1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

môi trường sinh thái và sử dụng đất phèn trong nông nghệp vùng bán đảo cà mau

107 557 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 107
Dung lượng 3,33 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

i TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA MÔI TRƯỜNG VÀ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN BỘ MÔN TÀI NGUYÊN ĐẤT ĐAI    XÁC NHẬN CỦA CÁN BỘ HƯỚNG DẪN Chứng nhận chấp thuận báo cáo luận văn tốt nghiệp ngành

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

Trang 3

i

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA MÔI TRƯỜNG VÀ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN

BỘ MÔN TÀI NGUYÊN ĐẤT ĐAI

   XÁC NHẬN CỦA CÁN BỘ HƯỚNG DẪN

Chứng nhận chấp thuận báo cáo luận văn tốt nghiệp

ngành quản lý đất đai với đề tài:

“MÔI TRƯỜNG SINH THÁI VÀ SỬ DỤNG ĐẤT PHÈN TRONG NÔNG

NGHIỆP VÙNG BÁN ĐẢO CÀ MAU ” Sinh viên thực hiện: Thái Thành Dư MSSV: 4115010

Lớp Quản Lý Đất Đai khóa 37 thuộc Bộ Môn Tài Nguyên Đất Đai - Khoa Môi Trường

& Tài Nguyên Thiên Nhiên - Trường Đại Học Cần Thơ

Nhận xét của cán bộ hướng dẫn:

Cần Thơ, ngày… tháng… năm 2014 Cán bộ hướng dẫn

Trang 4

ii

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA MÔI TRƯỜNG VÀ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN

BỘ MÔN TÀI NGUYÊN ĐẤT ĐAI

   XÁC NHẬN CỦA BỘ MÔN VỀ ĐỀ TÀI

Xác nhận đề tài:

“MÔI TRƯỜNG SINH THÁI VÀ SỬ DỤNG ĐẤT PHÈN TRONG NÔNG

NGHIỆP VÙNG BÁN ĐẢO CÀ MAU ” Sinh viên thực hiện: Thái Thành Dư MSSV: 4115010

Lớp Quản Lý Đất Đai khóa 37 thuộc Bộ Môn Tài Nguyên Đất Đai - Khoa Môi Trường

& Tài Nguyên Thiên Nhiên - Trường Đại Học Cần Thơ

Ý kiến của Bộ Môn:

Cần Thơ, ngày… tháng… năm 2014 Trưởng Bộ Môn

Trang 5

iii

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA MÔI TRƯỜNG VÀ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN

BỘ MÔN TÀI NGUYÊN ĐẤT ĐAI

o0o

NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG BÁO CÁO Hội đồng chấm báo cáo luận văn tốt nghiệp chấp thuận đề tài: “MÔI TRƯỜNG SINH THÁI VÀ SỬ DỤNG ĐẤT PHÈN TRONG NÔNG NGHIỆP VÙNG BÁN ĐẢO CÀ MAU ” Do sinh viên Thái Thành Dư (MSSV: 4115010) thực hiện và bảo vệ trước hội đồng ngày….tháng năm

Luận văn tốt nghiệp đã được hội đồng đánh giá ở mức:…

Ý kiến của hội đồng:

Cần Thơ, ngày tháng năm

Chủ tịch hội đồng

Trang 6

Nơi sinh: huyện Phụng Hiệp, tỉnh Cần Thơ

Quê quán: Ngã Bảy, TX Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang Ngành học: Quản lý đất đai

Nơi học: Đại học Cần Thơ

Họ và tên cha: Thái Văn Thảo, Sinh năm: 1945

Nghề nghiệp: (đã mất)

Họ và tên mẹ: Tăng Thị Anh, Sinh năm: 1948

Nghề nghiệp: nội trợ

Trang 7

v

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan rằng đề tài này do chính tôi thực hiện, các số liệu thu thập và kết quả phân tích trong đề tài là trung thực, đề tài không trùng với bất cứ đề tài nghiên cứu khoa học nào khác

Cần Thơ, ngày tháng năm 2014 Sinh viên thực hiện

Ký tên

Thái Thành Dƣ

Trang 8

vi

LỜI CẢM TẠ

Qua thời gian học tập và rèn luyện tại trường, tôi đã nhận được sự dạy dỗ tận tình của quý thầy quý cô, được quý thầy quý cô truyền đạt những kiến thức chuyên môn và những kinh nghiệm trong cuộc sống, đó là hành trang giúp tôi vững bước và hoàn thành tốt nhiệm vụ trong công tác sau này

Em xin chân thành cảm ơn:

- Thầy Võ Quang Minh và cô Nguyễn Thị Hà Mi, người đã trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ em hoàn thành tốt luận văn này

- Cô Võ Thị Song Bình là cố vấn học tập đã hướng dẫn và giúp đỡ em trong quá trình học tập tại trường

- Quý thầy, quý cô và tập thể nhà trường đã tận tình dạy dỗ, giúp đỡ, truyền đạt kiến thức cho em trong thời gian học tập tại trường

- Quý thầy, quý cô, quý anh chị trong Bộ môn Tài Nguyên Đất Đai đã nhiệt tình giúp

đỡ, cung cấp những kiến thức chuyên môn

- Tôi xin cảm ơn tập thể lớp Quản Lý Đất Đai khóa 37 đã động viên, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập tại trường

- Và cuối cùng con xin gửi lời tri ân sâu sắc đến cha mẹ kính yêu Con rất biết ơn cha

mẹ đã sinh ra và nuôi nấng dạy dỗ con nên người Con xin kính chúc mẹ dồi dào sức khỏe và sống lâu trăm tuổi

- Xin kính chúc quý thầy, quý cô Bộ môn Tài nguyên Đất Đai - Khoa Môi Trường & Tài Nguyên Thiên Nhiên – Trường Đại học Cần Thơ, được dồi dào sức khỏe và công tác tốt

Xin chân thành cảm ơn!

Trang 9

vii

MỤC LỤC XÁC NHẬN CỦA CÁN BỘ HƯỚNG DẪN I XÁC NHẬN CỦA BỘ MÔN VỀ ĐỀ TÀI II NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG BÁO CÁO III

LÝ LỊCH CÁ NHÂN IV LỜI CAM ĐOAN V LỜI CẢM TẠ VI MỤC LỤC VII DANH SÁCH TỪ VIẾT TẮT IX DANH SÁCH BẢNG X DANH SÁCH HÌNH XI TÓM LƯỢC XII

MỞ ĐẦU XIII

CHƯƠNG 1 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 1

1.1 Đất đai 1

1.1.1 Khái niệm về đất đai 1

1.1.2 Vai trò của đất đai 1

1.1.3 Sử dụng đất đai 2

1.2 Môi trường sinh thái 2

1.2.1 Khái niệm 2

1.2.2 Vấn đề môi trường sinh thái ngày nay 2

1.3 Đặc điểm vùng nghiên cứu 4

1.3.1 Vị trí địa lý 4

1.3.2 Kinh tế - xã hội 4

1.3.3 Giáo dục 5

1.3.4 Y tế 5

1.3.5 Giao thông 5

CHƯƠNG 2 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP 7

2.1 Phương tiện nghiên cứu 7

2.2 Phương pháp thực hiện 7

2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu 7

2.2.2 Phương pháp tổng hợp 7

2.2.3 Phương pháp đánh giá 7

2.2.4 Phương pháp GIS 8

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 10

Trang 10

viii

3.1 Mô trường sinh thái 10

3.1.1 Tài nguyên khí hậu 10

3.1.2 Tài nguyên đất 14

3.1.3 Tài nguyên nước 21

3.2 Hiện trạng canh tác nông nghiệp vùng BĐCM 29

3.3 Phân vùng đất phèn vùng BĐCM 35

3.4 Sử dụng đất phèn trong nông nghiệp vùng BĐCM 45

3.4.1 Mô hình trồng khóm (dứa) 45

3.4.2 Mô hình trồng mía 47

3.4.3 Mô hình tiêu dưới tán tràm 51

3.4.4 Mô hình trồng mãng cầu xiêm 54

3.4.5 Mô hình rừng tràm – cá đồng 55

3.4.6 Mô hình lúa – cá 58

3.4.7 Mô hình tôm sú luân canh với trồng lúa 64

3.5 Các biện pháp cải tạo đất phèn 69

3.5.1 Dùng nước để ém phèn 69

3.5.2 Cải tạo đất phèn bằng tiêu ngầm 69

3.5.3 Cải tạo đất phèn bằng biện pháp hoá học 70

3.5.4 Cải tạo đất phèn bằng biện pháp lên liếp 70

3.5.5 Trồng cây để cải tạo đất phèn 71

CHƯƠNG IV KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 72

4.1 Kết luận 72

4.2 Kiến nghị 72

TÀI LIỆU THAM KHẢO 73

PHỤ CHƯƠNG 76

Trang 11

Acid sulphate soils

Food and Agricultural Organization

World Reference Based

Đất phèn Bán đảo Cà Mau Đồng bằng sông Cửu Long

Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc

Môi trường và Tài nguyên Thiên nhiên

Cơ sở tham khảo thế giới Tiêu chuẩn Việt Nam Quản Lộ - Phụng Hiệp

Trang 12

Bảng phân loại và diện tích đất vùng BĐCM theo tỉnh

Bảng kiểu sử dụng đất nông nghiệp và diện tích vùng BĐCM

theo tỉnh

Các loại đất phèn vùng phèn trũng sông Hậu

Các loại đất phèn vùng phèn mũi Cà Mau

Lịch thời vụ mô hình lúa – cá

Lịch thời vụ mô hình lúa – tôm

Trang 13

Hình minh họa ruộng khóm

Hình minh họa canh tác mía

Vườn Hồ tiêu dưới tán tràm trên đất phèn huyện Long Mỹ của ông Dương

Thanh Bình

Ông Hoàng bên cây mãng cầu xiêm đang cho trái

Ảnh minh họa mô hình tràm – cá đồng

Mô hình trồng lúa kết hợp nuôi cá

Mô hình lúa – tôm của HTX Hòa Lời, Ngọc Đông

Trang 14

xii

TÓM LƯỢC

Bán đảo Cà Mau là một vùng sản xuất nông nghiệp rộng lớn thuộc ĐBSCL Ngày nay với sự phát triển khoa học kỹ thuật, nhiều biện pháp cải tạo đất cũng như hệ thống thủy lợi phát triển nhanh chóng nên việc sử dụng đất phèn không còn là vấn đề khó khăn Tuy nhiên việc canh tác trên đất phèn vẫn chưa đem lại hiệu quả cao Vì vậy đề tài được thực hiện để tìm hiểu về môi trường sinh thái và hiệu quả của các mô hình canh tác mới trên đất phèn Bằng các phương pháp thu thập, tổng hợp, đánh giá để đưa

ra những thông tin chính xác về vấn đề nghiên cứu từ các tài liệu, báo cáo khoa học, báo, tạp chí trong và ngoài nước, đồng thời kết hợp với một số nghiên cứu của một số thầy, cô cung cấp Kết quả cho thấy một số mô hình như mía, khóm, tiêu dưới tán tràm, lúa – tôm, lúa – cá, tràm – cá cho hiệu quả khá cao nên có thể được nhân rộng Trình độ canh tác còn lạc hậu, sản xuất nông nghiệp còn theo phong trào nên tình trạng được mùa mất giá thường xuyên xảy ra

Trang 15

xiii

MỞ ĐẦU

Bán đảo Cà Mau là một vùng rộng lớn chiếm 1,6 triệu ha trên tổng số 4 triệu ha của vùng Đồng bằng sông Cửu Long, bao gồm một phần thành phố Cần Thơ, một phần tỉnh Kiên Giang và gần trọn vẹn tỉnh Hậu Giang, tỉnh Sóc Trăng, tỉnh Bạc Liêu và tỉnh

Cà Mau Bán đảo Cà Mau gồm vùng hữu ngạn sông Hậu cho tới mũi Cà Mau Đây là vùng đất thấp, địa hình cao ở phía biển (Biển Đông và Biển Tây), thấp dần về phía nội địa, tạo thành các vùng trũng, các đầm lầy ở phần giữa BĐCM là vùng duyên hải của các tỉnh giáp với Biển Đông và Vịnh Kiên Giang Tiểu vùng này chịu tác động về môi trường tự nhiên của mực nước biển dâng trực tiếp nhất Hệ sinh thái bãi triều và rừng ngập mặn qua gánh chịu các tác động sẽ thể hiện vai trò đệm giảm sóng, phòng hộ và giữ đất Tình hình xói lở đường bờ sẽ mạnh hơn Tình hình bồi lắng ở các cửa sông sẽ thay đổi Đường ranh với tiểu vùng nằm giữa sông Tiền, sông Hậu sẽ bị đẩy lên về phía nguồn

Bán đảo Cà Mau có đủ các vùng đất có nước ngọt, đất nước lợ, đất than bùn, đất nhiễm mặn và đất nhiễm phèn Đất phèn phân bố ở vùng trũng trung tâm bản đảo Cà Mau và chiếm diện tích khá lớn trong vùng Đất phèn có thành phần cơ giới nặng, đất rất chua trị số pH thường nhỏ hơn 4,0, trong đất có nhiều chất độc hại cho cây trồng như (Al3+, Fe3+, CH4, H2S ) Đất có độ phì khá thấp, hoạt động của vi sinh vật khá yếu Đất phèn là loại đất xấu, ít có khả năng canh tác nông nghiệp Nhưng đất phèn lại

là nhóm đất chiếm diện tích khá lớn trong vùng, việc canh tác nông nghiệp trên đất phèn trong thời gian qua chưa đem lại hiệu quả cao

Việc sử dụng đất phèn ở vùng Bán đảo Cà Mau phải được thực hiện một cách hợp lí

để đem lại hiệu quả cao nhất Vì vậy đề tài: “Môi trường sinh thái và sử dụng đất

phèn trong nông nghiệp vùng Bán đảo Cà Mau” được chọn để thực hiện với mục

tiêu:

- Xác định môi trường đất, nước, khí hậu vùng Bán đảo Cà Mau

- Hiện trạng sản xuất nông nghiệp vùng Bán đảo Cà Mau

- Đề xuất các kỹ thuật cải thiện năng suất cây trồng ở các vùng đất khó khăn

Trang 16

1

CHƯƠNG 1 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU

1.1 Đất đai

1.1.1 Khái niệm về đất đai

- Theo FAO (1976), trích trong Lê Quang Trí (2010), đất đai bao gồm điều kiện tự nhiên, khí hậu, địa hình, đất, nước và thực vật trong phạm vi ảnh hưởng đến tiềm năng

sử dụng đất đai Điều đó còn bao gồm các hoạt động của con người trong quá khứ và hiện tại

- Định nghĩa đất đai: Brinkman và Smyth (1976), về mặt địa lý mà nói đất đai “là một vùng đất chuyên biệt trên bề mặt của trái đất có những đặc tính mang tính ổn định, hay

có chu kỳ dự đoán được trong khu vực sinh khí quyển theo chiều thẳng đứng từ trên xuống dưới trong đó bao gồm: Không khí, đất và lớp địa chất, nước, quần thể thực vật

và động vật và kết quả của những hoạt động bởi con người trong việc sử dụng đất đai

ở quá khứ, hiện tại và trong tương lai” (Lê Quang Trí, 1996), trích trong Lê Quang Trí (2010)

- Tuy nhiên đến năm 1993, trong Hội nghị quốc tế về môi trường ở Rio de Janero, Brazil (1993), thì đất đai về mặt thuật ngữ khoa học được hiểu theo nghĩa rộng thì xác định đất đai là “ diện tích cụ thể trên bề mặt trái đất, bao gồm tất cả các cấu thành của môi trường sinh thái ngay trên bề mặt đó, bao gồm: khí hậu bề mặt, thổ nhưỡng, dạng địa hình, mặt nước (hồ, sông, suối, đầm lầy), các lớp trầm tích sát bề mặt, cùng với nước ngầm và khoáng sản trong lòng đất, tập đoàn thực vật và động vật, trạng thái định cư của con người, những kết quả của con người trong quá khứ và hiện tại để lại (san nền, hồ chứa nước, hay hệ thống thoát nước, đường xá, nhà cửa…) (UN 1994), trích trong Lê Quang Trí (2010)

- Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố đất đai của khu dân

cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninhvà quốc phòng (Luật đất đai, 1993), trích trong Lê Quang Trí (2010)

1.1.2 Vai trò của đất đai

Đất đai là tài sản quốc gia, là tư liệu sản xuất chủ yếu, là đối tượng lao động đồng thời cũng là sản phẩm lao động Đất còn là vật mang của hệ sinh thái tự nhiên và các hệ sinh thái canh tác, đất là mặt bằng để phát triển nền kinh tế quốc dân (Lê Quang Trí, 2010)

Theo FAO (1995), trích trong Lê Quang Trí (2010), các chức năng của đất đai đối với hoạt động sản xuất và sinh tồn của xã hội loài người được thể hiện qua các mặt sau:

Trang 17

2

sản xuất, môi trường sự sống, điều chỉnh khí hậu, cân bằng sinh thái, tồn trữ và cung cấp nguồn nước, dự trữ (nguyên liệu khoáng sản trong lòng đất); không gian sự sống; bảo tồn lịch sử; vật mang sự sống; phân vi lãnh thổ

Đất đai là điều kiện vật chất chung nhất đối với mọi ngành sản xuất và hoạt động của con người, vừa là đối tượng lao động (cho môi trường để tác động như: xây dựng nhà xưởng, bố trí máy móc, làm đất…), vừa là phương tiện lao động (cho công nhân nơi đứng, dùng để gieo trồng, nuôi gia súc…) Như vậy, đất không phải là đối tượng của từng cá thể mà chúng ta đang sử dụng coi là của mình, không chỉ thuộc về chúng ta Đất là điều kiện vật cất cần thiết để tồn tại và tái sản xuất các thế hệ tiếp theo của loài người Vì vậy, trong sử dụng cần làm cho đất tốt hơn cho các thế hệ mai sau (Tổng cục Địa chính, 1996) trích trong Lê Quang Trí (2010)

1.1.3 Sử dụng đất đai

Theo Lê Quang Trí (2010), đánh giá đất đai bao gồm sự liên quan giữa những đơn vị đất đai đến một kiểu sử dụng đất đai riêng biệt trong một vùng nhất định đang nghiên cứu Những loại sử dụng đất đai này có thể được định nghĩa như là loại sử dụng chính trong sử dụng đất đai hay nói chi tiết hơn là kiểu sử dụng đất đai

Kiểu sử dụng đất đai là một loại riêng biệt trong sử dụng đất đai và được mô tả dưới dạng tiêu chuẩn chẩn đoán hay đặc trưng chính Những đặc trưng chính này được chọn lọc ra dựa trên cơ sở có liên quan trực tiếp đến khả năng cho sản lượng cây trồng của đất đai

1.2 Môi trường sinh thái

1.2.1 Khái niệm

Theo Thanh Tâm (2011), môi trường sinh thái là một mạng lưới chỉnh thể có mối liên quan chặt chẽ với nhau giữa đất, nước, không khí và các cơ thể sống trong phạm vi toàn cầu Sự rối loạn bất ổn định ở một khâu nào đó trong hệ thống sẽ gây ra hậu quả nghiêm trọng Con người và xã hội xuất thân từ tự nhiên, là một bộ phận của thiên nhiên Thông qua quá trình lao động, con người khai thác bảo vệ bồi đắp cho thiên nhiên Cũng qua quá trình đó con người xã hội dần dần có sự đối lập với tự nhiên

1.2.2 Vấn đề môi trường sinh thái ngày nay

Theo Thanh Tâm (2011), sự suy thoái về môi trường sinh thái toàn cầu hiện nay được thể hiện rõ nét trong những vấn đề sau:

Trước hết là sự suy thoái tầng Ozon Tầng Ozon là lớp khí (O3) rất dày bao bọc lấy trái đất và có tác dụng như là một cái đệm bảo vệ trái đất khỏi những tia cực tím của mặt trời chiếu xuống trái đất Có thể nói nếu không có tầng Ozon thì sự sống của trái đất không tồn tại (tầng Ozon hấp thụ 99% lượng bức xạ tia cực tím của mặt trời chiếu

Trang 18

3

xuống trái đất) Tầng Ozon bị suy thoái sẽ tác động mạnh đến mọi sinh vật trên trái đất, làm tăng thêm các bệnh tật, làm giảm khả năng miễn dịch của con người Nguyên nhân gây ra suy thoái tầng Ozon là do các hợp chất Cacbon có chứa Flo hoặc Brôm Ước tính hành năm có khoảng 788.000 tấn CFH3 (Clo-ro Cac-bon) thải vào môi trường, chất này được sử dụng rộng rãi trong công nghệ đông lạnh và chất dung môi Thứ hai là hiện tượng “hiệu ứng nhà kính” Trái đất và khí quyển được xem như là một nhà kính khổng lồ, trong đó trái đất có nguy cơ bị đốt nóng lên Nhiệt độ của trái đất tăng lên được gọi là hiện tượng “hiệu ứng nhà kính” Nguyên nhân của hiện tượng này là do sử dụng nhiều các nguyên liệu hóa thạch, do sự giảm sút diện tích rừng xanh…, lượng khí thải độc CO2, CH4, CFH3… vào thiên nhiên ngày càng nhiều

Trong thế kỷ này, nhiệt độ trái đất tăng lên từ 0,30 oC đến 0,70 oC so với thế kỷ trước Các nhà khoa học dự đoán rằng đến năm 2030 nếu lượng khí CO2 tăng lên hai lần thì nhiệt độ tăng từ 1,5 oC đến 4,5 oC Khi nồng độ khí CO2 trong khí quyển tăng lên, một phần nhiệt độ của trái đất bốc lên gặp khí CO2 sẽ phản chiếu trở lại đốt nóng trái đất Nhiệt độ trái đất tăng lên sẽ làm tan khối lượng băng khổng lồ ở hai cực và làm cho mực nước biển dâng lên Mực nước biển dâng lên là nguy cơ đe dọa rất nhiều quốc gia

và đời sống hàng triệu dân trên thế giới

Hiện tượng “hiệu ứng nhà kính” gắn liền với một hiện tượng ô nhiễm môi trường khác không kém phần nguy hiểm đó là mưa axit Trong các chất khí thải vào khí quyển,đặc biệt có SO2 và NO2 theo hơi nước bốc lên cao, chúng bị oxi hóa và thủy phân tạo thành axit, gặp lạnh mưa xuống đất Mưa axit có tác hại rất lớn đến các hệ sinh thái nông nghiệp, làm giảm năng suất mùa màng, có nơi còn bị mất trắng, làm giảm chất lượng cây trồng và vật nuôi Mưa axit còn làm ô nhiễm các đường ống nước uống và sinh hoạt của con người và sinh vật, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe và tính mạng con người

Ngoài ra sự suy thoái môi trường còn thể hiện ở sự ô nhiễm nguồn nước sạch Tổng lượng nước trên toàn cầu là 1.360 triệu km3, trong đó lượng nước ngọt chỉ chiếm trên dưới 3% và con người chỉ sử dụng được khoảng 1% để phục vụ nhu cầu của xã hội Thế nhưng 1% đó đang bị ô nhiễm bởi các chất thải trong sinh hoạt, trong sản xuất… Như các hóa chất dùng trong công nghiệp, thuốc trừ sâu, phân bón hóa học dùng trong nông nghiệp

Đối với Việt Nam, tuy là một nước nông nghiệp, hơn nữa sự phát triển của xã hội ta hiện nay chưa vượt ra khỏi trình độ văn minh công nghiệp, thế nhưng điều đó không

có nghĩa là không có hiểm họa sinh thái đe dọa

Trang 19

4

Ở các nước phát triển, hiểm họa sinh thái là do sự phát triển của kỹ thuật công nghệ,

do sự phát triển tự phát của nền văn minh công nghiệp, thì ở Việt Nam, hiểm họa sinh thái là sự kết hợp giữa phát triển và lạc hậu

Thiên nhiên nước ta trước đây bị phá hoại bởi những cuộc chiến tranh kéo dài, còn bây giờ bị phá hoại bởi những hoạt động vô ý thức, bởi thái độ tùy tiện vô trách nhiệm, thiếu kế hoạch trong việc khai thác và sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên Nguyên nhân chính là do du canh du cư, lấy gỗ, củi, mở mang giao thông, xây dựng thủy điện…

Ô nhiễm môi trường cũng đang là vấn đề nan giải, chất thải công nghiệp, sinh hoạt, chất độc hại của quá trình sản xuất không được xử lý nghiêm túc mà đưa trực tiếp vào môi trường, gây bệnh tật và ô nhiễm môi trường sinh thái Khu công nghiệp Biên Hòa

I hằng ngày xả ra sông Đồng Nai khoảng 20.000 m3 nước thải nhiễm bẩn và thải lượng chất rắn 260 – 300 tấn/ 1 tháng… Ấy là chưa kể khu công nghiệp nghiệp Biên Hòa II Nồng độ bụi ở đô thị vượt quá nhiều lần chỉ tiêu cho phép Khí thải CO2 vượt chỉ tiêu cho phép từ 1,5 – 2,5 lần

Ngoài ra vấn đề khai thác mỏ, vật liệu xây dựng, vàng, đá quý… chính thức và tự do cũng đã và đang làm hủy hoại môi trường sinh thái Việc sử dụng mìn khai thác ở nhiều lĩnh vực đang làm phá sự cân bằng về hệ sinh thái môi trường

1.3 Đặc điểm vùng nghiên cứu

1.3.1 Vị trí địa lý

Bán đảo Cà Mau là một vùng rộng lớn chiếm 1,6 triệu ha trên tổng số 4 triệu ha của vùng Đồng bằng sông Cửu Long, bao gồm một phần thành phố Cần Thơ, một phần tỉnh Kiên Giang và gần trọn vẹn tỉnh Hậu Giang, tỉnh Sóc Trăng, tỉnh Bạc Liêu và tỉnh

Cà Mau Bán đảo Cà Mau gồm vùng hữu ngạn sông Hậu cho tới mũi Cà Mau

Vùng BĐCM gồm có 6 tiểu vùng là: Tây sông Hậu, U Minh Thượng, U Minh Hạ, Quản Lộ – Phụng Hiệp, Nam Cà Mau và ven biển Bạc Liêu – Vĩnh Châu

1.3.2 Kinh tế - xã hội

Về mặt kinh tế – xã hội, khu vực I tại đây, đã thích ứng từ trước với điều kiện ngập theo triều và nhiễm mặn hầu như quanh năm, sẽ thay đổi theo hướng “kinh tế nước mặn” là chính Vùng sản xuất lúa sẽ bị thu hẹp lại Khu vực II, khu vực III và đời sống, sinh hoạt của người dân sẽ khó khăn hơn do độ ngập tăng và khan hiếm nguồn nước ngọt Nguồn nước ngọt tại đây chỉ trông chờ vào nước mưa và nước ngầm Đầu

tư cho cơ sở hạ tầng để tôn cao và bảo vệ công trình sẽ tốn kém không ít Vì những lý

do đó, một bộ phận dân cư có thể sẽ dịch chuyển ra ngoài tiểu vùng Vấn đề lớn nhất của tiểu vùng là bảo vệ các thành quả của lao động quá khứ

Trang 20

5

1.3.3 Giáo dục

Nhìn chung hệ thống giáo dục tại bán đảo Cà Mau, có cơ sở hạ tầng khá đầy đủ, bao gồm đầy đủ các cấp học, ngành học từ mầm non, tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông, trung cấp, cao đẳng, đại học đáp ứng giảng dạy cho nhiều đối tượng khác nhau Đặc biệt thành phố Cần Thơ là trung tâm của vùng ĐBSCL nên tập trung rất nhiều trường đại học, cao đẳng hàng đầu của khu vực

1.3.4 Y tế

Tình hình y tế tại BĐCM nhìn chung cũng khá phát triển hầu hết các đơn vị hành chính các cấp điều có xây dựng các bệnh viện hay những trung tâm y tế, trạm y tế để phục vụ cho cuộc sống của người dân

Theo Tổng cục Thống kê (2013), tính đến năm 2013 toàn vùng đã có 501 cơ sở y tế trong đó có 57 bệnh viện, 21 phòng khám khu vực, 1 bệnh viện điều dưỡng và phục hồi chức năng và 419 trạm y tế xã, phường, cơ quan, xí nghiệp:

- Cần Thơ: Có 103 cơ sở y tế trục thuộc Sở Y tế Trong đó có 17 bệnh viện và 85 trạm

y tế xã, phường, cơ quan, xí nghiệp

- Hậu Giang: Toàn tỉnh có 85 cơ sở khám chữa bệnh trực thuộc Sở Y tế Trong đó có 9 bệnh viện, 8 phòng khám đa khoa khu vực và 67 trạm y tế xã, phường, cơ quan, xí nghiệp

- Sóc Trăng: Trên địa bàn tỉnh có 122 cơ sở khám chữa bệnh trực thuộc Sở Y tế Trong

đó có 11 bệnh viện, 2 phòng khám đa khoa khu vực và 109 trạm y tế xã, phường, cơ quan, xí nghiệp

- Bạc Liêu: Trên địa bàn tỉnh có 74 cơ sở khám chữa bệnh trực thuộc Sở Y tế Trong

đó có 7 bệnh viện, 2 phòng khám đa khoa khu vực và 64 trạm y tế xã, phường, cơ quan, xí nghiệp

- Cà Mau: Trên địa bàn tỉnh có 117 cơ sở khám chữa bệnh trực thuộc Sở Y tế Trong

đó có 13 bệnh viện, 9 phòng khám đa khoa khu vực, 1 bệnh viện điều dưỡng và phục hồi chức năng và 94 trạm y tế xã, phường, cơ quan, xí nghiệp

1.3.5 Giao thông

Giao thông trong vùng phát triển tương đối hoàn chỉnh với các tuyến quốc lộ nối liền các tỉnh trong vùng: Quốc lộ 1A, Quốc lộ 91B, Quốc lộ 61, Quốc lộ 61B, Quốc lộ Nam sông Hậu, Quốc lộ Quản Lộ – Phụng Hiệp, Quốc lộ 60, Quốc lộ 91C và Quốc lộ

63 Ngoài ra còn có rất nhiều đường tỉnh lộ, đường huyện, đường đô thị, đường ấp, xã, khu phố Với mạng lưới sông ngòi chằng chịt nên giao thông đường thủy trong vùng cũng rất phát triển Về phía hàng không thì thành phố Cần Thơ còn có Sân bay Cần

Trang 22

7

CHƯƠNG 2 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP

2.1 Phương tiện nghiên cứu

- Địa điểm thực hiện đề tài: Bộ Môn Tài Nguyên Đất Đai, Khoa Môi Trường và Tài Nguyên Thiên Nhiên, Trường Đại học Cần Thơ

- Địa điểm nghiên cứu: địa phận vùng Bán đảo Cà Mau

- Thời gian thực hiện: Từ 08/2014 đến 12/2014

- Máy vi tính, sổ ghi chép và một số văn phòng phẩm hỗ trợ khác

- Các phần mềm như Microsoft Word, Microsoft Excel, MapInfo Professional 10.5…

- Bản đồ

2.2 Phương pháp thực hiện

2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu

- Thu thập các tài liệu về môi trường sinh thái, quản lý nguồn tài nguyên đất, nước,… tài liệu về việc sử dụng đất phèn, hiện trạng sử dụng đất phèn ở vùng Bán đảo Cà Mau

từ sách, báo, tạp chí,…

- Thu thập tài liệu, ảnh, bản đồ:

+ Bản đồ hành chính các tỉnh nằm trong vùng nghiên cứu của các thầy cô trong khoa + Bản đồ hiện trạng sử dụng đất các tỉnh ở Sở Tài nguyên và Môi trường

+ Bản đồ thổ nhưỡng các tỉnh vùng nghiên cứu trong các báo cáo, nghiên cứu khoa học nhằm xác định các vùng đất phèn

+ Các kiểu sử dụng trên đất phèn trong nông nghiệp ở vùng Bán đảo Cà Mau

Trang 23

- Phân loại các thuộc tính

- Phân tích dữ liệu: Tìm kiếm, vùng đệm, nội suy, tính diện tích

- Biên tập bản đồ

2.3 Nội dung nghiên cứu

Bước 1: Thu thập các số liệu, bản đồ ở các cơ quan của huyện, tỉnh như Phòng Tài

nguyên Môi trường các huyện, các tỉnh thuộc vùng Bán đảo Cà Mau, Khoa Môi trường và Tài nguyên thiên nhiên, nghiên cứu khoa học, sách, báo, tạp chí:

+ Môi trường sinh thái vùng Bán đảo Cà Mau (đất, nước, khí hậu,…)

+ Bản đồ hành chính các tỉnh thuộc vùng nghiên cứu

+ Bản đồ hiện trạng sử dụng đất vùng ĐBSCL

+ Vị trí các vùng đất phèn

+ Tình hình sử dụng đất trong nông nghiệp trên đất phèn

+ Các kiểu sử dụng đạt hiệu quả cao trên đất phèn

Bước 2: Tổng hợp số liệu, tài liệu, ảnh, bản đồ,… thu thập được Tiến hành phân tích,

Trang 24

SO SÁNH – ĐÁNH GIÁ

Các kỹ thuật cải thiện năng suất cây trồng

HOÀN CHỈNH LUẬN VĂN

Các mô hình canh tác đạt hiệu quả cao, trên dất phèn

THU THẬP SỐ LIỆU

Thu thập ảnh, bản đồ Qua các

sách, báo, nghiên cứu

Bản đồ hành chính các tỉnh thuộc vùng nghiên cứu

TỔNG HỢP – XỬ LÝ

Xử lý số liệu, tài liệu

đã thu thập

Chồng lấp,

xử lý, biên tập bản đồ

Trang 25

10

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1 Mô trường sinh thái

3.1.1 Tài nguyên khí hậu

Khí hậu vùng ĐBSCL mang tính chất nhiệt đới, nóng và ẩm, chịu ảnh hưởng của gió mùa khá toàn diện, mỗi năm có hai mùa chính là mùa mưa và mùa nắng

Nhiệt độ

Theo Lê Tuấn Anh (2004), nhiệt độ ở ĐBSCL cao và ổn định Nhiệt độ trung bình của khu vực là 26 – 27 oC, biến thiên nhiệt độ trung bình là 3 – 5 oC Tổng nhiệt độ trung bình hàng năm là 7.500 oC, tối đa khoảng 9.000 – 10.000 oC Tổng bức xạ hàng năm là khoảng 140 – 150 Kcal/cm2/năm

Theo Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Môi trường (2010), do ĐBSCL có nền bức xạ cao và địa hình khá bằng phẳng nên nhiệt độ phân bố tương đối đều với nhiệt

độ không khí trung bình năm biến đổi trong phạm vi (26 – 29 oC) Nhiệt độ không khí cao nhất tuyệt đối có thể lên tới (38 – 40 oC) Nhiệt độ không khí thấp nhất tuyệt đối khoảng (14 – 16 oC)

Theo Dự án Việt Nam – Hà Lan Quy hoạch tổng thể Đồng bằng sông Cửu Long (2011), nhiệt độ trung bình dao động từ khoảng 27 – 28 oC Có thể tháng có nhiệt độ thấp nhất (trung bình 25,5 o

C) và tháng nóng nhất là tháng 4 (28 oC) Nhiệt độ phân bố tương đối đồng đều trên toàn khu vực

Chế độ nắng

Theo Lê Tuấn Anh (2004), tổng số giờ nắng ở ĐBSCL hàng năm khoảng 2.000 giờ Tháng có giờ nắng cao nhất là tháng 2, tháng 3 có 8 – 9 giờ/ngày, tháng có giờ nắng thấp nhất là tháng 8 – 9 có 4,5 – 5 giờ/ngày

Theo Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Môi trường (2010), bức xạ tổng có trung bình năm khoảng (150 – 160) kcal/cm2 Số giờ nắng trung bình năm khoảng 2.000 – 2.800 giờ

Theo Dự án Việt Nam – Hà Lan Quy hoạch tổng thể Đồng bằng sông Cửu Long (2011), ĐBSCL có số giờ nắng trung bình là 6 giờ mỗi ngày (khoảng 2000 – 2500 giờ mỗi năm) Tháng 2, 3 có số giờ nắng cao nhất 8 – 9 mỗi ngày, tháng 8, 9 có số giờ nắng thấp nhất trung bình 4,6 – 5,3 giờ mỗi ngày

Chế độ bốc hơi

Theo Lê Tuấn Anh (2004), bốc hơi khoảng 1.000 – 1.100 mm/năm, tập trung vào tháng 2, tháng 3, tháng 4, chủ yếu từ 12 – 14 giờ

Trang 26

220 mm Sau khi mưa bắt đầu từ tháng 8 – 10 bốc hơi thấp hơn từ 100 – 150 mm

Độ ẩm

Theo Lê Tuấn Anh (2004), độ ẩm tương đối trung bình nhiều năm là 82 – 83% Ẩm độ trung bình thấp nhất vào tháng 2, tháng 3, vào khoảng 67 – 81%, cao nhất vào tháng 8, tháng 9 và tháng 10, biến thiên vào khoảng 85 – 89% Vùng ĐBSCL và các khu vực ven biển của vùng chưa bao giờ có độ ẩm dưới 30%

Theo Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Môi trường (2010), độ ẩm tương đối trung bình năm khoảng 70 – 80%

Theo Dự án Việt Nam – Hà Lan Quy hoạch tổng thể Đồng bằng sông Cửu Long (2011), độ ẩm tương đối đạt giá trị cao nhất vào tháng 5 và giảm đối với mùa khô Độ

ẩm trung bình vào tháng 8, 9 và 10 trong khoảng 84 – 89%, vào tháng 2 và 3 độ ẩm trong khoảng 67 – 81%

Theo Lê Anh Tuấn (2004), ở ĐBSCL mùa khô mây chiếm 4 – 6/10 bầu trời, mùa mưa chiếm 7 – 8/10 bầu trời

Theo Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Môi trường (2010), lượng mây tổng quan trung bình năm ở ĐBSCL khoảng 7/10 bầu trời, tăng lên 8/10 bầu trời vào các tháng mùa mưa và giảm xuống 4 – 5/10 bầu trời vào màu khô

Gió

Theo Lê Tuấn Anh (2004), mùa mưa chịu ảnh hưởng của gió Tây Nam, phổ biến khi các luồng áp thấp xuất hiện trên lục địa Châu Á (từ tháng 5 đến tháng 10) Mùa nắng gió mùa Đông Bắc lại chiếm ưu thế do sự hiện diện của trung tâm áp cao từ vùng Sibêri – Mông Cổ di chuyển xuống Tốc độ gió cao nhất vào tháng 2, tháng 3, khoảng

2 – 3,3 m/s, tốc độ gió thấp nhất vào tháng 10 là 1,5 – 2 m/s Khoảng tháng 12 là giai đoạn chuyển mùa, gió thổi ngược chiều dòng chảy sông Cửu Long (hướng Tây Bắc – Đông Nam) gây khó khăn cho sản xuất nông nghiệp

Theo Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Môi trường (2010), tốc độ gió trung bình năm từ khoảng 2 m/s trong đồng bằng tăng lên trên 3 m/s ở ven biển Tốc độ gió lớn nhất có thể đạt tới 20 – 30 m/s

Trang 27

12

Theo Dự án Việt Nam – Hà Lan Quy hoạch tổng thể Đồng bằng sông Cửu Long (2011), gió Đông – Bắc hoạt động trong mùa khô, từ tháng 12 – 4 và gió Tây – Nam trong mùa mưa (tháng 5 – 10) Tốc độ gió trung bình khoảng 2,0 m/s Những nơi gần biển tốc độ gió thường tăng trong tháng 1, 2 và 3 Tốc độ gió trong thời kỳ áp thấp nhiệt đới và bão có thể đạt tới 15 – 18 m/s (bão Số 5, 1997)

Mưa

Theo Lê Tuấn Anh (2004), lượng mưa ở ĐBSCL khá lớn, trung bình 1.400 – 2.000 mm/năm Tỉnh có lượng mưa cao nhất là tỉnh Cà Mau (2.200 mm/năm), tỉnh có lượng mưa thấp nhất là Đồng Tháp (1400 mm/năm) Các tháng có ngày mưa ít nhất là tháng

12 đến tháng 3, biến thiên từ 0 – 6 ngày mưa/ tháng Các tháng có ngày mưa cao nhất

là từ tháng 5 đến tháng 10, biến thiên 13 – 21 ngày mưa/ tháng Mưa tập trung 75 –95% vào mùa mưa Trong nhiều năm, khu vực Kiên Giang bắt đầu mưa sớm hơn các tỉnh khác (tháng 4) khoảng 15 – 20 ngày So với các khu vực trong toàn quốc thì lượng mưa ở ĐBSCL ít biến động Điều đáng chú ý là vùng ĐBSCL có 2 đỉnh mưa : đỉnh mưa thứ nhất vào các tháng 6, tháng 7, đỉnh thứ 2 rơi vào tháng 9, tháng 10 Giữa 2 đỉnh mưa, vào cuối tháng 7 đến tháng đầu tháng 8 có một thời kỳ khô hạn ngắn ( dân gian gọi là hạn Bà Chằn) kéo dài khoảng 10 ngày do ảnh hưởng của các luồng gió xoáy nghịch trên cao

Theo Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Môi trường (2010), lượng mưa năm trung bình nhiều năm biến đổi trong phạm vi từ dưới 1.400 mm ở khu vực giữa sông Tiền – sông Hậu ở các tỉnh Đồng Tháp, An Giang, Vĩnh Long tăng lên trên 2.400 mm

ở bán đảo Cà Mau (Hình 3.2) Mùa mưa hàng năm xuất hiện vào các tháng 5 – 11, trong đó 3 tháng có lượng mưa trung bình tháng cao nhất xuất hiện vào các tháng 7 –

9 Lượng mưa mùa mưa chiếm khoảng 88 – 95% lượng mưa năm

Theo Dự án Việt Nam – Hà Lan Quy hoạch tổng thể Đồng bằng sông Cửu Long (2011), lượng mưa trung bình khoảng 1800 mm/năm, nhưng phân phối không đều theo không gian và thời gian Khu vực phía Tây có lượng mưa trung bình hàng năm 2000 –

2400 mm, khu vực phía đông lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 1600 – 1800

mm Trung tâm đồng bằng có lượng mưa thấp nhất vào khoảng 1200 – 1600 mm/năm Lượng mưa phân bố không đều qua các năm Khoảng 90% lượng mưa hàng năm tập trung vào các tháng mùa mưa Lượng mưa vào mùa khô chỉ chiếm 10%, với các tháng

1, 2 và 3 hầu như không có mưa (thường gây ra hạn hán nghiêm trọng) Vào mùa mưa đôi khi có mưa liên tục kéo dài 3 – 5 ngày, với lượng mưa tương đối lớn gây ra lũ lụt

và tăng mực nước

Trang 28

13

(Nguồn: Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Môi trường, 2010)

Hình 3.1: Bản đồ đẳng trị lượng mưa năm đồng bằng sông Cửu Long

Tóm lại qua các nghiên cứu về khí hậu vùng ĐBSCL cho thấy điều kiện khí hậu vùng đồng BĐCM như sau:

- Nhiệt độ: ĐBSCL nói chung và vùng BĐCM nói riêng cao và ổn định, nhiệt độ trung bình dao động từ 27 – 28 oC Nhiệt độ phân bố tương đối đồng đều trên toàn vùng

- Chế độ nắng: Tổng số giờ nắng ở BĐCM hàng năm vào khoảng 2.000 giờ (trung bình khoảng 6 giờ/ngày) Tháng 2, 3 có số giờ nắng cao nhất khoảng 8 – 9 giờ mỗi ngày Tháng 8, 9 có số giờ nắng thấp nhất trung bình khoảng 4,5 – 5,3 giờ

Trang 29

- Mây: Lượng mây trung bình hàng năm ở vùng BĐCM khoảng 7/10 bầu trời Vào mùa mưa tăng lên 8/10 bầu trời và giảm xuống còn 4 – 6/10 bầu trời vào mùa khô

- Gió: Vùng BĐCM chịu ảnh hưởng của hai loại gió là gió mùa Tây – Nam hoạt động vào mùa mưa và gió mùa Đông – Bắc hoạt động vào mùa khô Tốc độ gió cao nhất vào tháng 2,3 khoảng 2 – 3,3 m/s Tốc độ gió thấp nhất rơi vào tháng 10 khoảng 1,5 –

2 m/s

- Mưa: Lượng mưa trung bình vùng BĐCM khoảng 2.000 mm/năm, nhưng phân bố không đều theo không gian và thời gian Khu vực phía Tây có lượng mưa trung bình cao hơn khoảng 2.000 – 2.600 mm/năm Khu vực phía Đông có lượng mưa trung bình hàng năm thấp hơn khoảng 1.600 – 2.000 mm

- Đất phèn hoạt động xuất hiện cạn – haFL(ptio,eu) với diện tích là 2.264,5 phân bố ở các huyện Mỹ Tú 1,787,61 ha, Ngã Năm 158,57 ha, Thạnh Trị 318,31 ha (Sóc Trăng)

- Đất phèn tiềm tàng xuất hiện cạn, nhiễm mặn – szFL(ptip) với diện tích là 9.051,5 phân bố ở các huyện Hồng Dân 540,75 ha (Bạc Liêu); An Biên 2.027,95 ha, Châu Thành 2.498,31 ha, Gò Quao 3.462,78 ha, Rạch Giá 386,21 ha, U Minh Thượng 133,94 ha (Kiên Giang)

- Đất phèn hoạt động xuất hiện sâu, nhiễm mặn nhẹ – wsFL(ntio) với diện tích là 8.023,4 ha phân bố ở các huyện Thới Bình 7.233,85 ha, thành phố Cà Mau 1,48 ha (Cà Mau); An Minh 788,07 ha (Kiên Giang)

- Đất phèn hoạt động xuất hiện cạn, có tầng Umbric – umFL(ptio) với diện tích là 4.565,5 ha phân bố ở các huyện Long Mỹ 1.581,94 ha (Hậu Giang); Mỹ Tú 370,74 ha, Ngã Năm 2.033,42 ha, Thạnh Trị 579,37 ha (Sóc Trăng)

Trang 30

15

Bảng 3.1: Bảng phân loại và diện tích đất vùng BĐCM theo tỉnh

-

-

- 644,4

-

-

- 10.705,2 9.115 1.548,9 17.060

- 14.985,5 6.484 1.991,3 22.796,6

-

- 94.726,7 5.350,2 1.116,6

- 19.209,4

- 22.834,8

-

-

-

- 1.581,9

- 8.288,2

- 2.459,4

-

- 8.509,2 788,1

- 15.052,4 13.786,8

- 697,1 10.881,3

- 2.308,3 1.678,7 30.977

- 9665.18 1.820,9

- 2.264,5

-

- 2.983,5

-

-

- 849,6

- 71.652,7

-

- 315,8 4.086,7

-

-

Trang 31

-

- 23.471,4 594,1 13.160,3

-

- 662,6 13.669.9 874.41

-

- 82.756,9 29.969,9 6.070,1

-

- 14.922,6

-

- 60.925,2

- 4.067,6

-

- 85.443.8

-

-

-

- 79.704,5 25.987,6 30.965,8

-

896,1

- 31.464,9 1.379,3

-

-

- 3.713,6

-

- 14.404,2 10.061,9

- 34.073,3

-

- 57.135,3 17.756,8 4.206,4 32.838,5

-

-

- 5.528,9

5.817,8 8.908,5 921,1

- 25.450,9

-

-

- 1.949,1

- 67.017,9 19.922,8 1.859,5 5.346.3 67.497 3.722,8 6.794,8 9.033,6

4.457,3 3.137,1

-

-

- 8.550,5

- 603,7

-

- 58.886,2 14.005,4

- 21.464,6 29.174,3 72.796,5

- 128,9

Trang 32

17

- Đất phèn hoạt động xuất hiện sâu, nhiễm mặn – szGL(ntio) với diện tích là 30.037.9

ha phân bố ở các huyện Trần Văn Thời 9.209,72 ha, U Minh 5.775,74 ha (Cà Mau);

An Biên 10.982,16 ha, An Minh 4.070,25 ha (Kiên Giang)

- Đất phèn tiềm tàng xuất hiện cạn, nhiễm mặn nhẹ – wsFL(ptip) với diện tích là 22.719,4 ha, phân bố ở các nơi Hồng Dân 644,38 ha (Bạc Liêu); Long Mỹ 4.161,69

ha, Vị Thanh 3.835,55 ha, Vị Thủy 290,96 ha (Hậu Giang); Gò Quao 11.186,16 ha, U Minh Thượng 2.600,62 ha (Kiên Giang)

- Đất phèn hoạt động xuất hiện sâu, nhiễm mặn – szFL(ntio) với diện tích là 1.991,27

ha phân bố ở U Minh (Cà Mau)

- Đất phèn tiềm tàng xuất hiện sâu, nhiễm mặn – szFL(ntip) với diện tích là 24.343,5

ha phân bố ở các huyện Ngọc Hiển 4.191,74 ha, Phú Tân 8.126,75 ha, Trần Văn Thời 8.838,60 ha, U Minh 1.639,54 ha (Cà Mau); An Biên 409,72 ha, Gò Quao 287,43 ha (Kiên Giang); Vĩnh Châu 849,65 ha (Sóc Trăng)

- Đất phèn tiềm tàng xuất hiện sâu, nhiễm mặn nhẹ – wsFL(ntip) với diện tích là 17.365,1 ha phân bố ở các nơi Thới Bình 3.033,66 ha , U Minh 3.450,38 ha (Cà Mau);

An Biên 20,44 ha, An Minh 10.375,81 ha, Gò Quao 485,07 ha (Kiên Giang)

- Đất phù sa bị rửa trôi sét, dễ trương nở, có tầng gley – vrglLV với diện tích là 82.360,6 ha phân bố ở thành phố Bạc Liêu 555,79 ha, Đông Hải 3.501,48 ha, Giá Rai 965,16 ha, Hòa Bình 4.704,64 ha, Vĩnh Lợi 978,19 ha (Bạc Liêu); Châu Thành 9.399,2

ha, Kế Sách 9.532,76 ha, Long Phú 12.971,61 ha, Mỹ Tú 8.994,69 ha, Mỹ Xuyên 13.559,75 ha, Thạnh Trị 2.309,08 ha, Trần Đề 7.992,18 ha và thành phố Sóc Trăng 6.893,43 ha (Sóc Trăng)

- Đất phèn tiềm tàng xuất hiện cạn, nhiễm mặn nhẹ – eaFL(ptip) với diện tích là 106.184,4 ha phân bố ở Đông Hải 6.104,31 ha, Hồng Dân 3.010,70 ha (Bạc Liêu); Cái Nước 3.603,00 ha, Đầm Dơi 25.738,21 ha, Năm Căn 26.622,79 ha, Ngọc Hiển 28.143,13 ha, Phú Tân 8.359,34 ha và Trần Văn Thời 2.260,28 ha (Cà Mau); An Minh 322,15 ha, U Minh Thượng 59,45 ha, Vĩnh Thuận 1.926,73 ha (Kiên Giang)

- Đất phèn hoạt động xuất hiện sâu, nhiễm mặn nhẹ – wsGL(ntio) với diện tích là 8.577,8 ha phân bố ở Giá Rai 237,76 ha, Phước Long 1.311,16 ha (Bạc Liêu); Thới Bình 5.350,17 ha (Cà Mau); An Minh 101,94 ha, Gò Quao 1.478,75 ha, U Minh Thượng 97,99 ha (Kiên Giang)

- Đất phèn hoạt động xuất hiện cạn, nhiễm mặn nhẹ – wsGL(ptio) với diện tích là 56.398,2 ha phân bố ở Hồng Dân 14.556,16 ha, Phước Long 2.503,90 ha (Bạc Liêu); Thới Bình 1.116,58 ha (Cà Mau); Long Mỹ 6.917,79 ha, Vị Thanh 9,74 ha, Vị Thủy 1,15 ha (Hậu Giang); An Biên 312,00 ha, An Minh 8.567,33 ha, Gò Quao 693,93 ha,

Trang 33

18

U Minh Thượng 18.777,69 ha, Vĩnh Thuận 2.626,07 ha (Kiên Giang); Ngã Năm (Sóc Trăng)

- Đất phù sa có tầng gley, có tầng Mollic – glmoFL với diện tích là 12.248,8 ha phân

bố ở Cờ Đỏ 1.469,49 ha, Ô Môn 325,62 ha, Thới Lai 103,26 ha, Thốt Nốt 969,74 ha, Vĩnh Thạnh 635,16 (Cần Thơ); Châu Thành 3.762,75 ha, Ngã Bảy 896,01 ha (Hậu Giang); Kế Sách 4.086,73 ha (Sóc Trăng)

- Đất than bùn, phèn tiềm tàng xuất hiện sâu – saHS(ntip) với diện tích là 28.874,6 ha phân bố ở Trần Văn Thời 5.885,06 ha, U Minh 13.324,36 ha (Cà Mau); An Minh 4.595,47 ha và U Minh Thượng 5.069,71 ha(Kiên Giang)

- Đất phèn tiềm tàng xuất hiện sâu, có tầng Mollic – moFL(ntip) với diện tích là 27.115,1 ha phân bố ở Bình Thủy 188,24 ha, Cái Răng 1.719,80 ha, Cờ Đỏ 0,81 ha, Ninh Kiều 187,77 ha, Ô Môn 3.323,84 ha, Phong Điền 10.025,29 ha, Thới Lai 7.388,99 ha (Cần Thơ); Châu Thành 672,22 ha, Châu Thành A 1.402,78 ha, Phụng Hiệp 384,44 ha (Hậu Giang); Gò Quao 1.820,92 ha (Kiên Giang)

- Đất phèn hoạt động xuất hiện sâu, có tầng gley – glFL(ntio) với diện tích là 24.514,7

ha phân bố ở Cờ Đỏ 895,79 ha (Cần Thơ); Long Mỹ 5.227,91 ha, Ngã Bảy 737,75 ha, Phụng Hiệp 4.010,39 ha, Vị Thanh 897,01 ha, Vị Thủy 2.470,43 ha (Hậu Giang); Giồng Riềng 2.609,09 ha, Gò Quao 1.676,08 ha, Tân Hiệp 1.532,60 ha (Kiên Giang); Châu Thành 1.713,23 ha, Mỹ Tú 2.744,08 ha (Sóc Trăng)

- Đất phù sa, nhiễm mặn nhẹ, có tầng Mollic – wsmoGL với diện tích là 69.976,2 ha phân bố ở Giá Rai 3.655,30 ha, Hồng Dân 18.334,53 ha, Phước Long 15.821,25 ha (Bạc Liêu); Thới Bình 10.708,71 ha, thành phố Cà Mau 4.213,86 ha (Cà Mau); Long

Mỹ 5.167,79 ha, Vị Thủy 28,35 ha (Hậu Giang); An Biên 3.046,59 ha, Gò Quao 2.332,72 ha, U Minh Thượng 2.217,27 ha, Vĩnh Thuận 1.311,92 ha (Kiên Giang); Ngã Năm 3.137,07 ha (Sóc Trăng)

- Đất phèn tiềm tàng sâu nhiễm mặn nhẹ, có tầng Umbric – umGL(ntip) với diện tích

là 32.386 ha phân bố ở Cờ Đỏ 20.110,58 ha, Thới Lai 1.165,34 ha, Thốt Nốt 801,89

ha, Vĩnh Thạnh 9.387,08 ha (Cần Thơ); Tân Hiệp 921,09 ha (Kiên Giang)

- Đất phèn tiềm tàng, xuất hiện sâu, có đặc tính Eutric – haGL(dtip,eu) với diện tích 1.379,3 ha phân bố Thốt Nốt (Cần Thơ)

- Đất phèn hoạt động xuất hiện cạn, nhiễm mặn – szFL(ptio) với diện tích là 109.847,5 ha phân bố ở Giá Rai 4.431,22 ha, Hồng Dân 8.672,83 ha, Phước Long 10.367,35 ha (Bạc Liêu); Thới Bình 12.314,84 ha, thành phố Cà Mau 1.435,03 ha, Trần Văn Thời 6.058,25 ha, U Minh 41.117,05 ha (Cà Mau); An Biên 1.294,20 ha, An

Trang 34

- Đất phèn tiềm tàng xuất hiện sâu, nhiễm mặn – szGL(ntip) với diện tích là 17.227,9

ha phân bố ở Đông Hải 13.160,32 ha (Bạc Liêu); Cái Nước 1.451,65 ha, Đầm Dơi 2.392,89 ha và thành phố Cà Mau 223,06 ha (Cà Mau)

- Đất phù sa có tầng gley – glFL(eu) với diện tích là 5.774,8 ha phân bố ở Cái Răng 2.618,60 ha, Cờ Đỏ 252,64 ha, Ninh Kiều 30,97 ha, Thốt Nốt 811,42 ha (Cần Thơ); Châu Thành 1.457,43 ha (Hậu Giang), Kế Sách 603,73 ha (Sóc Trăng)

- Đất phèn tiềm tàng xuất hiện sâu, nhiễm mặn – haGL(ntip) với diện tích là 1.950 ha phân bố ở Giồng Riềng 1.557,08 ha và Gò Quao 392,00 ha (Kiên Giang)

- Đất phù sa, nhiễm mặn nhẹ, có tầng Mollic – nsmoGL với diện tích là 86.106,4 ha phân bố ở Đông Hải 662,57 ha (Bạc Liêu), Cái Nước 30.414,81 ha, Đầm Dơi 32.716,98 ha, Phú Tân 10.155,09 ha, thành phố Cà Mau 613,45 ha, Trần Văn Thời 11.546,85 ha (Cà Mau)

- Đất phù sa, có tầng Mollic – mohaGL với diện tích là 211.113,4 ha phân bố ở Hòa Bình 1.245,53 ha, Hồng Dân 1.113,41 ha, Phước Long 3.559,31 ha, Vĩnh Lợi 7.751,66

ha (Bạc Liêu); Cờ Đỏ 422,49 ha, Phong Điền 770,33 ha, Thới Lai 12.911,77 ha, Vĩnh Thạnh 287,60 ha (Cần Thơ); Châu Thành A 2.472,22 ha, Long Mỹ 14.709,22 ha, Ngã Bảy 3.241,63 ha, Phụng Hiệp 21.589,92 ha, Vị Thanh 6.560,04 ha, Vị Thủy 8.562,12

ha (Hậu Giang); Châu Thành 7.539,75 ha, Giồng Riềng 25.782,29 ha, Gò Quao 18.878,95 ha, Tân Hiệp 14.816,94 ha (Kiên Giang); Châu Thành 4.635,80 ha, Kế Sách 4.403,00 ha, Mỹ Tú 19.127,68 ha, Mỹ Xuyên 339,70 ha, Ngã Năm 10.573,05 ha, Thạnh Trị 19.807,00 ha (Sóc Trăng)

- Đất phèn hoạt động xuất hiện cạn, có tầng Umbric – umGL(ptio) với diện tích là 62.621,3 phân bố ở các huyện Hồng Dân 5,90 ha, Phước Long 744,03 ha, Vĩnh Lợi 124,48 ha (Bạc Liêu); Cờ Đỏ 4.202,79 ha, Thới Lai 5.832,55 ha, Vĩnh Thạnh 17,33 ha (Cần Thơ); Châu Thành A 1.518,58 ha, Long Mỹ 4.525,46 ha, Phụng Hiệp 7.313,81

ha, Vị Thanh 105,03 ha, Vị Thủy 4.293,89 ha (Hậu Giang); Châu Thành 797,24 ha, Giồng Riềng 12.926,98 ha, Gò Quao 2.186,77 ha, Tân Hiệp 4.011,81 ha (Kiên Giang);

Mỹ Tú 3.892,31 ha, Ngã Năm 7.313,45 ha, Thạnh Trị 2.799,62 ha (Sóc Trăng)

Trang 35

20

- Đất phèn hoạt động xuất hiện sâu, có tầng Umbric – umGL(ntio) với diện tích là 6.066 ha phân bố ở thị xã Ngã Bảy 786,00 ha, Phụng Hiệp 3.429,45 ha (Hậu Giang); Giồng Riềng 852,59 ha, Gò Quao 1.006,95 ha (Kiên Giang)

- Đất phù sa, ít được bồi, có đặc tính Umbric – haGL(eu) với diện tích là 93.724,1 ha với diện tích và phân bố ở các huyện Bình Thủy 6.167,70 ha, Cái Răng 1.473,48 ha,

Cờ Đỏ 634,73 ha, Ninh Kiều 2.380,58 ha, Ô Môn 8.774,59 ha, Phong Điền 1.724,08

ha, Thới Lai 1.765,58 ha, Thốt Nốt 10.006,20 ha, Vĩnh Thuận 1.146,38 ha (Cần Thơ); Châu Thành 8.211,29 ha, Châu Thành A 10.824,02 ha, Ngã Bảy 2.686,11 ha, Phụng Hiệp 7.574,75 ha, Vị Thanh 46,07 ha, Vị Thủy 3.496,64 ha (Hậu Giang); Giồng Riềng 2.019,21 ha, Gò Quao 3.327,16 ha (Kiên Giang); Châu Thành 4.298,54 ha, Kế Sách 9.292,11 ha, Long Phú 5.989,00 ha, Mỹ Tú 914,34 ha, thành phố Sóc Trăng 970,63 ha (Sóc Trăng)

- Đất phù sa, nhiễm mặn nhẹ – nsGL(eu) với diện tích là 259.149,6 ha phân bố ở các huyện thành phố Bạc Liêu 5.723,67 ha, Đông Hải 20,383,73 ha, Giá Rai 15.880,09 ha, Hòa Bình 17.609,36 ha, Hồng Dân 51,75 ha, Phước Long 8.404,86 ha, Vĩnh Lợi 14.703,39 ha (Bạc Liêu); Cái Nước 5.403,45 ha, Đầm Dơi 21.635,51 ha, Năm Căn 1.414,08 ha, Phú Tân 4.251,40 ha, thành phố Cà Mau 15.271,29 ha, Trần Văn Thời 25.051,94 ha, U Minh 6.676,79 ha (Cà Mau); An Biên 23.484,17 ha, A Minh 20.840,64 ha, Châu Thành 9.209,01 ha, Gò Quao 105,18 ha, Rạch Giá 920,94 ha, U Minh Thượng 11.058,63 ha, Vĩnh Thuận 1.878,41 ha (Kiên Giang); Long Phú 5.785,05 ha, Mỹ Xuyên 666,19 ha, Thạnh Trị 1.210,55 ha, thành phố Sóc Trăng 629,23 ha, Trần Đề 19.960,46 ha, Vĩnh Châu 922,80 ha (Sóc Trăng)

- Đất mặn, có tầng gley – glhaSC với diện tích là 132.480,8 ha phân bố ở các huyện thành phố Bạc Liêu 7.614,98 ha, Đông Hải 9.615,58 ha, Giá Rai 1.041,40 ha, Hòa Bình 8.819,84 ha, Vĩnh Lợi 2.878,11 ha (Bạc Liêu); Cái Nước 1.724,27 ha, Đầm Dơi 872,36 ha, Năm Căn 1.408,21 ha, Ngọc Hiển 8.723,83 ha, Phú Tân 4.999,56 ha, Trần Văn Thời 6.931,61 ha, U Minh 1.327,81 ha (Cà Mau); A Biên 720,50 ha, An Minh 3.002,27 ha (Kiên Giang); Mỹ Xuyên 24.713,78 ha, Thạnh Trị 2,28 ha, Trần Đề 8.624,97 ha, Vĩnh Châu 39.455,43 ha (Sóc Trăng)

- Đất phèn hoạt động xuất hiện cạn, nhiễm mặn – szGL(ptio) với diện tích là 43.830,6

ha phân bố ở Giá Rai 4.882,64 ha, Hồng Dân 10,32 ha, Phước Long 1.177,10 ha (Bạc Liêu); Thới Bình16.265,03 ha, thành phố Cà Mau 5.126,68 ha, Trần Văn Thời 1.020,51 ha, U Minh 8.553,58 ha (Cà Mau); An Minh 5.618,42 ha, Vĩnh Thuận 1.176,36 ha (Kiên Giang)

- Đất phèn hoạt động xuất hiện cạn, có tầng gley – glFL(ptio) với diện tích là 14.691,4

ha phân bố ở Long Mỹ 402,27 ha, Phụng Hiệp 3.909,88 ha, Vị Thủy 1.216,74 ha (Hậu

Trang 36

21

Giang); Giồng Riềng 0,40 ha, Gò Quao 9.033,26 ha (Kiên Giang); Châu Thành 85,58

ha, Mỹ Tú 43,29 ha (Sóc Trăng)

3.1.3 Tài nguyên nước

Đặc điểm thủy văn

Theo Lê Anh Tuấn (2004), hệ thống sông Cửu Long được kể từ Tân Châu trên sông Tiền và Châu Đốc trên sông Hậu ra đến biển Hàng năm sông Cửu Long chuyển trên

500 tỷ m3

nước ra đến biển với lưu lượng bình quân là 13.500 m3/s, trong ¾ đưa về trong mùa lũ kéo dài 5 tháng từ tháng 5 – 10 hàng năm, ¼ lượng nước đưa ra biển trong 7 tháng còn lại Lưu lượng cực đại trên sông hàng năm vào tháng 9, tháng 10 và lưu lượng đạt cực tiểu vào tháng 4 Mặc dù sông Cửu Long có lưu lượng và tổng lượng nước khá lớn nhưng các đặc trưng dòng chảy khác không lớn lắm do lưu vực của sông khá rộng

Nguồn nước cung cấp cho dòng chảy trên sông chủ yếu là mưa Ở đây, ta cũng xét đến yếu tố thủy triều và yếu tố khí tượng tác động đến dòng chảy Thủy triều ở biển Đông truyền rất sâu vào đất liền chi phối đáng kể chế độ thủy văn của đồng bằng Về mùa khô, triều tiến nhanh về đất liền mang theo một khối lượng nước mặn khá lớn, về mùa

lũ triều cũng là một yếu tố dâng cao mực nước trong hệ thống sông và ngăn cản sự thoát lũ ra biển

Theo Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Môi trường (2010), mô đun dòng chảy năm trung bình thời kỳ nhiều năm biến đổi trong phạm vi từ dưới 10 l/s.km2

ở khu giữa sông Tiền – sông Hậu ở tỉnh Đồng Tháp – An Giang đến 30 l/s.km2

ở bán đảo Cà Mau

Tổng lượng dòng chảy năm trung bình nhiều năm của ĐBSCL khoảng 500 km3, trong

đó 23 km3 được hình thành trong ĐBSCL, 477 km3 từ trung lưu sông Mekong chảy vào ĐBSCL

Mùa lũ hàng năm thường xuất hiện vào các tháng 5 – 11 Lượng dòng chảy mùa lũ chiếm khoảng 70 – 85% lượng dòng chảy năm Lũ thường gây ngập lụt ở ĐBSCL Mùa cạn từ tháng 12 – 4 năm sau, lượng dòng chảy mùa cạn chiếm 15 – 30% dòng chảy năm, 3 tháng liên tục có lượng dòng chảy nhỏ nhất xuất hiện vào các tháng 2 – 4 hay 3 – 5

Chế độ nước sông ở vùng đồng bằng ven biển còn chịu chi phối bởi thủy triều biển Đông và vịnh Kiên Giang với chế độ triều tương ứng là bán nhật triều không đều và nhật triều không đều Hai loại triều với chế độ khác nhau xâm nhập vào sông ngòi kênh gạch, tạo ra bức tranh thủy triều rất phức tạp Tuy nhiên, thủy triều biển Đông chiếm ưu thế so với thủy triều vịnh Kiên Giang xâm nhập vào

Trang 37

22

(Nguồn: Bộ môn Tài nguyên đất đai, khoa MT&TNTN, Đại học Cần Thơ,2009)

Hình 3.3: Bản đồ hệ thống sông ngòi vùng bán đảo Cà Mau

Theo dự án Việt Nam – Hà Lan Quy hoạch tổng thể ĐBSCL (2011), chế độ thủy văn ở ĐBSCL chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi các dòng chảy của sông, chế độ thủy triều của biển Đông và một phần của đồng bằng bởi chế độ thủy triều của vịnh Kiên Giang (biển Tây) Biển Đông có chế độ bán nhật triều không đều trong khi vịnh Kiên Giang là nhật triều

Dựa trên ảnh hưởng của những chế độ thủy triều đa dạng và theo chu kỳ, ĐBSCL có thể chia thành 3 khu vực thủy văn: vùng đồng bằng phía Bắc bao gồm tỉnh An Giang

Trang 38

23

và Đồng Tháp, diện tích khoảng 30.000 ha, chịu tác động của lũ lụt sông; khu vực có

sự tác động của lũ và thủy triều sông, khu vực này bao gồm sông Cái Lớn – kênh Xẻo Chít, kênh Lái Hiếu – sông Mang Thít và kênh Bến Tre – Chợ Gạo với diện tích 1,6 triệu ha và các vùng đồng bằng ven biển với ảnh hưởng trực tiếp của thủy triều, bao gồm toàn bộ khu vực ven biển của biển Đông với diện tích khoảng 2 triệu ha

Lũ lụt ở ĐBSCL thường bắt đầu vào tháng 6 – 7 và kết thúc vào tháng 11 – 12, với lưu lượng cực đại trung bình khoảng 28.000 – 30.000 m3/s Lưu lượng trung bình vào mùa khô khoảng 3.000 – 5.000 m3/s Cả hai chế độ lũ cao và thấp diễn ra trong khoảng 6 tháng

Tổng lượng dòng chảy năm trung bình hàng năm của ĐBSCL ở thượng nguồn sông Tiền và sông Hậu khoảng 408 tỷ m3 (theo số liệu từ 2000 – 2008 tại trạm Tân Châu và Châu Đốc)

Sự truyền triều

Theo Lê Anh Tuấn (2004), thủy triều biển Đông gia tăng biên độ khi tiến sát đến cửa sông và bắt đầu giảm dần khi truyền sâu vào đất liền Đặc biệt về mùa kiệt, ảnh hưởng của triều trong hệ thống sông rất lớn So với các sông chính trên thế giới, mức độ truyền triều vào sông Cửu Long khá sâu, có thể lên đến 350 km, tức đến điểm trên thủ

đô PhnomPênh (Campuchia)

Nguyên nhân chính do sự tiết giảm biên độ truyền triều là do ảnh hưởng của lực ma sát dòng chảy với địa hình tự nhiên của dòng sông, các chướng ngại vật trên đường đi và

cả ảnh hưởng của áp lực gió trên bề mặt dòng sông

Đi sâu vào khoảng 140 – 150 km, độ lớn của triều giảm đi 50% và khoảng 200 – 220

km, độ lớn của triều giảm đi 25% Tuy vậy, vào mùa kiệt ở điểm cách cửa biển 200

km người ta vẫn ghi nhận được biên độ mực nước trên sông Cửu Long lên đến 1,4 m Trên các sông rạch nhỏ, biên độ triều giảm nhanh dần, như trên sông Gành Hào, biên

độ triều giảm đi 3,5 lần so với cửa biển Trong mùa lũ, ảnh hưởng của triều yếu đi, nhưng nó cũng là một yếu tố làm mực nước lũ tăng cao

Trên sông Tiền, đỉnh triều xuất hiện tại Tân Châu chậm hơn 4 – 6 giờ so với đỉnh triều

ở cửa biển Trên sông Hậu, đỉnh triều tại Châu Đốc cũng chậm hơn đỉnh triều ở biển Đông một thời gian tương tự Đặc biệt tại Bắc Cần Thơ (trên sông Hậu) và Bắc Mỹ Thuận (trên sông Tiền) đỉnh triều chậm hơn hay có khi sớm hơn phía cửa sông khoảng

1 giờ Hiện tượng này, Nguyễn Văn Âu (1985) đã giải thích là có thể do tác động của thủy triều vịnh Kiên Giang hay từ Cà Mau lên

Tốc độ truyền sóng triều cũng như sông Hậu trung bình khoảng 25 km/giờ Lưu lượng triều đạt giá trị cực đại vào tháng 4, thời gian này sóng triều có thể lên đến Campuchia

Trang 39

24

đi qua đoạn Mỹ Thuận – Tân Châu trên sông Tiền và Cần Thơ – Châu Đốc trên sông Hậu Trong các tháng 2 và 6 thì sự truyền thủy triều có giảm đi, triều chỉ có thể lên đến Campuchia khi xuất hiện kỳ nước cường trong chu kỳ 1/2 tháng Lưu lượng truyền triều trung bình đo được tại Cần Thơ là 1.500 m3/s và tại Mỹ Thuận khoảng 1.600

m3/s Tổng lượng nước triều hằng năm qua Tân Châu và Châu Đốc lên đến gần 50 tỷ

m3 nước Trong chu kỳ năm, tác động triều ở biển Đông mạnh nhất vào tháng 12 tới tháng 1, rồi yếu đi trong các tháng 3, tháng 4 rồi mạnh lại vào tháng 5 đến tháng 7 và yếu đi trong tháng 8 tới tháng 9 dương lịch

Mùa lũ tốc độ dòng chảy trên sông Cửu Long lên đến 2,5 m/s (9 km/h), mùa cạn tốc

độ dòng chảy phụ thuộc nhiều vào dòng triều, khi triều rút, nước chảy xuôi và ngược lại Dòng triều trong sông có thể đạt giá trị trung bình 1 m/s, mạnh nhất lúc triều rút trong mùa lũ, có thể đạt tới 1,5 – 2 m/s Trong các mùa khác, tốc độ lớn nhất ứng với triều cường vào khoảng 0,5 – 1,25 m/s

Sự truyền triều trong hệ thống ĐBSCL rất phức tạp, nhất là vùng tứ giác Long Xuyên

và bán đảo Cà Mau Khu vực Cà Mau đóng một vai trò trung gian giữa 2 loại thủy triều của biển Đông và vịnh Kiên Giang Ở đây, do sự pha trộn của 2 thể loại triều truyền ngược nhau đã sinh ra hiện tượng giao thoa sóng Hiện tượng giao thoa xuất hiện trong các kênh rạch nhỏ trong vùng và gây phức tạp trong tính toán Các kênh Rạch Sỏi, kênh Cà Mau – Phụng Hiệp, cũng có hiện tượng này Nhân dân gọi đây là

“vùng giáp nước”, các nơi này nước chảy chậm, bùn cát lắng đọng nhiều, Nói chung, các “vùng giáp nước” là nơi không thuận lợi cho công tác thủy nông và cải tạo đất nếu so sánh với các vùng có dòng chảy mạnh, biên độ triều lớn và chất lượng nước tốt

Theo Đào Xuân Học và Hoàng Thái Đại (2005), thì triều biển Đông có chế độ bán nhật triều không đều, mỗi ngày có hai đỉnh và hai chân, trong 1 tháng có hai kỳ triều cường và hai kỳ triều kém Biên độ triều bình quân 270 cm, cao trình mực nước triều bình quân là 0,25 m Trong năm đỉnh triều lên cao vào tháng 12 và tháng 1, xuống thấp vào tháng 6, 7; Chênh lệch đỉnh khoảng 0,5 m Chân triều lên cao vào tháng 3, 4

và tháng 9, 10, xuống thấp vào tháng 6, 7, chênh lệch chân khoảng 1 m Dọc theo biển Đông từ cửa Soài Rạp ở cực bắc qua 8 cửa sông Cửu Long đến cửa sông Gành Hào ở phía cực Nam, thuỷ triều biển Đông có một dạng chung và biến đổi theo xu thế: càng

về phía Nam thì biên độ càng tăng lên và xuất hiện muộn hơn Từ Vũng Tàu đến Gành Hào biên độ tăng lên khoảng 0,4 m và chậm pha hơn khoảng gần 1 giờ

Triều biển Đông là yếu tố cơ bản chi phối tỷ lệ dòng chảy ĐBSCL vào mùa cạn Biên

độ triều tháng 3, 4 trong mùa cạn khoảng 2,5 đến 3 m Do ảnh hưởng của lưu lượng

Trang 40

Triều vịnh Kiên Giang (biển Tây) có dạng nhật triều không đều, hàng ngày có một đỉnh cao và nhọn, phần trên bị kéo dài và bị đẩy lên bởi một đỉnh thấp thứ hai Biên độ triều bình quân 70 cm, mực nước triều bình quân là 0,18 m

Triều vịnh Kiên Giang (biển Tây) ít quan trọng vì biên độ nhỏ và chỉ lan truyền vào các kênh nhỏ, đáng kể nhất là sông Cái Lớn, khu vực Hà Tiên – Kiên Giang

Tương tác giữa triều biển Đông và triều vịnh Kiên Giang (biển Tây) tạo nên một miền giao tiếp ở Kiên Giang và phía Tây Bạc Liêu – Cà Mau, thường được gọi là khu vực giáp nước của triều biển Đông và triều biển Tây

Vấn đề triều ảnh hưởng xâm nhập mặn không những hạn chế đến sản xuất nông nghiệp và còn ảnh hưởng đến đời sống của nhân dân và kinh tế – xã hội

Theo Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Môi trường (2010), thì thuỷ triều có ảnh hưởng sâu sắc đến dòng chảy vùng ven biển ĐBSCL Vùng ven biển phía Đông từ Cần Giờ đến mũi Cà Mau chịu ảnh hưởng của thuỷ triều biển Đông; vùng ven biển phía Tây từ mũi Cà Mau đến Hà Tiên chịu ảnh hưởng của thuỷ triều vịnh Kiên Giang Thuỷ triều vùng ven biển Đông có chế độ bán nhật triều không đều, mỗi ngày nước lên xuống 2 lần, có 2 đỉnh và 2 chân Hai đỉnh triều chênh lệch nhau ít nhưng 2 chân chênh lệch nhau nhiều Với dạng triều này sẽ có tác dụng đưa nước vào nội đồng nhiều hơn Xu thế thủy triều ven biển Đông là từ Vũng Tàu đến Gành Hào biên độ triều tăng lên nhưng thời gian xuất hiện đỉnh triều chậm dần

Thuỷ triều ven vịnh Kiên Giang thuộc loại hỗn hợp thiên về nhật triều Trong ngày có

2 đỉnh, 2 chân nhưng những dao động lớn hoàn toàn chiếm ưu thế và thiên về nhật triều Có nghĩa là 2 đỉnh chênh lệch nhau đáng kể nhưng 2 chân xấp xỉ nhau Dạng triều này có thời gian duy trì mức nước thấp dài nên tạo ra việc tiêu tháo nước thuận lợi

Ngày đăng: 13/11/2015, 11:12

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1: Sơ đồ thực hiện - môi trường sinh thái và sử dụng đất phèn trong nông nghệp vùng bán đảo cà mau
Hình 2.1 Sơ đồ thực hiện (Trang 24)
Hình 3.1: Bản đồ đẳng trị lƣợng mƣa năm đồng bằng sông Cửu Long - môi trường sinh thái và sử dụng đất phèn trong nông nghệp vùng bán đảo cà mau
Hình 3.1 Bản đồ đẳng trị lƣợng mƣa năm đồng bằng sông Cửu Long (Trang 28)
Bảng 3.1: Bảng phân loại và diện tích đất vùng BĐCM theo tỉnh - môi trường sinh thái và sử dụng đất phèn trong nông nghệp vùng bán đảo cà mau
Bảng 3.1 Bảng phân loại và diện tích đất vùng BĐCM theo tỉnh (Trang 30)
Hình 3.3: Bản đồ hệ thống sông ngòi vùng bán đảo Cà Mau - môi trường sinh thái và sử dụng đất phèn trong nông nghệp vùng bán đảo cà mau
Hình 3.3 Bản đồ hệ thống sông ngòi vùng bán đảo Cà Mau (Trang 37)
Bảng 3.2: Bảng kiểu sử dụng đất nông nghiệp và diện tích vùng BĐCM theo tỉnh - môi trường sinh thái và sử dụng đất phèn trong nông nghệp vùng bán đảo cà mau
Bảng 3.2 Bảng kiểu sử dụng đất nông nghiệp và diện tích vùng BĐCM theo tỉnh (Trang 49)
Hình 3.9: Vườn Hồ tiêu dưới tán tràm trên đất phèn huyện Long Mỹ của ông Dương - môi trường sinh thái và sử dụng đất phèn trong nông nghệp vùng bán đảo cà mau
Hình 3.9 Vườn Hồ tiêu dưới tán tràm trên đất phèn huyện Long Mỹ của ông Dương (Trang 67)
Hình 3.11: Ảnh minh họa mô hình tràm – cá đồng - môi trường sinh thái và sử dụng đất phèn trong nông nghệp vùng bán đảo cà mau
Hình 3.11 Ảnh minh họa mô hình tràm – cá đồng (Trang 71)
Phụ lục 2: Bảng phân loại và diện tích các loại đất tỉnh Bạc Liêu - môi trường sinh thái và sử dụng đất phèn trong nông nghệp vùng bán đảo cà mau
h ụ lục 2: Bảng phân loại và diện tích các loại đất tỉnh Bạc Liêu (Trang 94)
Phụ lục 3: Bảng phân loại và diện tích các loại đất tỉnh Cà Mau - môi trường sinh thái và sử dụng đất phèn trong nông nghệp vùng bán đảo cà mau
h ụ lục 3: Bảng phân loại và diện tích các loại đất tỉnh Cà Mau (Trang 95)
Phụ lục 4: Bảng phân loại và diện tích các loại đất thành phố Cần Thơ - môi trường sinh thái và sử dụng đất phèn trong nông nghệp vùng bán đảo cà mau
h ụ lục 4: Bảng phân loại và diện tích các loại đất thành phố Cần Thơ (Trang 96)
Phụ lục 5: Bảng phân loại và diện tích các loại đất tỉnh Hậu Giang - môi trường sinh thái và sử dụng đất phèn trong nông nghệp vùng bán đảo cà mau
h ụ lục 5: Bảng phân loại và diện tích các loại đất tỉnh Hậu Giang (Trang 97)
Phụ lục 6: Bảng phân loại và diện tích các loại đất tỉnh Kiên Giang - môi trường sinh thái và sử dụng đất phèn trong nông nghệp vùng bán đảo cà mau
h ụ lục 6: Bảng phân loại và diện tích các loại đất tỉnh Kiên Giang (Trang 98)
Phụ lục 11: Bảng hiện trạng và diện tích sử dụng đất nông nghiệp tỉnh Hậu Giang - môi trường sinh thái và sử dụng đất phèn trong nông nghệp vùng bán đảo cà mau
h ụ lục 11: Bảng hiện trạng và diện tích sử dụng đất nông nghiệp tỉnh Hậu Giang (Trang 103)
Phụ lục 12: Bảng hiện trạng và diện tích sử dụng đất nông nghiệp tỉnh Kiên Giang - môi trường sinh thái và sử dụng đất phèn trong nông nghệp vùng bán đảo cà mau
h ụ lục 12: Bảng hiện trạng và diện tích sử dụng đất nông nghiệp tỉnh Kiên Giang (Trang 104)
Hình 3.6: Bản đồ đất phèn vùng BĐCM - môi trường sinh thái và sử dụng đất phèn trong nông nghệp vùng bán đảo cà mau
Hình 3.6 Bản đồ đất phèn vùng BĐCM (Trang 107)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w