỉnh Yên Bái, Nghệ An… mà nguyên nhân chính là do rừng đầu nguồn bị chặt phá Tình trạng này có tác động tiêu cực tới các hoạt động canh tác nông nghiệp, sản xuất công nghiệp và đời sống dân cư

- Tình trạng cạn kiệt nguồn nước ngầm và ô nhiễm nước ngầm đang diễn ra ở các

đô thị lớn và các tỉnh đồng bằng Nguyên nhân chính là do khai thác quá mức, thiếu quy hoạch, nước thải không xử lý

- Sự ô nhiễm nước mặt đã xuất hiện trên một số sông và mạng sông, kênh rạch thuộc một số đô thị lớn (sông Tô Lịch, sông Nhuệ, sông Thị Vải, sông Sài Gòn…) Một

số hồ ao có hiện tượng phú dưỡng nặng, một số vùng cửa sông có dấu hiệu ô nhiễm dầu, thuốc trừ sâu, kim loại nặng Nguyên nhân là do nước thải, chất thải rắn chưa được thu gom, xử lý thích hợp

Trang 23

- Sự xâm nhập mặn vào sông xảy ra với quy mô ngày càng gia tăng ở nhiều sông tại khu vực miền Trung và đồng bằng sông Mekong Nguyên nhân do giảm rừng đầu nguồn, khí hậu thay đổi bất thường

1.2.4 Tài nguyên khoáng sản

Tài nguyên khoáng sản có thể hiểu là tích tụ vật chất dưới dạng hợp chất hoặc đơn chất trong lòng đất và được chứa trong lớp vỏ Trái đất, trên bề mặt đáy biển hay hoà tan trong nước biển, mà ở điều kiện hiện tại, con người có đủ khả năng lấy ra các nguyên tố

có ích hoặc sử dụng trực tiếp chúng trong đời sống hàng ngày Tài nguyên khoáng sản thường tập trung trong một khu vực gọi là mỏ khoáng sản Tài nguyên khoáng sản có ý nghĩa rất quan trọng trong sự phát triển kinh tế của loài người Tuy nhiên, việc khai thác

sử dụng tài nguyên khoáng sản có tác động mạnh mẽ đến môi trường sống Một mặt tài nguyên khoáng sản là nguồn vật liệu để tạo nên các dạng vật chất có ích và của cải của con người, đồng thời, việc khai thác tài nguyên khoáng sản thường tạo ra các chất ô nhiễm như bụi, kim loại nặng, các hoá chất độc và hơi khí độc

Khoáng sản rất đa dạng cả về nguồn gốc và chủng loại, được phân loại theo nhiều cách khác nhau:

- Theo dạng tồn tại: rắn, lỏng (dầu, nước khoáng ), khí (khí đốt, He );

- Theo nguồn gốc: nội sinh, ngoại sinh;

- Theo thành phần hoá học: Khoáng sản kim loại (đồng, nhôm, sắt, vàng, bạc, chì, kẽm…) và khoáng sản phi kim loại, ví dụ như photphat, sunphat, clorit , các nguyên liệu dạng khoáng: cát sỏi, thạch anh, đá vôi và dạng nhiên liệu (than, dầu mỏ, khí đốt ) Nước cũng được coi là một dạng khoáng sản (nước ngầm, nước nóng chứa khoáng chất )

- Cách phân loại phổ biến nhất hiện nay là theo khả năng sử dụng: Nhóm khoáng sản năng lượng (dầu khí, than), nhóm khoáng sản kim loại, nhóm khoáng chất công nghiệp và nhóm vật liệu xây dựng

Con người đã biết sử dụng kim loại, khai thác khoáng sản và nấu chảy kim loại từ rất xa xưa, song tốc độ khai thác chỉ được nâng cao sau cuộc cách mạng công nghiệp vào giữa thế kỷ 18 Trong 100 năm trở lại đây, loài người đã lấy đi từ trong lòng đất một lượng khổng lồ các khoáng sản với các ước tính khoảng 130 tỷ tấn than, 38 tỷ tấn dầu Bảng 1.3 Tình hình sản xuất một số khoáng chất chiến lược trên thế giới năm 2010 và thời gian khai thác ước tính (có lợi nhuận khi khai thác với điều kiện hiện tại) (Cục Địa

chất Mỹ, 2011)

Trang 24

Khoáng chất Khối lượng sản

Hình 1.10 Công trường khai thác lộ thiên tại mỏ vàng Super Pit (Australia) và mỏ kim

cương Kimberly (Nam Phi)

Trang 25

Việc khai thác khoáng sản biển và dưới đáy biển cũng đã được thực hiện từ lâu, đặc biệt với những khoáng sản đặc trưng ở biển như iốt, brom Hiện tại công việc thăm dò và khai thác khoáng sản biển ngày càng tăng cao khi các mỏ ở lục địa đã cạn dần, đặc biệt là dầu mỏ và khí đốt, sau đó là các khoáng sản khác

Tài nguyên khoáng sản của nước ta rất phong phú và đa dạng Công tác thăm dò địa chất trong những năm qua đã phát hiện và đánh giá được trữ lượng của 5.000 mỏ và điểm quặng, thuộc 60 loại khoáng sản (Chương trình KT-02, 1995) Trong đó có thể kể đến như sau:

a Nhóm khoáng sản năng lượng

- Dầu khí: Việt Nam có tiềm năng dầu khí đáng kể Tiềm năng và trữ lượng dầu khí

có khả năng thu hồi của các bể trầm tích Đệ tam của Việt Nam khoảng 4,300 tỷ tấn dầu quy đổi, trong đó trữ lượng phát hiện là 1,208 tỷ tấn và trữ lượng dầu khí có khả năng thương mại là 814,7 triệu tấn dầu quy đổi Đến ngày 2/9/2009 tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam đã đạt mốc khai thác 300 triệu tấn dầu quy đổi Với sản lượng khai thác dầu khí hàng năm, hiện nay Việt Nam đứng hàng thứ ba ở Đông Nam Á sau Indonesia và Malaysia

- Than: Việt Nam là nước có tiềm năng về than khoáng các loại Than biến chất thấp (lignit - á bitum) ở phần lục địa trong bể than sông Hồng tính đến chiều sâu 1.700m

có tài nguyên trữ lượng đạt 36,960 tỷ tấn Nếu tính đến độ sâu 3.500m thì dự báo tổng tài nguyên than đạt đến 210 tỷ tấn

+ Than biến chất trung bình (bitum) đã được phát hiện ở Thái Nguyên, vùng sông

Đà và vùng Nghệ Tĩnh với trữ lượng không lớn, chỉ đạt tổng tài nguyên gần 80 triệu tấn + Than biến chất cao (anthracit) phân bố chủ yếu ở các bể than Quảng Ninh, Thái Nguyên, sông Đà, Nông Sơn với tổng tài nguyên đạt trên 18 tỷ tấn Bể than Quảng Ninh

là lớn nhất với trữ lượng đạt trên 3 tỷ tấn Bể than Quảng Ninh đã được khai thác từ hơn

100 năm nay phục vụ tốt cho các nhu cầu trong nước và xuất khẩu

- Quặng urani: Ở Việt Nam đã phát hiện nhiều tụ khoáng urani ở Đông Bắc Bộ, Trung Trung Bộ và Tây Nguyên Tổng tài nguyên urani ở Việt Nam được dự báo trên 218.000 tấn U3O8 có thể là nguồn nguyên liệu khoáng cho các nhà máy điện hạt nhân trong tương lai

- Địa nhiệt: Việt Nam có nhiều nguồn nước nóng, ở phần đất liền có 264 nguồn có nhiệt độ là 300C trở lên Các nguồn nước nóng chủ yếu được phân bố ở Tây Bắc, Nam Trung Bộ và Tây Nguyên Ngoài ra nhờ khoan thăm dò, khai thác dầu khí chúng ta cũng

Trang 26

phát hiện được nhiều nguồn nước nóng ở dưới sâu thuộc Bể Sông Hồng và Bể Cửu Long Tiềm năng địa nhiệt của Việt Nam không lớn nhưng có thể coi là nguồn năng lượng bổ sung cho các nguồn năng lượng truyền thống

b Nhóm khoáng sản kim loại

Việt Nam có nhiều loại như sắt, mangan, crôm, titan, đồng, chì, kẽm, cobalt, nickel, nhôm, thiếc, vonfram, bismut, molybden, lithi, đất hiếm, vàng, bạc, platin, tantal-niobi Trong số khoáng sản kim loại kể trên có các loại tài nguyên trữ lượng lớn như bauxit (nhôm), đất hiếm, titan, wolfram, crôm…

- Bauxite có 2 loại chủ yếu là diaspor và gibsit Trong đo diaspor có nguồn gốc trầm tích phân bố ở Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Hải Dương và Nghệ An với tài nguyên trữ lượng không lớn chỉ đạt gần 200 triệu tấn Gibsit có nguồn gốc phong hoá từ

đá bazalt, phân bố chủ yếu ở Tây Nguyên với trữ lượng đạt gần 2,1 tỷ tấn (Cục Địa chất

Mỹ 2010 đã xếp Việt Nam đứng thứ 3 thế giới về trữ lượng bauxite sau Guinea 7,4 tỷ tấn

và Australia 6,2 tỷ tấn) Hiện bauxite đang được khai thác thử nghiệm để sản xuất alumina ở Tân Rai, Lâm Đồng và Nhân Cơ, Đăk Nông

- Đất hiếm ở Việt Nam tập trung chủ yếu ở khu vực Tây Bắc Bộ (Nậm Xe, Mường Hum ) với tổng tài nguyên trữ lượng đạt gần 10 triệu tấn đứng thứ 3 trên thế giới sau Trung Quốc (36 triệu tấn) và Mỹ (13 triệu tấn) Quặng đất hiếm ở Việt Nam chưa được khai thác sử dụng

- Quặng titan (Ilmenit) ở Việt nam có 3 loại: quặng gốc trong đá xâm nhập mafic, quặng trong vỏ phong hoá và quặng sa khoáng ven biển Quặng titan gốc trong đá xâm nhập mafic ở Cây Châm, Phú Lương (Thái Nguyên) có trữ lượng 4,83 triệu tấn ilmenit và tài nguyên đạt 15 triệu tấn hiện đang được khai thác Quặng ilmenit trong vỏ phong hoá

và sa khoáng phân bố chủ yếu ở các huyện Phú Lương và Đại Từ (Thái Nguyên) với tài nguyên dự báo đạt 2,5 triệu tấn Quặng titan sa khoáng ven biển phân bố rải rác từ Móng Cái đến Vũng Tàu Đặc biệt ở một số diện tích ven biển tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận và

Bà Rịa - Vũng Tàu có tiềm năng lớn, tài nguyên dự báo đạt hàng trăm triệu tấn Ngoài khoáng vật ilmenit, còn có các khoáng vật có giá trị kinh tế kỹ thuật là zircon và monazit Một số mỏ ilmenit ở Hà Tĩnh, Bình Định, Bình Thuận đã được khai thác và xuất khẩu

- Quặng Wolfram tập trung chủ yếu ở tụ khoáng Đá Liền, Đại Từ, Thái Nguyên Công ty Khai khoáng Tiberon (Tiberon Minerals) của Canada đã tiến hành thăm dò xác định tài nguyên và trữ lượng đạt 110,2 triệu tấn quặng chứa 227.500 tấn WO3; 8,5 triệu tấn CaF2; 191.800 tấn Cu; 20,8 tấn Au và 107.000 tấn Bi

Trang 27

- Quặng crôm sa khoáng có giá trị kinh tế kỹ thuật được tìm thấy ở Cổ Định, Nông Cống (Thanh Hoá) với trữ lượng 22 triệu tấn đang được khai thác Đi kèm crôm còn có trữ lượng đáng kể của nickel và cobal

c Nhóm khoáng chất công nghiệp

Việt Nam có nhiều loại khoáng chất công nghiệp như apatit, phosphorit, barit, fluorit, pyrit, serpentin, than bùn, sét gốm sứ, magnesit, dolomit, felspat, kaolin, pyrophylit, quartzit, cát thuỷ tinh, disthen, silimanit, sét dẻo chịu lửa, diatomit, graphit, talc, atbest, muscovit, vermiculit, bentonit, thạch anh tinh thể Các khoáng chất công nghiệp ở Việt Nam đã được đánh giá và nhiều mỏ đã được khai thác phục vụ cho các ngành nông, công nghiệp Các mỏ lớn đáng chú ý là apatit, barit và graphit

- Quặng Apatit phân bố dọc bờ phải sông Hồng, từ biên giới Việt-Trung kéo dài xuống Văn Bàn (Lào Cai), dài trên 100km, rộng trung bình 1km, được đánh giá có tài nguyên đến độ sâu 100m, là 2,5 tỷ tấn và trữ lượng đã được thăm dò đạt 900 triệu tấn

- Barit phân bố chủ yếu ở miền Bắc Việt Nam, thường đi kèm với quặng Pb-Zn và đất hiếm Tổng tài nguyên dự báo đạt 25 triệu tấn (trong tụ khoáng Đông Pao, Lai Châu

Ngoài các loại khoáng sản kể trên, từ năm 1987 chúng ta đã phát hiện nhóm đá quý ruby, saphia, peridote nhưng trữ lượng không lớn Riêng ruby ở Yên Bái và Nghệ An có chất lượng cao, được thế giới đánh giá đạt chất lượng quốc tế, tương đương với ruby nổi tiếng của Myanmar

Việt Nam là quốc gia có nhiều loại khoáng sản nhưng trữ lượng không lớn Nhiều khoáng sản kim loại (vàng, bạc, đồng, chì , kẽm, thiếc ) có nhu cao trên thế giới thì nước

ta cũng có ít, không đảm bảo tiêu dùng trong nước Một số ít khoáng sản như bauxite, đất hiếm, ilmenite có trữ lượng lớn, song nhu cầu hàng năm không cao, nguồn cung đủ đáp ứng cho hàng trăm năm nữa Trữ lượng bauxite trên thế giới là 27 tỷ tấn và với sản lượng khai thác hàng năm trên 200 triệu tấn thì khoảng 135 năm nữa mới hết bauxite Đất hiếm trên thế giới có trữ lượng đạt 99 triệu tấn, nhu cầu hàng năm chỉ cần 125.000 tấn thì 700

Trang 28

năm nữa mới cạn kiệt loại khoáng sản này Thế giới có nhiều quặng titan với tổng tài nguyên đạt hơn 2 tỷ tấn, trong đó trữ lượng đạt 730 triệu tấn Hàng năm thế giới chỉ tiêu thụ hơn 6 triệu tấn, như vậy 128 năm nữa mới hết quặng titan

Khoáng sản là loại tài nguyên không tái tạo được và có số lượng hạn chế trong lòng đất do đó cần có chiến lược quản lý bảo vệ khai thác để sử dụng hợp lý tiết kiệm và có hiệu quả phục vụ cho sự nghiệp xây dựng và phát triển kinh tế xã hội, an ninh quốc phòng của đất nước Việc bảo vệ tài nguyên và môi trường trong khai thác và sử dụng khoáng sản Việt Nam, phải quan tâm đến các khía cạnh:

- Hạn chế tổn thất tài nguyên và tác động tiêu cực đến môi trường trong quá trình thăm dò, khai thác, chế biến

- Điều tra chi tiết, quy hoạch khai thác và chế biến khoáng sản, không xuất thô các loại nguyên liệu khoáng, tăng cường tinh chế và tuyển luyện khoáng sản

- Đầu tư xử lý chất ô nhiễm phát sinh trong quá trình khai thác và sử dụng khoáng sản như xử lý chống bụi, chống độc, xử lý nước thải

1.3 Sự bùng nổ dân số

1.3.1 Quá trình bùng nổ dân số tự nhiên

Sự gia tăng dân rất nhanh của loài người cùng với sự phát triển trình độ kỹ thuật là nguyên nhân hàng đầu gây ra sự suy thoái Sinh quyển Ngày nay sự tăng dân số trên thế giới đã tạo thành một hiện tượng đặc biệt của thời hiện đại được biết đến như là sự bùng

nổ dân số trong thế kỷ 20 Với dân số ước tính khoảng 7,112 tỷ người (2013) và diện tích

bề mặt đất là khoảng 150 triệu km2, mật độ trung bình trên Trái đất hiện đạt khoảng 47 người/km2 Với dân số như vậy, loài người đang ngày càng gây sức ép mạnh lên các vùng đất có khả năng nông nghiệp để sản xuất lương thực và cả lên những hệ sinh thái tự nhiên khác

Các nghiên cứu về cổ sinh vật học và khảo cổ học cho phép ước lượng một cách tương đối chính xác dân số kể từ thời đồ đá cũ Vượn người Australopitec (vượn phương nam) và sau đó là những người cổ đầu tiên xuất hiện ở Châu Phi, với dân số không quá 125.000 cá thể vào khoảng một triệu năm về trước Trong thời đại đồ đá cũ, dân số loài người tăng chậm chạp và bắt đầu từ châu Phi rồi lan dần lên vùng Trung Đông rồi đến Châu Á, Châu Âu, Châu Úc và Châu Mỹ Dân số loài người để đạt được con số một triệu đầu tiên cách đây khoảng 100.000 năm

Trang 29

Hình 1.11 Quá trình di cư của loài người theo kết quả từ pha 2 Dự án Địa lý gen

(Genographic Project) công bố ngày 6/12/2012 Đến đầu thời đại đồ đá mới, dân số loài người đã đạt con số 5 triệu, cách ngày nay khoảng 10.000 năm Nền văn hoá định cư và nông nghiệp trong thời kỳ này cùng với sự tăng dân số mạnh đã đưa dân số loài người lên đến 150 triệu vào đầu Đế chế La Mã (khoảng 500 năm trước CN)

Vào đầu công nguyên, dân số tăng nhanh và đến năm 1650, đã đạt đến 545 triệu Tuy nhiên trong thời gian này nhiều sự cố xảy ra như chiến tranh, đói khát và dịch bệnh giết hại nhiều người, đã hạn chế tăng dân số Nạn dịch hạch lớn nhất trong lịch sử xảy ra trong thế

kỷ 14 ở Châu Âu đã làm thiệt mạng khoảng 22 triệu người vào năm 1348 và 1350 Chỉ trong hai năm, đã có đến 25% dân số Châu Âu bị thiệt mạng do dịch bệnh

Trang 30

Hình 1.12 Bản đồ mật độ dân số thế giới (2013)

Từ thế kỷ 18 trở đi, dân số loài người tăng mạnh với cấp số nhân, phần chính là do sản xuất nông nghiệp phát triển, nhiều loài cây trồng mới có năng suất cao được đưa vào sản xuất như khoai tây và kỹ thuật trồng trọt cũng được cải tiến Nạn chết chóc vẫn xảy ra một cách nặng nề do chiến tranh (khoảng 50 triệu người đã bị chết trong chiến tranh thế giới II) Dịch bệnh và nạn đói khát thường xuyên đe dọa nhiều nước nghèo thuộc cả năm châu Tuy nhiên dân số vẫn bùng nổ, chủ yếu là ở các nước nghèo, như ở châu Phi, Ấn

Độ, Trung Quốc và các nước khác thuộc Châu Á

Còn tại Việt Nam, hiện nay dân số đã đạt trên 89 triệu người, là nước đông dân thứ

13 trên thế giới và thứ 3 trong khu vực Đông Nam Á, với mật độ lên đến 267 người/km2, thuộc nhóm các nước có mật độ cao nhất thế giới Theo thông tin mới nhất từ Hội nghị tổng kết 10 năm thực hiện Pháp lệnh dân số (24/9/2013), với tốc độ tăng như hiện tại (1 triệu người/năm), dân số Việt Nam chính thức cán mốc 90 triệu vào 1/11/2013 và đạt khoảng 110 triệu người vào năm 2050 theo phương án mức sinh trung bình như hiện tại

Trang 31

Hình 1.13 Dân số trung bình tại Việt Nam qua các năm

1.3.2 Tác động của con người lên Trái đất

Hiện nay dân số loài người đã hơn 7,1 tỷ (2013) và đang tiếp tục tăng lên khoảng 8,3 đến 10,9 tỷ vào năm 2050 theo ước tính của LHQ

Hình 1.14 Biểu đồ dân số thế giới (2005) Con người đang tìm mọi cách để chiếm đoạt các sản phẩm được thiên nhiên tạo ra cùng với nhiều hoạt động khác để phát triển xã rất phức tạp và vì thế mà loài người đã

Trang 32

gây nên tác động cực kỳ lớn lên các chu trình sinh địa hoá Con người đã làm thay thế những vùng rộng lớn của trái đất có hệ sinh thái tự nhiên phức tạp và đa dạng về loài bằng những hệ sinh thái đơn giản, đặc biệt cho sản xuất nông nghiệp Bằng cách đốt rừng, đốt củi và than, canh tác trên các loại đất, sử dụng các loại nhiên liệu hoá thạch trong công nghiệp, loài người đã tăng cường hoạt động chuyển cácbon hữu cơ vào khí quyển Chu trình nitơ, photpho và sulfua cũng bị loài người làm rối loạn Việc đẩy mạnh sản xuất phân bón đã làm tăng gấp đôi mức cố định đạm và chuyển đạm vào đất, các hoạt động công nghiệp cũng đã làm tăng gấp đôi mức chuyển sulfua từ thạch quyển vào khí quyển Việc làm tăng mức độ nitơ và photpho vào chất dinh dưỡng có thể gây nên sự thay đổi cơ bản trong các quần xã tự nhiên và sulfua cũng là nguyên nhân chính gây nên hiện tượng mưa axit

Các hoạt động của con người cũng đã gây nên những tác động sâu sắc lên hệ sinh vật tự nhiên của các địa phương Và đến nay rõ ràng hoạt động của con người đã gây tác động rộng rãi hơn lên cả hành tinh, đặc biệt là đã làm cho khí hậu toàn cầu bị biến đổi Kết quả nghiên cứu về khí hậu của trái đất trước kia qua dấu vết để lại trong các lớp băng

ở địa cực đã chứng tỏ rằng nồng độ CO2 và CH4 (khí nhà kính) ngày nay trong khí quyển

là chưa từng có trong khoảng 420.000 năm trước đây Mặc dù nồng độ của các khí này trong khí quyển là thấp (CO2 khoảng 360 và CH4 1,7 phần triệu theo thể tích), nhưng hai khí này giữ vai trò hết sức quan trọng trong việc làm thay đổi khí hậu toàn cầu Điều rõ ràng là nồng độ của hai khí này tăng lên là do hoạt động của con người Theo báo cáo lần thứ 4 của IPCC (2007) (báo cáo lần thứ 5 dự kiến sẽ công bố vào năm 2014) thì đến cuối thế kỷ này, hàm lượng khí nhà kính sẽ tăng lên gấp đôi so với thời kỳ công nghiệp, nhiệt

bộ trung bình toàn cầu sẽ tăng lên từ 1,80C đến 6,40C, có nghĩa là tăng gấp 3-6 lần so với thế kỷ trước, khi đó mức nước biển sẽ dâng cao hơn 28-58cm (so với năm 1989-1990) và

có thể tới 1m nếu tốc độ băng tan ở hai cực vẫn tiếp tục như hiện nay Trong bối cảnh đó, các dạng thiên tai như bão, lốc, mưa lũ, hạn hán, những đợt nắng nóng, thậm chí cả những đợt băng giá, ngập lụt ở vùng đồng bằng thấp, lũ quét và sạt lở đất ở các vùng núi… sẽ có

xu hướng tăng lên và có những biến động khó lường trước Tất cả những hiện tượng đó đang đe doạ đến sự phát triển và tồn tại của tất cả các dân tộc trên thế giới

1.3.3 Mối quan hệ giữa dân số - tài nguyên và môi trường

Gia tăng dân số là một trong những nguyên nhân gây nên những sự thay đổi, những tác động tiêu cực đến tài nguyên thiên nhiên và môi trường

a Tác động môi trường của sự gia tăng dân số

Trang 33

Ảnh hưởng của việc gia tăng dân số vào tác động môi trường có thể định lượng trong công thức Ehrlich & Holdren (1971, 1972):

I = P * A * T

Trong đó: I (Impact): Tác động môi trường

P (Population): Dân số

A (Affluence): Sự giàu có (Mức tiêu thụ tài nguyên trên đầu người)

T (Techology): Công nghệ (Quyết định mức tác động của môi đơn vị tài

nguyên được tiêu thụ)

Tính trên toàn thế giới, các nước đang phát triển đóng góp chủ yếu ở nhân tố P (bùng

nổ dân số) trong khi các nước phát triển đóng góp chủ yếu vào các nhân tố A và T Tại các nước phát triển, trình độ công nghệ cao cho phép đưa ra các công nghệ tương đối “sạch”, dân số ổn định (thậm chí có xu hướng giảm) song mức độ tiêu thụ cá nhân lại rất cao Các nước đang phát triển có mức độ tiêu thụ cá nhân trung bình song dân số và công nghệ sạch là cả 1 vấn đề lớn Còn tại các nước chậm phát triển, mức độ tiêu thụ cá nhân rất thấp song mức độ tăng dân số quá nhanh và việc sử dụng các công nghệ lạc hậu gây ô nhiễm môi trường là các nhân tố làm tăng sự áp lực lên môi trường sống

Tác động của sự gia tăng dân số đến môi trường được biểu hiện ở các khía cạnh liên quan đến các chức năng của môi trường:

- Tạo ra sức ép lớn về không gian sống cho con người

- Tạo ra sức ép lớn lên thiên nhiên và môi trường do khai thác quá mức các nguồn tài nguyên

- Tạo ra các nguồn thải tập trung vượt quá khả năng tự phân hủy của môi trường tự nhiên trong các khu vực đô thị, khu sản xuất nông nghiệp, công nghiệp

- Làm suy giảm khả năng của môi trường trong hạn chế thiên tai, thậm chí làm gia tăng nguy cơ tai biến tự nhiên

- Làm suy thoái môi trường cục bộ nghiêm trọng

b Quan hệ giữa dân số và tài nguyên

- Dân số và tài nguyên đất đai: hàng năm trên thế giới có gần 70.000 km2 đất canh tác bị hoang mác hóa do sự gia tăng dân số Hoang mạc hóa đang đe dọa gần 1/3 diện tích Trái đất, ảnh hưởng đến cuộc sống của ít nhất 850 triệu người Một diện tích lớn đất canh tác bị nhiễm mặn và không còn khả năng trồng trọt do tác động gián tiếp của con người

Trang 34

- Dân số và tài nguyên rừng: Dân số gia tăng dẫn đến thu hẹp diện tích rừng do các nhu cầu: khai thác gỗ phục vụ xây dựng, sinh hoạt, sản xuất, phá rừng làm nương rẫy, mở đường giao thông, nuôi trồng thủy sản… Ước tính 80% nguyên nhân suy giảm rừng nhiệt đới trên thế giới là do gia tăng dân số Ở Việt Nam, tính trung bình từ năm 1975 đến 2003 diện tích rừng giảm đi 2,5% ứng với mức tăng dân số 1%

- Dân số và tài nguyên nước: tác động chính của việc gia tăng dân số đối với tài nguyên nước như sau:

+ Làm giảm diện tích nước mặt

+ Làm ô nhiễm các nguồn nước do chất thải sinh hoạt, sản xuất công – nông nghiệp + Làm thay đổi chế độ thủy văn dòng chảy sông suối

Chương trình nghiên cứu về nước của UNESCO chỉ rõ ra rằng năm 1985 các nguồn nước sạch trên Trái đất trên đầu người còn dồi dào với trên 33.000m3/người/năm, nhưng hiện nay giảm xuống còn 8.500 m3/người/năm

- Dân số và khí quyển: việc tăng dân số ở các nước phát triển và đang phát triển chịu gần 2/3 trách nhiệm trong việc gia tăng lượng phát thải khí CO2 Gần đây, các chỉ tiêu

“Tổng phát thải CO 2 ” và “Phát thải CO 2 bình quân đầu người” đã được đưa vào trong các

báo cáo cùng các thống kê dân số

1.4 Hiện tượng biến đổi khí hậu toàn cầu

Dù nguyên nhân của sự biến đổi khí hậu vẫn còn đang có nhiều ý kiến tranh luận khác nhau song quá trình biến đổi của khí hậu toàn cầu là vấn đề đang thực sự diễn ra trên Trái đất và các bằng chứng có thể quan sát trực tiếp được như:

- Sự xuất hiện ngày càng thường xuyên của các hình thái khí hậu cực đoan dẫn đến các hậu quả của nó như mưa bão, lũ lụt, hạn hán;

- Sự suy giảm về lượng băng tại 2 cực của Trái đất dựa trên các quan sát từ ảnh vệ tính;

- Sự thay đổi về nhiệt độ của Trái đất theo xu hướng tăng dần;

- Sự gia tăng hàm lượng CO2 dẫn đến hiệu ứng nhà kính;

- Sự thay đổi của mực nước biển với xu hướng dâng lên tại các vùng đất thấp, trong

đó Việt Nam tuy không phải là tác nhân chính gây nên sự biến đổi khí hậu song lại là một trong những nạn nhân chịu tác động lớn nhất khi mực nước biển dâng cao

Trang 35

Hiện tượng biến đổi khí hậu toàn cầu đang có xu hướng ảnh hưởng xấu đến các dạng tài nguyên thiên nhiên như đất, nước, đa dạng sinh học và làm giảm sút chất lượng môi trường ngày càng rõ, gây ảnh hưởng lớn đến sự phát triển bền vững Các nhân tố ảnh hưởng đến sự biến đổi khí hậu toàn cầu bao gồm cả các nguyên nhân tự nhiên và nhân sinh Tuy nhiên, có thể khẳng định được rằng trong thời gian vài chục năm gần đây, con người đã làm thay đổi một cách cơ bản môi trường của Trái đất thông qua các hoạt động của mình:

- Làm cho các hệ sinh thái và sinh cảnh bị biến đổi và phân mảnh Loài người đã làm thay đổi các hệ sinh thái một cách hết sức nhanh chóng trong khoảng 50 năm qua, nhanh hơn bất kỳ thời kỳ nào trước đây Diện tích các vùng đất hoang dã đã được chuyển đổi thành đất nông nghiệp, chỉ tính riêng từ năm 1945 đến nay đã lớn hơn cả trong thế kỷ thứ 18 và 19 cộng lại Tất cả những điều đó đã gây nên những sự mất mát về đa dạng sinh học trên thế giới một cách nghiêm trọng không thể nào đảo ngược được, trong đó có khoảng 10 đến 30% số loài chim, thú và bò sát hiện đang có nguy cơ bị tiêu diệt

Các chuyên gia cũng cảnh báo rằng sự biến đổi của các hệ sinh thái, như suy thoái rừng sẽ gây thêm bệnh tật cho con người, như bệnh sốt rét, bệnh tả và cả nguy cơ bùng nổ của nhiều bệnh mới Theo báo cáo của Chương trình Đánh giá thiên niên kỷ về hệ sinh thái (Millenium Ecosystem Assessment (MA) Synthesis Report, 2005) thì bảo vệ rừng không chỉ có ý nghĩa bảo tồn đa dạng sinh học mà còn để cung cấp nước ngọt và giảm bớt khí CO2 phát thải

- Thay đổi chu trình thuỷ văn: Các hoạt động của con người đã làm giảm sút một cách đáng kể số lượng và chất lượng nguồn nước ngọt của thế giới Các hoạt động thiếu quy hoạch hợp lý như ngăn sông, đắp đập, chuyển đổi đất ngập nước, gây ô nhiễm, đồng thời nhu cầu ngày càng tăng nhanh và nhiều của con người về nguồn nước ngọt đã làm thay đổi các dòng nước tự nhiên, thay đổi quá trình lắng đọng và làm giảm chất lượng nước Tất cả những điều đó đều tác động tiêu cực lên sự phát triển, lên đa dạng sinh học, lên chức năng của các hệ thống thủy vực trên thế giới, thậm chí dẫn đến xung đột giữa các quốc gia trên thế giới, những vụ tranh chấp nguồn nước giữa các quốc gia đều vô cùng căng thẳng và không ít trường hợp đã dẫn đến xung đột quân sự (khu vực Trung Đông, Bắc Phi) Trong các cuộc xung đột tranh chấp nguồn nước ở Trung Đông và Nam Á, những quốc gia vùng đầu nguồn các dòng sông đều luôn ở thế thượng phong

- Sự xâm nhập của các loài ngoại lai đang tăng lên với tốc độ đáng lo ngại do tăng nhanh các hoạt động buôn bán hàng hoá và các loài sinh vật một cách rộng rãi trên thế giới Sự xâm nhập của các loài ngoại lai hiện đang là mối đe dọa lớn nhất lên tính ổn định

Trang 36

và đa dạng của các hệ sinh thái, chỉ sau nguy cơ mất sinh cảnh Các đảo nhỏ và các hệ sinh thái thuỷ vực nước ngọt là những nơi bị tác động nhiều nhất

- Mất đa dạng sinh học ngày nay đang diễn ra một cách nhanh chóng chưa từng có,

kể từ thời kỳ các loài khủng long bị tiêu diệt cách đây khoảng 65 triệu năm và tốc độ biến mất của các loài hiện nay ước tính gấp khoảng 100 lần so với tốc độ mất các loài trong lịch sử Trái đất và trong những thập kỷ sắp tới mức độ biến mất của các loài sẽ gấp 1.000-10.000 lần (MA, 2005) Có khoảng 10% các loài đã biết được trên thế giới đang cần phải

có những biện pháp bảo vệ, trong đó có khoảng 16.000 loài được xem là đang có nguy cơ

bị tiêu diệt Trong số các loài thuộc các nhóm động vật có xương sống chính đã được nghiên cứu khá kỹ, có hơn 30% các loài ếch nhái, 23% các loài thú và 12% các loài chim (IUCN, 2005), nhưng thực tế số loài đang nguy cấp lớn hơn rất nhiều

Tình trạng nguy cấp của các loài không phân bố đều giữa các vùng trên thế giới Các vùng rừng ẩm nhiết đới có số loài nguy cấp nhiều nhất, rồi đến các vùng rừng khô nhiệt đới, vùng đồng cỏ miền núi Sự phân bố của các loài nguy cấp nước ngọt chưa được nghiên cứu kỹ, nhưng kết quả nghiên cứu ở một số vùng cho biết rằng các loài ở nước ngọt nhìn chung có nguy cơ bị tiêu diệt cao hơn rất nhiều so với các loài ở trên đất liền Nghề khai thác thuỷ sản đã bị suy thoái nghiêm trọng và đã có đến 75% ngư trường trên thế giới đã bị khai thác cạn kiệt hay khai thác quá mức (UNEP, 2007)

Nguyên nhân mất mát đa dạng sinh học chính là mất nơi sinh sống và nơi sinh sống

bị phân cách; khai thác quá mức các loài hoang dã; xâm nhập của các loài ngoại lai; ô nhiễm; thay đổi khí hậu toàn cầu Sự giảm bớt số các loài được nuôi trồng, đồng thời đã làm giảm nguồn gen trong nông nghiệp, lâm nghiệp và chăn nuôi

Ước tính đã có khoảng 60% khả năng dịch vụ cho sự sống trên Trái đất của các hệ sinh thái - như nguồn nước ngọt, nguồn cá, điều chỉnh không khí và nước, điều chỉnh khí hậu vùng, điều chỉnh các thiên tai và dịch bệnh tự nhiên đã bị suy thoái hay sử dụng một cách không bền vững

Các nghiên cứu mới nhất đều cho thấy các hoạt động của con người đã gây nên nhiều biến đổi lớn về khí hậu, trong đó, thay đổi khí hậu toàn cầu đang xảy ra phần lớn là

do tác động của khí nhà kính (66% là khí CO2) qua các hoạt động của con người Nồng độ

CO2 trong khí quyển hiện nay đã cao hơn 30-35% so với nồng độ tự nhiên khoảng 10.000 năm về trước Trước thời kỳ công nghiệp, nồng độ khí CO2 đo được là 280ppm; năm

1989 là 351ppm và dự kiến đến năm 2030 sẽ là 560ppm Do tác động của khí nhà kính

mà nhiệt độ của Trái đất đang tăng dần lên và loài người chỉ mới xác định được bắt đầu từ năm 1860 Nhiệt độ bề mặt Trái đất tăng lên từ năm 1970 được xác định là do tác động

Trang 37

của khí nhà kính mà con người tạo ra và được thể hiện rõ ràng nhất là từ năm 1910 đến năm 1940 và từ năm 1980 đến nay Theo báo cáo năm 2001 của IPCC, nhiệt độ của Trái đất tăng trung bình 0,60C so với thế kỷ 20 và dự kiến có thể tăng lên đến 1,4-5,80C vào năm 2100, một mức chưa từng có trong khoảng 10.000 năm qua Sự tăng nhiệt độ cũng không đồng đều ở các vùng trên trái đất Ở Châu Âu, nhiềt độ tăng khoảng 1,40C so với trước thời kỳ công nghiệp Vùng bắc cực của Liên bang Nga tăng khoảng 3% trong vòng

90 năm qua Theo IPCC (2001), sự gia tăng nhiệt độ Trái đất quan sát được trong 50 năm qua là một bằng chứng mới, được khẳng định là do ảnh hưởng của các hoạt động của con người Nhiệt độ toàn cầu nóng lên làm cho các lớp băng tuyết đã bị tan ra và sẽ tan nhanh hơn trong những năm sắp tới Trong thế kỷ 20 trung bình hàng năm mức nước biển dâng lên 1,7mm và mức nước biển sẽ dâng lên từ 0,18m đến 0,59m vào năm 2100 (IPCC 2007)

Theo IPCC (2001), thay đổi khí hậu toàn cầu đã làm cho:

- Trong thế kỷ thứ 20, lượng mưa ở các vùng có vĩ độ trung bình và cao, cứ một thập kỷ tăng từ 0,5 đến 1%;

- Trong nửa cuối thế kỷ thứ 20, ở các vùng có độ cao trung bình và cao, thuộc Bắc bán cầu, số lần mưa to tăng khoảng 2 đến 4%;

- Các dữ liệu ảnh vệ tinh cho biết diện tích có tuyết bao phủ trên thế giới giảm khoảng 10% kể từ cuối những năm 1960 đến nay;

- Diện tích vùng băng giá Bắc bán cầu giảm khoảng từ 10-15% kể từ những năm 1950;

- Mức nước biển nâng lên khoảng 0,1 dến 0,2 mét trong thế kỷ thứ 20

- Trong thế kỷ thứ 20, nhiều vùng băng hà trên thế giới đã không còn nữa

Theo dự kiến thì các hiện tượng bất thường về khí hậu sẽ tăng về tần số, cường độ

và thời gian, như số ngày nóng sẽ nhiều hơn, nhiều đợt nắng nóng hơn, các đợt mưa to sẽ nhiều hơn và số ngày lạnh sẽ ít hơn trong những năm sắp tới

Hậu quả do thay đổi khí hậu gây ra sẽ không đồng đều trên thế giới: nghiêm trọng ở các vùng có vĩ độ cao và ít hơn tại các vùng khác Mức độ thay đổi khí hậu cũng sẽ tuỳ thuộc vào từng vùng khác nhau, tuy nhiên tất cả các vùng trên thế giới đều có thể bị tác động nhiều hay ít, nhưng hậu quả lớn nhất sẽ là ở các vùng nhiệt đới, nhất là tại các nước đang phát triển công nghiệp nhanh ở Châu Á

Thay đổi thay đổi khí hậu toàn cầu sẽ có tác động lớn lên đa dạng sinh học kể cả các loài nuôi trồng và con người Trong thiên nhiên, đa dạng sinh học, nhất là các hệ sinh thái

Trang 38

rừng là nơi tích luỹ trở lại nguồn khí CO2 phát thải ra để tạo thành chất hữu cơ Trong lúc

đó, chúng ta lại đã và đang chặt phá rừng để làm nông nghiệp, chăn nuôi, xây dựng nhà cữa, thành phố Sự tàn phá rừng đã làm giảm bớt khả năng hấp thụ CO2 và gián tiếp tăng thêm khí CO2 vào khí quyển, góp phần làm cho biến đổi khí hậu toàn cầu tăng nhanh Như vậy, sự giảm sút đa dạng sinh học nhất là giảm sút diện tích rừng đã thúc đẩy sự gia tăng biến đổi khí hậu toàn cầu, nhưng ngược lại sự nóng lên toàn cầu cũng đã ảnh hưởng lớn đến

sự phát triển và tồn tại của các loài sinh vật và đa dạng sinh học Các nhà khoa học cũng đã phát hiện thấy hàng trăm loài thực vật và động vật đã buộc phải thay đổi vùng phân bố và thời gian của chu kỳ sống của chúng để thích ứng với sự biến đổi khí hậu Những quan sát được thu thập từ các nghiên cứu cho thấy:

 Vùng phân bố của nhiều loài cây, côn trùng, chim và cá đã chuyển dịch lên phía bắc và lên vùng cao hơn;

 Nhiều loài thực vật nở hoa sớm hơn, nhiều loài chim đã bắt đầu mùa di cư sớm hơn, nhiều loài động vật đã vào mùa sinh sản sớm hơn, nhiều loài côn trùng đã xuất hiện sớm hơn ở Bắc bán cầu

 San hô bị chết trắng ngày càng nhiều

Theo dự báo nếu không có biện pháp hữu hiệu để giảm bớt khí thải nhà kính, nhiệt

độ mặt đất sẽ tăng lên 1,80C đến 6,40C vào năm 2100, lượng mưa sẽ tăng lên 5-10%, băng

ở hai cực và các núi cao sẽ tan rã nhiều hơn và do nhiệt độ nước biển ấm lên, bị giãn nở với mức nước biển sẽ dâng lên khoảng 70-100 cm (Bản cập nhật Kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng cho Việt Nam, 2012) Đi cùng với chúng là các dạng thiên tai theo

sẽ diễn ra với mức độ và cường độ ngày càng khó lường trước Nguy cơ nước biển dâng

sẽ gây xói mòn bờ biển, ngập lụt vùng ven bờ, làm suy thoái đất ngập nước, xâm nhập mặn… có nguy cơ trở thành các thảm hoạ sinh thái mới Tại những vùng mà biến đổi khí hậu làm tăng cường độ mưa thì các dòng nước mưa sẽ làm tăng xói mòn đất, lũ lụt, sạt lở đất và có thể gây ảnh hưởng đến cấu trúc và chức năng của các thủy vực, làm ô nhiễm nguồn nước Tất cả những hiện tượng đó đều ảnh hưởng đến các loài sinh vật và tài nguyên sinh vật, làm cho nhiều hệ sinh thái bị suy thoái, gây khó khăn cho sự phát triển kinh tế và xã hội, nhất là tại các nước nghèo mà cuộc sống đa số người dân còn phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên

Các ảnh hưởng môi trường do biến đổi khí hậu gây ra như lũ lụt, hạn hán làm giảm nguồn cung lương thực dẫn tới nguy cơ đói nghèo, ô nhiễm nước, bệnh tật và môi trường sống bị suy thoái Riêng về sức khoẻ con người thì những đợt nóng xảy ra vào tháng 8 năm 2003 ở Châu Âu đã làm khoảng 70.000 người chết, riêng tại Mỹ từ năm 1992 đến

Trang 39

2001, các đợt nắng nóng kéo dài đã làm chết 2190 người, cao hơn rất nhiều so với số người chết do lũ lụt (880 người) và bão lốc (150 người) Bên cạnh đó, các đợt rét kỷ lục cũng lại

là một dạng thảm hoạ khác đối với con người, đợt rét 2/2012 cũng làm ít nhất 650 người chết tại Đông Âu Tại Việt Nam, chỉ riêng năm 2008, các đợt rét bất thường ở miền Bắc đã làm chết hơn 120.000 gia súc (Báo cáo của Văn phòng Chính phủ, 2008), làm hàng ngàn tấn cá, tôm nuôi ở các ao đầm bị chết rét, trong đó chưa nói đến thiệt hại về lúa, các hoa màu khác và các động vật hoang dã ở các vùng cao bị băng giá trong nhiều ngày liền Thiên tai trong những năm qua xảy ra tại nhiều nước trên thế giới, gây hậu quả hết sức nặng nề, những người nghèo và những nước nghèo là đối tượng chịu ảnh hưởng nhiều nhất do thiếu các biện pháp tự bảo vệ trước thiên tai Sự biến đổi khí hậu toàn cầu còn gây

ra tình trạng suy thoái môi trường trên phạm vi toàn thế giới, thúc đẩy cho sự suy thoái các loại tài nguyên thiên nhiên diễn ra nhanh chóng hơn Loài người cần chung tay giảm thiểu các tác động lên môi trường nhằm đảm bảo sự an toàn và phát triển bền vững của chính chúng ta (Báo cáo Triển vọng Môi trường toàn cầu của LHQ, 2007)

Câu hỏi ôn tập

1 Liệt kê những vấn đề về môi trường hiện nay?

2 Phân tích sự suy thoái của một số dạng tài nguyên thiên nhiên?

3 Sức ép của sự gia tăng dân số?

4 Tìm hiểu những tác động trực tiếp của biến đổi khí hậu?

5 Mối quan hệ giữa dân số - tài nguyên và môi trường?

Trang 40

Chương 2 MÔI TRƯỜNG VÀ PHÁT TRIỂN 2.1 Mối quan hệ giữa môi trường và phát triển

2.1.1 Phát triển và phát triển bền vững

Phát triển là từ viết tắt của phát triển kinh tế xã hội Phát triển là quá trình nâng cao điều kiện sống về vật chất và tinh thần cho con người bằng hoạt động tạo ra của cải vật chất, cải tiến quan hệ xã hội, nâng cao chất lượng văn hóa Phát triển là xu thế chung của từng cá nhân và cả loài người trong quá trình sống

Hiện nay, sự phát triển của mỗi quốc gia, một địa phương được đánh giá qua thông các chỉ tiêu cụ thể như GDP, GNP, HDI Dưới đây trình bày nội dung cơ bản một số chỉ thị thể hiện sự phát triển kinh tế xã hội:

 Chỉ số tổng sản phẩm quốc nội GDP (Gross Domestic Product)

GDP là tổng giá trị tính bằng tiền mặt của sản phẩm và dịch vụ trong một quốc gia trong một khoảng thời gian nhất định (thông thường là một năm tài chính) Mặc dù GDP được sử dụng rộng rãi như là một trong những chỉ số cơ bản để đánh giá sự phát triển kinh tế của một quốc gia, nhưng giá trị của nó như là một chỉ số vẫn đang là vấn đề gây tranh cãi Một số vấn đề gây tranh cãi đối với chỉ số GDP:

- Kết quả tính GDP theo các phương thức khác nhau gây nhiều khó khăn khi so sánh các quốc gia do các dữ liệu không hoàn toàn đồng bộ giữa các nước

- GDP chỉ cho biết về sự phát triển nền kinh tế, nhưng lại không phản ánh mức sống thực tế của người dân

- GDP không tính đến kinh tế phi tiền tệ như các công việc tình nguyện, miễn phí, hay sản xuất hàng hóa tại gia đình

- GDP không tính đến tính đến tính bền vững của sự phát triển, ví dụ một nước có thể

có tốc độ tăng trưởng GDP cao do khai thác khai thác quá mức tài nguyên thiên nhiên

- GDP không tính đến những hiệu ứng tiêu cực như ô nhiễm môi trường Ví dụ, một công ty sản xuất tạo ra giá trị làm tăng GDP song lại gây ô nhiễm môi trường xung quanh

và số tiền đầu tư để cải tạo lại môi trường cũng làm tăng GDP

- Các hoạt động tội phạm và tai nạn làm tăng chi phí cũng làm tăng GDP

Theo các chuyên gia, nếu tính đến thiệt hại của môi trường thì GDP trung bình năm của Trung Quốc trong giai đoạn 1985 đến 2000 sẽ giảm 2%

Ngày đăng: 22/11/2017, 21:54

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w