1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Văn hóa của cộng đồng người hoa ở bạc liêu

131 820 9

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 131
Dung lượng 5,69 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CẢM ƠN Để có được bản luận văn tốt nghiệp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc đến ĐHQGHN, Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển, đặc biệt là PGS.TS Phạm Văn Lợ

Trang 1

LƯU THỊ LI

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

VIỆN VIỆT NAM HỌC VÀ KHOA HỌC PHÁT TRIỂN

Hà Nội – Năm 2016

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI VIỆN VIỆT NAM HỌC VÀ KHOA HỌC PHÁT TRIỂN

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và không trùng lặp với các đề tài khác

Hà Nội, ngày 15 tháng 5 năm 2016 Tác giả luận văn

(Đã ký)

Lưu Thị Liên

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để có được bản luận văn tốt nghiệp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành

và sâu sắc đến ĐHQGHN, Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển, đặc biệt là PGS.TS Phạm Văn Lợi đã trực tiếp hướng dẫn, dìu dắt, giúp đỡ tôi với những chỉ dẫn khoa học quý giá trong suốt quá trình triển khai, nghiên cứu và hoàn thành luận văn với

đề tài “Văn hóa của cộng đồng người Hoa ở Bạc Liêu”

Xin chân thành cảm ơn các Thầy Cô giáo – Các nhà khoa học đã trực tiếp giảng dạy truyền đạt những kiến thức chuyên ngành Việt Nam học cho bản thân tôi trong suốt thời gian qua

Xin gửi tới Cục Thống kê Tỉnh Bạc Liêu, Ban dân tộc tỉnh Bạc Liêu và các cơ quan liên quan của tỉnh Bạc Liêu lời cảm tạ sâu sắc vì đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp tôi thu thập số liệu cũng như những tài liệu nghiên cứu cần thiết liên quan đến đề tài tốt nghiệp

Xin gửi lời cảm ơn đến các cô chú người Hoa ở Bạc Liêu đã nhiệt tình cung cấp những thông tin quý báo liên quan đến đề tài tốt nghiệp Luận văn được hoàn thành trước hết là nhờ công lao của tập thể, của nhà trường, cơ quan và xã hội Đặc biệt là sự quan tâm động viên khuyến khích của gia đình Nhân đây tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu đậm

Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn các đơn vị và cá nhân đã hết lòng quan tâm đến sự nghiệp đào tạo đội ngũ cán bộ ngành Việt Nam học Tôi rất mong nhận được sự đóng góp, phê bình của quý Thầy Cô, các nhà khoa học, độc giả và các bạn đồng nghiệp

Xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 15 tháng 5 năm 2016 Tác giả luận văn

(Đã ký)

Lưu Thị Liên

Trang 5

XÁC NHẬN CỦA NGƯỜI HƯỚNG DẪN

Tôi đã đọc và đồng ý với nội dung luận văn của học viên

Hà Nội, ngày 15 tháng 5 năm 2016

Người hướng dẫn khoa học (Đã ký)

PGS.TS Phạm Văn Lợi

Trang 6

DANH SÁCH CHỮ VIẾT TẮT

Trang 7

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của để tài 4

2 Lịch sử vấn đề 5

3 Mục đích nghiên cứu 8

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 9

5 Phương pháp tiếp cận, nghiên cứu 10

6 Đóng góp của đề tài 13

7 Bố cục của luận văn 13

Chương 1: Khái quát về vùng đất và cộng đồng người Hoa ở Bạc Liêu 14

1.1 Về vùng đất Bạc Liêu 14

1.1.1 Tên gọi, địa lý hành chính 14

1.1.2 Điều kiện tự nhiên 18

1.1.3 Tài nguyên thiên nhiên 21

1.1.4 Đặc điểm kinh tế, văn hóa – xã hội và dân cư 23

1.2 Cộng đồng người Hoa ở Bạc Liêu 29

1.2.1 Tên gọi 29

1.2.2 Lịch sử di dân 30

1.2.3 Dân cư và ngôn ngữ 30

1.2.4 Hoạt động kinh tế 31

1.3 Tiểu kết chương 37

Trang 8

2.1 Văn hóa vật chất 38

2.1.1 Nhà ở 38

2.1.2 Ẩm thực 42

2.1.3 Trang phục 47

2.1.4 Phương tiện đi lại 49

2.2 Văn hóa tinh thần 49

2.2.1 Phong tục tập quán 50

2.2.2 Tín ngưỡng tôn giáo 65

2.2.3 Nghệ thuật biểu diễn 68

2.3 Vai trò của văn hóa cộng đồng người Hoa ở Bạc Liêu đối với sự phát triển kinh tế - văn hóa – xã hội 69

2.3.1 Đối với sự phát triển kinh tế ở Bạc Liêu 69

2.3.2 Đối với sự phát triển văn hóa ở Bạc Liêu 70

2.3.3 Đối với sự phát triển xã hội ở Bạc Liêu 72

2.4 Tiểu kết chương 73

Chương 3: Định hướng bảo tồn và phát triển văn hóa của cộng đồng người Hoa ở Bạc Liêu 75

3.1 Quan điểm bảo tồn và phát triển văn hóa 75

3.1.1 Bảo tồn văn hóa 75

3.1.2 Phát triển văn hóa 77

3.1.3 Bảo tồn và phát triển văn hóa ở Việt Nam hiện nay 79

3.2 Những yếu tố văn hóa của cộng đồng người Hoa ở Bạc Liêu cần được bảo tồn và phát triển 79

Trang 9

3.2.1 Văn hóa vật chất 79

3.2.2 Văn hóa tinh thần 83

3.3 Một số biện pháp bảo tồn và phát triển văn hóa của cộng đồng người Hoa ở Bạc Liêu 90

3.3.1 Biện pháp về chính sách 90

3.3.2 Biện pháp bảo tồn và phát triển văn hóa vật chất 93

3.3.3 Biện pháp bảo tồn và phát triển văn hóa tinh thần 97

3.3.4 Bảo tồn và phát triển văn hóa gắn với quá trình phát triển kinh tế 99

3.3.5 Phối hợp giữa bảo tồn và phát triển văn hóa với tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại 101

3.4 Tiểu kết chương 103

KẾT LUẬN 105

TÀI LIỆU THAM KHẢO 108

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Văn hóa là một lĩnh vực đang ngày càng được quan tâm nghiên cứu nhiều trên thế giới và trong đó, Việt Nam cũng không phải là ngoại lệ Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội Có thể khẳng định văn hóa là cốt hồn của dân tộc, một dân tộc nếu không giữ được bản sắc văn hóa riêng thì dân tộc đó sẽ bị lu mờ Vì thế, việc bảo tồn

và phát triển văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc không chỉ là trách nhiệm của ngành văn hóa mà còn là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân và toàn xã hội Để góp phần vào việc bảo tồn và phát triển văn hóa Việt Nam, điều trước tiên là phải tìm hiểu về văn hóa các thành phần dân tộc ở Việt Nam để từ đó thấy được những nét riêng chung, những nét đẹp cần được bảo tồn, phát triển và những yếu tố lạc hậu không phù hợp với xã hội mới cần được hạn chế hoặc loại bỏ

Việt Nam là nước có nhiều thành phần dân tộc, điều đó đã mang lại cho Việt Nam một nền văn hóa đa dạng, phong phú, giàu bản sắc Trong nhiều năm qua đã có nhiều công trình khoa học được xuất bản về đề tài này Hướng nghiên cứu di dân, dịch chuyển của các cộng đồng thiểu số luôn được đề cao và tập trung nguồn lực cho các nhóm nghiên cứu mạnh trong những năm trở lại đây không chỉ trong nước mà còn được nhìn thấy trong môi trường học thuật thế giới Những đề tài nghiên cứu về người Hoa và văn hóa người Hoa ở Việt Nam, theo đó, cố nhiên là không ít khi thành phần này chiếm một tỷ lệ cao trong phân bố dân số với hơn 800 nghìn người Bạc Liêu là một trong những tỉnh ở đồng bằng Sông Cửu Long có nhiều người Hoa sinh sống nhất nhưng chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu đầy đủ, cụ thể và chi tiết về văn hóa của cộng đồng người Hoa ở địa phương này Trong thời gian qua cộng đồng người Hoa ở Bạc Liêu đã có vai trò rất lớn trong việc phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Với quan điểm văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu, động lực của sự phát triển,vì thế nghiên cứu về văn hóa của cộng đồng người Hoa ở Bạc Liêu để thấy được vai trò của văn nhóa của người Hoa góp phần vào sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội

Trang 11

của tỉnh cũng như sự tác động của các yếu tố bản địa đến đặc điểm văn hóa của cộng đồng người Hoa, trên cơ sở đó đề xuất biện pháp bảo tồn và phát triển văn hóa người Hoa ở Bạc Liêu Điều đó không chỉ có ý nghĩa khoa học và thực tiễn mà còn có tính

cấp thiết Đó là những lý do khiến tôi chọn “Văn hóa của cộng đồng người Hoa ở Bạc Liêu” làm đề tài luận văn Thạc sĩ Việt Nam học của mình

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Việt Nam là nước có nhiều thành phần dân tộc, vì vậy việc nghiên cứu văn hóa chung của Việt Nam không thể không kể đến việc nghiên cứu văn hóa các thành phần dân tộc Trong nhiều năm qua, trong hệ thống các chương trình khoa học xã hội, đã có khá nhiều đề tài đề cập đến vấn đề này và đã có nhiều công trình khoa học được xuất bản, nhiều bài viết đăng trên các tạp chí đề cập vấn đề văn hóa các tộc người ở Việt Nam Trong hệ thống đó cũng có không ít các đề tài nghiên cứu về người Hoa và văn hóa của người Hoa ở Việt Nam

Một số công trình tổng hợp xuất sắc của các học giả đã giúp chúng ta hiểu biết

khá đầy đủ về người Hoa, đáng kể nhất là Người Hoa tại Việt Nam (Nguyễn Văn Huy,

1993, Paris), nội dung quyển sách này nhấn mạnh đến những khía cạnh có tính chính trị và ảnh hưởng của những thành quả kinh tế của cộng đồng người Hoa trong đời sống

xã hội Việt Nam, bên cạnh đó, các sinh hoạt khác như văn hóa, xã hội cũng được đề cập đến Về phương pháp nghiên cứu, tác giả đã sử dụng phương pháp lịch sử, ghi lại các biến cố lịch sử, từ quá khứ đến với hiện tại gần, với phương pháp này độc giả rất dễ theo dõi Với công trình này, tác giả đã nghiên cứu một phần sinh hoạt của cộng đồng người Hoa như chuyên đề về lịch sử, về văn hóa hay về kinh tế Qua đó, tác giả cũng

đã khẳng định đây không phải là một tài liệu nghiên cứu về xã hội học (sociologie), chủng tộc học (anthropologie) hay sắc tộc học (ethnologie) mà là một đóng góp để khám phá và để hiểu rõ thêm những đặc tính về một cộng đồng đã, đang và sẽ còn góp phần tích cực trong xã hội Việt Nam

Quyển Người Hoa trong xã hội Việt Nam, nửa đầu thế kỷ XIX (Dương Văn Huy,

Trang 12

Hoa thương trong nền kinh tế của Việt Nam thời kỳ khoảng nửa đầu thế kỷ XIX Bằng phương pháp lịch sử tác giả đã cung cấp một cái nhìn toàn diện về người Hoa trong xã hội Việt Nam thời kỳ này để phục vụ cho những nghiên cứu giai đoạn sau

Về người Hoa ở Nam Bộ có các công trình sau: Công trình Định cư của người Hoa trên đất Nam Bộ (từ thế kỷ 17 đến năm 1945) (Nguyễn Cẩm Thúy, 2000, Hà Nội,)

đề cập đến một số vấn đề về quá trình định cư của Người Hoa trên đất Nam Bộ từ thế

kỷ 17 đến năm 1945 và quan tâm đến văn bản một số tài liệu Hán Nôm của xã Minh Hương, tỉnh Vĩnh Long mới được phát hiện

Sách Người Hoa ở Nam Bộ (Ngô Văn Lệ, Tp.HCM, 2005) giới thiệu về người

Hoa ở Nam Bộ từ lịch sử hình thành, hoạt động kinh tế,… đến những thiết chế và nghi

lễ trong hôn nhân và gia đình Quyển Đặc khảo văn hóa người Hoa ở Nam Bộ của

nhiều tác giả cùng biên soạn và do Huỳnh Ngọc Trảng chủ biên (Huỳnh Ngọc Trảng,

2012, Hà Nội), đã giới thiệu quá trình định cư, phát triển của cộng đồng người Hoa ở Nam Bộ và cung cấp cho độc giả kiến thức hữu ích về những đặc điểm văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần của người Hoa ở Nam Bộ với các dạng thức văn hóa truyền thống bao gồm: văn hóa ăn, mặc, ở, tín ngưỡng, hội họa, thư pháp, nghệ thuật biểu diễn Ở mỗi dạng thức văn hóa, các tác giả đều dựa trên những tài liệu Hán Nôm cổ

để phân tích từ nguồn gốc, quá trình hình thành, những đặc điểm chính qua từng thời

kỳ hưng thịnh, suy vong và trong thời hiện tại

Công trình Người Hoa ở Đồng Nai (Ban dân vận Tỉnh Ủy Đồng Nai, 2009,

Đồng Nai) đã tổng quan về tình hình người Hoa ở tỉnh đồng Nai: lịch sử, kinh tế, dân

cư, lối sống, tín ngưỡng, tôn giáo… và nêu ra phương hướng cho công tác người Hoa trong tương lai

Nghiên cứu về tín ngưỡng tôn giáo của người Hoa ở các tỉnh Nam Bộ có công

trình Tín ngưỡng dân gian của người Hoa ở Nam Bộ của tác giả Võ Thanh Bằng đã

cho biết lịch sử nghiên cứu tín ngưỡng dân gian của người Hoa, các khái niệm có liên quan đến tôn giáo, tín ngưỡng dân gian, khái quát về người Hoa ở Nam Bộ và các hoạt

Trang 13

động có liên quan đến tín ngưỡng dân gian của họ, các loại hình tín ngưỡng dân gian của người Hoa ở Nam Bộ

Công trình Tín ngưỡng và tôn giáo của người Hoa Quảng Đông ở Tp HCM

(Nguyễn Thị Hoa Xinh, 1997, Tp.HCM) đã khái quát về người Hoa ở TP HCM, nghiên cứu tín ngưỡng và tôn giáo của người Hoa và tín ngưỡng, tôn giáo trong đời sống nhóm người này ở Tp HCM

Giới thiệu về kiến trúc chùa chiền của người Hoa có cuốn Chùa Hoa ở Cần Thơ (Trần Phỏng Diều, 2008, Tp.HCM) Từ nguồn sử liệu, tác giả cho biết người Hoa đã có

mặt ở Nam Bộ cách nay hơn 300 năm Tuy nhiên, cộng đồng người Hoa định cư ở Cần Thơ đông đúc và ổn định sớm nhất cũng vào khoảng cuối thế kỷ XIX Tác giả đã trình bày về hệ thống chùa Hoa ở Cần Thơ về kiến trúc, kết cấu, màu sắc, trang trí,… Hệ thống chùa Hoa ở Cần Thơ đã phản ánh rõ nét về lịch sử di dân của người Hoa đến Cần Thơ, địa bàn sinh tụ, đời sống kinh tế, văn hóa-xã hội…

Nói về nghi thức hôn nhân và gia đình của người Hoa có công trình nghiên cứu

Hôn nhân và gia đình của người Hoa ở Nam Bộ (Nguyễn Duy Bính, 1999, Tp HCM)

đã khái quát về người Hoa ở Nam Bộ, cộng đồng, dân số, hoạt động kinh tế văn hóa; những quan niệm trong hôn nhân, quy tắc và nghi lễ; hình thức và cấu trúc gia đình người Hoa ở Nam Bộ; chức năng và những nghi lễ gia đình

Và bài viết Hôn nhân và gia đình của người Hoa ở Nam Bộ (Nguyễn Bích Lợi,

2006, Tạp chí DTH), cũng đã cho ta biết về các nghi lễ về hôn nhân và gia đình của

người Hoa ở Nam Bộ

Nói về người Hoa ở Bạc Liêu có bài nghiên cứu Nghi thức cưới – hỏi của người Hoa ở Bạc Liêu – Cà Mau, bài viết đã cho ta biết về các nghi thức, các bước tiến hành

lễ cưới – hỏi, những điều nên làm và những điều kiêng kỵ, lễ vật… trong đám cưới của người Hoa.

Nhìn chung, đã có nhiều công trình nghiên cứu về người Hoa ở Việt Nam nói chung, người Hoa ở các tỉnh Nam Bộ nói riêng, trong số đó cũng đã có một số công

Trang 14

trình cũng đã tiếp cận theo hướng liên ngành để nghiên cứu như: Người Hoa tại Việt Nam (Nguyễn Văn Huy), Người Hoa ở Nam Bộ, Đặc khảo văn hóa người Hoa ở Nam Bộ… Các công trình nghiên cứu về người Hoa và văn hóa của người Hoa ở Bạc Liêu

vẫn còn rất ít, chỉ đề cập một vài khía cạnh riêng lẻ, chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện về văn hóa của cộng đồng người Hoa ở Bạc Liêu sử dụng cả phương pháp tiếp cận liên ngành và khu vực học, đặc biệt là văn hóa của người Hoa ở Bạc Liêu trong quá trình hội nhập và phát triển Vì vậy, đời sống văn hóa của cộng đồng người Hoa ở Bạc Liêu là một vấn đề chứa đựng rất nhiều điều cần phải nghiên cứu

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu: Khảo sát, nghiên cứu liên ngành về tình hình văn

hóa của cộng đồng người Hoa ở Bạc Liêu, trên cơ sở đó đề xuất các biện pháp bảo tồn

và phát triển văn hóa của cộng đồng người Hoa ở Bạc Liêu

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:

- Nghiên cứu tổng thể, hệ thống về văn hóa của người Hoa ở Bạc Liêu, từ vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, các hoạt động kinh tế đến các thành tố của văn hóa vật chất

và văn hóa tinh thần của cư dân

- Xác định những yếu tố văn hóa của cộng đồng người Hoa ở Bạc Liêu cần được bảo tồn và phát triển

- Đề xuất một số biện pháp bảo tồn và phát triển văn hóa của cộng đồng người Hoa ở Bạc Liêu

4 Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của luận văn là văn hóa của

cộng đồng người Hoa ở Bạc Liêu, từ văn hóa vật chất đến phong tục, tập quán, tôn giáo, tín ngưỡng… Để làm rõ được các yếu tố văn hóa này và tác động qua lại giữa chúng với văn hóa của các cộng đồng cư dân cư trú ở Bạc Liêu, luận văn cũng đặt vấn

Trang 15

đề nghiên cứu, giới thiệu về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên của tỉnh Bạc Liêu và văn hóa của các cộng đồng cư dân ở Bạc Liêu

4.2 Phạm vi nghiên cứu

4.2.1 Phạm vi không gian: Người Hoa sống rải rác ở hầu hết các huyện thuộc

tỉnh Bạc Liêu nhưng đề tài này chỉ nghiên cứu ở các điểm tập trung đông người Hoa đó là: ấp Bờ Bồi (thị trấn Phước Long, huyện Phước Long), ấp Biển Tây A (xã Vĩnh Trạch Đông, Tp Bạc Liêu), phường 3, phường 5 (Tp Bạc Liêu)

4.2.2 Phạm vi thời gian

Luận văn tập trung nghiên cứu về văn hóa của người Hoa ở Bạc Liêu trong thời điểm hiện nay, nhưng có chú ý xem xét các vấn đề có liên quan trong tiến trình lịch sử, đặc biệt là quá trình khai khẩn và định cư của người Hoa ở Bạc Liêu và những biến đổi, phát triển của văn hóa người Hoa trong thời gian từ khi tái lập tỉnh Bạc Liêu đến nay (1997 – 2015)

4.2.3 Phạm vi vấn đề

Trọng tâm luận văn phải giải quyết là văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần của cộng đồng người Hoa ở Bạc Liêu, những đóng góp của văn hóa của cộng đồng người Hoa ở Bạc Liêu đối với sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội ở tỉnh Bạc Liêu

5 Phương pháp tiếp cận, nghiên cứu

5.1 Phương pháp tiếp cận

5.1.1 Tiếp cận khu vực học

Phương pháp tiếp cận khu vực học có vai trò quan trọng đối với những nghiên cứu mang tính tổng hợp, giải quyết các vấn đề tổng hợp về kinh tế, văn hóa, xã hội của các cộng đồng người Với cách hiểu khu vực là những không gian lịch sử - văn hóa, không gian phát triển, nơi có những điểm chung về điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, kinh tế, văn hóa, xã hội,… giúp phân biệt nó với các vùng khác Khu vực là nơi phản ánh những đặc điểm chung của văn hóa và con người, là môi trường trực tiếp tác

Trang 16

động đến văn hóa và con người, là nơi chứa đựng nhiều nhân tố quy định nên các giá trị văn hóa Vận dụng phương pháp tiếp cận khu vực học, người viết sẽ khoanh vùng phạm vi nghiên cứu là tỉnh Bạc Liêu mà tập trung nhất là nơi có đông người Hoa sinh sống, từ đó nghiên cứu, tìm hiểu về điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên và đặc điểm kinh tế, cư dân, xã hội và mối liên hệ, sự tác động qua lại giữa các yếu tố trong phạm vi giới hạn nghiên cứu và những tác động qua lại giữa khu vực nghiên cứu và các khu vực xung quanh, các khu vực rộng lớn hơn bao trùm lên nó (Khu vực đồng bằng sông Cửu Long; khu vực Nam Bộ,…)

5.1.2 Tiếp cận hệ thống

Văn hóa người Hoa ở Bạc Liêu được tồn tại trong hệ thống văn hóa Việt Nam

và bản thân văn hóa của người Hoa ở Bạc Liêu cũng có tính hệ thống: gồm các hoạt động kinh tế, văn hóa vật chất/ đảm bảo đời sống, văn hóa tinh thần và văn hóa xã hội;

có hệ thống từ văn hóa xóm/ ấp đến văn hóa của gia đình, cá nhân,….Vì vậy, muốn hiểu được văn hóa của cộng đồng người Hoa ở Bạc Liêu phải tiếp cận hệ thống: đi từ các hoạt động kinh tế tới văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần,…) Vì vậy, phương pháp tiếp cận hệ thống được tiến hành dựa trên mối liên hệ giữa cái chung và cái riêng, dùng cái chung (đặc điểm văn hóa chung của cộng đồng người Hoa ở Việt Nam, các biện pháp bảo tồn và phát triển văn hóa ở Việt Nam) để đánh giá, tổng kết và quy hoạch cái riêng (đặc điểm văn hóa, các biện pháp bảo tồn và phát triển văn hóa cộng đồng người Hoa ở Bạc Liêu) Bảo tồn và phát triển văn hóa người Hoa ở Bạc Liêu trong hệ thống văn hóa Việt Nam để định hướng một cách phù hợp với đường lối chung của Việt Nam

và thế giới, tránh được sự lệch pha, đi lạc với những kết quả nghiên cứu đã có của cả nước và toàn cầu Cụ thể hơn là đặt việc bảo tồn và phát triển văn hóa người Hoa ở Bạc Liêu vào hệ thống các nhiệm vụ bảo tồn và phát triển văn hóa của cả nước Những đặc điểm và mục tiêu chung của hệ thống chi phối rất lớn đối với việc bảo tồn và phát triển văn hóa của người Hoa ở Bạc Liêu, đồng thời bảo tồn và phát triển văn hóa của người Hoa ở Bạc Liêu chắc chắn có những điểm riêng mang tính đặc thù bám sát với đặc điểm cụ thể ở địa phương

Trang 17

5.1.3 Tiếp cận liên ngành

Tiếp cận liên ngành là phương pháp tiếp cận rất cần được áp dụng trong nghiên cứu văn hóa Tiếp cận liên ngành là việc sử dụng cách tiếp cận của các khoa học chuyên ngành khác nhau để cùng nghiên cứu một đối tượng – trường hợp ở đây là văn hóa của cộng đồng người Hoa ở Bạc Liêu Nghiên cứu văn hóa đòi hỏi quan điểm tổng thể và toàn cục Để giải quyết một vấn đề mang tính tổng thể, toàn diện không thể chỉ

sử dụng một phương pháp, một cách tiếp cận; để đưa ra biện pháp bảo tồn, phát triển văn hóa của người Hoa ở Bạc Liêu chúng ta cần hiểu cả lịch sử tồn tại, phát triển của

họ, hiểu cả thực trạng văn hóa của họ ở thời điểm hiện tại, hiểu cả nhưng biến đổi về điều kiện tự nhiên trong khu vực họ cư trú, tức phải sử dụng các cách tiếp cận Sử học, Nhân học, Địa lý học, Do vậy, người viết nhận diện văn hóa của cộng đồng người Hoa ở Bạc Liêu để đưa ra định hướng bảo tồn và phát triển một cách có hiệu quả bằng cách vận dụng cách tiếp cận của nhiều ngành khoa học là Văn hóa học, Nhân học, Xã hội học, Sử học, Địa lý học, Kinh tế học,

5.2 Phương pháp nghiên cứu

5.2.1 Phương pháp nghiên cứu Nhân học

Đây là phương pháp bao gồm cả phương pháp điều tra xã hội học và điền dã dân tộc học, là một trong những phương pháp đặc trưng trong nghiên cứu văn hóa Nhằm khảo sát đặc điểm văn hóa – xã hội của người Hoa ở Bạc Liêu, người viết sẽ lấy ý kiến của cộng đồng người Hoa, các chuyên gia và các đối tượng tham gia vào quá trình bảo tồn và phát triển văn hóa về thái độ, nhận thức của họ về vấn đề văn hóa dân tộc mình Tất cả các câu hỏi điều tra đều hướng tới xác định về đặc điểm văn hóa – xã hội và thăm dò những biện pháp khả thi Sau khi xác định các nội dung cụ thể cần điều tra, người viết lựa chọn đối tượng, khu vực và thời gian điều tra

Điều tra điền dã dân tộc học nhằm tiếp cận vấn đề một cách trực quan sinh động, kiểm tra, đánh giá xác thực, bổ sung đầy đủ hơn những hiểu biết về đối tượng nghiên cứu, đồng thời cũng là cách kiểm chứng lại các tài liệu đã tổng hợp được Điều

Trang 18

tra điền dã dân tộc học còn giúp sưu tầm, thu thập thêm tài liệu Các hoạt động chính trong khi tiến hành phương pháp này là bao gồm: quan sát (quan sát tham dự và không tham dự), phỏng vấn (phỏng vấn sâu, bao gồm cả phỏng vấn hồi cố) và phỏng vấn theo bảng hỏi), chụp ảnh, đo vẽ, ghi chép,… tại các điểm nghiên cứu; trao đổi thông tin với người Hoa, với chính quyền, cơ quan quản lí văn hóa ở địa phương,…

Bên cạnh đó, việc thiết kế phiếu điều tra xã hội học cũng được chú trọng vì lượng thông tin thu được nhiều, không qua trung gian nên ý kiến thu nhận được có tính xác thực cao, có ưu thế đặc biệt đối với những vấn đề tế nhị và chi phí thấp

5.2.2 Phương pháp Lịch sử

Phương pháp Lịch sử có vai trò quan trọng đối với nghiên cứu văn hóa, bởi lịch

sử luôn là một phần, thậm chí là phần quan trọng trong văn hóa Văn hóa là những hiện tượng xuyên thời gian và là quá trình được xây đắp trong lịch sử Các giá trị văn hóa và đặc điểm văn hóa được hình thành trong lịch sử và được bồi đắp theo thời gian Lịch sử không chỉ chứa đựng căn nguyên văn hóa, mà còn là nguồn cung cấp các yếu tố chi phối văn hóa đương đại Vì vậy, phương pháp nghiên cứu Lịch sử là rất cần thiết trong việc nghiên cứu về văn hóa của cộng đồng người Hoa ở Bạc Liêu

Cụ thể, người viết vận dụng phương pháp lịch sử để nghiên cứu; sử dụng các tư liệu lịch sử để trình bày lịch sử vùng đất Bạc Liêu, quá trình hình thành cộng đồng người Hoa ở Bạc Liêu và các bước vận động, phát triển, để thấy được tính liên tục, từ

đó rút ra các đặc điểm văn hóa, xu hướng phát triển các yếu tố văn hóa ấy

5.2.3 Phương pháp thống kê

Thống kê là phương pháp cần thiết trong việc tiếp cận vấn đề nghiên cứu, vì không thể nhận xét đánh giá, quy kết chung chung, mở hồ mà không dựa trên những kết quả, số liệu thực tế Người viết tổng hợp, phân tích và sử dụng những số liệu thống

kê về người Hoa ở Bạc Liêu về dân số, địa bàn phân bố; về sản xuất, phong tục, tín ngưỡng,… để từ đó đánh giá xác thực đặc điểm văn hóa của cộng đồng cư dân này, xem yếu tố văn hóa nào cần được bảo tồn và phát triển, dùng biện pháp gì để bảo tồn

Trang 19

và phát triển một cách có hiệu quả Số liệu thống kê được khai thác từ nhiều nguồn như: Sở văn hóa Thể thao Du lịch, Cục Thống kê, UBND tỉnh Bạc Liêu,…

- Đưa ra định hướng bảo tồn và phát triển văn hóa của cộng đồng người Hoa ở Bạc Liêu

7 Bố cục của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Phụ lục, Tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn được chia thành 3 chương:

Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ VÙNG ĐẤT VÀ CỘNG ĐỒNG NGƯỜI HOA Ở BẠC LIÊU

Chương 2: VĂN HÓA CỦA CỘNG ĐỒNG NGƯỜI HOA Ở BẠC LIÊU

Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN VĂN HÓA CỦA CỘNG ĐỒNG NGƯỜI HOA Ở BẠC LIÊU

Trang 20

Tác giả Nguyễn Lộc Tấn phân tích “Bạc Liêu theo tiếng Hoa kiều (Triều Châu)

là Pò léo, có nghĩa là xóm nghèo, làm nghề hạ bạc, tức là chài lưới, đánh cá, làm biển [51, Tr.1] Cư dân Việt Nam và các nước Á Đông thường coi nghề đánh cá là nghề hèn

hạ và tệ bạc “Pò” trong tiếng Han phát âm sang tiếng Việt thành Bạc và “Léo” phát âm thành “Liêu” Từ xa xưa, nghề đánh cá thông thường ở Bạc Liêu là đóng đáy, tức là đóng cọc giữa sông, ngay theo lằn nước chảy rồi giăng lưới qua các cọc đó trong lúc nước lớn để khi được ròng cá bị chặn lại nhờ lưới Vì vậy, tên gọi “Bạc Liêu” được người địa phương giải thích là “Xóm Trại Đáy”

Nhà văn Sơn Nam trong quá trình tìm hiểu về vùng đất phương Nam đã ghi lại:

“ tỉnh Bạc Liêu thành hình lấy tên là Bạc Liêu vì ngay chợ của tỉnh lỵ có con rạch Bạc Liêu (có giả thuyết cho rằng Poanh Liêu, tức là nơi có đạo quân Lào trú đóng ngày xưa)” [41, Tr 251] Vương Hồng Sển một nhà khảo cứu lão thành ở Nam Bộ khi nói

về Bạc Liêu đã dùng những lời rất bình dị như sau: “Truy nguyên, Cơ me gọi Bạc Liêu

là PôLoeu (Pô là cây Lâm vồ; Phật nhập Niết Bàn dưới gốc cây này, nên người Miên rất trọng vọng và không dám đốn, còn Loeu là trên cao) Pô loeu là chỗ, vùng có cây

Trang 21

Bồ Đề (Lâm vồ) cao nhất Người Triều Châu đọc Po-Léo, âm ra tiếng ta là Bạc Liêu (Bạc là mỏng, xấu, bạc bẻo) Po Loeu cũng viết Pô Loenh” [49, Tr 63]

Có lẽ từ những thông tin, tư liệu trên mà Đinh Xuân Vịnh trong công trình nghiên cứu về các địa danh ở Việt Nam đã ghi vắn tắt về xuất xứ của từ Bạc Liêu:

“Bạc Liêu: gốc từ tiếng Khmer là Po Loenh nghĩa là cây đa cao” [66, Tr 34] Hiện nay

ở Bạc Liêu có khá nhiều cây đa lâu năm, nhưng tra cứu từ Polloeu trong tiếng Khmer

không có nghĩa là Cây đa cao Chính vì vậy, gần đây nhất, sách Bạc Liêu thế và lực mới trong thế kỷ XXI (Công ty cổ phần kinh tế đối ngoại, 2006, Hà Nội) đã viết về tên

gọi “Bạc Liêu” như sau: “Danh xưng Bạc Liêu, đọc theo tiếng Trung giọng Triều Châu

là Pô Léo, có nghĩa là xóm nghèo, làm nghề hạ bạc, tức nghề chài lưới, đánh cá, đi biển Pô phát âm theo tiếng Hán Việt là Bạc và Léo phát âm là Liêu” [8, Tr.17]

Về thời gian xuất hiện, có người cho rằng tên gọi “Bạc Liêu” chỉ mới có từ ngày 18-12-1882, khi Thống đốc Nam kỳ Le Myre De Villers ký nghị định thành lập hạt (arrondissement) Bạc Liêu Điều này thực ra không phải hoàn toàn sai, nhưng cũng không hoàn toàn chính xác, bởi khi Thống đốc ký nghị định thành lập hạt cũng bao hàm cả việc ấn định tên gọi cho hạt đó Tuy nhiên, cái tên Bạc Liêu thực ra đã có từ trước Cụ thể là con tên gọi con rạch Bạc Liêu và chợ Bạc Liêu đã có từ trước khi hạt Bạc Liêu ra đời Việc sử dụng tên gọi Bạc Liêu đặt cho hát vào năm 1882 chỉ là việc hợp thức hóa cho một địa danh thường để trở thành tên của một đơn vị hành chánh cấp hạt, chớ không phải là việc đặt tên mới

Các ý kiến trên, bề ngoài tưởng rất khác nhau không liên quan với nhau, nhưng

đó đều là những chi tiết, những bộ phận trong một tổng thể thống nhất Nói cách khác

đó là những danh xưng của từng giai đoạn trong quá trình hình thành và phát triển của vùng đất Bạc Liêu Nói tóm lại, mọi người đều có cách hiểu của mình hoặc căn cứ vào một sự kiện có thật hay suy luận từ những yếu tố có liên quan và từ đó đưa ra những kết luận khác nhau, những kết luận này lại nằm trong một quá trình diễn tiến của ngữ nghĩa và ngữ âm càng ngày càng xa nguồn gốc Vì vậy, muốn xác thực vấn đề này phải căn cứ vào tài liệu văn bản Hiện nay chỉ còn lại quyển Images de Cochinchine xuất

Trang 22

bản năm 1925 tại Sài Gòn, quyển sách xưa nhất, gần như một quyển địa chí của Nam

Bộ, có đề cập đến nguồn gốc và ý nghĩa của từ Bạc Liêu Trong phần tỉnh Bạc Liêu sách nhận định từ Bạc Liêu có nguồn gốc bởi từ Pò Léo của người Triều Châu, có nghĩa là “Xóm Nghèo” Nhận định này rất phù hợp với những lời truyền khẩu dân gian

ở Bạc Liêu, vì vậy trong thời gian chưa tìm được tài liệu nào ra đời trước hơn hoặc có tính thuyết phục hơn thì quyển Images de Cochinchine nên được chọn làm cơ sở khi nói về nguồn gốc và ý nghĩa của từ Bạc Liêu

1.1.1.2 Địa lý hành chính

Năm 1680, Mạc Cửu, một di thần nhà Minh (Trung Quốc) đến vùng Mang Khảm chiêu tập một số lưu dân người Việt, người Hoa cư trú ở Mang Khảm, Phú Quốc, Gạch Giá, Long Xuyên (Cà Mau), Luống Cày (Lũng Kỳ), Hưng Úc (tức Vũng Thơm hay Kompongsom), Cần Bột (Campốt) lập ra những thôn xóm đầu tiên trên vùng đất Bạc Năm 1708, Mạc Cửu dâng vùng đất Mang Khảm cho chúa Nguyễn Phúc Chu Chúa Nguyễn Phúc Chu đặt tên toàn bộ thôn xóm vùng này là trấn Hà Tiên, phong Mạc Cửu làm tổng binh trấn Hà Tiên, với tước Cửu Ngọc hầu Mạc Cửu lập dinh trại đồn trú tại Phương Thành, dân cư ngày càng đông đúc hơn Năm 1757, chúa Nguyễn Phúc Khoát thu nhập thêm vùng đất Ba Thắc, lập ra Trấn Giang (Cần Thơ), Trấn Di (Sóc Trăng, Bạc Liêu)

Ngày 5-1-1867, thực dân Pháp chiếm Nam Kỳ lục tỉnh Đến ngày 18-12-1882, Pháp cắt 3 tổng Quảng Long, Quảng Xuyên, Long Thủy của đại lý Cà Mau thuộc địa hạt Rạch Giá và 2 tổng Thạnh Hòa, Thạnh Hưng của đại lý Châu Thành thuộc địa hạt Sóc Trăng và thành lập địa hạt Bạc Liêu Địa hạt Bạc Liêu là địa hạt thứ 21 của Nam

Kỳ, lúc đầu có 2 đại lý là Vĩnh Lợi và Vĩnh Châu Đây là một sự kiện đánh dấu lần đầu tiên Bạc Liêu trở thành một đơn vị hành chính độc lập

Ngày 1-1-1900, tỉnh Bạc Liêu được thành lập trên cơ sở Nghị định ngày

20-12-1899 của Toàn quyền Đông Dương, đổi tên hạt Bạc Liêu thành tỉnh Bạc Liêu, gồm phần lớn đất đai thuộc tỉnh Hà Tiên và một phần tỉnh An Giang, gồm 7 tổng Long

Trang 23

Thủy, Quảng Xuyên, Quảng Long, Quảng An, Thành Hòa, Thạnh Hưng, Long Thới Địa bàn tỉnh Bạc Liêu khi đó bao gồm cả tỉnh Cà Mau hiện nay

Sau năm 1945, chính quyền kháng chiến của nhà nước VNDCCH đã nhiều lần thay đổi sắp xếp hành chính của tỉnh Bạc Liêu

Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ, 10-1954 huyện Vĩnh Châu được đưa về tỉnh Bạc Liêu, huyện An Biên và huyện Hồng Dân đưa về tỉnh Rạch Giá Huyện Vĩnh Lợi và thị

xã Bạc Liêu được tái lập Ban đầu, chính quyền Quốc gia Việt Nam và sau đó là VNCH vẫn duy trì tên gọi tỉnh Bạc Liêu như thời Pháp thuộc

Ngày 8-9-1964, Thủ tướng Chính phủ mới của VNCH ký Sắc lệnh số 254/Nv quy định kể từ ngày 1-10-1964 tái lập tỉnh Bạc Liêu trên cơ sở tách các quận Vĩnh Lợi, Giá Rai, Vĩnh Châu của tỉnh Ba Xuyên và quận Phước Long của tỉnh Chương Thiện Riêng quận Kiến Thiện vẫn thuộc tỉnh Chương Thiện cho đến năm 1975 Tỉnh lỵ tỉnh Bạc Liêu lúc đó có tên là “Vĩnh Lợi”, do lấy theo tên xã Vĩnh Lợi thuộc quận Vĩnh Lợi

là nơi đặt tỉnh lỵ Tỉnh Bạc Liêu bao gồm 4 quận Vĩnh Lợi, Vĩnh Châu, Giá Rai, Phước Long cho đến năm 1975

Sau ngày 30-4-1975, chính quyền quân quản Cộng hòa Miền Nam Việt Nam ban đầu vẫn duy trì tỉnh Bạc Liêu như cũ Đến ngày 20-12-1975, Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 19/NQ điều chỉnh lại việc hợp nhất tỉnh ở miền Nam cho sát với tình hình thực tế, theo đó tỉnh Cà Mau và tỉnh Bạc Liêu được tiến hành hợp nhất vào ngày 01 tháng 01 năm 1976 với tên gọi ban đầu là tỉnh Cà Mau - Bạc Liêu

Ngày 10-3-1976, tỉnh Cà Mau – Bạc Liêu được đổi tên thành tỉnh Minh Hải; thị

xã Bạc Liêu cũng được đổi tên là thị xã Minh Hải Tỉnh Minh Hải ban đầu gồm thị xã Minh Hải, thị xã Cà Mau và 7 huyện Vĩnh Lợi, Hồng Dân, Giá Rai, Châu Thành, Thới Bình, Trần Văn Thời, Ngọc Hiện Tỉnh lỵ tỉnh Minh Hải ban đầu đặt tại thị xã Minh Hải

Ngày 6-11-1986, kỳ hợp thứ 10, Quốc hội khóa IX, ra Nghị quyết chia và điều chỉnh địa giới một số tỉnh Theo đó, chia tỉnh Minh Hải thành tỉnh Bạc Liêu và tỉnh Cà

Trang 24

Mau Tỉnh Bạc Liêu lúc này có thị xã Bạc Liêu (tỉnh lỵ) và 3 huyện: Giá Rai, Hồng Dân, Vĩnh Lợi Tuy vậy, phải đến ngày 1-1-1997, Bạc Liêu mới chính thức được tái lập với 4 đơn vị hành chính như trong Nghị quyết Quốc hội khóa IX kể trên Từ khi tái lập đến nay, tỉnh thì Bạc Liêu tiếp tục có rất nhiều lần chia tách xã, huyện Hiện nay, tỉnh Bạc Liêu có 7 đơn vị hành chính, bao gồm thị xã Bạc Liêu và 6 huyện Vĩnh Lợi, Hòa Bình, Phước Long, Hồng Dân, Giá Rai, Đông Hải Thị xã Bạc Liêu là trung tâm văn hóa - chính trị - kinh tế - xã hội của tỉnh và đã được công nhận là thành phố cấp III trực thuộc tỉnh vào năm 2010 Ngày 16-4-2014, Thủ tướng Chính phủ ban hành quyết định số 537/QĐ-TTg công nhận thành phố Bạc Liêu là đô thị loại II trực thuộc tỉnh Bạc Liêu Như vậy, thành phố Bạc Liêu cùng các thành phố Long Xuyên, Mỹ Tho, Cà Mau, Rạch Giá là 5 đô thị loại II của vùng đồng bằng sông Cửu Long

1.1.2 Điều kiện tự nhiên

km Bạc Liêu cách Tp HCM 270 km, Tp Cần Thơ 110 km về phía bắc, cách Tp Cà Mau 67 km về phía nam 1

1.1.2.2 Địa hình

Bạc Liêu nằm trong vùng “đất mới” Tây Nam Bộ, đó là vùng đồng bằng rìa

châu thổ Vùng đất mới này gồm 3 khu vực chính là khu vực rừng U Minh, rừng sát Cà Mau và dải đất chạy dọc từ Sóc Trăng qua Bạc Liêu Từ trong nội địa ra biển có thể thấy các dạng địa hình sau: dải đất trũng mà bây giờ là những chân ruộng thấp, tiếp đến

là những khu vực hai bên rạch sông… Bạc Liêu là phần đuôi của dải đất này

1

Lê Bá Thảo (1990), Thiên nhiên Việt Nam, Nxb KHKT, HN

Trang 25

Địa hình tương đối bằng phẳng và thấp dần từ đông bắc xuống tây nam, từ phía biển vào trong nội địa Dạng địa hình này tạo thuận lợi cho việc tận dụng thủy triều đưa nước mặn vào ruộng phục vụ nuôi trồng thủy sản, song cũng tạo thành những vùng trũng cục bộ, nhất là đối với huyện Hồng Dân, Phước Long và Giá Rai

Bờ biển Bạc Liêu với những bãi bồi rộng, tiến dần ra biển với hàng nghìn ha rừng phòng hộ Nơi đây có điều kiện thuận lợi để nuôi trồng nhiều loại nhuyễn thể có giá trị kinh tế cao như nghêu, sò, Thềm lục địa khu vực tỉnh Bạc Liêu có nhiều khả năng có dầu khí và khí tự nhiên

1.1.2.3 Khí hậu

Bạc Liêu nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, một năm có hai mùa rõ rệt: mùa khô và mùa mưa Mùa khô từ tháng 12 năm trước đến tháng 4 năm sau và mùa mưa từ tháng 5 - 11 Lượng mưa bình quân cả năm của tỉnh đạt khoảng 1689 mm, trong đó mùa mưa chiếm tới 90% trữ lượng nước Nhiệt độ không khí trung bình năm là 27,30C, cao nhất là 290C, thấp nhất là 25,20C Số giờ nắng trong năm khoảng 2028 giờ, lượng bức xạ bình quân 2410 kcal/cm2 Chế độ gió không có biến động lớn trong chu kỳ năm

Độ ẩm không khí trung bình 80% vào mùa khô và 86% vào mùa mưa

Bạc Liêu nằm ở vị trí tọa độ thấp nên ít chịu ảnh hưởng của bão và áp thấp nhiệt đới Tuy nhiên, biến đổi khí hậu hiện nay đã và đang ảnh hưởng không nhỏ đến thời tiết khí hậu ở tỉnh Số lần bão xuất hiện và quét qua địa bàn tỉnh thường xuyên hơn, ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển kinh tế trong tỉnh

1.1.2.4 Thủy văn

Bạc Liêu có hệ thống sông ngòi, kênh, rạch chằng chịt Hệ thống sông, rạch

trong tỉnh có thể chia làm hai nhóm: Nhóm 1: Những sông, rạch chảy ra hải lưu phía

nam, gồm: sông Gành Hào (dài 55 km) có các nhánh là rạch Giồng Ké, rạch Lộ, rạch Nhà Thờ, rạch Cái Keo, rạch Gốc, ; sông Mỹ Thanh (70 km) có các nhánh là rạch Lé, rạch Bạc Liêu, rạch Trò Nho, rạch Trà Niêu, rạch Trà Teo, trong đó rạch Bạc Liêu dài

Trang 26

35 km Nhóm 2: Những sông, rạch chảy ra sông Ba Thắc (thường gọi là sông Hậu, tức

Hậu Giang) Nhóm này gồm rạch Ba Xuyên và các nhánh nhỏ của rạch Ba Xuyên

Bên cạnh hệ thống sông, rạch tự nhiên, để tháo phèn phục vụ sản xuất và phục

vụ nhu cầu giao thông, giai đoạn 1901 - 1903, chính quyền thực dân đã đào kênh Quản

Lộ - Phụng Hiệp dài 140 km, đoạn từ Bạc Liêu đến Cà Mau dài 48,5 km Đến năm

1915, chính quyền thực dân lại dùng xáng nạo vét mở rộng kênh đào Bạc Liêu - Cà Mau (66 km) và đào kênh Bạc Liêu - Cổ Cò (18 km) Sau chiến tranh thế giới thứ nhất (1914 - 1918), chính quyền thực dân tiếp tục đào nhiều kênh rạch nhằm khai thác vùng đất Bạc Liêu với quy mô lớn hơn: Năm 1920, đào kênh xáng Hộ Phòng - Chủ Chí - Chợ Hội (29 km) và kênh Giá Rai - Phó Sinh - Cạnh Đền (33 km); năm 1925, đào kênh xáng Lộ Bẻ - Gành Hào (18 km); năm 1931 đào kênh xáng Xóm Lung - Cống Cái Cùng (13 km), kênh xáng Cầu số II - Phước Long (24 km) và kênh xáng Cầu Sập - ngã

tư Vĩnh Phú - Ngan Dừa (49,5 km)

Nguồn nước cung cấp cho sản xuất và sinh hoạt của cư dân Bạc Liêu là nước

mặt và nước ngầm: Nước mặt là nguồn nước chủ yếu cho sinh hoạt và sản xuất nông

nghiệp Nước ngọt đưa từ sông Hậu về có vị trí quan trọng trong việc cung cấp nước phục vụ cho thâm canh, tăng vụ, nâng cao năng suất cây trồng khu vực bắc quốc lộ 1A Tuy nhiên, nguồn nước mặn có xu hướng lấn át, triệt tiêu nguồn nước ngọt Là một tỉnh cuối nguồn của sông Hậu nên vào mùa khô Bạc Liêu luôn xảy ra hiện tượng thiếu nước ngọt cho sản xuất lúa và hoa màu nhưng thuận lợi cho nuôi trồng thủy sản nước mặn, lợ

Bạc Liêu không bị ảnh hưởng trực tiếp của lũ lụt hệ thống sông Cửu Long, nhưng chịu ảnh hưởng của chế độ thủy triều biển Đông và một phần chế độ nhật triều biển Tây Nhờ đó, trên nửa diện tích bắc quốc lộ 1A có điều kiện nuôi trồng thủy sản, làm muối, phát triển rừng ngập mặn

Nhìn chung trữ lượng nước của Bạc Liêu đảm bảo đủ cho nhu cầu phát triển nông nghiệp, công nghiệp và dân sinh Tuy nhiên, các nguồn nước hiện đang có nguy

cơ ô nhiễm, chứa đựng các mầm bệnh do nuôi trồng thủy sản quá mức và lạm dụng các

Trang 27

hóa chất trong sản xuất nông nghiệp Vì vậy, trong những năm tới cần phải có quy hoạch sử dụng hợp lí các nguồn nước, thực hiện tốt công tác thủy lợi, hình thành các hệ thống cấp thoát nước

1.1.3 Tài nguyên thiên nhiên

1.1.3.1 Tài nguyên đất

Toàn tỉnh có diện tích tự nhiên là 2.570 km2 (257.094,08 ha), đứng hàng thứ 8 trong 13 tỉnh thành của đồng bằng sông Cửu Long (nhiều hơn các tỉnh Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long, Trà Vinh và Hậu Giang), trong đó đất nông nghiệp chiếm 37,97% với 102.771,26 ha, đất nuôi trồng thủy sản chiếm 44,40% (114.161,66 ha), đất lâm nghiệp chiếm 1,83% (4.707,70 ha), đất chuyên dùng chiếm 4,51% (11.593,51 ha), đất ở chiếm 1,67% (4.305,24 ha), còn lại là các loại đất khác Đất đai tỉnh Bạc Liêu có nhiều biến động do bồi và lở ven biển, trong đó diện tích bồi thường lớn hơn lở Vùng bồi nhiều nhất là từ Gò Cát (Giá Rai) đến gần giáp Vĩnh Châu tỉnh Sóc Trăng Tốc độ bồi ra biển mỗi năm lên tới từ 60 - 80m, làm hình thành một bãi bồi rộng từ 1 - 2km, dài khoảng

40 km từ thành phố Bạc Liêu đến Gò Cát (Giá Gai) (Cục Thống kê tỉnh Bạc Liêu)

Phần lớn diện tích đất trong tỉnh là đất phù sa bồi đắp lâu năm và ổn định, lượng mùn và đạm cao Theo cách phân loại khả năng thích nghi của đất, đất Bạc Liêu chia thành hai vùng chính, vùng bắc và vùng nam quốc lộ 1A Vùng bắc quốc lộ 1A có 11 vùng thích nghi, trong đó phía đông bắc thích hợp cho trồng lúa, màu và các loại cây trồng nông nghiệp khác Khu vực phía tây bao gồm một phần huyện Hồng Dân, Phước Long và Giá Rai thích nghi cho nuôi trồng thủy sản và kết hợp trồng lúa với nuôi tôm Vùng nam quốc lộ 1A gồm 10 vùng thích nghi phù hợp nuôi trồng thủy sản, tôm-lúa, làm muối và phát triển rừng ngập mặn

1.1.3.2 Tài nguyên rừng

Diện tích rừng và đất rừng chiếm khoảng 2,1% tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh (5.070 ha), chủ yếu là rừng phòng hộ có giá trị lớn về môi trường và có nhiều tiềm năng để phát triển du lịch sinh thái, du lịch dưới tán rừng ngập mặn Các hệ sinh thái

Trang 28

rừng ngập mặn Bạc Liêu khá nhạy cảm với ô nhiễm môi trường Vì vậy, trong quá trình phát triển kinh tế, khu vực này cần được chú ý và quan tâm đặc biệt Nhằm khắc phục tình trạng này, UBND tỉnh Bạc Liêu đã ban hành nhiều quyết định có liên quan đến khôi phục và phát triển hệ thống rừng ven biển một cách hiệu quả ứng phó với

Biến đổi khí hậu như Quyết định 578/QĐ-UBND Về việc phê duyệt dự toán chi phí lập Quy hoạch bảo tồn, phát triển rừng đặc dụng Vườn chim Bạc Liêu và khu rừng Canh Điền, huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu đến năm 2020; Quyết định 406/QĐ-UBND ban

hành kế hoạch tác nghiệp Dự án Thích ứng với biến đổi khí hậu thông qua thích ứng thúc đẩy đa dạng sinh học ở tỉnh Bạc Liêu với chương trình ICMP/CCCEP,… Các Quyết định này đã góp phần định hình một chiến lược có tính toàn diện của tỉnh trong việc phục hồi diện tích rừng ngập mặn theo hướng phát triển đa dạng sinh học

Với tác động của các quyết định này, công tác trồng rừng, đặc biệt là rừng ngập mặn đã và đang được đẩy mạnh Từ 2010-2014, hơn 100 ha rừng ngập mặn hỗn hợp các loại cây ngập mặn đã được trồng và phát triển trên địa bàn tỉnh Từ đầu năm 2014 đến hết quý 3 năm 2014, theo báo cáo của Ban quản lý Dự án, toàn tỉnh 6 ha rừng phòng hộ ven biển được trồng mới dựa trên các hình thức đa dạng sinh học đã được triển khai tiếp tục hình thành nên một đai rừng ngập mặn chắc chắn trải dài trên vùng ven biển các xã Vĩnh Thịnh, Vĩnh Hậu (huyện Hòa Bình), Hiệp Thành, Vĩnh Trạch Đông (Tp Bạc Liêu)…

1.1.3.3 Nguồn lợi thủy sản

Vùng biển và đất ven biển tỉnh Bạc Liêu nằm trong khu vực bán đảo Cà Mau nối liền với vịnh Thái Lan, tiếp giáp với vùng biển của nhiều nước Đông Nam Á có tiềm năng kinh tế to lớn và vị trí quốc phòng rất quan trọng Bờ biển Bạc Liêu kéo dài

từ xã Vĩnh Trạch Đông, Tp Bạc Liêu (giáp huyện Vĩnh Châu, Sóc Trăng) đến thị trấn Gành Hào huyện Giá Rai (giáp tỉnh Cà Mau), diện tích vùng nội thủy khoảng 3645

km2, vùng lãnh hải khoảng 116 km2 Biển Bạc Liêu có trữ lượng hải sản tương đối lớn với nhiều chủng loại và có giá trị kinh tế cao

Trang 29

Tài nguyên thủy sinh vật: Trong thủy vực trung tâm nội đồng có 245 loài thực

vật nổi (phytoplankton), 49 loài động vật nổi (zooplankton) và 47 loài động vật đáy (zoobenthos) Vùng ven biển bị xâm nhập mặn thường xuyên, thủy sinh vật làm thức

ăn cho tôm, cá phong phú về thành phần loài: 133 loài thực vật nổi, 24 loài động vật nổi và 61 loài động vật đáy

Nguồn lợi tôm, cá và nhuyễn thể: Do nguồn nước trong nội đồng và ven biển

có chất lượng tương đối tốt, thủy sinh vật làm thức ăn cho tôm, cá khá phong phú cho nên về thành phần loài cá, tôm ở các thủy vực trong tỉnh Bạc Liêu cũng khá phong phú

và đa dạng Nguồn lợi cá đồng chủ yếu là các loài cá lóc, rô, trê, lươn, sặc bổi,… Những năm gần đây nguồn lợi cá đồng giảm nghiêm trọng cả về thành phần lẫn giống loài và sản lượng Nguyên nhân chính là do khai thác bừa bãi, nguồn nước bị ô nhiễm

do sử dụng hóa chất trong nông nghiệp, chất thải đô thị, làng nghề, diện tích vùng ngọt hóa bị thu hẹp Nguồn lợi cá biển với trên 2.000 loài cá, trong đó khoảng 130 loài có giá trị kinh tế và phân bố như sau: Cá tầng đáy chiếm 80%, cá nổi chiếm 20%; cá sống vùng biển gần bờ chiếm 80%, xa bờ chiếm 20%

Nguồn lợi hải sản ven bờ của tỉnh Bạc Liêu chưa có thống kê đầy đủ Theo đánh giá của các nhà khoa học và nhà quản lý sản lượng thủy sản khai thác đã vượt mức cho phép từ năm 1991 đến nay và sức ép khai thác ở vùng ven bờ vẫn ngày càng gia tăng vì

số lượng tàu nhỏ tăng không ngừng dẫn đến nguồn lợi hải sản bị khai thác quá mức và suy giảm nghiêm trọng

1.1.4 Đặc điểm kinh tế, văn hóa - xã hội và dân cư

Trang 30

đầu người đạt 1.047 USD/năm Giá trị sản xuất nông nghiệp từ chỗ chỉ có 6.050 tỷ đồng tằng lên 8.800 tỷ đồng, bình quân tằng 8,67%/năm Tổng vốn đầu tư toàn xã hội

từ 2.339 tỷ đồng tăng lên 4.750 tỷ dồng Giá trị hàng hóa xuất khẩu từ 151 triệu USD (năm 2006) tăng lên 377 triệu USD trong năm 2013; Tỷ lệ hộ nghèo tại Bạc Liêu giảm

từ 28,08% (năm 2005) xuống còn 10,44% (năm 2013)

Tỉnh Bạc Liêu đã có những chính sách đầu tư tín dụng ưu đãi góp phần nâng dần phương tiện khai thác biển với công suất lớn để thực hiện việc đánh bắt xa bờ, mở rộng diện tích nuôi tôm công nghiệp, bán công nghiệp, nâng cấp và xây dựng mới các nhà máy chế biến thuỷ sản với những thiết bị và công nghệ tiên tiến theo hướng xuất khẩu và có sức cạnh tranh trên thị trường thế giới Bên cạnh đó, tăng cường đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng cho nghề biển mà trước mắt là hoàn chỉnh việc xây dựng cảng cá Gành Hào, một cảng cá có vị trí thuận lợi không chỉ đối với nghề biển Bạc Liêu mà còn đối với cả nước

Bạc Liêu được nhiều người biết đến bởi nghề làm muối Muối Bạc Liêu xưa nay vốn nổi tiếng về chất lượng do không có vị đắng, chát và ít lẫn tạp chất Thời Pháp,

Mỹ, hoạt động kinh doanh muối Bạc Liêu rất rộng lớn, cung cấp cho toàn vùng Nam

Bộ, ra tới tận Phan Thiết miền Trung và đặc biệt giao lưu xuất khẩu theo đường sông

Mê Kông qua Campuchia Hiện nay, nghề làm muối tuy không còn thịnh như trước nhưng Bạc Liêu vẫn là vùng sản xuất muối lớn nhất miền Tây

Xét trên bình diện chung, Bạc Liêu vẫn là một tỉnh khó khăn, một tỉnh nghèo, thực lực kinh tế còn yếu Ngoài nguyên nhân do xuất phát điểm về hạ tầng kinh tế - xã hội yếu kém, ở xa các trung tâm kinh tế lớn nên gặp nhiều khó khăn trong thu hút đầu

tư, Bạc Liêu còn chưa có những dự án kinh tế lớn mang tầm quốc gia Nhận thấy những khó khăn vướng mắc, Bạc Liêu đã đưa ra kế hoạch cải thiện tình hình kinh tế -

xã hội của tỉnh gồm rà soát, điều chỉnh, bổ sung quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế -

xã hội của tỉnh đến năm 2020 Điều chỉnh, bổ sung quy hoạch đô thị thành phố và các trung tâm huyện; điều chỉnh, bổ sung quy hoạch ngành, lĩnh vực mà tỉnh có tiềm năng, lợi thế cho phù hợp với yêu cầu phát triển mới

Trang 31

Về quy hoạch sản xuất vùng ven biển (Nam Quốc lộ 1A), ngoài đê biển sẽ tiếp tục trồng thêm rừng gắn với khai thác có hiệu quả đất bãi bồi, nhất là du lịch sinh thái, nuôi nhuyễn thể hai mảnh vỏ; Khu vực trong đê, tỉnh sẽ tiến hành quy hoạch lại diện tích nuôi tôm công nghiệp còn 15.000 ha; diện tích còn lại sẽ nuôi quảng canh kết hợp với trồng rừng và làm du lịch theo mô hình du lịch sinh thái Những nơi trồng lúa, trồng hoa màu có hiệu quả sẽ được khoanh bao để phát triển

Về công nghiệp, Thường trực Chính phủ đã đồng ý chủ trương giao cho các Bộ kết hợp với tỉnh tiến hành khảo sát, lập báo cáo trình Thủ tướng bổ sung vào quy hoạch quốc gia các dự án lớn, trên cơ sở đó lập dự án để đầu tư như Khu kinh tế biển Gành Hào song song với việc tiếp tục đẩy mạnh triển khai thu hút đầu tư vào Khu công nghiệp Trà Kha; xây dựng cụm công nghiệp Láng Trâm (huyện Giá Rai), Ninh Quới (huyện Hồng Dân), Cảng biển Gành Hào (huyện Đông Hải), Trung tâm nhiệt điện, nhà máy phong điện thành phố Bạc Liêu,

Về du lịch, Bộ Văn hóa, Thể thao Du lịch sẽ xem xét để đưa một số dự án du lịch Bạc Liêu vào quy hoạch du lịch quốc gia, du lịch vùng Theo đó, Bạc Liêu đã, đang và sẽ lập nhiều dự án du lịch tầm cỡ để kêu gọi đầu tư, khái thác tối đa tiềm năng

du lịch biển, như đã khởi công xây dựng các khu nghĩ dưỡng ở phường Nhà Mát thành phố Bạc Liêu, khu du lịch vui chơi giải trí gắn với các giai thoại về Công tử Bạc Liêu

để thu hút khách du lịch

Để đảm bảo cho thực hiện những kế hoạch trên, Bạc Liêu đang tập trung triển khai thực hiện quyết liệt các giải pháp đẩy mạnh thu hút đầu tư, nhất là tạo môi trường pháp lý thuận lợi để các doanh nghiệp đến đầu tư sản xuất – kinh doanh theo hướng thuận lợi nhất Bạc Liêu đã ký kết hợp tác kinh tế với Tp HCM và một số tỉnh, thành phố khác để làm cơ sở thu hút các doanh nghiệp ngoài tỉnh đến Bạc Liêu đầu tư, trong

đó đặc biệt chú trọng ký kết hợp tác với các tập đoàn kinh tế mạnh của quốc gia, những doanh nghiệp có thực lực kinh tế và uy tín Tỉnh đang đổi mới phương thức sử dụng nguồn nhân lực; có cơ chế, khuyến khích, trọng dụng nhân tài, vì đây là những hạt nhân tạo sự đột phá cho sự phát triển; bố trí cán bộ đúng với sở trường; sử dụng và đề

Trang 32

bạt bổ nhiệm những vị trí quan trọng đối với những cán bộ trẻ có trình độ năng lực và phẩm chất đạo đức, đồng thời tạo môi trường để nhân tài thể hiện mình và cống hiến; bồi dưỡng, nâng cao kiến thức cho đội ngũ cán bộ, công chức, nhất là đội ngũ cán bộ lãnh dạo các cấp trong tỉnh và cán bộ cơ sở

1.1.4.2 Văn hóa - xã hội

Ngoài ra, toàn tỉnh hiện còn có 7 trung tâm giáo dục thường xuyên, 51 trung tâm học tập cộng đồng, 7 cơ sở dạy nghề tư nhân, gần 40 cơ sở tư nhân có học viên theo kiểu kèm cặp và truyền nghề Những cơ sở đào tạo đó đã và đang từng bước nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của tỉnh

b Y tế

Mạng lưới y tế từ thành thị đến nông thôn đã được củng cố và dần hoàn thiện;

cơ sở hạ tầng được đầu tư đồng bộ, trang thiết bị y tế hàng năm tăng lên cả số lượng, chủng loại và chất lượng, đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe của nhân dân ngày một tăng cao Công tác phòng chống dịch bệnh được quan tâm, những năm qua không có dịch lớn xảy ra trên địa bàn tỉnh

Năm 2013, toàn tỉnh có 75 cơ sở y tế, với 2124 giường bệnh và 2579 cán bộ y khoa 100% xã có y sỹ sản nhi, tỷ lệ nhân viên y tế khóm, ấp đạt 100%; 100% trẻ dưới

1 tuổi được tiêm 7 loại vacxin; 80% số người nhiễm HIV/AIDS (Đã phát hiện) được tư

Trang 33

vấn và chăm sóc,… Nhìn chung các chỉ tiêu thuộc chương trình mục tiêu quốc gia về y

tế đều hoàn thành, một số chỉ tiêu đạt sớm hơn thời gian quy định của chương trình

c Văn hóa, thể thao

Hoạt động tuyên truyền chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước được tiến hành thường xuyên với nhiều hình thức phong phú và đa dạng Các hoạt động văn hóa, nghệ thuật, thể dục, thể thao gắn với du lịch được tổ chức ngày càng nhiều hơn, chất lượng nội dung tốt hơn, đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa tinh thần của nhân dân, góp phần thực hiện các nhiệm vụ chính trị của địa phương Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” tiếp tục được củng cố, nâng cao về chất lượng

1.1.4.3 Dân cư và lao động

Bạc Liêu là tỉnh có quy mô dân số nhỏ, đứng hàng thứ 12 trong 13 tỉnh, thành phố của ĐBSCL Năm 2013, dân số của toàn tỉnh là 881,118 người (chiếm 5% dân số vùng ĐBSCL), mật độ dân số trung bình 342 người/km2 thấp hơn mật độ của vùng ĐBSCL (431 người/km2); phân bố dân cư trong tỉnh không đều theo các huyện và thành phố Mật độ dân số của Tp Bạc Liêu là 874 người/km2, gấp gần 2,6 lần mật độ dân số bình quân toàn tỉnh, cao gấp 3,4 lần dân số huyện Hồng Dân (Hồng Dân là huyện có mật độ dân số thấp nhất) Dân cư cư trú theo cụm, tuyến tập trung ở các thị trấn ven quốc lộ 1A Bên cạnh đó dân số còn phân bố không đồng đều giữa thành thị

và nông thôn Năm 2013, dân số thành thị chiếm 27,28%, dân số nông thôn chiếm 72,72% Điều này cho thấy Bạc Liêu là một tỉnh mà kinh tế nông nghiệp là chủ yếu

Bạc Liêu có nguồn lao động dồi dào và thường xuyên gia tăng do có kết cấu dân

số trẻ Trên địa bàn tỉnh, ngoài người Kinh (chiếm 89,5% dân số), Bạc Liêu còn là địa bàn cư trú của người Khơ me (chiếm khoảng 7,9% dân số), người Hoa (khoảng 2,5%)

và cư dân một số dân tộc khác Người Khơ me sống ở khắp các huyện trong tỉnh nhưng tập trung nhất là Vĩnh Lợi, Hồng Dân và Tp Bạc Liêu Người Hoa sống chủ yếu ở Tp Bạc Liêu Trong công cuộc đấu tranh giành độc lập, cả 3 dân tộc đã có một sự gắn bó mật thiết trong sản xuất cũng như trong sinh hoạt

Trang 34

Cộng đồng cư dân ở Bạc Liêu là những cư dân đến từ nhiều nơi, vì nhiều nguyên nhân khác nhau Họ là những người có cuộc sống cơ cực phải rời bỏ quê hương, xứ sở; là những người có vật lực, chiêu mộ người nghèo vào Nam khẩn hoang lập đất, là những người lính thú, những người bị tù tội, bị lưu đày đến nơi cùng trời cuối đất này Do hoàn cảnh xuất thân như vậy, lại phải sống trong điều kiện khắc nghiệt, thường xuyên đương đầu với thú dữ nên người dân nơi đây có tinh thần đoàn kết rất cao Đặc biệt, họ luôn nồng nhiệt chào đón những người bạn mới đến vùng đất này Từ đó hình thành lòng hiếu khách rất đáng quý Tuy nhiên, khi bị kẻ thù đe dọa họ sẵn sàng đánh đổi cả tính mạng mình để bảo vệ mảnh đất mà mình đã dày công khai phá, đã đổ biết bao mồ hôi và xương máu Người dân nơi đây rất phóng khoáng, yêu tự

do rất mực và cũng rất coi trọng nghĩa khí Bên cạnh đó, do được thiên nhiên ưu đãi nên trong họ đã dần hình thành tính ỷ lại, ít lo nghĩ cho tương lai, tiêu xài rộng rãi…

Nhắc đến Bạc Liêu là nhiều người nghĩ ngay đến giai thoại về công tử ba Huy nổi tiếng phong lưu, ăn chơi bạt mạng, lắm vợ, nhiều bồ Ba Huy nổi tiếng với chuyện đốt tiền nấu chè thi với công tử Phước (Phước Georges, người xứ Mỹ Tho, con trai Đốc phủ sứ Sảng); Ba Huy cũng đã từng "quậy" tưng bừng tại khu Đại Thế Giới; là khách quen của hầu hết các nhà hàng sang trọng tại Sài Gòn Ba Huy đã từng bao cả nhà hàng một đêm để đãi duy nhất một người đẹp Nhà Công tử Bạc Liêu tại số 13, Điện Biên Phủ, Tp Bạc Liêu Hiện nay căn nhà này được dùng làm khách sạn trong hệ thống Nhà Hàng – Khách sạn công tử Bạc Liêu

Bạc Liêu là quê hương của soạn giả Cao Văn Lầu – người sáng tác ra bản nhạc

“Dạ cổ hoài lang” đặt nền móng cho sự phát triển của nền cổ nhạc Nam Bộ Hiện nay

ở Tp Bạc Liêu có đường phố Cao văn Lầu và giải thưởng Văn Hóa Nghệ Thuật của tỉnh mang tên ông Vùng đất này cũng nơi ra đời những bài hát hay, nhưng giọng điệu

buồn thương, ngậm ngùi nhớ về một thời khổ đau mở đất năm xưa: Bài ca Đất Phương Nam, Điệu buồn Phương Nam, Đêm Gành Hào nghe điệu Hoài Lang… Từ sự phong

phú của tự nhiên, chất phong lưu, tài tử của con người, văn hóa Bạc Liêu có tính độc đáo, riêng biệt nhưng thống nhất của 3 dân tộc Kinh, Hoa, Khơ me

Trang 35

1.2 Cộng đồng người Hoa ở Bạc Liêu

1.2.1 Tên gọi

Quá trình định cư của người Hoa ở Việt Nam, đặc biệt là ở Nam bộ, đã kéo dài trên 3 thế kỷ Những cư dân từ Trung Quốc sang Việt Nam định cư đã dần hội nhập vào cộng đồng dân tộc Việt Nam, đã nhập quốc tịch Việt Nam, từ đó họ mang tên gọi mới: người Hoa

Từ phổ thông người Việt Nam hay dùng để chỉ người Trung Quốc là “người Tàu” hay “Ba Tầu” Từ “Ba Tàu” thương được giải thích như sau: “Ba” có nghĩa là ba vùng đất mà chúa Nguyễn cho phép người Hoa vào làm ăn và sinh sống, gồm vùng Cù Lao Phố (Đồng Nai), Sài Gòn Chợ Lớn và Hà Tiên; từ “Tàu” bắt nguồn từ loại phương tiện đi lại trên sông nước được của người Hoa sử dụng để sang An Nam Từ “Ba Tàu” còn có cách giải thích khác: Người Việt miền Nam thường gọi tên mọi người kết hợp với từ chỉ thứ tự của người đó trong gia đình, như anh/chị Hai (con cả) anh/chị Ba (con thứ), Vì lý do đó mà người Tàu thường lễ phép gọi thân mật người Việt đang làm ở các cơ quan chính quyền thời đó là anh/cậu Hai và xem mình là em (anh Ba) Từ đó thành quen, người Việt luôn gọi người Tàu là anh Ba Tầu

Người Trung Quốc đã qua lại làm ăn, sinh sống và cộng cư với người Việt từ nhiều địa phương, nhiều thời điểm khác nhau Tùy từng thời kỳ lịch sử, từng hoàn cảnh tiếp xúc hoặc nguyên nhân di cư mà người Trung Quốc đã tự gọi mình bằng nhiều tên gọi khác nhau, cũng như người Việt đã gọi họ theo các tên gọi khác nhau Thường người Trung Quốc tự nhận mình là dân của các triều đại mà họ cho rằng văn minh, tự hào hoặc cho rằng nó phổ biến và được người bản xứ biết rõ hoặc đã biết từ lâu như

“người Đường” (Thoòng dành), “người Thanh”, “người Bắc” (quốc), Người Hoa còn

tự gọi họ theo quê quán: “người Quảng” (Quảng Đông), “người Tiều” (Tiều Châu/ Triều Châu), “người Hẹ”, “người Khách”, “người Hải Nam”, Người Việt còn có lệ gọi người Hoa là “người Ngô” Lệ này bắt nguồn từ lịch sử thời Xuân Thu bên Trung Quốc có “nước Ngô” và “nước Việt” với nhiều mối quan hệ lịch sử với nhau

Trang 36

Còn có cách gọi người Hoa ở Việt Nam là người “Chệc” là cách gọi theo tiếng Triều Châu với nghĩa là người đàn em, “Chệc” nghĩa là chú (chú em)

1.2.2 Lịch sử di dân

Năm 1680, Mạc Cửu với vai trò là một di thần nhà Minh ở Trung Quốc đến vùng Mang Khảm chiêu tập một số lưu dân người Việt, người Hoa cư trú ở Mang Khảm, Phú Quốc, Rạch Giá, Long Xuyên (Cà Mau), Luống Cày (Lũng Kỳ), Hưng úc (tức Vũng Thơm hay Kompong som), Cần Bột (Campốt) lập ra những thôn xóm đầu tiên trên vùng đất Bạc Liêu Thực ra vùng đất Bạc Liêu đến đầu thế kỷ XVIII vẫn còn hoang vu chưa được khai thác Đến năm 1757, vùng này được sáp nhập vào Hà Tiên Lúc ấy ở Hà Tiên đã có một số khá đông người Triều Châu vừa di cư sang chưa có chỗ định cư, nên sẵn dịp đó Tổng binh Mạc Thiên Tứ (1706 – 1780) đã đem toàn bộ số người Triều Châu vừa đến, một số người Khơ me và cả người Việt xuống vùng này để khai hoang lập ấp Khu định cư ban đầu của những người di dân lại nằm trong địa bàn của chợ Bạc Liêu ngày nay

Với sự có mặt từ rất sớm, người Hoa đã sát cánh với người Việt trong quá trình khẩn hoang Đồng bằng sông Cửu Long nói chung, vùng đất Bạc Liêu nói riêng Khác với người Khơ me thường sống tập trung, người Hoa sinh sống phân tán khắp nơi Nhiều chi nhánh người Hoa di cư đã tiếp tay cho người Việt trong việc khai hoang, lập đất, đóng góp không ít công lao như nhóm người Hoa dưới sự chỉ đạo của Dương Ngạn Địch, góp phần xây dựng vùng Mỹ Tho; đặc biệt là vai trò của gia tộc họ Mạc trong việc khai khẩn và xây dựng đất Hà Tiên Tỉnh Bạc Liêu trước đây thuộc trấn Hà Tiên, nên cũng từ đó người Hoa đã có mặt ở Bạc Liêu Tên gọi Bạc Liêu cũng được xuất phát từ tiếng Triều Châu đọc theo âm Hán Việt như đã trình bày phần trên

1.2.3 Dân cư và ngôn ngữ

Bạc Liêu được xem là một trong những tỉnh của Việt Nam tập trung nhiều người Hoa sinh sống Năm 2013, Bạc Liêu có 4.585 hộ với 20,456 nghìn người Hoa, chiếm gần 2,5% dân số toàn tỉnh Ở Bạc Liêu, người Hoa không cư trú tập trung mà

Trang 37

sống xen lẫn với người Kinh và sinh sống nhiều ở Tp Bạc Liêu Cụ thể, riêng ở Tp Bạc Liêu số người Hoa có gần 5 nghìn người, cư trú chủ yếu ở ấp Biển Tây A, xã Vĩnh Trạch Đông; phường 3, phường 5 và sinh sống rải rác hầu hết ở các huyện trong tỉnh

Ở Nam bộ, cộng đồng người Hoa nói 5 thứ ngôn ngữ, ít nhiều khác nhau theo nguồn gốc địa bàn cư trú bên Trung Quốc: tiếng Quảng Đông, Triều Châu, Phúc Kiến, Hải Nam và tiếng Khánh Gia (đôi khi còn gọi là tiếng Hẹ) Đa số người Hoa ở Bạc Liêu sử dụng ngôn ngữ Triều Châu vì đa số họ vốn là người Triều Châu; một số ít còn

lại sử dụng ngôn ngữ Quảng Đông vì họ đến Việt Nam từ Quảng Đông

Sau hơn 3 thế kỷ tụ cư ở Việt Nam, người Hoa ở Bạc Liêu nói riêng, người Hoa

ở Việt Nam nói chung, đã hội nhập hoàn toàn vào cộng đồng dân tộc Việt Nam

1.2.4 Các hoạt động kinh tế

1.2.4.1 Sản xuất nông nghiệp

a Trồng trọt

+ Trồng lúa: Ở ấp Biển Tây A, xã Vĩnh Trạch Đông, nơi tập trung đông người

Hoa nhất Bạc Liêu, người Hoa trồng lúa mỗi năm một vụ, trên những mảnh ruộng chờ mưa Do không có đường dẫn nước vào ruộng, không chủ động được nguồn nước nên người dân phải chờ mùa mưa đến để sạ lúa Tùy vào giống lúa mà mùa vụ gieo trồng kéo dài hay ngắn Nếu là các giống lúa cao sản, ngắn ngày, như OM 2517, OM 4900,

OM 6976, người dân bắt đầu gieo sạ từ giữa tháng 6 đến đầu tháng 7, thu hoạch dứt điểm vào tháng 10; đối với các giống lúa dài ngày hơn như IR 42, thời gian gieo sạ vẫn

là cuối tháng 6 đầu tháng 7 nhưng thời gian thu hoạch sẽ diễn ra trong tháng 11 Tổng diên tích đất trồng lúa của người Hoa ở Biển Tây A là trên 300 ha Năng suất lúa bình quân đạt 3 - 4 tấn/ha/năm Những năm thời tiết thuận lợi, được mùa, họ có thể thu hoạch lên đến 6 tấn/ha

+ Trồng rau xanh: Do chỉ làm được một vụ lúa/ năm nên ngoài làm ruộng trồng

lúa, cộng đồng người Hoa ở Bạc Liêu còn làm rẫy trồng các loại rau xanh và cây ăn

Trang 38

cải tùa xại (người Việt gọi là cải làm dưa) được trồng nhiều, nhất là dịp tết Tùy theo giống và kỹ thuật trồng mà thời gian thu hoạch hai loại rau này có thể sớm hay muộn khác nhau Trung bình 1 vụ trồng cần khoảng 40 - 45 ngày Để có cải tùa xại bán vào dịp Tết, người dân thường trồng vào nửa đầu tháng 12 để đến nưở cuối tháng Một (Dương lịch) thì thu hoạch và tiêu thụ Cải tùa xại trồng vào mùa nắng thường cho năng suất cao hơn so với mùa mưa

Các loại rau do người dân trồng, sau khi thu hoạch đều có mối thu mua để đem

ra bán tại các chợ ở Bạc Liêu và các tỉnh lân cận Đặc biệt, Bạc Liêu có chợ Phường 3,

nơi người dân nơi đây hay gọi là chợ cải, là chợ đầu mối chuyên thu mua sĩ và lẽ các

loại cải và rau màu Đây là đầu mối tiêu thụ số lượng lớn sản phẩm rau màu của bà con người Hoa cung cấp

Những năm gần đây người Hoa tại xã Vĩnh Trạch Đông đã triển khai thêm mô hình trồng củ hành tím, người trồng có thể thu lợi nhuận tới 150 triệu đồng/ha/năm Hành tím trúng mùa, được giá đã khiến nhiều người làm rẫy ăn nên làm ra Năng suất hành củ bình quân từ 1,1 – 1,3 tấn/công (khoảng 1000m2 đất), những năm đắt, giá dao động từ 17.000 – 19.000 đồng/kg, đem lại cho người nông dân một nguồn thu đáng kể Bển cạnh đó, cây hành tím còn có thể trồng xen với các loại cây trồng khác như thì là, hành lá,… cho phép người dân có thể xen canh, gối vụ, đem lại nguồn thu cao hơn cho một diện tích canh tác

+ Trồng cây ăn quả: Các loại cây ăn quả được người Hoa chọn trồng là nhãn,

xoài, mận,… Nhãn ở Bạc Liêu có nhiều giống nhãn như: nhãn biển, nhãn xuồng cơm vàng, nhãn da bò, thanh nhãn,… Trong đó đáng chú ý nhất là nhãn biển Nhãn biển hay còn gọi là nhãn cổ Bạc Liêu là giống nhãn có nguồn gốc từ Trung Quốc, được người dân nơi đây trồng từ rất lâu Theo những người dân cố cựu ở Ấp Xiêm Cán (xã Vĩnh Trạch Đông, Tp Bạc Liêu) vườn nhãn nơi đây được trồng đã hơn 100 năm Ông Trương Hưng là người đầu tiên mang hai giống nhãn Su-bíc và Tu-huýt từ Trung Quốc sang trồng trên đất giồng cát Bạc Liêu Cả hai giống nhãn đều thích nghi và phát triển tốt trên vùng đất này Tuy nhiên, giống Su-bíc được nhiều người ưa chuộng hơn bởi

Trang 39

cho trái to, vỏ mỏng, cơm dày, thịt rất thơm và ngọt Hiện khu vườn nhãn trên 3 ha của gia đình ông Trương Kiết (hậu duệ đời thứ ba của ông Trương Hưng), ở ấp Chòm Xoài, xã Hiệp Thành là rộng nhất Tại vườn còn một cây nhãn do cụ Trương Hưng trồng, giờ trở thành cây nhãn cổ thụ gốc to hai người ôm không xuể

Trước đây, cả khu vực trồng nhãn không có nước tưới, bởi phía trước là biển còn sau lưng là đất giồng cát Cây nhãn phải sống nhờ vào nước mưa, hàng năm cứ đến tháng 5 là nhãn trổ bông; sau 4 tháng bắt đầu thu hoạch; mỗi năm chỉ có duy nhất 1 vụ

Từ năm 1965 đến nay, người dân Hiệp Thành làm được hệ thống nước tưới bằng giếng khoan, từ đó chủ động lịch thời vụ cho nhãn ra trái sớm hơn (tháng 3, tháng 4 là nhãn bắt đầu trổ bông và đến tháng 7, tháng 8 là có thể thu hoạch), nhưng mỗi năm cũng vẫn chỉ có một vụ Theo ước tính của người dân, trung bình 1 cây nhãn cổ có thể cho đến 300-400kg/vụ Những năm nhãn được giá, nhiều hộ trồng nhãn có mức thu nhập hàng chục triệu đồng, thậm chí có hộ thu đến cả trăm triệu đồng

Những năm gần đây, trước sự biến động của giá cả thị trường và sự cạnh tranh của nhiều giống nhãn mới, vườn nhãn cổ thụ của người Hoa Bạc Liêu đã thu hẹp dần diện tích Đầu năm 2009, diện tích vườn nhãn chỉ còn khoảng 100 ha Tuy nhiên, trong từng gốc nhãn cổ thụ ở Bạc Liêu ẩn chứa nhiều yếu tố văn hóa mà ít nơi nào có được

Nó minh chứng cho lịch sử hình thành của đất giồng Bạc Liêu, sự gắn bó của 3 dân tộc Kinh, Hoa, Khơme trong quá trình phát triển Sự liên kết bền lâu đó đã tạo nên bề dày văn hóa đất giồng Bởi vậy, vườn nhãn cổ thụ Bạc Liêu không chỉ đơn thuần có giá trị kinh tế, mà là ẩn chứa nhiều giá trị lịch sử

Ngoài giống nhãn biển, nhãn xuồng cơm vàng cũng được cộng đồng người Hoa Bạc Liêu trồng với diện tích lớn Nhãn xuồng cơm vàng là giống nhãn có nguồn gốc ở Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, được trồng bằng hạt Nhãn xuồng cơm vàng có cùi dày, màu hanh vàng, ráo nước, giòn, rất ngọt, được thị trường ưa chuộng Đặc điểm dễ nhận biết là quả có dạng hình xuồng Quả chưa chín gần cuống màu đỏ; Khi chín vỏ nhãn có màu vàng da bò Nhãn xuồng cơm vàng thích hợp trên vùng đất cát, nếu trồng trên đất thịt hoặc đất sét nhẹ người dân thường ghép trên gốc giống nhãn tiêu da bò

Trang 40

Nhằm giữ gìn, bảo tồn khu vườn nhãn cũng như phát triển vùng du lịch sinh thái, gần đây, tỉnh Bạc Liêu đã giao cho các cơ quan chức năng phối hợp cùng ngành

du lịch thành lập dự án phát triển du lịch sinh thái, văn hóa Trong tương lai không xa, khu du lịch vườn nhãn sẽ là nơi tổ chức nhiều hoạt động văn hóa dân gian truyền thống Tại đây sẽ xây dựng nhà trưng bày những hình ảnh, hiện vật về lịch sử hình thành và phát triển của 3 dân tộc Kinh, Hoa, Khơ me, từ ngày đầu về cư ngụ đến nay Riêng các vườn nhãn sẽ xây dựng thêm nhà lá khung gỗ của người Kinh, nhà ngói ba gian của người Hoa, nhà sàn mái cong của người Khơ me - vừa giới thiệu mẫu nhà truyền thống của dân tộc, vừa là nơi phục vụ du khách nghỉ ngơi

Để phát triển kinh tế gia đình, ngoài giống nhãn, người Hoa ở Bạc Liêu cũng lựa chọn giống xoài cát Hòa Lộc để trồng trên đất rẫy Với xoài cát Hòa Lộc, nếu trồng theo cách bình thường phải sau 3 năm mớì cho thu hoạch, nhưng nếu ghép cây thì thời gian thu hoạch sẽ nhanh hơn Từ lúc ghép, chăm sóc đến lúc ra hoa, kết trái, cho thu hoạch chỉ khoảng 4 tháng Người Hoa ở Bạc Liêu thường ghép xoài vào tháng 8, tháng

10 xoài sẽ ra hoa và cho thu hoạch vào dịp Tết Nguyên đán đến Thanh minh bán sẽ có giá hơn so với ngày thường Trong thời gian chăm sóc bà con phải bón phân hữu cơ và xịt thuốc kích thích cho cây ra hoa Từ lúc cây ra hoa đến khi đậu trái và trái lớn bằng khoảng ngón tay cái, cứ 2 tuần xịt thuốc một lần Khi trái xoài đã lớn thì không xịt thuốc lên quả nữa mà chỉ xịt thuốc chống bệnh cho cây khi cây có bệnh Tùy vào từng năm mà xoài có giá cao thấp khác nhau, thường dao động từ 20 000 – 40 000 đồng/1kg

b Chăn nuôi

Người Hoa ở Bạc Liêu thường chăn nuôi các loại gia súc, gia cầm như gà, vịt, lợn,… theo quy mô hộ gia đình Gà, vịt chủ yếu được họ nuôi để mổ thịt phục vụ bưa

ăn gia đình chứ ít khi đem bán Vì chăn nuôi với số lượng ít nên gà, vịt chủ yếu được

họ thả trong vườn, trong ao có rào bằng cây que hoặc lưới để chúng không đi xa khu vực vườn nhà Có nhiều hộ gia đình thường xuyên nuôi gà, vịt rồi để chúng đẻ trứng và

ấp thành các bầy gà, vịt con và cứ nuôi như thế để phục vụ cho gia đình và khi có

Ngày đăng: 20/11/2017, 09:38

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w