1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

môi trường sinh thái và sử dụng đất phèn trong nông nghiệp vùng tứ giác long xuyên

106 744 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 106
Dung lượng 4,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Rạch Giá vùng TGLX Bản đồ đơn vị đất đai vùng TGLX Bản đồ phân vùng sinh thái trên đất phèn vùng TGLX Bản đồ phân vùng sinh thái vùng TGLX Bản đồ hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp vùng

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

-

NGUYỄN HỒNG ĐỨC

MÔI TRƯỜNG SINH THÁI VÀ SỬ DỤNG ĐẤT

PHÈN TRONG NÔNG NGHIỆP VÙNG

TỨ GIÁC LONG XUYÊN

LUẬN VĂN KỸ SƯ NGÀNH QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI

Cần Thơ – 2014

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

-

MÔI TRƯỜNG SINH THÁI VÀ SỬ DỤNG ĐẤT

PHÈN TRONG NÔNG NGHIỆP VÙNG

TỨ GIÁC LONG XUYÊN

LUẬN VĂN KỸ SƯ NGÀNH QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI

Trang 3

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA MÔI TRƯỜNG VÀ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN

BỘ MÔN TÀI NGUYÊN ĐẤT ĐAI

   XÁC NHẬN CỦA BỘ MÔN VỀ ĐỀ TÀI

“MÔI TRƯỜNG SINH THÁI VÀ SỬ DỤNG ĐẤT PHÈN TRONG NÔNG

NGHIỆP VÙNG TỨ GIÁC LONG XUYÊN”

Sinh viên thực hiện: Nguyễn Hồng Đức MSSV: 4115015

Lớp Quản Lý Đất Đai khóa 37 thuộc Bộ môn Tài nguyên Đất đai - Khoa Môi trường

& Tài nguyên Thiên nhiên - Trường Đại học Cần Thơ

Nhận xét của Bộ Môn:

Đánh giá:

Cần Thơ, ngày… tháng… năm 2014

Trưởng Bộ Môn

Trang 4

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA MÔI TRƯỜNG VÀ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN

BỘ MÔN TÀI NGUYÊN ĐẤT ĐAI

   XÁC NHẬN CỦA CÁN BỘ HƯỚNG DẪN

Chứng nhận chấp thuận báo cáo luận văn tốt nghiệp

ngành quản lý đất đai với đề tài:

“MÔI TRƯỜNG SINH THÁI VÀ SỬ DỤNG ĐẤT PHÈN TRONG NÔNG

NGHIỆP VÙNG TỨ GIÁC LONG XUYÊN”

Sinh viên thực hiện: Nguyễn Hồng Đức MSSV: 4115015

Lớp Quản Lý Đất Đai khóa 37 thuộc Bộ môn Tài nguyên Đất đai - Khoa Môi trường

& Tài nguyên Thiên nhiên - Trường Đại học Cần Thơ

Nhận xét của cán bộ hướng dẫn:

Cần Thơ, ngày… tháng… năm 2014

Cán bộ hướng dẫn

Trang 5

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA MÔI TRƯỜNG VÀ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN

BỘ MÔN TÀI NGUYÊN ĐẤT ĐAI

o0o

NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG BÁO CÁO Hội đồng chấm báo cáo luận văn tốt nghiệp chấp thuận đề tài: “MÔI TRƯỜNG SINH THÁI VÀ SỬ DỤNG ĐẤT PHÈN TRONG NÔNG NGHIỆP VÙNG TỨ GIÁC LONG XUYÊN” Do sinh viên Nguyễn Hồng Đức (MSSV: 4115015) thực hiện và bảo vệ trước hội đồng ngày….tháng năm

Luận văn tốt nghiệp đã được hội đồng đánh giá ở mức:…

Ý kiến của hội đồng:

Cần Thơ, ngày tháng năm

Chủ tịch hội đồng

Trang 6

Quê quán: ấp Phú Trung, xã Phú Thọ, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang

Họ tên cha: Nguyễn Văn Hạnh

Trang 7

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan rằng đề tài này do chính tôi thực hiện, các số liệu thu thập và kết quả phân tích trong đề tài là trung thực, đề tài không trùng với bất cứ đề tài nghiên cứu khoa học nào khác

Tác giả luận văn

Trang 8

LỜI CẢM TẠ

Qua thời gian học tập và rèn luyện tại trường, tôi đã nhận được sự dạy dỗ tận tình của quý thầy quý cô, được quý thầy quý cô truyền đạt những kiến thức chuyên môn và những kinh nghiệm trong cuộc sống, đó là hành trang giúp tôi vững bước vào đời và hoàn thành tốt nhiệm vụ trong công tác sau này

Em xin chân thành cảm ơn:

- Em xin chân thành cảm ơn cô Nguyễn Thị Hà Mi và thầy Võ Quang Minh người đã trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ em hoàn thành tốt luận văn này

- Quý thầy, quý cô và tập thể nhà trường đã tận tình dạy dỗ, giúp đỡ, truyền đạt kiến thức cho em trong thời gian học tập tại trường

- Quý thầy, quý cô, quý anh chị trong Bộ môn Tài Nguyên Đất Đai đã nhiệt tình giúp

đỡ, cung cấp những kiến thức chuyên môn

- Tôi xin cảm ơn tập thể lớp Quản Lý Đất Đai khóa 37 và cố vấn học tập cô Nguyễn Thị Song Bình đã động viên, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập tại trường

- Và cuối cùng con xin gửi lời tri ân sâu sắc đến cha mẹ kính yêu Con rất biết ơn cha

mẹ đã sinh ra và dạy dỗ con nên người Con xin kính chúc cha mẹ dồi dào sức khỏe và sống lâu trăm tuổi

- Xin kính chúc quý thầy, quý cô Bộ môn Tài nguyên Đất đai - Khoa Môi trường & Tài nguyên Thiên nhiên – Trường Đại học Cần Thơ, được dồi dào sức khỏe và công tác tốt

Xin chân thành cảm ơn!

Trang 9

MỤC LỤC

XÁC NHẬN CỦA BỘ MÔN VỀ ĐỀ TÀI i

XÁC NHẬN CỦA CÁN BỘ HƯỚNG DẪN ii

NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG BÁO CÁO iii

TIỂU SỬ CÁ NHÂN iv

LỜI CAM ĐOAN v

LỜI CẢM TẠ vi

MỤC LỤC vii

DANH SÁCH TỪ VIẾT TẮT ix

DANH SÁCH HÌNH x

DANH SÁCH BẢNG xi

TÓM LƯỢC xii

MỞ ĐẦU xiii

CHƯƠNG 1 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 1

1.1 Một số khái niệm 1

1.1.1 Định nghĩa đất đai 1

1.1.2 Khái niệm về môi trường sinh thái 1

1.1.3 Khái niệm đất phèn 3

1.2 Một số mô hình canh tác trên đất phèn 6

1.2.1 Mô hình canh tác 6

1.2.2 Một số mô hình canh tác điển hình 7

1.3 Đặc điểm vùng nghiên cứu 8

1.3.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên 8

1.3.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 9

CHƯƠNG 2: PHƯƠNG TIỆN PHƯƠNG PHÁP 12

2.1 Phương tiện 12

2.2 Phương pháp 12

2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu 12

2.2.2 Phương pháp tổng hợp 12

2.2.3 Phương pháp đánh giá 13

2.2.4 Phương pháp GIS 13

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ THẢO LUẬN 15

3.1 Môi trường sinh thái vùng Tứ Giác Long Xuyên 15

3.1.1 Tài nguyên đất vùng TGLX 15

3.1.2 Tài nguyên nước 30

3.1.3 Tài nguyên khí hậu 42

3.1.4 Phân vùng sinh thái vùng TGLX 51

3.2 Hiện trạng phát tiển nông nghiệp ở vùng Tứ giác Long Xuyên 55

3.2.1 Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp vùng TGLX 55

3.2.2 Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp trên đất phèn vùng TGLX 67

Trang 10

3.3 Biện pháp sử dụng và các kỹ thuật cải thiện năng suất cây trồng những

vùng đất khó khăn vùng Tứ giác Long Xuyên 67

3.3.1 Một số mô hình canh tác trên đất phèn vùng TGLX 67

3.3.2 Biện pháp cải tạo đất phèn vùng TGLX 81

CHƯƠNG IV KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 83

4.1 Kết luận 83

4.2 Kiến nghị 83

TÀI LIỆU THAM KHẢO 84

PHỤ CHƯƠNG 88

Trang 11

Food and Agriculture Organisation

United Nations Educational Scientific and Cultural Organization

Vietnamese Good Agriculltural Practices

World reference base

Cây ăn trái Công nghiệp hóa Đồng bằng sông Cửu Long Đông Xuân – Hè Thu

Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc

Hiện đại hóa Mùa – Đông Xuân Môi trường Tài Nguyên Thiên nhiên

Tứ giác Long Xuyên Thành Phố

Thị Xã

Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc Thực hành sản xuất nông nghiệp

Tổng lượng dòng chảy

Cơ sở tham khảo thế giới

Trang 12

Bản đồ hành chính vùng Tứ giác Long Xuyên

Sơ đồ quá trình thực hiện

Bản đồ thể hiện các loại đất chính ĐBSCL, Việt Nam

Bản đồ phân bố các loại đất vùng ĐBSCL năm 2009 phân loại theo

hệ thống FAO – WRB (2006)

Bản đồ phân bố các loại đất vùng Tứ giác Long Xuyên

Biểu đồ thể hiện diện tích các loại đất vùng TGLX

Hệ thống sông gạch vùng Tứ giác Long Xuyên

Lưu lượng nước sông Mekong chảy qua An Giang theo tháng

Tiềm năng trữ lượng nước ngầm ĐBSCL

Bản đồ phân bố nước dưới đất vùng TGLX

Bản đồ sông ngòi vùng Tứ giác Long Xuyên

Lượng mưa đồng bằng sông Cửu Long

Phân bố lượng mưa ĐBSCL

Đẳng trị mưa vùng ĐBSCL

Biểu đồ thể hiện nhiệt độ, độ ẩm và lượng mưa TP Rạch Giá vùng TGLX

Bản đồ đơn vị đất đai vùng TGLX

Bản đồ phân vùng sinh thái trên đất phèn vùng TGLX

Bản đồ phân vùng sinh thái vùng TGLX

Bản đồ hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp vùng TGLX năm 2013

Biểu đồ thể hiện diện tích các kiểu sử dụng đất nông nghiệp vùng TGLX

Mô hình canh tác lúa + tôm trên đất phèn vùng TGLX

Mô hình canh tác lúa + cá trên đất phèn vùng TGLX

Mô hình trồng mè (a) và đậu nành (b) ở tỉnh An Giang

Mô hình trồng mía ở tỉnh Kiên Giang

Mô hình trồng khóm ở tỉnh Kiên Giang

Mô hình trồng đu đủ ở tỉnh An Giang

Mô hình trồng khoai lang tím Nhật

Trang 13

Diện tích các loại đất theo từng huyện của tỉnh An Giang - TGLX

Diện tích các loại đất theo từng huyện của tỉnh Kiên Giang - TGLX

Giá trị nhiệt độ, độ ẩm và lƣợng mƣa TP Rạch Giá thuộc vùng TGLX

Diện tích đất và các kiểu sử dụng theo vùng sinh thái TGLX

Diện tích các kiểu sử dụng đất nông nghiệp tỉnh An Giang - TGLX

Diện tích các kiểu sử dụng đất nông nghiệp tỉnh Kiên Giang và huyện

Lịch thời vụ mô hình lúa + tôm

Lịch thời vụ mô hình lúa + cá

Lịch thời vụ mô hình lúa + màu

Lịch thời vụ mô hình trồng mía

Lịch thời vụ mô hình trồng khóm

Lịch thời vụ mô hình canh tác khoai lang tím Nhật

Lịch thời vụ mô hình chuyên màu

Trang 14

TÓM LƯỢC

Với tình hình phát triển không ngừng của thế giới hiện nay, Việt Nam nói chung và vùng TGLX nói riêng đang đối mặt với nhiều vấn đề hết sức quan trọng Ngày nay, do việc sử dụng quá mức tài nguyên đất cùng với đó là sự gia tăng dân số, CNH, HĐH đất nước… là những nguyên nhân gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến tài nguyên đất, nước, khí hậu ở vùng TGLX Việc sản xuất nông nghiệp cũng ảnh hưởng không nhỏ đến môi trường sinh thái trong vùng, đặc biệt vùng TGLX là vùng đất phèn Vì thế, việc tìm hiểu rõ hiện trạng và đặc tính môi trường đất, nước, khí hậu, đồng thời tìm hiểu rõ tình hình sản xuất nông nghiệp và việc sử dụng đất phèn trong nông nghiệp vùng là điều cần thiết

Bằng phương pháp thu thập, tìm hiểu, đánh giá, phân tích số liệu và tổng hợp lại các kết quả tìm được từ đó đưa ra những thông tin chính xác về vấn đề nghiên cứu từ các tài liệu, báo cáo khoa học, báo, tạp chí trong và ngoài nước đồng thời kết hợp với một

số nghiên cứu của một số thầy, cô cung cấp

Tìm hiểu, phân tích từ đó đưa ra được hiện trạng và đặc tính của môi trường đất, nước, khí hậu trong vùng và hiện trạng sử dụng đất phèn trong nông nghiệp của vùng TGLX

để đề xuất ra các biện pháp sử dụng và cải tạo đất phèn phù hợp

Trang 15

MỞ ĐẦU

Tứ giác Long Xuyên là một vùng đất hình tứ giác nằm trên địa phận của ba tỉnh Kiên Giang, An Giang và Cần Thơ Bốn cạnh của tứ giác này là biên giới Việt Nam - Campuchia, vịnh Thái Lan, kênh Cái Sắn và sông Hậu Vùng TGLX có diện tích tự nhiên khoảng 489.000 ha Địa hình trũng, tương đối bằng phẳng với độ cao từ 0,4 đến

2 m trên mực nước biển Trong mùa lũ, vùng này thường ngập nước với độ sâu từ 0,5 đến 2,5 m, tương đối dễ thoát nước Vào mùa khô, vùng này thường khô hạn và bị nước mặn xâm nhập Đất thuộc loại đất phèn

Tứ Giác Long Xuyên cũng là phần thượng châu thổ của đồng bằng sông Cửu Long, có địa hình tương đối cao (2 – 3,5 m) nhưng vẫn bị ngập nước thường xuyên vì đây là vùng trũng Khi mực nước biển dâng 1 m thì phần lớn diện tích của TGLX sẽ bị ngập, vùng Tứ giác Long Xuyên – Hà Tiên và một số vùng trũng nhỏ ở U Minh thượng sẽ bị ngập với tỷ lệ khá cao

Hiện nay do việc sử dụng chưa hợp lý cùng với sự ảnh hưởng của quá trình CNH, HĐH đất nước, sự gia tăng dân số đã và đang làm cho môi trường đất, nước, khí hậu suy giảm nghiệm trọng, từ đó cũng ảnh hưởng đến việc sản xuất nông nghiệp trong vùng, đặc biệt trên vùng đất phèn như TGLX thì việc sử dụng đất phèn trong nông nghiệp rất đáng quan tâm Việc tìm hiểu rõ hiện trạng và đặc tính môi trường sinh thái

và việc sử dụng đất phèn trong nông nghiệp vùng TGLX là rất cần thiết, để qua đó có thể đề ra những biện pháp hiệu quả hơn cho việc sử dụng đất lâu dài trong tương lai

Vì vậy đề tài: “Môi trường sinh thái và sử dụng đất phèn trong nông nghiệp vùng Tứ Giác Long Xuyên” được thực hiện nhằm mục đích:

- Xác định môi trường đất, nước, khí hậu vùng TGLX Phân vùng sinh thái vùng TGLX

- Tìm hiểu hiện trạng sản xuất nông nghiệp vùng TGLX

- Đề xuất các biện pháp sử dụng và các kỹ thuật cải thiện nâng cao năng suất cây trồng

ở các vùng đất khó khăn

Trang 16

CHƯƠNG 1 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU

1.1 Một số khái niệm

1.1.1 Định nghĩa đất đai

- Theo Quốc hội - Luật đất đai 1993 nêu rõ: Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hóa, xã hội,

an ninh, quốc phòng

- Theo Lê Tấn Lợi (2002), thì “Đất đai về mặt địa lý mà nói thì là một vùng đất chuyên biệt trên bề mặt của trái đất Có những đặc tính mang tính ổn định hay có chu kỳ dự đoán được, trong khu vực sinh khí quyển có chiều thẳng đứng từ trên xuống dưới trong đó bao gồm: không khí, đất và lớp địa chất, nước và quần thể sinh vật, và kết quả của những hoạt động bởi con người trong việc sử dụng đất đai trong quá khứ, hiện tại

và trong tương lai”

- Theo Lê Quang Trí (2010), thì đất đai là diện tích khoanh vẽ trên bề mặt trái đất, chứa đựng tất cả các đặc trưng của sinh khí quyển ngay bên trên và bên dưới Lớp mặt này bao gồm: khí hậu gần mặt đất và dạng hình, mặt nước (bao gồm những hồ cạn, sông trũng và đầm lầy) Lớp trầm tích gần mặt và kết hợp nước dự trữ ngầm, tập đoàn thực vật và động vật, mẫu hình định cư của con người và những kết quả về tự nhiên và hoạt động con người trong thời gian qua và hiện tại như: làm ruộng bậc thang, cấu trúc

hệ thống trữ nước, đường xá, nhà cửa

1.1.2 Khái niệm về môi trường sinh thái

Theo Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam (2011), thì:

- Môi trường sinh thái là một mạng lưới chỉnh thể có mối liên quan chặt chẽ với nhau giữa đất, nước, không khí và các cơ thể sống trong phạm vi toàn cầu Sự rối loạn bất

ổn định ở một khâu nào đó trong hệ thống sẽ gây hậu quả nghiêm trọng Con người và

xã hội xuất thân từ tự nhiên, là một bộ phận của thiên nhiên Thông qua quá trình lao động, con người khai thác bảo vệ bồi đắp cho thiên nhiên Cũng qua quá trình đó con

người, xã hội dần dần có sự đối lập với tự nhiên

- Trong 100 năm qua nhiệt độ chung của trái đất đã tăng lên 0,6 độ C Với mức độ ô nhiễm và phá rừng như hiện nay thì nhiệt độ chung của trái đất sẽ tăng lên 2 đến 5 oC trong thế kỷ 21 Sự nóng lên của khí hậu toàn cầu làm cho một phần các khối băng khổng lồ ở hai cực tan ra, mực nước biển sẽ dâng cao từ 0,5 đến 0,6 mét trong thế kỷ

21, sẽ đánh chìm nơi ở của hàng trăm triệu người ở các dải đất ven biển và hàng trăm triệu hécta đất canh tác sẽ không còn Theo tính toán của một số nhà khoa học Việt

Trang 17

Nam, đến năm 2070 do mực nước biển dâng cao sẽ có khoảng 15 triệu hécta của vùng sông Hồng bị chìm trong nước

- Quá trình sản xuất và sinh sống của con người, đặc biệt là sản xuất công nghiệp đã tạo ra nhiều chất thải gây ô nhiễm bầu không khí Ở Việt Nam, trong phạm vi cả nước thì ô nhiễm không khí chưa đến mức nghiêm trọng, nhưng ở cả thành phố lớn và các khu công nghiệp thì đang bị ảnh hưởng đáng lo ngại, cần được nghiên cứu giải quyết

- Hoạt động của con người đã làm ô nhiễm và cạn kiệt nguồn nước Gần ¾ vỏ trái đất được bao phủ bởi nước, nhưng chỉ có 6% là nước ngọt Các chất thải do sản xuất công nghiệp và nông nghiệp tạo ra đã làm ô nhiễm 10% các sông ngòi trên thế giới

- Ở Việt Nam có khoảng 2.000 con sông lớn nhỏ, với tổng lượng dòng chảy hàng năm khoảng 880 tỷ m3 Tổng trữ lượng nước dưới đất toàn lãnh thổ (chưa kể các đảo) theo

dự toán đạt khoảng 1.513 m3

/giây, xấp xỉ 15% tổng lượng nước mặt sinh ra trên lãnh thổ Thế nhưng do mất rừng, nông nghiệp không kèm theo các biện pháp bảo vệ môi trường và do các hoạt động khác, nguồn nước của chúng ta đã bị suy giảm, gây nên nạn thiếu nước ở nhiều vùng

- Tác động của con người là một trong các nhân tố chủ yếu gây nên thoái hoá đất Thế giới có khoảng 13.000 triệu hécta đất không bị băng giá bao phủ, trong đó có 31% là đất có rừng hay thảm cây bụi che phủ Thế nhưng chỉ trong 40 năm qua đã mất đi 1/5 lớp đất mùn ở các vùng nông nghiệp, trung bình mỗi năm có 6 đến 7 triệu hécta đất trồng trọt bị mất khả năng sản xuất do nạn xói mòn, rửa trôi và hóa đá

- Ở Việt Nam, do phá rừng đã làm cho đất bị thoái hoá nghiêm trọng Gần 10 triệu hécta đất trồng đồi núi trọc hiện nay là mối quan tâm lớn, là vấn đề bức xúc cần được giải quyết

- Quá trình xói mòn, rửa trôi đất ở vùng gò đồi làm mất đi lớp đất mặt hàng năm chừng 200 tấn/ha Mỗi năm nước ta sử dụng khoảng 15.000 - 20.000 tấn thuốc trừ sâu Bình quân lượng thuốc sử dụng trên một hécta gieo trồng là 0,4 - 0,5 kg, cá biệt như vùng Đà Lạt lên đến 5,1 - 13,5 kg/ha Đó là nguồn hoá học ô nhiễm lớn cho đất

- Hiện nay trong phần lớn các tài liệu đều quy trách nhiệm dẫn đến biến đổi môi trường sống và giảm đa dạng sinh học là do hoạt động không hợp lý, thiếu khoa học của con người gây nên Thực ra, có hai nhóm nguyên nhân dẫn đến suy thoái môi trường sinh thái và giảm đa dạng sinh học là nhóm nguyên nhân bắt nguồn từ bản thân

tự nhiên gây ra và nhóm nguyên nhân do con người gây ra

+ Nhóm nguyên nhân do những xung đột vốn có của tự nhiên như gió, bão, lũ lụt, núi lửa, động đất, quá trình chuyển động của không khí, sóng thần, sự va chạm của các thiên thể khác vào trái đất, tác động của quy luật cạnh tranh sinh tồn trong quá trình

Trang 18

tiến hoá sinh vật

+ Nhóm nguyên nhân do con người gây ra trong thời đại ngày nay mang tính rộng khắp và thường xuyên làm suy thoái môi trường và giảm đa dạng sinh học, bao gồm: Phát tiển kinh tế không tôn trọng quy luật tự nhiên, nạn nghèo đói, gia tăng dân số, do nhận thức về bảo vệ môi trường của người dân còn hạn chế, luật, cơ chế quản lý còn nhiều bất cập,…

1.1.3 Khái niệm đất phèn

Theo Trần Văn Chính (2010), thì:

- Nhóm đất phèn hay nhóm đất phù sa phèn, tên theo phân loại của FAO là Thionic Fluvisols là tên gọi dùng để chỉ nhóm đất có chứa các vật liệu mà kết quả của các tiến trình sinh hoá xảy ra là axít sulfuric được tạo thành hoặc sẽ sinh ra với một số lượng

có ảnh hưởng lâu dài đến những đặc tính chủ yếu của đất Đất phèn thường có màu đen hoặc nâu ở tầng đất, mặt Đất thường bị gley mạnh ở tầng C, có mùi đặc trưng của lưu huỳnh và H2S

- Diện tích và phân bố: Đất phèn ở Việt Nam có khoảng 2 triệu ha, chiếm trên 6,5% diện tích đất tự nhiên toàn quốc Phân bố tập trung nhiều nhất ở đồng bằng Nam Bộ, trong các tỉnh Long An, Ðồng Tháp, An Giang, Kiên Giang, Cần Thơ, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau ở đồng bằng Bắc Bộ có một số ít diện tích ở Hải Phòng, Thái Bình ngoài ra còn gặp rải rác ở một số tỉnh thuộc miền Trung

- Ðiều kiện và quá trình hình thành đất phèn: Ðất phèn thường được hình thành và phát triển ở những vùng địa mạo đầm lầy, rừng ngập mặn, cửa sông có địa hình trũng, khó thoát nước Do sản phẩm bồi tụ phù sa kết hợp với vật liệu sinh phèn (xác sinh vật chứa nhiều lưu huỳnh) và muối phèn Thực vật tự nhiên ở đây chủ yếu là những cây ưa nước có muối như ôrô, cỏ năn, cỏ lác, cỏ gà nước Những diện tích đang được canh tác chủ yếu trồng lúa, cói và một số loại hoa màu khác song năng suất nói chung còn thấp

do đất chua mặn

- Về vị trí so với đất mặn, nhìn chung đất phèn nằm sâu vào đất liền hơn Ở đồng bằng sông Cửu Long đất phèn có sự xen kẽ rất phức tạp với đất mặn và đất phù sa Trong đất xảy ra các quá trình mặn hóa, chua hóa, glây và sét hóa làm cho đất có thành phần

cơ giới nặng Tuy nhiên trong đất phèn hai quá trình mặn hóa và chua hóa diễn ra rất mạnh và chúng quyết định các đặc tính của đất phèn

- Quá trình mặn hóa: Được hình thành do trong đất có chứa một số lượng muối tan nhất định như muối NaCl, Na2SO4 Các muối này có nguồn gốc từ nước biển, trải qua thời gian lượng muối NaCl đã giảm nhờ tính hòa tan cao, còn lại muối Na2SO4 được tích lại ở đất phèn Trong đất phèn do ion Cl-

dễ bị rửa trôi trong khi ion SO42- lại

Trang 19

thường xuyên được bổ sung, tích lũy bởi quá trình phèn hóa trong quá trình phân hủy các xác hữu cơ (sú, vẹt, đước) do đó tỷ lệ Cl-

/ SO42- < 1 Hàm lượng Cl- và SO42- có chiều hướng tăng dần theo chiều sâu phẫu diện

- Quá trình chua hóa: Thực tế nghiên cứu của các học giả Việt Nam đi đến kết luận sơ

bộ về nguyên nhân làm cho đất chua là do lưu huỳnh có nguồn gốc từ nước biển tích lũy lại theo 2 con đường

+ Con đường thứ nhất là do những phản ứng hóa học thuần túy như kiểu các muối sunphat ít tan khi nồng độ tăng lên kết tủa lại sinh ra nhiều SO42- làm đất hóa chua + Con đường thứ hai qua tích lũy sinh học từ xác các thực vật rừng ngập mặn (phổ biến là các cây sú, vẹt, đước ) Trong quá trình sống các loại cây này hấp thụ và tích lũy S ở dạng hữu cơ, sau khi chết đi xác của chúng được phân giải ở điều kiện yếm khí, các hợp chất chứa lưu huỳnh bị biến đổi thành S2- chủ yếu ở dạng pyrite (FeS2) và sunphua hydro (H2S), hợp chất FeS2 trong đất khi gặp điều kiện oxy hóa chúng sẽ biến đổi tạo ra SO42-

Quá trình hóa chua trong đất có thể minh họa theo sơ đồ dưới đây:

VSV yếm khí oxy hóa

Tàn tích hữu cơ  H2S, FeS2  H2SO4 và FeSO4

Fe2SO4 hay FeCl3) Còn Al chỉ tích lũy nhờ các phản ứng hóa học Al trong phiến gipxit của khoáng có thể trao đổi với H+

của axit khi pH < 4,0, phản ứng xảy ra chậm

Trang 20

Các muối nhôm sau khi tạo thành bị thủy phân đã làm cho hàm lượng Al3+

ở trạng thái

di động trong dung dịch đất tăng lên rất độc đối với cây trồng

- Theo phân loại đất của FAO-UNESCO đất phèn được xác định do sự có mặt ở trong phẫu diện đất 2 loại tầng chẩn đoán chính đó là tầng sinh phèn (sunfidic horizon) và tầng phèn (sulfuric horizon) Nếu đất chỉ có tầng chứa vật liệu sinh phèn gọi là đất phèn tiềm tàng, đất có tầng phèn (thường có cả tầng sinh phèn) gọi là đất phèn hoạt động

- Nhóm đất phèn (Thionosols) được chia ra thành các đơn vị sau:

+ Ðất phèn tiềm tàng: Protothionic Gleysols (FLtp)

+ Ðất phèn hoạt động: Orthithionic Fluvisols (FLto)

- Ðặc điểm chung đất phèn có thành phần cơ giới nặng (sét: %>50%), đất rất chua (pHKCl: 3- 4,5) Hàm lượng hữu cơ trong đất khá (OC%: 2- 4%); hàm lượng lân nghèo đến rất nghèo cả tổng số và dễ tiêu (P2O5% < 0,06%; P2O5 dễ tiêu< 6 mg/100g đất, có nơi chỉ thấy vệt); hàm lượng kali từ khá đến giàu (K2O5: 1,5- 2,0%) Hàm lượng S% tương đương hoặc lớn hơn 0,75% Hàm lượng nhôm di động Al3+ trong tầng sinh phèn cao (có chỗ lên đến >50 mg/100g đất)

- Các đơn vị đất phèn chính:

+ Ðất phèn tiềm tàng (Protothionic Gleysols- GLtp): có khoảng 600 ha tập trung chủ

yếu ở ven biển đồng bằng Nam Bộ Ðất được hình thành do sự có mặt của tầng sinh phèn (Sulfidic Horizon), đây cũng chính là tầng vật liệu chứa phèn (Sulfidic Materials), gồm tầng sét và tầng hữu cơ ngập nước, thường ở trạng thái yếm khí có chứa SO3 trên 1,7% (tương đương với 0,75% S) Ðất phèn tiềm tàng hiện đang được khai thác trồng lúa, nuôi tôm, ở những rừng ngập mặn sú, vẹt, đước có một số diện tích phèn nhiều đặc thù hiện đang được bảo vệ để bảo tồn những đàn chim quý hiếm + Ðất phèn hoạt động (Orthithionic Fluvisols- FLto): có khoảng gần 1,4 triệu ha phân

bố chủ yếu ở đồng bằng Nam Bộ và một số tỉnh đồng bằng Bắc Bộ Ðất phèn hoạt động được hình thành do có tầng phèn (Sulfuric Horizon), là một dạng tầng B xuất hiện trong quá trình hình thành và phát triển từ đất phèn tiềm tàng, tập trung khoáng Jarosite dưới dạng đốm vệt vàng rơm có màu 2,5Y đây cũng chính là tầng chỉ thị của đất phèn hoạt động; pH của đất thường dưới 3,5 Ðất này thường được sử dụng trồng lúa

- Diện tích đất phèn bỏ hoang ở nước ta hiện nay còn khá lớn Những diện tích đất phèn đã được khai thác vào sản xuất cây trồng chủ yếu là trồng 2 vụ lúa (Đông Xuân

và Hè Thu) năng xuất cây trồng ở đây phụ thuộc rất nhiều vào lượng mưa hàng năm

Trang 21

Trên loại đất này nông dân nông dân có kinh nghiệm "ém phèn" để trồng lúa bằng biện pháp cày nông, bừa sục giữ nước liên tục và tháo nước theo định kì Với hệ thống thủy lợi ngày càng được hoàn thiện cùng với sự thay thế những giống có khả năng chống chịu phèn có thể đạt năng suất bình quân 6- 7 tấn thóc/ ha/ năm Ðất phèn là loại đất cần phải cải tạo khi sử dụng

1.2 Một số mô hình canh tác trên đất phèn

1.2.1 Mô hình canh tác

Mô hình canh tác là sự bố trí các loại cây trồng vật nuôi trên một lô đất trong suốt thời

kỳ 12 tháng (Nguyễn Duy Cần, 2007)

Theo Nguyễn Duy Cần (2007), các tiêu chuẩn để lựa chọn các giải pháp kỹ thuật:

- Sự bền vững về môi trường, biểu hiện qua các tiêu chí:

+ Độ phì của đất, thể hiện qua các giải pháp đó duy trì hay cải thiện được độ phì nhiêu của đất

+ Đa dạng sinh học, giải pháp đó không làm mất; cạn kiệt nguồn gen cây trồng, vật nuôi

- Mang lại hiệu quả kinh tế, biểu hiện qua các tiêu chí:

+ Đòi hỏi lao động và đầu tư, thể hiện qua giải pháp thích hợp với lao động, thích hợp với đầu tư

+ Mô hình mang lại hiệu quả kinh tế

- Mang tính công bằng, biểu hiện qua các tiêu chí:

+ Lợi tức đem lại cho cộng đồng, nông dân nghèo

+ Giải pháp thể hiện qua sự công bằng về giới tính (cả nam và nữ)

+ Phù hợp với văn hóa, tập tục, xã hội chấp nhận

- Khả thi về các thành phần kỹ thuật thích hợp, thể hiện qua các tiêu chí:

+ Kỹ thuật thích nghi về sinh học, phù hợp với nguồn lực và dễ dàng áp dụng bởi nông dân

+ Kỹ thuật có thể dễ dàng phổ biến ra diện rộng cho những nông dân khác áp dụng

- Sự tham gia của nông dân, thể hiện qua tiêu chí:

+ Giải pháp đó nông dân được bao gồm trong quá trình quyết định, lập kế hoạch, thực hiện và đánh giá…

Trang 22

1.2.2 Một số mô hình canh tác điển hình

Theo Nguyễn Duy Cần (1991), trên vùng đất phèn không lên liếp mô hình độc canh cây lúa là rất phổ biến và hiệu quả kinh tế không cao Mô hình canh tác lúa 2 vụ (Đông Xuân – Hè Thu) hoặc mô hình 2 vụ lúa kết hợp nuôi cá được áp dụng trên vùng đất phèn có nguồn nước tưới đảm bảo Tuy nhiên trong mô hình trồng lúa kết hợp nuôi cá đem lại lợi nhuận cao hơn mô hình độc canh hay mô hình hai vụ lúa

Theo Võ Thị Gương và Trần Thị Phụng Kiều (2005), thì mô hình trồng dưa hấu sẽ phát triển tốt trên đất phèn nặng ở ĐBSCL nếu sử dụng 1- 2 tấn vôi/ha, sử dụng phân vôi bón ngay vụ đầu tiên khi đất mới lên liếp sẽ cho năng suất khá so với không sử dụng phân vôi

Theo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Tiền Giang (2013), cho biết xã Tân Hòa Đông huyện Tân Phước, là vùng đất phèn nặng, dân cư thưa thớt, thuộc xã nghèo của huyện Người dân ở đây sinh sống bằng nghề làm thuê mướn, các hộ có đất đai thì trồng cây khoai mỡ là chủ yếu Về sau, theo chủ trương của huyện đã nâng cấp vài ô

đê bao để nông dân chuyển đổi trồng khóm, ít rủi ro hơn Qua các chương trình khuyến nông chuyển giao kỹ thuật về chuyển đổi cơ cấu cây trồng, áp dụng kỹ thuật trồng luân canh hợp lý, đã được nhiều nông dân nắm bắt áp dụng như luân canh đậu phộng, dưa hấu…, và gần đây qua trình diễn mô hình trồng ớt theo VietGAP của Trạm Khuyến nông Tân Phước đã thu hút nhiều hộ nông dân trồng luân canh cây ớt với khoai mỡ đạt hiệu quả cao Trong đó, điển hình là anh Lê Việt Hà, cư ngụ ấp Tân Thuận xã Tân Hòa Đông Áp dụng trồng thưa 45 cm/cây, làm giàn, bón phân hữu cơ, tăng cường bón vôi, lân cho ớt…Trong vụ Hè Thu năm 2013, tuy phải phòng trị 2 lần bệnh thán thư và 3 lần thuốc trừ sâu rầy, nhưng với 4 công ớt, sau 90 ngày, anh đã thu hoạch đợt 1 là 3,9 tấn Với giá bán trồi sụt từ 13.000 đ/kg - 29 000 đ/kg, sau khi trừ chi phí anh lãi trên 27 triệu đồng Để chuẩn bị cho đợt thu hoạch ớt lần 2, anh bón tiếp phân hữu cơ và phân hóa học (cân đối NPK) Sản lượng đợt này đạt gần 2,3 tấn, khiến mọi người xung quanh rất ngạc nhiên Dù giá thấp giá chỉ từ 6.000 - 12.000 đ/kg, anh vẫn lãi gần 10 triệu đồng

Theo Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam (2014), thì mô hình trồng hồ tiêu, sử dụng kỹ thuật trong tiêu trên đất phèn sử dụng cây tràm sống làm trụ mới được nông dân ở các huyện Giồng Riềng, Kiên Giang; Long Mỹ và Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang sáng tạo và đem lại hiệu quả cao Theo số liệu của ngành Khuyến nông tỉnh Kiên Giang 2014, huyện Giồng Riềng mới chỉ có trên 40 ha hồ tiêu, năng suất đạt khá cao từ 2 – 3.5 tấn/ha/năm, lúc đầu tập trung ở 2 xã Hoà Thuận và Ngọc Hoà, nay đã được mở rộng trên nhiều xã như Ngọc Chúc, Vĩnh Thạnh, Long Thạnh, Thị Trấn, Hoà Hưng… Trong năm 2013, tiêu có giá 130.000 đồng/kg, năm 2014 giá bán từ 150.000-

Trang 23

160.000 đồng/kg, mỗi năm những hộ trồng tiêu có thu nhập hàng chục triệu đồng Có

hộ sản xuất tốt, sau khi trừ chi phí, lợi nhuận thu được khoảng 300 triệu đồng/ha

1.3 Đặc điểm vùng nghiên cứu

1.3.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên

(Nguồn: Bộ môn Tài nguyên đất đai, Khoa MTTNTN, Trường Đại học Cần Thơ, 2014)

Hình 1.1 Bản đồ hành chính vùng Tứ giác Long Xuyên

Tứ giác Long Xuyên là một vùng đất hình tứ giác thuộc vùng ĐBSCL trên địa phận ba tỉnh Kiên Giang, An Giang, TP Cần Thơ trong đó, khoảng 52% thuộc tỉnh An Giang, khoảng 46% thuộc tỉnh Kiên Giang và phần còn lại thuộc vùng Bắc Cái Sắn huyện Vĩnh Thạnh, TP Cần Thơ Bốn cạnh của tứ giác này là biên giới Việt Nam – Campuchia, vịnh Kiên Giang, kênh Cái Sắn và sông Hậu

Vùng TGLX có diện tích tự nhiên khoảng 489.000 hecta Địa hình trũng, tương đối bằng phẳng với độ cao tuyệt đối từ 0,4 đến 2 m

Những năm 1988 – 1989, các tỉnh đã mở bước đột phá khai thác tiềm năng vùng đất hoang hóa, nhiễm phèn nặng, ít người lui tới này Nhiều người là nông dân, cán bộ, đảng viên đã “xâm mình” quyết dấn thân với mảnh đất “muỗi kêu như sáo thổi, đỉa lội

tợ bánh canh” Nhiều người khác cũng đã làm theo, góp phần xây dựng nên diện mạo mới của vùng TGLX ngày nay

Trang 24

(http://vi.wikipedia.org/wiki/T%E1%BB%A9_gi%C3%A1c_Long_Xuy%C3%AAn, truy cập ngày 2/10/2014, vào lúc 16h 10‟)

1.3.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội

Theo Bảo Trị (2012), tại hội thảo khoa học “20 năm khai thác, phát triển kinh tế xã hội vùng TGLX” được tổ chức tại An Giang vào ngày 22/11/2012 báo cáo:

- Sau hơn 20 năm khai thác, phát triển, kinh tế xã hội vùng Tứ Giác Long Xuyên, đã

có nhiều thay đổi, đặc biệt đối với lĩnh vực nông, thủy sản Tuy nhiên, đi đôi với sự

phát triển ấy vẫn còn nhiều vấn đề được đặt ra, nhất là biến đổi khí hậu và nâng cao đời sống người nông dân Sau hơn 20 năm khai thác, phát triển kinh tế vùng TGLX đạt được nhiều thành công, đặc biệt là lĩnh vực nông, thủy sản Trước năm 1988, TGLX là vùng đất đất phèn, mặn, sản xuất nông nghiệp kém phát triển

- Tuy nhiên, kể từ sau năm 1988 đến nay (tức kể từ khi có Nhà nước chủ trương khai thác, phát triển vùng TGLX), đời sống kinh tế xã hội của vùng có nhiều thay đổi Diện tích đất phèn, mặn dần dần được cải tạo và thay vào đó là một vùng sản xuất nông nghiệp màu mỡ, trọng yếu của ĐBSCL và cả nước

- Trước năm 1988, đời sống của nông dân vùng TGLX còn rất nghèo, sản lượng lúa sản xuất mỗi năm chỉ khoảng hơn 600.000 tấn, tuy nhiên, đến năm 2010, không chỉ đời sống người dân được cải thiện, sản lượng lúa sản xuất cũng đã tăng đến con số 4,28 triệu tấn Trong vòng 6 năm trở lại đây, sản lượng lúa của vùng TGLX thuộc tỉnh

An Giang đã tăng hơn 1,3 triệu tấn so với giai đoạn trước đó Riêng diện tích lúa Thu Đông (lúa vụ 3), từ năm 2000 đến nay, tăng từ 2.000 héc ta lên gần 100.000 hécta

- Hiện nay, sản lượng lúa ở các huyện của vùng TGLX đạt khoảng 5 triệu tấn, trong

đó, huyện Hòn Đất (Kiên Giang) đạt 876.000 tấn, Thoại Sơn (An Giang) đạt 692.000 tấn và những huyện khác đạt trên 500.000 tấn/năm Đánh giá của nhiều nhà khoa học, nhà chuyên môn tại hội thảo, cho biết ngoài lúa gạo, sản xuất thủy sản đã trở thành lợi thế cạnh tranh kể từ khi vùng TGLX được đưa vào khai thác, phát triển

- Giai đoạn trước 1988, sản lượng xuất khẩu thủy sản của vùng TGLX chiếm không quá 6% trong tổng khối lượng xuất khẩu thủy sản và lương thực của vùng, tuy nhiên, đến năm 2011 con số này chiếm đến 11 – 12% Riêng ở An Giang, trong năm 1996, nếu như xuất khẩu lúa gạo chiếm 80% và thủy sản 20%, thì hiện nay lúa gạo chỉ chiếm 60% và thủy sản 40% trong tổng khối lượng xuất khẩu lúa gạo và thủy sản của tỉnh

- Bên cạnh đó, có một điều cần phải nhìn nhận đó là dù nền nông nghiệp hiện nay phát triển khá nhiều so với giai đoạn trước Tuy nhiên, đời sống người nông dân vẫn khó khăn do vật tư nông nghiệp đầu vào luôn tăng cao, trong khi đó, đầu ra thì bấp bênh, thường xuyên gánh chịu cảnh được mùa mất giá

Trang 25

Theo Đ.T.Chánh (2012), thì bên cạnh cây lúa, TGLX còn có lợi thế về lâm nghiệp, cây

nguyên liệu, nuôi trồng thủy sản, chăn nuôi… Trong đó, diện tích cây mía 500 ha, cây khóm 691 ha, cây tiêu 84 ha Chăn nuôi gia súc gia cầm phát triển khá ổn định, đàn heo hiện đạt 73.461 con, đàn gia cầm đạt 445.550 con, đàn trâu 2.285 con, đàn bò 4.718 con Diện tích rừng vùng TGLX là 22.895 ha, chiếm 26,6% diện tích rừng toàn tỉnh Hiện nay, các huyện nằm trong vùng TGLX của Kiên Giang như Kiên Lương, Giang Thành… được quy hoạch là vùng nuôi tôm công nghiệp chính của tỉnh Đến nay, đã có nhiều công ty, doanh nghiệp đầu tư nuôi tôm công nghiệp (tôm sú và thẻ chân trắng) tại khu vực này với quy mô lên đến hàng ngàn ha

Theo Hội Đập lớn và Phát triển nguồn nước Việt Nam (2012), thì:

- Tuyến lộ Mạc Cần Dưng và lô kênh Tám Ngàn đã chia vùng TGLX thành bốn vùng chính có đặc thù ngập lũ khác nhau: Vùng bắc Mạc Cần Dưng với mức độ ngập lũ sâu, vượt qua cao trình bờ bao tháng 8 khoảng 1 đến 1,5 m; Vùng núi cao Tịnh Biên – Tri Tôn không bị ảnh hưởng lũ; Vùng Thoại Sơn – Núi Sập, với mức độ phát triển bờ bao vượt lũ chính vụ cao trong những năm qua, gần như các ô bao đã bao triệt để; Vùng

Tứ giác Hà Tiên, các kênh trục T4, T5, Hà Giang,… mới được nạo vét gần đây, xen lẫn với các đê bao triệt để nuôi trồng thủy sản gần lộ 80, gây khó khăn cho công tác điều tiết lũ và mặn Tổng chiều dài hệ thống đê bao ở vùng TGLX là 4.480,79

- Với sự đầu tư mạnh mẽ trong những năm gần đây, vùng TGLX đã hình thành một hệ thống thủy lợi tương đối hoàn chỉnh, bao gồm hệ thống kiểm soát lũ, cống ngăn mặn, hệ thống kênh trục, cấp I, cấp II (tưới, tiêu), hệ thống đê/bờ bao, hệ thống trạm bơm và hệ thống thủy lợi nội đồng Đến nay, vùng TGLX có 64 kênh trục (1.056 km), 2.313 kênh cấp II và III (7.374 km), 38 cống trung bình và lớn, 1.915 cống nhỏ và bọng, 319 trạm bơm điện quy mô vừa, 4.485 km bờ bao/đê bao kiểm soát lũ và 63 km đê biển

- Bên cạnh các ưu điểm, hệ thống thủy lợi của vùng TGLX đến nay cũng còn một số tồn tại, như làm dâng cao mực nước lũ đầu vụ và chính vụ khu vực Bắc kênh Vĩnh Tế, gia tăng xói mòn đất khu vực hạ lưu cầu cạn Xuân Tô, tiến độ xây dựng còn chậm, một số tuyến kênh chính chưa được nạo vét mở rộng, cụm công trình kiểm soát lũ dọc sông Hậu chưa được thực hiện Ngoài ra, hệ thống thủy lợi còn thiếu rất nhiều công trình vừa và nhỏ như kênh mương và cống bộng nội đồng ở vùng Bắc Tri Tôn, đặc biệt

là hệ thống bờ bao ngăn mặn và bơm tiêu sau mùa lũ để đẩy nhanh vụ Đông - Xuân Quy hoạch thuỷ lợi nội đồng TGLX còn rất manh mún, hệ thống công trình thuỷ lợi nội đồng hiện có còn rất đơn giản chủ yếu là kênh mương kết hợp tưới tiêu, chưa đáp

ứng được cho nhu cầu chuyển dịch cơ cấu mùa vụ, cây trồng và vật nuôi

Theo Bảo Trị (2012), thì tại hội thảo khoa học “20 năm khai thác, phát triển KT-XH vùng TGLX” ngày 22/11/2012 cho biết: “Đặc biệt, từ nay đến năm 2015, cấp thiết đầu

Trang 26

tư cho vùng hệ thống giao thông nội vùng, liên vùng nhằm tạo thế liên hoàn trong giao thông thủy, bộ Hiện hệ thống giao thông toàn vùng TGLX rất kém Đây là cản trở nghiêm trọng, ảnh hưởng đến công cuộc phát triển vùng thời gian qua và giai đoạn tiếp theo nếu không có sự quan tâm đầu tư đúng mức

Tuy vất vả làm ra hạt lúa, đảm bảo an ninh lương thực cho cả nước và đóng góp vào thành tích xuất khẩu gạo của Việt Nam nhưng so với những vùng miền khác, người dân TGLX vẫn chưa được “trả công” xứng đáng Đến năm 2011, toàn vùng TGLX còn 32.378 hộ nghèo, chiếm 7,29% số hộ trong vùng, một tỷ lệ còn khá cao Bên cạnh đó, trình độ dân trí, nguồn nhân lực, chất lượng giáo dục đào tạo… được đánh giá là chưa đáp ứng yêu cầu phát triển Nhiều chỉ tiêu xã hội của vùng TGLX còn thấp so với ĐBSCL và cả nước Trong đó, số trường đạt chuẩn quốc gia không quá 5%, chỉ có 19,6% lao động qua đào tạo nghề, chưa đến 30% cán bộ - công chức cấp xã có trình độ đại học, mới đạt 4,44 bác sĩ/vạn dân (bình quân cả nước là 7 bác sĩ/vạn dân)… Bên cạnh đó là cơ sở vật chất, hạ tầng yếu kém, tỷ lệ bỏ học cao, thành quả phổ cập giáo dục không bền vững… Trong những năm gần đây công tác y tế được chú trọng hơn, hầu hết các xã đều có trạm xá, trạm y tế, mỗi huyện có môt bệnh viện, trình độ, chất lượng chuyên môn của cán bộ, bác sĩ được nâng cao Tuy nhiên, trang thiết bị tuy đã được bổ sung, sửa chữa nhưng vẫn còn khá nghèo nàn, một số bệnh viện thiếu bác sĩ

và giường bệnh Về giáo dục được nâng cao, tỷ lệ mù chữ giảm, học sinh trong độ tuổi

đi học được nâng cao Tỷ lệ học sinh trung học, cao đẳng, đại học cũng dần được nâng cao Tuy nhiên, ở một số vùng sâu, vùng xa do điều kiện không được đáp ứng việc giáo dục còn gặp một số khó khăn (http://www.baoangiang.com.vn/An-Giang-24-Gio/Phong-su-Ky-su/Dau-an-Tu-giac-Long-Xuyen-Ky-cuoi-Nhung-tran-tro-h.html

truy cập ngày 2/10/2014, lúc 15h 30‟)

Trang 27

CHƯƠNG 2: PHƯƠNG TIỆN PHƯƠNG PHÁP

2.1 Phương tiện

- Địa điểm thực hiện đề tài: Bộ môn Tài nguyên Đất đai, Khoa Môi trường và Tài

nguyên Thiên nhiên, Trường Đại học Cần Thơ

- Địa điểm nghiên cứu: địa phận vùng Tứ Giác Long Xuyên

- Thời gian thực hiện: Từ 08/2014 đến 12/2014

- Máy vi tính, sổ ghi chép và một số văn phòng phẩm hỗ trợ khác

- Các phần mềm như Microsoft word, Microsoft excel, MapInfo Professional 10.5,…

- Bản đồ

2.2 Phương pháp

2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu

- Thu thập các tài liệu về môi trường sinh thái, quản lý nguồn tài nguyên đất nước,… tài liệu về việc sử dụng đất phèn, hiện trạng sử dụng đất phèn ở vùng Tứ giác Long Xuyên từ sách, báo, tạp chí,…

- Tham khảo các văn bản Luật, Nghị định, Thông tư hướng dẫn về quản lý, sử dụng đất nông nghiệp, các luận văn có đề tài liên quan đến môi trường sinh thái và quy hoạch sử dụng đất phèn trong nông nghiệp vùng Tứ Giác Long Xuyên

- Thu thập tài liệu, bản đồ:

+ Bản đồ hành chính vùng TGLX

+ Bản đồ hiện trạng sử dụng đất vùng TGLX

+ Bản đồ thổ nhưỡng các vùng nghiên cứu xác định các vùng đất phèn

+ Bản đồ hiện trạng quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp

+ Các kiểu sử dụng trên đất phèn trong nông nghiệp ở vùng Tứ Giác Long Xuyên + Số liệu, ảnh mô hình canh tác trên đất phèn vùng TGLX

Trang 28

Bước 1: Thu thập các số liệu, bản đồ ở các cơ quan của huyện, tỉnh như: Phòng, Sở

Tài nguyên Môi trường các huyện, các tỉnh thuộc vùng Tứ giác Long Xuyên, Khoa Môi trường và Tài nguyên thiên nhiên, nghiên cứu khoa học, sách, báo, tạp chí:

+ Môi trường sinh thái vùng Tứ Giác Long Xuyên (đất, nước, khí hậu,…)

+ Các kiểu sử dụng đạt hiệu quả cao trên đất phèn

Bước 2: Tiến hành xử lý số liệu về môi trường đất, nước, khí hậu vùng TGLX, về hiện

trạng quy hoạch đất nông nghiệp qua các năm, các mô hình canh tác trên đất phèn vùng TGLX và các biện pháp cải tạo đất phèn trong vùng

Bước 3 : Tổng hợp số liệu, tài liệu, ảnh, bản đồ,…

+ Thu thập từ các sách, báo, tạp chí, nghiên cứu có từ trước

Tiến hành phân tích, xử lý số liệu có được

Trang 29

Hình 2.1: Sơ đồ quá trình thực hiện Bước 4: Tổng hợp, so sánh, đánh giá các số liệu từ có được Xác định được các vùng

đất phèn, thuận lợi khó khăn trong việc quy hoạch sử dụng đất phèn trong nông nghiệp

ở vùng nghiên cứu, xác định kiểu sử dụng hiệu quả cho việc sử dụng đất phèn

Bước 5: Viết bài luận văn

THU THẬP SỐ LIỆU

Thu thập

bản đồ Tài liệu qua các sách,

báo, nghiên cứu

Tài liệu, số liệu qua các trang web

Số liệu, kết quả của việc tiến hành xử

đã thu thập

Xử lý số liệu, tài liệu qua phần mềm

Hiện trạng

sử dụng đất nông nghiệp vùng TGLX

Đánh giá các mô hình canh tác trên đất phèn

TỔNG HỢP - SO SÁNH – ĐÁNH GIÁ

Các mô hình canh tác đạt hiệu quả cao, thích hợp với vùng TGLX

HOÀN CHỈNH LUẬN VĂN

Trang 30

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ THẢO LUẬN

3.1 Môi trường sinh thái vùng Tứ Giác Long Xuyên

Đất tự nhiên ở Việt Nam có diện tích 33 triệu hecta trong đó đất có khả năng sử dụng trong nông nghiệp chỉ có 6,9 triệu hecta (chiếm 21 % diện tích đất tự nhiên) và phân

bố không đồng đều ở các vùng sinh thái khác nhau

Tiềm năng đất có khả năng canh tác nông nghiệp của cả nước khoảng từ 10 - 11 triệu

ha trong đó mới chỉ sử dụng được 6 - 9 triệu ha đất nông nghiệp gồm 5 - 6 triệu ha là đất trồng cây hàng năm (lúa: 4,144 triệu ha; màu, cây công nghiệp ngắn ngày: 1,245 triệu ha) và 1 - 3 triệu ha là đất trồng cây ăn quả và cây lâu năm khác (cà phê, cao su, dâu tằm, hồ tiêu, cam, chanh, quít )

Bảng 3.1: Diện tích và tỉ lệ các nhóm đất ở vùng đồng bằng sông Cửu Long

là có hai mặt giáp biển nên diện tích đất mặn khá cao (809.034 ha) và đang có xu hướng tăng lên do biến đổi khí hậu dẫn đến quá trình xâm ngập mặn diễn ra phức tạp hơn

3.1.1 Tài nguyên đất vùng TGLX

Một số kết quả nghiên cứu về phân loại đất vùng ĐBSCL và TGLX

Trang 31

Theo Takehiko „Riko‟ Hashimoto (2001), thì sự phân bố các loại đất vùng ĐBSCL chủ yếu được xác định bởi các loại trầm tích môi trường Lịch sử của việc sử dụng đất đóng một vai trò quan trọng trong việc chuyển đổi đất phèn tiềm tàng thành đất phèn hoạt động Chia đất ĐBSCL ra 11 loại trong đó vùng TGLX gồm 5 loại đất chính:

- Đất phèn nặng phân bố tập trung ở các huyện Giang Thành, Kiên Lương, Hòn Đất tỉnh Kiên Giang và huyện Tri Tôn tỉnh An Giang

- Đất phù sa phân bố chủ yếu ở ven sông Hậu, các huyện Châu Thành, Châu Phú, Thoại Sơn, TP Long Xuyên, Châu Đốc tỉnh An Giang, huyện Tân Hiệp, Châu Thành,

TP Rạch Giá tỉnh Kiên Giang, huyện Vĩnh Thạnh TP Cần Thơ

- Đất phèn ít tập trung với diện tích lớn nhất ở huyện Hòn Đất, ven biển thuộc địa phận huyện Kiên Lương, Giang Thành, ven biên giới Việt Nam – Campuchia thuộc địa phận các huyện Giang Thành, Tri Tôn, Tịnh Biên, huyện Tân Hiệp, Thoại Sơn

- Đất phèn nặng bị mặn mùa khô phân bố ven biển phía Nam huyện Hòn Đất, TP Rạch Giá, TX Hà Tiên

- Đất đồi núi tập trung chủ yếu ở vùng 7 núi thuộc huyện Tịnh Biên tỉnh An giang The Geographical Jourmal, 2002, thì ĐBSCL có 11 loại đất, vùng TGLX có 5 loại đất:

- Đất phèn diện tích lớn nhất, phân bố hầu hết vùng TGLX, tập trung nhiều nhất ở các huyện Tri Tôn, Tịnh Biên, Thoại Sơn tỉn An Giang, huyện Hòn Đất, Kiên Lương, Giang Thành tỉnh Kiên Giang

- Đất phù sa, diện tích khá lớn tập trung chủ yếu ở các huyện ven sông Hậu của tỉnh

Trang 32

- Đất phèn nhẹ và trung bình diện tích lớn, phân bố chủ yếu ở huyện Tri Tôn, Tịnh Biên, Thoại Sơn tỉnh An Giang, huyện Giang Thành, Hòn Đất, Tân Hiệp tỉnh Kiên Giang Phân bố với diện tích nhỏ thuộc các huyện Châu Phú, Châu Thành tỉnh An Giang, còn lại phân bố rải rác ở một vài nơi trong vùng

- Đất phèn nặng diện tích khá lớn, tập trung chủ yếu ở 4 huyện: Giang Thành, Hòn Đất, Kiên Lương tỉnh Kiên Giang, Tri Tôn tỉnh An Giang

- Đất phèn nhẹ và trung bình, mặn trong mùa khô diện tích khá lớn, phân bố tập trung ven biển tỉnh Kiên Giang – TGLX, kéo dài từ TX Hà Tiên đến TP Rạch Giá

- Đất phù sa cổ bị xói mòn mạnh chiếm diện tích nhỏ, phân bố chủ yếu ở vùng 7 núi thuộc địa phận huyện Tri Tôn, Tịnh Biên của tỉnh An Giang và phân bố với diện tích khá lớn ven biên giới Việt Nam – Campuchia thuộc địa phận huyện Tri Tôn tỉnh An Giang và Giang Thành tỉnh Kiên Giang

- Đất ngập mặn diện tích nhỏ, tập trung chủ yếu ở TP Rạch Giá, huyện Châu Thành và một phần huyện Tân Hiệp tỉnh Kiên Giang

Theo Phạm Văn Quang (2009), thì ĐBSCL là một vùng đất trẻ được hình thành và phát triển trong thời kỳ Holocene Các loại đất được hình thành bởi sự lắng đọng trầm tích từ các con sông và biển Trầm tích được lắng đọng dọc theo các bờ sông Mekong

và sông Hậu Sự lắng đọng này tạo ra sự phân bố khác nhau của các loại đất, khác nhau kết cấu từng loại đất Đất ĐBSCL chia làm 6 loại: Alluvial soil (đất phù sa), Saline affected alluvial soils (đất phù sa nhiễm mặn), Potential acid sulphate soils (đất phèn tiềm tàng), Actual acid sulphate soils (đất phèn hoạt động), Sand ridges (giồng cát) và một số loại đất khác Vùng TGLX gồm 5 loại đất (hình 3.1):

- Đất phù sa chiếm diện tích lớn nhất vùng, phân bố chủ yếu ở các huyện ven sông Hậu của tỉnh An Giang, huyện Tân Hiệp, Châu Thành, Hòn Đất tỉnh Kiên Giang, huyện Vĩnh Thạnh TP Cần Thơ

- Đất phèn hoạt động chiếm diện tích khá lớn, phân bố chủ yếu ở huyện Hòn Đất với diện tích lớn, ở các huyện Giang Thành tỉnh Kiên Giang và huyện Tịnh Biên, Tri Tôn của tỉnh An Giang thì diện tích loại đất này cũng tương đối lớn Còn lại phân bố rải rác

Trang 33

- Đất khác chiếm diện tích lớn, tập trung chủ yếu ở các huyện Giang Thành, Kiên Lương, Hòn Đất, TX Hà Tiên của tỉnh Kiên Giang, huyện Tri Tôn, Tịnh Biên của tỉnh

An Giang Còn lại phân bố rải rác ở một số nơi của TGLX

(Nguồn: Bộ môn Tài nguyên đất đai, Khoa MTTNTN, Trường Đại Học Cần Thơ, 2002)

Hình 3.1: Bản đồ thể hiện các loại đất chính ở ĐBSCL, Việt Nam

Theo Lý Thị Trúc Linh (2008), thì phân loại đất ĐBSCL ra 11 loại: đất giồng, đất rừng ngập mặn, đất nhiễm mặn, đất phèn tiềm tàng, đất phèn nhẹ và trung bình nhiễm mặn mùa khô, đất phèn nặng nhiễm mặn mùa khô, đất phèn nặng, đất phèn nhẹ và trung bình, đất phù sa không phèn, đất than bùn, đất xám bạc màu Vùng TGLX bao gồm 7 loại đất:

- Đất phèn nhẹ và trung bình chiếm diện tích lớn nhất, phân bố hầu hết vùng TGLX, chiếm diện tích lớn nhất thuộc các huyện Giang Thành, Kiên Lương, Hòn Đất, Tân Hiệp, TX Hà Tiên thuộc tỉnh Kiên Giang, Tri Tôn, Tịnh Biên, Thoại Sơn thuộc tỉnh

An Giang, một số huyện như Vĩnh Thạnh TP Cần Thơ, Châu Phú, Châu Thành, Châu Đốc tỉnh An Giang

- Đất phù sa không phèn diện tích tương đối lớn, tập trung chủ yếu ở ven sông Hậu, chiếm diện tích lớn nhất ở các huyện Châu Thành, Thoại Sơn, Châu Phú, TP Châu Đốc, Long Xuyên tỉnh An Giang, các huyện Châu Thành, Hòn Đất, TP Rạch Giá tỉnh

Trang 34

Kiên Giang

- Đất nhiễm mặn diện tích nhỏ, phân bố chủ yếu ở huyện Tri Tôn, Tịnh Biên thuộc tỉnh An Giang, phân bố với diện tích nhỏ ở phía Bắc huyện Hòn Đất, giáp biển và phía Bắc của TX Hà Tiên, phần giáp biển ở phía Nam huyện Kiên Lương

- Đất xám bạc màu diện tích nhỏ, phân bố ở ben biên giới Việt Nam – Campuchia, thuộc địa phận huyện Tri Tôn tỉnh An Giang, Kiên Lương tỉnh Kiên Giang

- Đất than bùn diện tích nhỏ phân bố ở huyện Giang Thành, Hòn Đất thuộc tỉnh Kiên Giang

- Đất phèn nhẹ và trung bình nhiễm mặn mùa khô diện tích nhỏ phân bố ven biển thuộc huyện Hòn Đất tỉnh Kiên Giang

- Đất phèn nặng, nhiễm mặn mùa khô, diện tích nhỏ, phân bố ở huyện Tân Hiệp tỉnh Kiên Giang

Theo Phạm Thanh Vũ và ctv (2010), thì ĐBSCL có 10 nhóm đất Trong đó vùng TGLX có 6 loại đất: Fluvisol (đất phù sa), Gleysols (đất Glây), Histosols (đất than bùn), Flinthosols (đất có tầng sét loang lỗ), Solonchoks (đất mặn), Luvisols (đất nâu đen)

- Đất phù sa chiếm diện tích thứ hai trong vùng TGLX, phân bố tập trung phần lớn thuộc địa phận các huyện Giang Thành, Kiên Lương, Hòn Đất, TX Hà Tiên, thuộc tỉnh Kiên Giang, phân bố với diện tích tương đối ở 2 huyện Tịnh Biên, Tri Tôn và phân bố ở các huyện ven sông Hậu (Châu Đốc, Châu Thành và TP Long Xuyên) Đây

là nhóm đất phổ biến ở ĐBSCL và vùng TGLX Hiện trạng sử dụng chủ yếu là: 3 vụ lúa, 2 vụ lúa, 1 vụ Đất phù sa chia làm đất phù sa không được bồi đắp hàng năm và đất phù sa được bồi đắp hàng năm

- Đất glây chiếm diện tích phần lớn vùng TGLX, phân bố chủ yếu là ở Châu Phú, Thoại Sơn, Châu Thành, TP Long Xuyên, Châu Đốc,… thuộc tỉnh An Giang, các huyện Hòn Đất, Tân Hiệp, Châu Thành, TP Rạch Giá thuộc tỉnh Kiên Giang, phần huyện Vĩnh Thạnh của TP Cần Thơ, phân bố rải rác với diện tích nhỏ ở các huyện còn lại thuộc 2 tỉnh Kiên Giang và An Giang Đặc biệt là ở vùng ĐBSCL và TGLX nói riêng do canh tác lúa thâm canh đất ngập nước thường xuyên là điều kiện thuận lợi cho quá trình gley hóa xảy ra

- Đất than bùn diện tích không lớn, phân bố rải rác ở một số nơi, thuộc huyện Kiên Lương, Hòn Đất, Giang Thành, TX Hà Tiên thuộc tỉnh Kiên Giang, huyện Tri Tôn, Tịnh Biên thuộc tỉnh An Giang Theo FAO-WRB (2006), Histosols là nhóm đất hình thành từ vật liệu hữu cơ, còn gọi là than bùn Các tên thông thường là đất than bùn, đất

Trang 35

phân, đất vùng lầy, đất hữu cơ Chiều dài lớp than bùn rất thay đổi Có nơi chỉ dày trên dưới 1 m

- Đất có tầng sét loang lỗ diện tích nhỏ, phân bố chủ yếu ở ven vùng biên giới Việt Nam – Campuchia thuộc địa phận huyện Tri Tôn, Tịnh Biên thuộc tỉnh An Giang và huyện Giang Thành thuộc tỉnh Kiên Giang Hiện trạng sử dụng chủ yếu là: 2 vụ lúa, 1

vụ lúa, mía

- Đất nâu đen diện tích nhỏ, phân bố ở huyện Tịnh Biên là chủ yếu, một phần nhỏ ở huyện Tri Tôn thuộc tỉnh An Giang Hiện nay nhóm đất này có phần lớn diện tích

Trang 36

được dùng để trồng lúa với nhiều cơ cấu khác nhau, chiếm diện tích lớn là cơ cấu 2 vụ lúa và cơ cấu 3 vụ lúa, diện tích còn lại của nhóm đất nâu đen là đất thổ canh - thổ cư

và cây ăn quả, những vùng bị nhiễm mặn thì hiện trạng chủ yếu là vuông tôm

Theo Dương Văn Ni và ctv (2013), thì đất ĐBSCL có 8 loại bao gồm: Older alluvial soils (đất phù sa cổ), Severely acid sulphate soils (đất phèn nặng), Medium acid sulphate soils (đất phèn trung bình), Slightly acid sulphate soils (đất phèn nhẹ), Alluvial soils (đất phù sa), Alluvial soils – salined (đất phù sa – mặn), Saline soils (đất mặn) và Peaty soils (than bùn) Vùng TGLX có các loại đất:

- Đất phèn nặng chiếm diện tích rất lớn so với toàn vùng, tập trung nhiều nhất ở các huyện Tri Tôn, Tịnh Biên, Kiên Lương, Hòn Đất các huyện còn lại phân bố rải rác

- Đất phèn trung bình diện tích nhỏ, phân bố tập trung ở 2 huyện Kiên Lương và Hòn Đất của tỉnh Kiên Giang

- Đất phèn nhẹ diện tích rất nhỏ tập trung ở ven biển gần vùng di tích Sóc Sơn của huyện Hòn Đất tỉnh Kiên Giang

- Đất phù sa chiếm diện tích lớn, phân bố chủ yếu ở ven sông Hậu, thuộc địa phận Châu Phú, Châu Thành, Châu Đốc, Thoại Sơn, TP Long Xuyên, một phần ở Tân Hiệp tỉnh Kiên Giang, Vĩnh Thạnh TP Cần Thơ

- Đất phù sa cổ diện tích nhỏ, phân bố ven biên giới Việt Nam – Campuchia thuộc địa phận huyện Tịnh Biên, Tri Tôn tỉnh An Giang và huyện Giang Thành tỉnh Kiên Giang

- Than Bùn diện tích nhỏ phân bố rải rác ở một số nơi: phía Tây Bắc và phía Nam huyện Kiên Lương, một phần lớn thuộc huyện Tịnh Biên, còn lại ở Châu Đốc, Hòn Đất diện tích rất nhỏ

- Đất mặn chiếm diện tích nhỏ phân bố rải rác ở các huyện ven biển của tỉnh Kiên Giang như: Hòn Đất, Kiên Lương, TX Hà Tiên, TP Rạch Giá

- Đất phù sa – mặn diện tích không đáng kể, phân bố một phần nhỏ ven biển phía Nam của huyện Kiên Lương và Hòn Đất tỉnh Kiên Giang

So sánh về sự khác biệt giữa các nghiên cứu về đất ĐBSCL và vùng TGLX.

- Các đề tài nghiên cứu được tiến hành trong nhiều năm khác nhau nên có sự khác biệt

Trang 37

tạo ra sự khác nhau

- Về phương pháp, phương tiện cũng tạo ra nhiều sự khác biệt, thời gian sau do sự phát triển của khác phần mềm cũng như vệ tinh, kỹ thuật mới nên độ chính xác được nâng cao hơn

- Về tư duy của từng người nghiên cứu đề tài của mình cũng tạo ra sự khác biệt Một

số người thì tìm ra được loại đất này, một số tìm ra loại đất khác tùy thuộc vào mức độ tìm hiểu sâu về đề tài nghiên cứu

Phân loại đất vùng TGLX

Theo Bộ môn Tài nguyên đất đai, Khoa MTTNTN, Trường Đại học Cần Thơ thì vùng TGLX có 31 loại đất trong đó được chia ra làm 7 nhóm đất chính: Đất phù sa, đất phèn, đất núi, đất mặn, đất than bùn, đất có tầng nâu đỏ và đất cát

(Nguồn: Bộ môn Tài nguyên đất đai, Khoa MTTNTN, Trường Đại học Cần Thơ, 2009)

(Nguồn: Bộ môn Tài nguyên đất đai, Khoa MTTNTN, Trường Đại học Cần Thơ, 2009)

Hình 3.4: Biểu đồ thể hiện diện tích các loại đất vùng TGLX

Trang 38

Bảng 3.3: Diện tích các loại đất theo từng huyện của tỉnh An Giang – TGLX

Diện tích phân bố theo từng huyện (ha) Châu

Thành

Châu Phú

Thoại Sơn

Tịnh Biên Tri Tôn

Châu Đốc

Long Xuyên

1 haGL(eu) Đất phù sa, ít đƣợc bồi, có đặc tính

4 umGL(ntio) Đất phèn hoạt động xuất hiện sâu, có

Trang 39

18 glFL(ntio) Đất phèn hoạt động xuất hiện sâu, có

Trang 40

Bảng 3.4: Diện tích phân bố các loại đất theo từng huyện của tỉnh Kiên Giang – TGLX

STT Ký hiệu

Châu Thành

Giang

Lương Rạch Giá Tân Hiệp

3 wsGL(ntio) Đất phèn hoạt động xuất hiện sâu,

10 nsmoGL Đất phù sa, nhiễm mặn nhẹ, có tầng

11 saHS(ntio) Đất than bùn, phèn hoạt động xuất

Ngày đăng: 13/11/2015, 11:15

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1 Bản đồ hành chính vùng Tứ giác Long Xuyên - môi trường sinh thái và sử dụng đất phèn trong nông nghiệp vùng tứ giác long xuyên
Hình 1.1 Bản đồ hành chính vùng Tứ giác Long Xuyên (Trang 23)
Hình 3.1: Bản đồ thể hiện các loại đất chính ở ĐBSCL, Việt Nam - môi trường sinh thái và sử dụng đất phèn trong nông nghiệp vùng tứ giác long xuyên
Hình 3.1 Bản đồ thể hiện các loại đất chính ở ĐBSCL, Việt Nam (Trang 33)
Bảng 3.4: Diện tích phân bố các loại đất theo từng huyện của tỉnh Kiên Giang – TGLX - môi trường sinh thái và sử dụng đất phèn trong nông nghiệp vùng tứ giác long xuyên
Bảng 3.4 Diện tích phân bố các loại đất theo từng huyện của tỉnh Kiên Giang – TGLX (Trang 40)
Hình 3.8: Bản đồ phân bố nước dưới đất vùng Tứ giác long Xuyên - môi trường sinh thái và sử dụng đất phèn trong nông nghiệp vùng tứ giác long xuyên
Hình 3.8 Bản đồ phân bố nước dưới đất vùng Tứ giác long Xuyên (Trang 54)
Hình 3.9: Bản đồ sông ngòi vùng Tứ giác Long Xuyên - môi trường sinh thái và sử dụng đất phèn trong nông nghiệp vùng tứ giác long xuyên
Hình 3.9 Bản đồ sông ngòi vùng Tứ giác Long Xuyên (Trang 56)
Hình 3.11: Phân bố lƣợng mƣa ĐBSCL - môi trường sinh thái và sử dụng đất phèn trong nông nghiệp vùng tứ giác long xuyên
Hình 3.11 Phân bố lƣợng mƣa ĐBSCL (Trang 60)
Hình 3.13: Biểu đồ thể hiện nhiệt độ, độ ẩm TP. Rạch Giá thuộc vùng TGLX - môi trường sinh thái và sử dụng đất phèn trong nông nghiệp vùng tứ giác long xuyên
Hình 3.13 Biểu đồ thể hiện nhiệt độ, độ ẩm TP. Rạch Giá thuộc vùng TGLX (Trang 66)
Hình 3.16: Bản đồ phân vùng sinh thái vùng TGLX - môi trường sinh thái và sử dụng đất phèn trong nông nghiệp vùng tứ giác long xuyên
Hình 3.16 Bản đồ phân vùng sinh thái vùng TGLX (Trang 70)
Hình 3.17: Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp vùng TGLX năm 2013 - môi trường sinh thái và sử dụng đất phèn trong nông nghiệp vùng tứ giác long xuyên
Hình 3.17 Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp vùng TGLX năm 2013 (Trang 74)
Bảng 3.7: Diện tích các kiểu sử dụng đất tỉnh An Giang – vùng TGLX - môi trường sinh thái và sử dụng đất phèn trong nông nghiệp vùng tứ giác long xuyên
Bảng 3.7 Diện tích các kiểu sử dụng đất tỉnh An Giang – vùng TGLX (Trang 75)
Bảng 3.8: Diện tích các kiểu sử dụng đất tỉnh Kiên Giang và huyện Vĩnh Thạnh (TP. Cần Thơ) – vùng TGLX - môi trường sinh thái và sử dụng đất phèn trong nông nghiệp vùng tứ giác long xuyên
Bảng 3.8 Diện tích các kiểu sử dụng đất tỉnh Kiên Giang và huyện Vĩnh Thạnh (TP. Cần Thơ) – vùng TGLX (Trang 76)
Bảng 3.9: Diện tích các kiểu sử dụng đất nông nghiệp trên đất phèn tỉnh An Giang – TGLX - môi trường sinh thái và sử dụng đất phèn trong nông nghiệp vùng tứ giác long xuyên
Bảng 3.9 Diện tích các kiểu sử dụng đất nông nghiệp trên đất phèn tỉnh An Giang – TGLX (Trang 79)
Hình 3.23: Mô hình trồng khóm ở tỉnh Kiên Giang - môi trường sinh thái và sử dụng đất phèn trong nông nghiệp vùng tứ giác long xuyên
Hình 3.23 Mô hình trồng khóm ở tỉnh Kiên Giang (Trang 89)
Hình 3.24: Mô hình trồng đu đủ ở tỉnh An Giang - môi trường sinh thái và sử dụng đất phèn trong nông nghiệp vùng tứ giác long xuyên
Hình 3.24 Mô hình trồng đu đủ ở tỉnh An Giang (Trang 91)
Hình 3.25: Mô hình trồng khoai lang tím Nhật - môi trường sinh thái và sử dụng đất phèn trong nông nghiệp vùng tứ giác long xuyên
Hình 3.25 Mô hình trồng khoai lang tím Nhật (Trang 93)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w