Việc nghiên cứu tình hình kinh tế xã hội cũng như đời sống văn hóa của người Việt ở Thái Lannói chung, ở tỉnh Nakhon Phanom nói riêng góp phần vào việc thực hiện tốtnhững chủ trương c
Trang 1hà nguyên khoa
Tình hình kinh tế - xã hội
và đời sống văn hóa của cộng đồng ngời Việt
ở Nakhon Phanom (thái lan)
Luận văn thạc sĩ khoa học lịch sử
Vinh - 2010
Trang 2hà nguyên khoa
Tình hình kinh tế - xã hội
và đời sống văn hóa của cộng đồng ngời Việt
ở Nakhon Phanom (thái lan)
Trang 3Trong quá trình học tập và hoàn thành Luận văn, tôi đã nhận được sự giúp đỡ và góp ý chân thành từ quý thầy cô trong Khoa đào tạo Sau đại học
và Khoa Lịch sử - Trường Đại học Vinh, đặc biệt là sự giúp đỡ chỉ bảo tận
tình của Thầy giáo hướng dẫn - PGS TS Nguyễn Công Khanh Tôi xin
bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Thầy giáo Nguyễn Công Khanh và tất cả các thầy cô giáo trong Khoa Lịch sử, Khoa đào tạo Sau đại học - Trường Đại học Vinh đã giúp đỡ về mặt tư liệu cũng như những ý kiến đóng góp, xây dựng luận văn.
Đồng thời, tôi cũng gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè, đồng nghiệp
đã nhiệt tình giúp đỡ, cổ vũ cho tôi trong quá trình thực hiện luận văn
Mặc dù đã hết sức cố gắng, nhưng do thời gian và năng lực có hạn nên luận văn không tránh khỏi khiếm khuyết, kính mong thầy cô và các bạn chân thành góp ý để tác giả rút kinh nghiệm cho các công trình nghiên cứu khoa học lần sau.
Vinh, tháng 12 năm 2010.
Tác giả
Trang 4A MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Đối tượng, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu 4
4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu 5
5 Đóng góp của luận văn 6
6 Bố cục của luận văn 6
B NỘI DUNG 7
Chương 1 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT Ở TỈNH NAKHON PHANOM 7
1.1 Một số nét chính về đất nước Thái Lan và vùng Đông Bắc Thái Lan .7
1.2 Quá trình hình thành cộng đồng người Việt ở tỉnh Nakhon Phanom .13
1.2.1 Những đợt di cư lớn của người Việt vào Thái Lan 13
1.2.2 Quá trình hình thành cộng đồng người Việt ở Nakhon Phanom 21
Tiểu kết chương 1 30
Chương 2 THỰC TRẠNG KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ ĐỜI SỐNG VĂN HÓA CỦA CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT Ở NAKHON PHANOM 31
2.1 Tình hình kinh tế xã hội 31
2.2 Đời sống văn hóa vật chất của người Việt ở Nakhon Phanom 38
2.2.1 Văn hóa ẩm thực 38
2.2.2 Trang phục truyền thống 41
2.2.3 Kiến trúc các công trình công cộng của người Việt Nam ở Nakhon Phanom 43
Trang 52.2.4 Kiến trúc và cách trang trí nhà ở của cộng đồng người Việt Nam
ở Nakhon Phanom 48
Trang 62.3.1 Việc sử dụng tiếng Việt 52
2.3.2 Phong tục ma chay 56
2.3.3 Phong tục cưới hỏi của người Việt ở Thái Lan 60
2.3.4 Tôn giáo, tín ngưỡng của người Việt ở Nakhon Phanom 65
2.3.5 Một số ngày lễ chủ yếu của cộng đồng Việt kiều ở Nakhon Phanom 70
Tiểu kết chương 2 74
Chương 3 NHẬN XÉT VỀ ĐỜI SỐNG KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ VĂN HÓA CỦA CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT Ở NAKHON PHANOM .75
3.1 Những triển vọng phát triển kinh tế xã hội của cộng đồng người Việt ở Nakhon Phanom 75
3.1.1 Triển vọng trong mối quan hệ Việt Nam - Thái Lan 75
3.1.2 Triển vọng về sự phát triển kinh tế, xã hội của cộng đồng người Việt Nam ở tỉnh Nakhon Phanom 78
3.2 Vấn đề gìn giữ bản sắc văn hóa Việt của cộng đồng người Việt ở Nakhon Phanom 83
3.2.1 Một số phong trào gìn giữ truyền thống văn hóa Việt tiêu biểu của cộng đồng người Việt ở Nakhon Phanom 83
3.2.2 Sự biến đổi văn hóa trong cộng đồng người Việt ở Nakhon Phanom hiện nay 93
3.3 So sánh vấn đề bảo lưu và biến đổi văn hóa của người Việt ở Nakhon Phanom và người Việt các khu vực khác ở Thái Lan 96
Tiểu kết chương 3 101
C KẾT LUẬN 102
D TÀI LIỆU THAM KHẢO 105
Trang 7E PHỤ LỤC 113
Trang 8A MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Với nhiều lí do khác nhau, trong lịch sử, Thái Lan là mảnh đất lýtưởng cho người Việt đến sinh sống và hoạt động cách mạng cứu nước Theonhiều tài liệu nghiên cứu, người Việt có mặt ở Ayuthaya - Thái Lan từ thế kỷXII nhưng những đợt di cư đông đảo nhất của người Việt sang Thái Lan diễn
ra từ những năm 1945 - 1946, sau khi thực dân Pháp trở lại Đông Dương vàkhi những người Việt ở Lào đứng lên cùng với nhân dân Lào chiến đấu,chống lại thực dân Pháp bị thất bại Nhằm tránh sự trả thù, đàn áp của kẻ thù,hàng chục ngàn người Việt đã vượt sông Mê Kông để đến Thái Lan sinhsống Bắt đầu từ đây, người Việt ở Thái Lan đã trở thành một cộng đồng đôngđảo, gắn liền với những biến cố lịch sử của dân tộc Việt Nam và của mốiquan hệ Việt - Thái
1.2 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khẳng định:
“Người Việt Nam định cư ở nước ngoài là một bộ phận của cộng đồng dân tộc Việt Nam Nhà nước bảo hộ quyền lợi chính đáng của người Việt định cư
ở nước ngoài Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện để người Việt Nam định cư ở nước ngoài gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam, giữ quan hệ gắn bó với gia đình và quê hương, góp phần xây dựng quê hương đất nước”.
Trong Báo cáo chính trị Đại hội toàn quốc lần thứ XI của Đảng Cộng sản Việt
Nam cũng nêu rõ: “Đồng bào định cư ở nước ngoài là một bộ phận không tách rời và là một nguồn lực cộng đồng dân tộc Việt Nam” Việc nghiên cứu
tình hình kinh tế xã hội cũng như đời sống văn hóa của người Việt ở Thái Lannói chung, ở tỉnh Nakhon Phanom nói riêng góp phần vào việc thực hiện tốtnhững chủ trương của Đảng và Nhà nước đối với cộng đồng người Việt ởnước ngoài
Trang 91.3 Sau hơn 30 năm thiết lập mối quan hệ ngoại giao chính thức giữaViệt Nam và Thái Lan, đời sống kinh tế, xã hội, văn hóa của người Việt ởquốc gia này đã có nhiều chuyển biến tích cực Chính phủ Thái đã tạo điềukiện để những người Việt được nhập quốc tịch, được tham gia vào các tổchức chính trị xã hội và tạo điều kiện để người Việt làm ăn, sinh sống
1.4 Trong số cộng đồng người Việt ở Thái Lan thì người Việt ở vùngĐông Bắc có số lượng đông đảo nhất Nakhon Phanom nằm tiếp giáp vớinước bạn Lào, là một trong những điểm đến đầu tiên của người Việt trên conđường sang Thái Lan sinh sống Ở khu vực Đông Bắc Thái Lan, cộng đồngngười Việt ở tỉnh Nakhon Phanom được đánh giá là đông đảo nhất và có mốiquan hệ gần gũi nhất với đất nước Việt Nam Từ năm 2004, nội các hai nhànước đã bắt đầu tổ chức những phiên họp thường niên ở Đà Nẵng (Việt Nam)
và Nakhon Phanom (Thái Lan), thủ tướng hai nước cũng đã cắt băng khánhthành Làng hữu nghị Việt - Thái và Bảo tàng Hồ Chí Minh ở bản Nachooc(tỉnh Nakhon Phanom)
Vì vậy, việc nghiên cứu “Tình hình kinh tế - xã hội và đời sống văn hóa của cộng đồng người Việt ở Nakhon Phanom (Thái Lan)” không chỉ
có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển của mối quan hệ Việt - Thái màcòn góp phần làm rõ quá trình phát triển kinh tế, xã hội cùng những biến đổitrong đời sống văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần của cộng đồng người Việtsau bao nhiêu năm sinh sống trên đất Thái Lan
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Cộng đồng người Việt ở Thái Lan nói chung, ở vùng Đông Bắc và tỉnhNakhon Phanom nói riêng từ lâu đã có rất nhiều học giả trong và ngoài nướctiến hành nghiên cứu
Từ năm 1970, tác giả người Mỹ Perter A.Poole đã có công trình
“Người Việt ở Thái Lan”, đi sâu vào việc phân tích một số chính sách của
Trang 10chính phủ Thái Lan đối với người Việt cũng như phản ứng của người Việt đốivới những chính sách ấy.
Năm 2006, tiến sĩ Thanyathip Sripana và tác giả Trịnh Diệu Thìn đã cho
xuất bản cuốn “Việt Kiều Thái Lan trong mối quan hệ Thái Lan - Việt Nam”.
Cuốn sách đã phân tích rõ quá trình di cư của người Việt sang Thái Lan, cácphong trào yêu nước của Việt Kiều, vai trò của người Việt trong mối quan hệThái Lan - Việt Nam, các chính sách của chính phủ Thái đối với Việt Kiều,…
Một số cuốn sách đã đi sâu nghiên cứu về cộng đồng người Việt ở Thái
Lan như cuốn “Ngôi làng hữu nghị Thái Việt, Làng Nachooc: Quá khứ và hiện tại” của tác giả Artha Nantachukra đã đi sâu phân tích lịch sử hình thành
cộng đồng, đời sống văn hóa, xã hội, phong tục tập quán của cộng đồng người
Việt ở bản Nachooc, tỉnh Nakhon Phanom Cuốn “Người Việt ở Thái Lan Campuchia - Lào” đã nêu một cách khái quát bức tranh chung về người Việt
-ở 3 quốc gia trên, trong đó có Việt Nam Năm 2005, tác giả Trần Đình Riên
xuất bản cuốn “Việt kiều Lào - Thái với quê hương” đã tập trung phân tích
tình hình đời sống kinh tế, xã hội của cộng đồng người Việt ở Thái Lan, vànhững hoạt động của họ hướng về quê hương đất nước
Bên cạnh đó, một số cuốn hồi ký, tự thuật (của những người đã từnghoạt động ở Thái Lan) đề cập đến những công lao và đóng góp của Việt kiều
ở Thái Lan đối với Tổ quốc có: Lê Mạnh Trinh: “Cuộc vận động cứu quốc của Việt kiều ở Thái Lan” (Nxb Sự thật, Hà Nội1961); Công trình tập thể của các lão cán bộ hoạt động ở Thái: “Hoạt động cách mạng của Việt kiều ở Thái Lan” ; Đông Tùng“Việt kiều ở Thái Lan trong sự nghiệp giải phóng dân tộc” cũng đã có những khái quát sơ lược về cộng đồng người Việt ở Thái
Lan và tỉnh Nakhon Phanom
Nhiều bài nghiên cứu đăng tải trên các tạp chí của Việt Nam về vấn đề
này: Thái Lan - địa bàn liên lạc của cách mạng Việt Nam (Nguyễn Văn Khoan, Nghiên cứu ĐNÁ, 1996, số 2, tr.47-52); Đời sống kinh tế của cộng
Trang 11đồng người Việt ở tỉnh Sacol Nakon - Thái Lan (Nguyễn Hồng Quang, Nghiên cứu ĐNÁ, 2004, số 2, tr.60-66); “Có một phong trào gia đình học hiệu ở Nakhon Phanom” (Nguyễn Công Khanh, Nghiên cứu Đông Nam Á, 2009, số
10), đã có những nhận xét, đánh giá bước đầu về quá cộng đồng người Việt
ở vùng Đông Bắc Thái Lan và tỉnh Nakhon Phanom
Bên cạnh những công trình trên, còn có một số đề tài luận văn thạc sĩ,khóa luận tốt nghiệp của học viên, sinh viên các trường đại học ở Hà Nội,Vinh, Nakhon Phanom liên quan đến cộng đồng người Việt ở khu vực này
Tiêu biểu như: “Cộng đồng Việt kiều ở Đông Bắc Thái Lan: Quá trình hình thành, đời sống vật chất và tinh thần, những đóng góp đối với Tổ quốc Việt Nam”, luận văn tốt nghiệp của học viên Bùi Hồng Thanh ở Trường Đại học
Vinh; luận văn khoa học thạc sĩ của Nguyễn Mai Phương, trường Đại học
Vinh với đề tài: “Giao lưu văn hóa Việt - Thái”,…
Đặc biệt, trong quá trình giao lưu hợp tác với các Trường Đại học ởNakhon Phanom, các nhà khoa học ở Trường Đại học Vinh đã có một số côngtrình nghiên cứu về cộng đồng người Việt ở Thái Lan cũng như NakhonPhanom Có thể kể đến các đề tài cấp Bộ, cấp Trường trọng điểm của NguyễnCông Khanh và nhóm cộng sự nghiên cứu về quá trình hình thành và những
đóng góp của người Việt ở Nakhon Phanom trong lịch sử dân tộc,…
Mặc dù vậy, hiện nay, chưa có một đề tài cụ thể nào đi sâu vào việcphân tích, đánh giá về tình hình kinh tế, xã hội và đời sống văn hóa vật chất,tinh thần của cộng đồng người Việt ở tỉnh Nakhon Phanom, một cộng đồngđược đánh giá là đông đảo nhất, luôn hướng về quê hương đất nước và gắnliền với những biến cố của lịch sử dân tộc Việt Nam
3 Đối tượng, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng
Đề tài nghiên cứu cộng đồng người Việt ở tỉnh Nakhon Phanom, Thái Lan
Trang 12- Không gian: Là tỉnh Nakhon Phanom thuộc vùng Đông Bắc Thái Lan.
- Nội dung: Các vấn đề liên quan đến kinh tế, xã hội và văn hóa của ngườiViệt Nam ở Nakhon Phanom
4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
4.1 Nguồn tư liệu
- Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng Cộng sảnViệt Nam, các Nghị quyết của Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam về côngtác đối với người Việt Nam ở nước ngoài
- Các tài liệu của các học giả Thái Lan và nước ngoài nghiên cứu vềcộng đồng người Việt Nam ở Đông Bắc Thái Lan
- Tư liệu điền giã: Thông qua các phỏng vấn, ghi chép của tác giả tronglần điền giã ở tỉnh Nakhon Phanom,…
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Bên cạnh phương pháp truyền thống là phương pháp lịch sử và lôgic,chúng tôi sử dụng phương pháp như điền giã thực địa, sưu tầm tư liệu, ghichép, phỏng vấn các nhân chứng
Trang 13Trong xử lý tài liệu, chúng tôi dùng phương pháp tổng hợp, thống kê,đánh giá sự kiện lịch sử một cách chân thực khách quan, so sánh thẩm địnhđối chiếu giữa các nguồn tài liệu.
5 Đóng góp của luận văn
- Luận văn bước đầu tập hợp, thống kê và hệ thống hóa tư liệu một
cách khá đầy đủ về đời sống kinh tế của cộng đồng người Việt ở tỉnh NakhnPhanom (Thái Lan)
- Luận văn đi sâu vào việc phân tích đời sống văn hóa vật chất, văn hóatinh thần cũng như một số vấn đề về việc bảo tồn văn hóa truyền thống Việttrong cộng đồng người Việt ở Nakhon Phanom, bước đầu đưa ra một số giảipháp để góp phần làm tốt việc giữ gìn bản sắc văn hóa Việt ở cộng đồng này
6 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, phần nội dung của luận văn được trìnhbày trong 3 chương:
Chương 1 Cộng đồng người việt ở tỉnh Nakhon Phanom
Chương 2 Thực trạng kinh tế xã - hội và đời sống văn hóa của cộng
đồng người việt ở Nakhon Phanom Chương 3 Nhận xét về đời sống kinh tế - xã hội và văn hóa của cộng
đồng người Việt ở Nakhon Phanom.
Trang 14B NỘI DUNGChương 1 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT
Ở TỈNH NAKHON PHANOM
1.1 Một số nét chính về đất nước Thái Lan và vùng Đông Bắc Thái Lan
1.1.1 Đất nước Thái Lan
Thái Lan có diện tích 513.115 km2, trải dài từ vĩ tuyến 50 đến 210 vĩ độBắc, từ thị trấn Me Sải (Chiang Rai) giáp với Myanmar ở cực Bắc đến TạcBay (Narathiwat) cực Nam giáp với Malaysia kéo dài trên 1500 km Thái Lan
có đường biên giới chung với Lào và Campuchia ở phía Đông và Đông Bắc,với Myanmar ở phía Tây và Tây Bắc, phía Đông Nam giáp với vịnh TháiLan, các tỉnh ở phía Tây tiếp giáp với biển Andaman và phía Nam tiếp giápvới Malaysia Thái Lan có dân số 65,44 triệu người (2005), trong đó ngườiThái chiếm 75%, người Hoa 14%, các dân tộc khác 11% Về tôn giáo, đạoPhật được coi là Quốc đạo, chiếm khoảng 95% dân số, ngoài ra có đạo Hồi(4%), Thiên chúa giáo và các đạo khác (1%) Ngôn ngữ chính là tiếng Thái,tiếng Anh được đùng phổ biến
Khí hậu Thái Lan chịu ảnh hưởng gió mùa hàng năm, được chia thànhhai mùa khá rõ rệt mùa mưa và mùa khô Mùa mưa thường kéo dài từ tháng 5đến tháng 10 hàng năm, ở một số tỉnh miền núi phía Bắc có thêm mùa lạnh
thường từ tháng 11 đến tháng 1 Vùng lòng chảo sông Chao Phraya là vùng
đồng bằng trung tâm, là vựa lúa quan trọng và là vùng công nghiệp hoá caonhất của Thái Lan Đây là một vùng đất màu mỡ với hơn 1/3 dân số Thái Lantập trung tại đây Phía Bắc là vùng đồi núi, là một phần của dãy núi Hymalaya
nhưng chỉ có độ cao trung bình từ 1000 đến 2000 mét Phía Nam lưu vực
sông Chao Phraya là vùng thượng của bán đảo Malay trải dài Bán đảo này
Trang 15phân chia giữa Myanmar và Thái Lan bằng rặng núi Bilauktaung Cả haiđường bờ biển dọc theo dải đất hẹp từ biển Andaman xuống đến biên giớiMalaysia đều thuộc lãnh thổ Thái Lan Vùng Đông Bắc là khu vực có đôngđảo người Việt cư trú sẽ được giới thiệu kỹ hơn ở phần tiếp theo.
Vào thời kỳ Sukhothay, năm 1283 người Thái đã có chữ viết (đã đượcvua Ram khăm Hẻng khắc trên bia đá) Dưới triều vua Ram khăm Hẻng,người Thái đã chiếm lãnh thổ của người Khmer đến tận miền Nam Nakhon SỉThamarat Sau đó người Thái mở rộng lãnh thổ xuống phía Nam, và năm
1350 chuyển kinh đô xuống Ayuthaya Đến năm 1767, quân đội Miến Điện
đã tàn phá Ayuthaya nặng nề Sau đó thủ đô của Thái Lan được rời về Thôn
bu ri, nhưng vương triều Thonhuri cũng chỉ tồn tại được khoảng 15 năm
Tiếp theo là thời kỳ Băng Cốc (mở đầu Vương triều của dòng họChạckri (1782-1809), với người đứng đầu là Chao Phay ra Chackri (Rama I)
Vị vua này đã cho dời thủ đô về Băng cốc Vương triều Rama vẫn tồn tại chođến ngày nay được trên 200 năm
Đến năm 1932 một sự kiện lớn đã xảy ra đối với nước Thái: một nhóm
sĩ quan và trí thức được đào tạo ở Châu Âu đã đứng lên làm cuộc đảo chínhcướp chính quyền và tuyên bố thành lập một nhà nước Quân chủ lập hiến,
nhằm giới hạn quyền lực của nhà vua Vào ngày 11 tháng 5 năm 1949, người
Thái đã đổi tên Giam (người Việt hay gọi là Xiêm mà người Thái gọi là Sạzảm thành nước Thái Lan có nghĩa là miền đất của tự do)
Ngoài việc tuyên bố thành lập nền Quân chủ lập hiến, những nhà cầmquyền mới đã ngay lập tức mở rộng giáo dục tiểu học, cải cách nền hànhchính quốc gia Ngay từ Hiến pháp năm 1978 đã quy định người đứng đầunhà nước là nhà vua và quyền lực tối cao của vua là do nhân dân trao phó.Còn quyền lực thực sự thuộc về thủ tướng Văn phòng thủ tướng xây dựngnên các chính sách quốc gia, đồng thời quản lý các cơ quan tài chính và phát
Trang 16triển Thủ tướng là người đứng đầu nội các, dưới thủ tướng là các bộ trưởng.Các dự luật có thể do các nghị sĩ hoặc đó nội các đề xuất lên Quốc hội.
Thời kỳ từ 1997 - 2006: Hiến pháp 1997 là hiến pháp đầu tiên đượcphác thảo bởi Hội đồng lập pháp dân cử, và thường được gọi là “Hiến phápnhân dân” Hiến pháp 1997 được thiết lập bởi quốc hội lưỡng viện bao gồm
500 hạ nghị sĩ Quốc hội và 200 thượng nghị sĩ Quốc hội Năm 2001 diễn racuộc tổng tuyển cử quốc hội đầu tiên sau Hiến pháp 1997 Cuộc tổng tuyển cửđược xem là cởi mở nhất, vô tư nhất (không tham nhũng) trong lịch sử TháiLan Chính phủ được bầu ra sau đó cũng là chính phủ đầu tiên trong lịch sửThái hoàn tất nhiệm kỳ 4 năm
Về khu vực hành chính, Thái Lan được chia làm 76 tỉnh thành, và được
phân chia thành 5 vùng địa lý kinh tế cơ bản Thủ đô là Băng Cốc nằm ở vùngTrưng tâm Thái Lan Các tỉnh được chia thành các quận Năm 2000, Thái Lan
có 796 quận, 81 tiểu quận và 50 quận thuộc Băng Cốc Các tỉnh đều có thủ phủ
(Mương) mang tên tỉnh (nếu là tỉnh Phu kẹt thì có thủ phủ là Mương Phu kẹt)
1.1.2 Vùng Đông Bắc Thái Lan
Vùng Đông Bắc Thái Lan bao gồm 19 tỉnh: Kalasin, Khon Kaen,Chaiya Phum, Nakhon Phanom, Nakhon Ratchasima, Noong Khai, NoongBualamphu, Buriram, Maha Sarakham, Mucdahan, Yasothon, Roi Et, Loei,Sisaket, Sakol Nakhon, Surin, Udon Thani, Ubon Ratchathani và AmmatCharoen Những tỉnh nằm ở khu vực Đông Bắc Thái Lan thường được gọi làvùng I sản Khu vực I sản có diện tích rộng lớn tới gần 160.000 km2 Đây làvùng đất khô cằn, không như những vùng đồng bằng trung tâm, lúa chỉ canhtác được một vụ và hoàn toàn phụ thuộc vào lượng mưa thiên nhiên PhíaĐông có dòng Mê Kông nổi tiếng với hơn 1600km khi chảy qua Thái Lan làmthành biên giới tự nhiên giữa Thái Lan và Lào
Trang 17Đông Bắc Thái Lan có một số di tích khảo cổ quan trọng từ thời kỳ đồđồng, đặc biệt là di tích gốm bản Chiếng được các nhà khoa học cho rằng đãxuất hiện từ khoảng 5000 năm trước đây Sau khi đế chế Khơme bắt đầu suytàn vào thế kỷ XIII, vùng I sản lại thuộc sự thống trị của Vương quốc Lào LanXang, do Pha Ngườm thành lập Xiêm cai quản vùng đất này từ thế kỷ XVII
và tiến hành bắt buộc chuyển dân từ Lào đến I sản vào thế kỷ XVII và XVIII
Hiệp ước Pháp- Xiêm năm 1893 và 1904 lấy I sản làm biên giới giữa
Xiêm và Đông Dương Sang thế kỷ XX, vùng đất này đã hoàn toàn thuộc vềThái Lan Vì vậy những người dân Đông Bắc có ngôn ngữ và văn hoá gầnnhư tương đồng với Lào
Về kinh tế, vùng Đông Bắc Thái Lan chủ yếu là vùng nông nghiệp Câytrồng ở đây thường là các loại lúa tẻ, nếp là sản lượng chính chiếm khoảng60% đất canh táo tiếp theo là sắn và mía, trồng dâu nuôi tằm Nông nghiệp làkhu vực chiếm tỷ trọng lớn nhất trong nền kinh tế, khoảng 22% sản lượng thunhập của khu vực, so với 8,5% toàn bộ của Thái Lan Người dân Đông Bắc
chủ yếu chăn nuôi gia súc gia cầm làm thực phẩm Nghề thủ công truyền
thống ở vùng này rất nổi tiếng với nghề dệt lụa Xét về kinh tế, thì vùng ĐôngBắc được coi là vùng kinh tế kém năng động nhất của Thái Lan Thu nhậpbình quân đầu người được coi là khu vực thấp nhất của Thái Lan
Về văn hoá lễ hội, văn hoá vùng Đông Bắc Thái Lan có nhiều điểmchung với văn hoá của nước láng giềng Lào, điều này giống nhau (trong ẩmthực, trang phục, kiến trúc chùa chiền, nghệ thuật và lễ hội) Vùng Đông Bắc
Thái Lan rất nổi tiếng với nhiều lễ hội quanh năm Hát múa Mỏ lăm được coi
là loại hình âm nhạc truyền thống chính trong khu vực Đông Bắc và đượcdùng trong hầu hết các lễ hội Ngoài ra hát Lúc thung (nhạc đồng quê) cũngrất được ưa chuộng ở khu vực Đông Bắc
Trang 18Cư dân vùng Đông Bắc phần lớn là người Lào, hay còn gọi là ngườiThái Đông Bắc Đó là một bộ phận của người Thái cổ, thực chất họ là nhữngngười Lào, bởi vì vùng Đông Bắc Thái Lan ngày nay chính là phần đất củanước Lào mới bị Thái Lan chiếm vào cuối thế kỷ XIX Đa số cư dân trongvùng theo đạo Phật, Thiên chúa giáo đã được những người truyền giáo Phápđưa đến đây Tuy nhiên, cộng đồng Thiên chúa giáo đại diện cho một phầnrất nhỏ trong tổng số dân của vùng và không có ảnh hưởng gì đến các tín đồPhật giáo
1.1.3 Vài nét về tỉnh Nakhon Phanom
Nakhon Phanom là một tỉnh nằm ở vùng Đông Bắc Thái Lan Các tỉnhláng giềng của Nakhon Phanom là Mukdahan, Sakon Nakhon và Noong Khai.Phía Đông của tỉnh có sông Mekong là biên giới tự nhiên với tỉnh KhămMuộn (Khammouan) của Lào Tỉnh lỵ của Nakhon Phanom là thị xã NakhonPhanom Diện tích của tỉnh là 5.512.7km², là tỉnh rộng thứ 39 ở Thái Lan.Dân số 684.444 người (2000) đông thứ 33 của nước này Tỉnh trưởng là ngàiPhongsiri Kusum (từ tháng 3 2009)
Về địa lý, Nakhon Phanom nằm ở thung lũng của sông Mekong, phầnlớn diện tích của tỉnh này là đồng bằng Ở phía bắc của tỉnh là khu vực đồi núithấp với nhiều loại động thực vật đa dạng, phong phú Các sông chính ở phíaBắc là sông Songkhram và sông Oun Địa hình phía nam khá bằng phẳng.Con sông quan trọng nhất của vùng này là sông Kum Các sông ở NakhonPhanom có vị trí quan trọng trong việc cung cấp nguồn nước cho sôngMekong Phulangka là vườn quốc gia rộng lớn với diện tích hơn 50 km² chủyếu rừng rậm và đồi núi Ở đây có những thác nước hùng vĩ như Tatkham,Tatpho cùng với nhiều hệ động thực vật quý hiếm
Tỉnh Nakhon Phanom có 12 huyện với 97 làng (tambon), 1040 bản (muban).
Trang 19TT Tên huyện TT Tên huyện
1 Mueang Nakhon Phanom 2 Pla Pak
3 Tha Uthen 4 Ban Phaeng
11 Na Thom 12 Wang Yang
Có thể nói, về mặt địa lý, tỉnh Nakhon Phanom Thái Lan là tỉnh lánggiềng với các nước Đông Dương Từ các tỉnh của Việt Nam (Nghệ An, HàTỉnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên ), chỉ cần 7 ngày vượt đườngrừng đi bộ là có thể đến được vùng “Lạc Hòn” (tên gọi khác của tỉnh NakhonPhanom) và các địa phương khác thuộc Đông Bắc Thái Lan Nếu đi theo cáccon đường lớn thì ít nhất có 3 con đường quốc lộ là Đường 7 (từ Nghệ Ansang), Đường 8 (từ Hà Tĩnh sang), Đường 12 (từ Quảng Bình sang), Đường 9(từ Quảng Trị sang) là con đường những người yêu nước Việt Nam có thể đisang và ngược lại
Về phương diện lịch sử, Nakhon Phanom có nghĩa là "Phố Núi", do vua
Rama I đặt tên mặc dù ở khu vực này hầu như không có núi thực sự, các dãynúi đá vôi tập trung ở thị xã Thakhek của Lào, ở phía bên kia của sôngMekong Nakhon Phanom nếu hiểu đúng nghĩa, thì đây là một thành phố, mà
từ đó có thể nhìn thấy các dãy núi
Ban đầu, khu vực này được định cư bởi người Lào cổ thuộc vươngquốc Lan Xang Về sau, khu vực này đặt dưới sự kiểm soát của Ayutthaya với
cư dân chủ yếu vẫn là người Lào Ban đầu, vùng này được gọi là Si Kotrabun,
và sau đó là Maruka Nakhon Đây là khu vực sinh sống chủ yếu của người Thái
Trang 20Đông Bắc hay còn gọi là người Lào - một bộ phận của người Thái cổ Bên cạnh
đó, cộng đồng người Việt, người Hoa cũng đóng một vai trò quan trọng trongquá trình phát triển kinh tế, xã hội của khu vực này
Biểu tượng của Tỉnh Nakhon Phanom là Chùa Phra That Phanom nằm
ở huyện Phanom Chùa được xây dựng khoảng 535 TCN theo phong cáchKhơmer và sau đó bị xuống cấp Đến năm 1675, ngôi chùa này được xâydựng lại theo kiểu kiến trúc chùa Lào
Ở Nakhon Phanom có rất nhiều lễ hội nổi tiếng gắn với nhiều nét vănhóa dân gian đặc sắc của các nhóm người Thái Bên cạnh đó, khu vực nàycũng nổi tiếng với các sản phẩm truyền thống của nghề dệt vải, bông sợi,
Về vị trí địa chính trị, tỉnh Nakhon Phanom, tiếp giáp với Lào, là nướcnằm trong sự cai trị của thực dân Pháp, để trốn tránh sự đàn áp, truy lùngnhiều nhà yêu nước Việt Nam và con cháu của họ đã di cư sang đây một cáchthuận lợi Mặt khác, do tỉnh Nakhon Phanom ở vùng Đông Bắc là nơi xa xôihẻo lánh của Thái Lan, có thế dễ dàng tránh được sự chú ý của nhà cầmquyền Thái, điều đó khiến cho địa phương này trở thành địa bàn thuận lợi đểhoạt động cách mạng một cách khá an toàn
1.2 Quá trình hình thành cộng đồng người Việt ở tỉnh Nakhon Phanom
1.2.1 Những đợt di cư lớn của người Việt vào Thái Lan
Quá trình di cư của người Việt đến Thái Lan kéo dài từ giữa thế kỉXVII đến giữa thế kỉ XX, có thể chia làm 2 thời kì:
1.2.1.1 Thời kì từ giữa thế kỉ XVII đến trước năm 1945
Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng đã có những nhóm người Việt đầu tiênđịnh cư ở Thái Lan là ở Ayuthaya từ thế kỷ 17 (vùng này nằm cách biên giớicác tỉnh Đông Bắc Thái Lan tù 600-800 km) Vào thời gian này, nhà nướcAyuthaya đã mở cửa giao lưu hàng hoá bằng đường biển với các nướcPhương tây như Bồ Đào Nha, Hà Lan, Pháp, Vào giữa thế kỷ XVII, tại
Trang 21Ayuthaya đã có "Làng Việt Nam" hay “Trại Việt Nam” Người Việt ở cùngvới các làng trại của nhiều nhóm người nước ngoài khác đã đến định cư ởđây như trại của người Bồ Đào Nha, người Hà Lan, người Trung Quốc,người Mã Lai và người Nhật" Người Việt đến Thái Lan hồi thế kỷ XVII donhiều nguyên nhân khác nhau như qua buôn bán đường biển rồi đến đây lậpthương điếm (trong thế kỷ XVII Ayuthaya được coi là một trong nhữngthương cảng buôn bán sầm uất nhất ở Châu Á), còn một số khác thì do bị bắtlàm tù binh trong chiến tranh hoặc do những nguyên nhân về kinh tế đã tìmsang đất Thái Lan sinh sống Những người Việt nhập cư giai đoạn này hầuhết là những người theo đạo Thiên Chúa, và sống ở ven biển Nam Trung BộViệt Nam [15, tr.26].
Về mặt xã hội, đặc điểm của thế hệ những người Việt này là làm nôngnghiệp thuần túy và một số nghề phụ liên quan đến nông nghiệp như đánh bắt
cá tôm, chế biến hải sản và một số nghề thủ công liên quan khác như đithuyền, dệt vải, dệt chiếu Trong quá trình hội nhập, vì sự tồn tại của cộngđồng, những nghề này không chỉ là nguồn nuôi sống gia đình mà trở thànhđặc trưng văn hóa của cộng đồng, được người dân bản xứ chấp nhận và họctập, kế thừa
Những năm sau đó, lại có những đợt nhập cư tiếp tục của người Việtvào Ayuthaya khi vương triều này rơi vào tình trạng tranh chấp liên miên giữacác phe phái trong triều đình và phải đương đầu với cuộc chiến tranh liênmiên ở phía Tây của đất nước Vì vậy, những người Việt nhập cư vào thờiđiểm này trở thành nguồn nhân lực quan trọng, bổ sung kịp thời cho chiếntranh cũng như nền sản xuất nông nghiệp ở Xiêm Chính vì vậy, vương triềuAyuthaya rất hoan nghênh những người Việt nhập cư vào Xiêm, một số ôngvua trong thời kì này như Narai (1656 - 1688) đã coi người Việt là “bàn dânthiên hạ” của triều đình như bao thần dân khác của ông [12, tr.99]
Trang 22Chính sách mềm mỏng, tạo điều kiện thuận lợi cho người Việt làm ăn,sinh sống và hòa nhập của Yauthaya đã khiến cho người Việt mặc dù đứngtrước muôn vàn khó khăn thách thức nhưng đã nhanh chóng hội nhập vào độiquân lao động trên nhiều lĩnh vực tùy thuộc vào khả năng nghề nghiệp củamình Sự hòa nhập cộng đồng lúc này không những giúp cho người Việt tồntại mà còn góp phần vào công cuộc xây dựng đất nước Xiêm, làm giàu thêmbản sắc văn hóa của dân bản địa bằng một vài công trình văn hóa thể hiện cònlại như Nhà thờ Thiên Chúa giáo ở Chănthaburi Đây là nhà thờ có kiến trúchoàn mĩ về nghệ thuật kiến trúc Thiên Chúa giáo do công sức của cộng đồngngười Việt thuộc làn sóng nhập cư đầu tiên xây dựng nên Nhà thờ này từngđóng vai trò là trung tâm giao lưu Ki tô giáo của cả khu vực Sau này, khi đạoThiên chúa phát triển, lớp con cháu của người Việt thuộc làn sóng nhập cưđầu tiên này còn lập trường học Thiên chúa giáo cho con em giáo xứ chungcủa địa phương Đến nay, nhà thờ này vẫn duy trì cung cách lễ thức theo lễthức Thiên chúa giáo kiểu Việt Nam, đọc kinh bằng tiếng Việt, giao tiếp nội
bộ bằng tiếng Việt,
Đến giữa thế kỉ XVIII, vào thời kỳ Thônburi (1767 - 1782), một số
người trong gia quyến và thuộc hạ của Chúa Nguyễn Phước Xuân dấy binhchống Tây Sơn tại Quảng Nam nhưng thất bại đã chạy vào Hà Tiên rồi tìmđường vượt biển sang Thái Lan lánh nạn Cũng vào khoảng thời gian này,Mạc Thiên Tứ, người gốc Hoa đã trốn chạy khỏi đất Trung Hoa sang định cư
ở đất Hà Tiên và sau đó được chúa Nguyễn giao cho trấn thủ đất Hà Tiên, saukhi bị nghĩa quân Tây Sơn đánh bại, cũng chạy sang cầu cứu triều đìnhThonburi Cả hai nhóm người này đều được vua triều đình Thônburi là Tặc súttạo điều kiện cho sinh sống ở đây và cả họ là “gia đình Hoàng tộc lưu vong”
Cuối thời kì Thônburi, nước Xiêm rơi vào cảnh suy tàn bởi cuộc chiếntranh Thái - Miến trong khi đó nội bộ triều đình rơi vào rối ren vì cuộc tranh
Trang 23chấp khốc liệt giữa các phe phái, người Việt ở Yauthay bắt đầu chạy loạn, đi
về phía Tây và xuống phía Nam Khi triều đại Thônburi chấm dứt, vua Rama
I lên ngôi, mở mang vương triều Băng Cốc, một đợt nhập cư nữa của ngườiViệt vào Thái Lan bắt đầu Đó là cuộc nhập cư ồ ạt của hàng ngàn binh sĩ, dânthường theo đoàn tùy tùng của Nguyễn Ánh hai lần sang nương náu ở đấtXiêm [52]
Năm1782 Nguyễn Phúc Ánh (người Thái gọi là ông Chiêng Xử) là
cháu của Nguyễn Phước Xuân (ông Chiêng Xắn), sau khi bị quân Tây Sơn đánh bại ở Sài Gòn- Gia Định, đã cùng với gia quyến và nhóm tàn quân cũng tìm đường chạy sang cầu cứu Vua Xiêm lúc này là Rama I (1782-1809) Vua
Xiêm cũng chấp nhận cho cư trú tại Sảm Xẻn và được hưởng rất nhiều ưu đãi.Vào năm 1787, Nguyễn Ánh đã tìm cách bí mật rời Băng Cốc trở về nước,
nhưng chỉ có khoảng 150 người cùng trở về với Nguyễn Ánh trên 4 chiến thuyền lớn Như vậy, số người Việt còn lại vẫn sống tại Băng Cốc và được vua Rama 1 cho định cư tại Bang phô Vào năm 1787, có lẽ không lâu sau khi Nguyên Ánh trở về nước, thì một nhóm người Việt khác do Đô đốc Nguyễn Huỳnh Đức (một viên tướng chỉ huy của Nguyễn ánh) cùng với khoảng 5000 tàn quân do bị quân của Tây Sơn bắt cầm tù đã trốn thoát và chạy trốn bằng đường bộ qua Lào sang Băng Cốc cũng được vua Rama I giúp đỡ và cho định
cư tại Bang Phô Nguyễn Huỳnh Đức muốn họp quân với Nguyễn Ánh,
nhưng khi đến nơi, Nguyễn Ánh đã trở về Việt Nam Vua Rama I thoả thuận
cho một số chiến thuyền lớn để giúp Nguyễn Huỳnh Đức trở về nhưng với điều kiện là phải để cho binh lính của ông ta ở lại đất Thái nếu có nguyện
vọng [15, tr.15]
Khoảng 213 số binh lính của Nguyễn Huỳnh Đức đã ở lại đất Thái.Cùng với số giáo dân khoảng gần 600 người đến Sảm Xẻn (vào năm 1785) thìcon số của người Việt lúc này ở Băng Cốc đã lên tới khoảng 5000 người Số
Trang 24người Việt Nam cùng với số người Việt theo đạo Phật từ miền Bắc và miềnTrung theo đường bộ qua Lào đến Băng Cốc đã hình thành một cộng đồngngười Việt đông đảo ở Thái Lan và sống tập trung ở hai khu vực Bang Phô vàSảm Xẻn [52].
Từ đầu thế kỷ XIX với chủ trương “cấm đạo, sát đạo” của các vua nhàNguyễn, kể từ triều đại Minh Mạng (1820 - 1840), Thiệu Trị (1841 - 1847),Tự Đức (1847 - 1883), đến việc xâm lược Bắc Kỳ của thực dân Pháp đã gây
ra một đợt chuyển cư lớn của người Việt Nam đến Thái Lan Việc đàn áp giáodân theo đạo Thiên Chúa của triều Nguyễn cùng với sự tuyên truyền của các
cố đạo phương Tây đã có khoảng 5.000 đến 7.000 người Nam Kỳ và Trung
Kỳ sang Thái Lan Đến thời điểm này, một bộ phận giáo dân người Việt đãtìm đến tỉnh Nakhon Phanom để sinh sống [52]
Nhân dân Thái thường gọi chung những người Việt Nam sang cư trú ởThái Lan trong giai đoạn đầu tiên này là “Duôn càu” nghĩa là “người ViệtNam cũ” Qua hàng trăm năm sinh sống trên đất Thái, hầu hết những ngườinày đều đã nhập quốc tịch Thái nhưng trong họ vẫn luôn nhớ về cội nguồndân tộc Việt của mình
Cũng trong thế kỷ XIX, đặc biệt là kể từ triều vua Minh Mạng (1820 1840) đến cuộc xâm chiếm Bắc kỳ của người Pháp, do bị quan lại ngược đãimột số giáo dân đã phải chạy sang Thái lánh nạn vì ở đây chính quyền baodung hơn Một số người đã di cư bằng đường bộ sang Lào và Đông Bắc TháiLan Vào đầu năm 1881, các nhà truyền giáo Gia tô người Pháp ở Bắc ViệtNam và Lào đã mở rộng các hoạt động của họ sang Đông Bắc Thái Lan Dothiếu giáo hội, nên họ hướng ảnh hưởng của mình vào các làng, đặc biệt ởmột số làng như Tha re (Sakôn Nakhon) và Thà bò (Nông Khai) Vào cuối thế
-kỷ XIX đầu thế -kỷ XX (vào triều đại vua Rama V của Xiêm), sau khi đã hoàntất việc xâm chiếm Việt Nam, Pháp đã đưa ra nhiều chính sách sưu thuế nặng
Trang 25nề và bắt phu dịch Việc này đã khiến hàng loạt người dân Việt Nam rời bỏ
làng quê ra đi tận nơi đất mới làm ăn sinh sống Một số người dân miền
Trung, và miền Bắc Việt Nam đã di cư sang Lào và các tỉnh thuộc Đông BắcThái Lan Trong thời gian này, phong trào chống chủ nghĩa thực dân diễn ratrên khắp Việt Nam, đặc biệt là ở miền Trung Đó là các Phong trào CầnVương của Tôn Thất Thuyết và tiếp theo là phong trào Dông Du Sang đầuthế kỷ XX, các phong trào trên lắng xuống, nhiều nhà yêu nước cùng nhữngngười có tâm huyết với sự nghiệp giải phóng dân tộc đã chạy sang cư trú ởXiêm để tìm đường cứu nước Vì vậy, lại có một đợt nhập cư mới vào Tháigiai đoạn này
Ngày 3/10 năm 1893, chính phủ Xiêm buộc phải ký với Pháp một hiệpước mà người Thái Lan gọi là Hiệp ước bất bình đẳng Theo hiệp ước này,Thái Lan phải mất phần đất bên bờ tả ngạn sông Mê Kông cho Pháp Kèmtheo hiệp ước, còn có quy ước thoả thuận lấy khu đất chạy dọc sông Mê Kôngdài 25 km bên bờ Thái Lan làm khu phi quân sự và khu mậu địch tự do Hiệpước có điều khoản quy định những người dưới quyền bảo hộ của Pháp đượctự do đi lại và buôn bán trong khu vực này Điều kiện này tạo nên cơ hội tốtđể người Việt đang sinh sống ở Lào đi lại hoạt động buôn bán trao đổi hànghoá ngày càng nhộn nhịp Nhóm người này có thể được coi là cộng đồngngười Việt đầu tiên hoạt động thương mại ở Đông Bắc Thái Lan
Đợt nhập cư này để lại nhiều dấu ấn văn hóa Việt tồn tại cho đến ngàynay Trong quá trình hội nhập với cộng đồng xã hội Thái Lan, lớp người Việtnày luôn chứng tỏ mình là cộng đồng không chỉ vững truyền thống văn hóacho dân tộc mà còn làm phong phú thêm cho đời sống văn hóa của nướcXiêm Biểu hiện rõ nhất là đời sống văn hóa cung đình với những điệu múađèn Thái Lan hiện nay có xuất xứ từ điệu múa đăng kiểu Huế do chínhNguyễn Ánh thành lập nên đội múa lân và múa đăng phục vụ ông và gia
Trang 26quyến trong thời gian sống ở Xiêm Đến thời Rama IV, điệu múa này mớiđược cải biên thành điệu múa cung đình cho đến ngày nay Không những vậy,những người Việt khi nhập cư vào đây còn mang theo tục đốt vàng mã và phổbiến cho người bản xứ.
Về văn hóa, tín ngưỡng, nếu như đợt di cư vào Yauthaya, nhóm ngườiViệt để lại dấu ấn bằng Nhà thờ Thiên Chúa giáo Chawnthaburi thì làn sóngnhập cư thứ hai ở thời kì này đã ghi dấu ấn văn hóa bằng phái Phật giáo Đạithừa (người Thái gọi là Ananm nikai) Người có công truyền bá Phật giáo Đạithừa từ Việt Nam vào Thái Lan để vua Rama IV lập ra giáo phái Anam nikai
là nhà sư Quang Hưng và nhà sư Diệu Cầm từ trong nước sang trụ trì chùa ởBăng Cốc [52]
Tóm lại, trong cuộc sống hòa đồng vào xã hội Xiêm, cộng đồng ngườiViệt nhập cư trong giai đoạn Rama nhiều hơn so với giai đoạn Yauthaya, vớithành phần xã hội cũng phức tạp hơn và những đóng góp của họ vào xã hộiThái Lan cũng đa dạng hơn trên nhiều lĩnh vực khác nhau
1.2.1.2 Thời kì những năm 1945 - 1946
Đợt di cư lớn nhất của người Việt vào vùng Đông Bắc Thái Lan là thời
kỳ những năm 1945 - 1946 Người Thái gọi những người Việt nhập cư vào
đất Thái lúc này gọi là “Duôn ộp pa dốp” (nghĩa là người Việt tản cư hay
người Việt di cư), hoặc là “Duôn Mày” nghĩa là Việt mới di cư sang Thái
Lan Sau chiến tranh thế giới thứ hai, thực dân Pháp vạch kế hoạch tái chiếm Đông Dương với mưu đồ khôi phục các thuộc địa đã bị mất Tháng 3 năm
1946, thực dân Pháp mở đầu chính sách vũ trang xâm lược Lào với mục tiêu
chính là các vùng Trung Lào và Thượng Lào [52]
Vào đầu năm 1946, sau khi đánh chiếm được Sạvănnakhệt, ngày15/3/1946, đến ngày 21/3/1946, thực dân Pháp cho máy bay rải truyền đơn
kêu gọi đầu hàng với nội dung: Buộc Thà Khẹc phải giao nộp vũ khí quân
Trang 27trang, quân dụng của lực lượng vũ trang quân giải phóng ngay tại cây số 4.Sau khi phát lệnh 15 phút nếu quân giải phóng không chấp hành, thực dânPháp sẽ lập tức ném bom đánh chiếm Thà Khẹc Trong đợt ném bom đầu tiênnày đã khiến số đông dân Lào và Việt Kiều phải bỏ cả tài sản nhà cửa tản cưsang Thái Lan với hai bàn tay trắng Những người di tản sang đất Thái còn bịmáy bay ném bom và xả súng khi đang vượt sông sang đất Thái, rất nhiềungười đã bị chết trôi mất xác, những người không chạy thoát thì bị chúng bắnchết và đẩy xác họ xuống dòng Mê Kông [24].
Để tránh những tổn thất xảy ra đối với tính mạng của toàn thể nhân dânThà Khẹc, ngày 17/3/1946, Uỷ ban bảo vệ tỉnh Thà Khẹc ra quyết định dichuyển bộ phận nhân dân Thà Khẹc bao gồm phụ nữ, người già và trẻ em, bấtkể là người Lào hay người Việt sang phía bên kia đất Thái Lan Chính quyềntỉnh Nakhon Phanôm huy động toàn bộ số thuyền, xuồng máy trên sông vàcác loại làm phương tiện cứu trợ người tản cư từ chập tối ngày 17/3/1946 vàkết thúc một cách yên ổn vào rạng sáng ngày 18/3/1946 Tuy đã có những sựchuẩn bị kịp thời, và biết trước khả năng tiếp nhận người tản cư của phía TháiLan, song tổn thất đã khá nặng nề về người và của đối với nhân dân ThàKhẹc, khi Thà Khẹc rơi vào tay thực dân Pháp vào ngày 21/3/1946 [24]
Đại bộ phận những người Việt từ Lào sang Thái trong thời gian nàyđều có quê quán ở miền Bắc và miền Trung Việt Nam Họ ở ngay những tỉnhThái Lan đối diện với Lào: Từ Viêng Chăn sang Noọng Khai và U đôn Thani;
Từ Thà Khẹc sang Nakhon Phanom và Sakon Nakhon; Từ Savẳn Nakhệt sangMục Đa Hãn và huyện Thai Phanom; Từ Phêre sang U bôn Ratchathani Theocon số thống kê của cảnh sát Thái Lan thì số lượng người Việt di cư từCampuchia và Lào sang Thái Lan giai đoạn này khoảng 46.700 người vớikhoảng 13.000 gia đình Đây được cho là đợt đi cư lớn nhất của người Việtsang Thái vào tháng 3 năm 1946 [53]
Trang 28Năm 1975, sau khi miền Nam được giải phóng, những người Việt “ditản” rời bỏ đất nước ra đi sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, hoặc
“vượt biên” vào thời kỳ đất nước khó khăn nhất(1978-1982), họ đến Thái Lanchủ yếu bằng thuyền và bị chính quyền Thái tập trung vào các trại tỵ nạn vàcho đi định cư ở một nước thứ 3, một số ít ở lại Thái Theo tài liệu của Cao uỷLiên hợp quốc, số người tị nạn trong các trại tị nạn ở Thái Lan tính đến30/11/1991 đã được tái định cư ở nước thứ 3 là 141.569 người, được phânloại đến bằng thuyền là 105 686 và đến bằng đường bộ là 35.885 người Một
số người Việt Nam đến Thái theo diện này đã có người được ra khỏi trại tỵnạn và làm ăn sinh sống [24]
Như vậy, người Việt Nam nhập cư vào Thái Lan gần 2 thế kỷ có thểphân làm 4 loại:
1 Người Việt Nam nhập cư vào Thái Lan thời Nguyễn Ánh sang cầucứu Xiêm và giai đoạn đầu của nhà Nguyễn đã trở thành người Thái gốc Việt.Con cháu họ trở thành người Thái chính cống
2 Người Việt Nam nhập cư vào Thái Lan từ thời kỳ Pháp thuộc, chưa
vào quốc tích Thái gọi là người "Duôn tàng đạo" (Việt ngoại kiều)
3 Người Việt Nam tản cư từ Lào sang Thái Lan năm 1946 sau khi thực
dân Pháp tiến hành xâm lược Đông Dương lần thứ hai gọi là người "Duôn pha-dốp” (Việt tản cư) Người Việt tản cư bị hạn chế đi lại, nghề nghiệp.
ộp-Những năm gần đây chính quyền Thái Lan đã cấp thẻ ngoại kiều cho lớpngười này và công nhận con, cháu họ trở thành quốc tịch Thái
4 Người Việt nhập cư vào Thái Lan từ sau năm 1975 theo con đường
tị nạn
1.2.2 Quá trình hình thành cộng đồng người Việt ở Nakhon Phanom
Trang 29Cộng đồng người Việt ở Nakhon Phanom nói riêng, ở Đông Bắc TháiLan nói chung là một bộ phận tổng thể của người Việt nhập cư vào Thái Lan
đã trên 300 năm qua Tuy nhiên, trong quá trình hình thành cộng đồng, ngườiViệt ở khu vực này có những đặc trưng riêng không giống với làn sóng nhập
cư của người Việt ở thế kỉ XVII hay thế kỉ XIX Đó là sự khác nhau về conđường nhập cư, nguyên nhân nhập cư, thành phần xã hội của những ngườinhập cư, đặc biệt là hoàn cảnh nhập cư của họ đặt trong bối cảnh đặc biệt,diễn ra nhiều đồng thời với sự thay đổi lớn lao ở khu vực Đông Nam Á nhữngnăm cuối XIX, đầu XX và kéo dài đến những năm sau cuộc chiến tranh thếgiới thứ II kết thúc Về cơ bản, có thể phân chia quá trình hình thành cộngđồng người Việt ở Nakhon Phanom thành 2 thời kì
1.2.2.1 Sự hình thành cộng đồng người Việt ở Nakhon Phanom vào cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX
Sau khi vua Rama IV lên ngôi ban hành các chính sách khuyến khíchngười Việt người, Lào nhập cư vào vùng Đông Bắc, nơi chưa có nhân lực đểkhai thác và đang ở thời kì kém phát triển, người Việt cũng bắt đầu tìm đếnvùng Đông Bắc Nakhon Phanom là tình nằm ở cửa ngõ, giáp với nước bạnLào qua sông Mê Kông và là điểm đặt chân đầu tiên của những người Việtđến vùng Đông Bắc Có thể chia ra những thế hệ người Việt có mặt đầu tiên ởNakhon Phanom như sau:
- Thế hệ thứ nhất: Đây là những người nông dân ở khu vực Nam trung
bộ chạy trốn sự bài xích Thiên Chúa giáo của Triều đình Huế và những nămđói kém triền miên đặc biệt dưới thời Vua Tự Đức Đến nay, dấu ấn củanhững thế hệ này hầu như đã phai nhạt và bị Thái hóa hoàn toàn
- Thế hệ thứ hai: Chủ yếu là những người Việt theo đạo Thiên chúa,
chạy trốn khỏi chính sách “sát đạo”, “cấm đạo” của triều đình phong kiến nhàNguyễn Sau khi vượt qua dãy Trường Sơn, những người này sang Lào rồi
Trang 30vượt qua sông Mê Kông để đến với Nakhon Phanom Theo tài liệu của LêQuốc Sản, số người thuộc thế hệ này có khoảng hơn 4000 người Họ vẫn tựnhận mình là “Con cháu đạo gốc thời vua Tự Đức” Trong cuộc sống hòađồng với người bản địa, họ vẫn duy trì nền nếp sinh hoạt riêng, vốn có từ quênhà đặc biệt là trong sinh hoạt tôn giáo Nhà thờ do chính cộng đồng ngườiViệt xây dựng nên ở Thạrẹ (thuộc tỉnh Sakol) nay vẫn là nơi sinh hoạt vănhóa tâm linh của giáo dân người Thái gốc Việt Tuy nhiên, qua nhiều lần tusửa, đến nay, nhà thờ không còn nguyên vẹn kiến trúc như nhà thờiChănthaburi, phong cách lễ nghi đã phần nhiều pha lẫn với văn hóa Tháinhưng giáo dân và những người phục vụ trong nhà thờ vẫn luôn tự hào vềnguồn gốc Việt của mình
- Thế hệ thứ ba: Là thế hệ những người nhập cư vào Nakhon Phanom
trong thời kì mà chủ nghĩa thực dân phương Tây ráo riết bành trướng thế lực
ở khu vực Đông Nam Á Ở Việt Nam, sự tàn bạo của thực dân Pháp đã ảnhhưởng đến mọi tầng lớp nhân dân, hơn hết là giai cấp nông dân với hai tầng
áp bức của đế quốc và phong kiến, chưa kể nạn bắt phu, bắt lính triền miên.Hoàn cảnh đó tạo ra lực đẩy bất khả kháng, đẩy số đông người Việt ở miềnTrung Việt Nam vượt rừng núi qua Lào rồi qua sông Mê Kông để sangNakhon Phanom Triều đình Xiêm đương thời dưới sự trị vì của Rama V đãđón nhận họ một cách thuận tình bằng chính sách giảm thuế nhập cảnh, đối
xử với họ như người bản địa [12, tr.99] Tuy nhiên, sự ưu ái này bắt nguồn từ
việc triều đình Xiêm thấy được tầm quan trọng của nguồn nhân lực mà nhữngngười Việt nhập cư đưa lại Ngày 3/10/1893, Thái Lan kí hiệp định bất bìnhđẳng với Pháp trong đó quy định giải đất chạy dọc theo dòng sông Mê Kông
là khu vực phi quân sự đã tạo ra cơ hội làm ăn, buôn bán cho đông đảo ngườiViệt nhập cư ở khu vực này, đặc biệt, nhiều người Việt nhập cư ở các vùngkhác đã di chuyển xuống vùng Đông Bắc Thái Lan để làm ăn, sinh sống Với
ưu thế về thương nghiệp của mình, những người Việt nhanh chóng hòa nhập
Trang 31với xã hội địa phương rồi trở thành tầng lớp tiểu thương, có những đóng gópquan trọng cho sự phát triển của nền kinh tế, xã hội vùng Đông bắc Thái Lan.
- Thế hệ thứ tư: Vào những năm cuối XIX, đầu thế kỉ XX, phong trào
kháng chiến chống thực dân Pháp phát triển mạnh mẽ, lan tỏa khắp các miềnBắc, Trung Nam của Việt Nam Tiêu biểu trong số đó là phong trào CầnVương rồi tiếp đến là phong trào Đông Du của Phan Bội Châu, Đông kinhnghĩa thục của Phan Châu Trinh Sau sự thất bại của những phong trào này,một số lượng lớn những nhân sĩ, trí thức đã nhập cư vào Thái Lan với mụcđích gây dựng phong trào yêu nước ở Hải ngoại, nơi đã có cộng đồng ngườiViệt làm chỗ dựa Với nền tảng văn hóa, vốn tri thức và sự hiểu biết, tầng lớptrí thức này nhanh chóng hòa nhập với cuộc sống của người bản địa và đượccộng đồng người Việt ở đây coi trọng và giúp đỡ Điều này rất quan trọngtrong các cuộc vận động phong trào người Việt yêu nước ở Thái Lan lúc bấygiờ mà đứng đầu là những nhân sĩ yêu nước tiêu biểu như Phan Bội Châu,Đặng Thúc Hứa, Đặng Quỳnh Anh, Đặng Thái Tuyến,…
Những thế hệ người Việt đầu tiên có mặt ở Nakhon Phanom này đãnhanh chóng hòa nhập một cách nhanh chóng và nhuần nhuyễn vào cộngđồng xã hội Thái Lan, trở thành những người Thái gốc Việt từ những nămđầu nửa thế kỉ XX
1.2.2.2 Sự hình thành cộng đồng người Việt ở Nakhon Phanom vào những năm 1945 - 1946
Đây là đợt nhập cư lớn nhất của người Việt vào Thái Lan nói chung vàNakhon Phanom nói riêng Cho đến nay, khi nói đến Việt kiều Thái Lan lànói đến thế hệ người này bởi cuộc sống của họ hơn nửa thế kỉ qua đều gắn vớilịch sử bang giao của hai nước Việt - Thái Cuộc sống vật chất, tinh thần của
họ đều gắn với sự chảy trôi và chìm nổi của vùng Đông Bắc, với tỉnh NakhonPhanom Chính sách của chính quyền Thái Lan đối với thế hệ những người
Trang 32nhập cư đợt này khá ngặt nghèo Nếu như những người Việt có mặt ở TháiLan vào các thế hệ trước được gọi là dân nhập cư, được nhập quốc tịch Tháithì với tầng lớp người Việt đến Thái Lan vào giai đoạn này, đến những nămcuối thế kỉ XX chính quyền Thái Lan coi họ là dân tị nạn, gọi họ là “NgườiViệt mới” Chính vì vậy, sự hòa nhập cộng đồng đối với họ hết sức khó khăncả về vật chất lẫn tinh thần
Xét về khía cạnh chính trị, cuộc nhập cư của người Việt vào NakhonPhanom thời kì 1945 - 1946 có nguyên nhân trực tiếp từ cuộc tái chiếm ĐôngDương của Pháp Ngày 21/3/1946, sau khi Thà Khẹc thất thủ vào tay Pháp,một cuộc khủng bố đấm máu đã diễn ra, dòng sông Mê Kông nhuốm đầymáu Cuộc khủng bố này đã đẩy hơn 70.000 người Việt ở Thà Khẹc, ViêngChăn, Sa vẳnna khệt của Lào vượt sông Mê Kông chạy sang Nakhon Phanom
Từ Nakhon Phanom, người Việt dần đi đến Sakol Nakhon, Udon,… Có thểnói đây là cuộc tản cư bất đắc dĩ lớn nhất, chóng vánh nhất trong các đợt nhập
cư của người Việt sang Thái Lan
Do không chuẩn bị cuộc sống lâu dài trên đất Thái Lan, những ngườiViệt này bỏ lại toàn bổ gia tài, điền sản có được sau bao nhiêu năm tích cóp ởLào để tay trắng sang Thái Lan với ước vọng sẽ sớm được trở về Vì vậy, ýthức hòa nhập với cộng đồng xã hội Thái Lan của thế hệ người Việt này hơilỏng lẻo, họ chưa mặn mà với việc sinh sống lâu dài ở Thái Lan bởi họ chỉ coiđây là nơi trú chân tạm thời Chính điều này đã ít nhiều làm họ tuột mấtnhững cơ hội quý giá để hòa nhập với cộng đồng người Thái Lan bằng việckhông xin nhập quốc tịch Thái Phải đến những năm đầu thế kỉ XXI, mớiđược giải quyết khi chính phủ Thái Lan quyết định nhập quốc tịch cho nhữngngười Việt thuộc thế hệ thứ 2, thứ 3
Hiện nay, cộng đồng người Việt ở Nakhon Phanom có khoảng gần 20ngàn người, chiếm gần 30% số người Việt ở Thái Lan Theo Hội người Việt
Trang 33Nam tại Nakhon Phanom, hiện có tới 90% con em Việt Kiều tại tỉnh tốtnghiệp đại học và cộng đồng người Việt Nam ở đây đã đóng góp cho TháiLan tới 36 bác sĩ, 20 kỹ sư và 5 nhà bác học Hội người Việt Nam đã luôn điđầu trong việc hướng cộng đồng gìn giữ tốt các phong tục tập quán Việt Nam
và duy trì tốt việc dạy tiếng Việt cho các thế hệ trẻ đặc biệt là luôn hướng vềquê hương đất nước
Mặc dù môi trường để hòa nhập xã hội có phần khó khăn nhưng vớibản chất cần cù, yêu nước thương nòi, cộng đồng người Việt ở NakhonPhanom vẫn từng bước vươn lên trong cuộc sống một cách đáng khâm phục.Không những thế, đây là cộng đồng người nước ngoài có nhiều đóng góp nhấtđối với sự phát triển kinh tế - xã hội của vùng Đông Bắc Thái Lan và đặc biệt
là Nakhon Phanom
1.2.2.3 Về Nguyên nhân của sự hình thành cộng đồng người Việt ở Nakhon Phanom
* Nguyên nhân chủ quan
Sự di cư của người Việt đến Thái Lan nói chung, Nakhon Phanom nóiriêng bắt nguồn từ những nguyên nhân nội tại của Việt Nam như chiến tranh,đói kém, sự đàn áp của chính quyền phong kiến, thực dân, Họ đã đến vùngĐông Bắc Thái Lan trước hết để sinh sống, để lánh nạn, và để hoạt động cáchmạng Việc vùng Đông Bắc Thái Lan trở thành nơi những người Việt Nam rờiTổ quốc sang cư trú, tự nó đã bao hàm các yếu tố thuận lợi, đảm bảo chonhững mục đích khác nhau của các thành phần người di cư khác nhau đó gồm:
- Lý do kinh tế: Cuộc sống khổ cực của người dân Việt Nam dưới các
triều đại phong kiến, nhất là dưới vương triều Nguyễn Ngoài ra, cũng có thểnói do mong muốn đổi đời, làm giàu của người Việt Người ra đi phần đa lànông dân, mà đất đai ở Xiêm thì bao la và phì nhiêu; Đó cũng là nguyên nhânlôi cuốn người dân Việt sang sinh sống
Trang 34- Lý do chính trị: Khi đất nước lâm nguy, từ nội chiến đến chiến tranh
xâm lược của ngoại bang, nhiều người Việt Nam tìm cho mình con đườngthoát thân Xứ sở hoà bình là đất lành mà mọi người tìm đến Thái Lan làvùng đất hứa đối với người Việt di cư Đối với những người vì những lí dokhác nhau (bị truy đuổi, bắt bớ, tìm đường cứu nước…), thì Thái Lan là địabàn lí tưởng
- Lý do tôn giáo: Sự phát triển và truyền bá tôn giáo như Phật giáo,
Thiên Chúa giáo đã kéo theo quá trình di cư của tín đồ các tôn giáo, khôngđóng khung trong khuôn khổ phạm vi của lãnh thổ quốc gia của mình, mà cònvượt qua các quốc gia láng giềng khi có cơ hội Ngoài ra, còn có thể kể thêmchính sách “cấm đạo, sát đạo” của vương triều Nguyễn, khiến cho các giáo sĩ
và giáo dân Việt Nam chạy sang Thái Lan
* Nguyên nhân khách quan
- Chính sách của chính phủ Thái Lan
Một vấn đề hết sức quan trọng mà chính phủ Xiêm phải đối mặt trongmột thời gian dài thờì cận đại là việc thiếu nhân công phục vụ cho đồng ángtrong một nước có diện tích rộng lớn và tuyển lính vào quân đội khi có chiếntranh Kể từ thời Ayuthaya, do cuộc chiến tranh với Myanmar và nội chiếngiành ngai vàng liên miên làm cho việc thiếu nhân công càng thêm trầm trọngnên phải nhờ lực lượng người ngoại quốc bù đắp Ngoài ra, nước Xiêm còn cóvấn đề nữa là thiếu nhân lực có chuyên môn cao, nhất là về quân sự
Do đó, có thể nói người Việt là nhu cầu của nước Thái Lan dùng đểtháo gỡ 2 vấn đề nan giải của nước này là: Dùng làm nhân công lao độngtrong trồng trọt, dưỡng đất và dùng để làm các công việc mà người Xiêmchưa thuần thục Trong vấn đề này, ở Nakhon Phanom, cũng như các tỉnhkhác thuộc Đông Bắc Thái Lan còn sử dụng cả người Lào Do phẩm chấtđược đánh giá cao của người Việt và vấn đề thiếu thốn nhân lực làm cho
Trang 35chính phủ Xiêm không phản đối việc cho người Việt đến sinh sống và trởthành công dân Xiêm
Dưới triều đại Prabat Xomdêt Prachomclao, việc thiếu nhân công vẫntiếp tục, lại trùng hợp với việc dân Việt Nam theo đạo Thiên chúa bỏ trốn
sang Xiêm để tránh chủ trương “sát đạo” của vua Tự Đức Vua Xiêm ban
hành chỉ dụ đến các tỉnh miền Đông tổ chức tuần tra, tuyên truyền để ngườiViệt bỏ trốn vào trong biên giới Xiêm để làm ăn, sinh sống: nếu đến Xiêm, họ
sẽ được phép sinh sống, được bảo vệ, không bị đói nghèo Do đó số lượngngười Việt không ngừng tăng lên ở Nakhon Phanom và các tỉnh khác ở Xiêm.Vua giao cho các tỉnh trưởng sắp xếp cho người Việt có được vườn nương,làm ruộng kiếm sống góp phần làm cho đất nước sung túc lên Như vậy, đã cósự chiếu cố cho người Việt được sống chung thành nhóm tín ngưỡng thuộctỉnh biên giới phía Đông Bắc theo ý nguyện
Vào nửa cuối thế kỉ XIX, đế quốc Pháp đang xâm lược Việt Nam vàCampuchia và có động thái uy hiếp Thái Lan thật sự Khi người Việt chạysang nương nhờ vua Thái và được vua cho làm ăn sinh sống trong vươngquốc và vua có chủ trương thu thuế thân giảm đi để thu hút người Việt vàoXiêm nhiều hơn
Trong những năm 1946 đến 1948, Chính phủ do Thủ tướng PridiPhanômyông đã thực thi chính sách giúp đỡ trên tinh thần nhân đạo, như cungcấp quần áo, chăn màn, cấp gạo, lương thực thực phẩm, cấp thuốc men, đồngthời tạo điều kiện để bà con có đất đai sản xuất kể cả tìm kiếm việc làm, như
mở những con đường giao thông giữa tỉnh Nakhol Phanom với tỉnh Sakon…
và một số công việc lao động phổ thông khác để bà con có thể nuôi sống giađình, nhanh chóng ổn định cuộc sống
- Sự gần gũi về mặt địa lý.
Trang 36Thái Lan là nước láng giềng với các nước Đông Dương, chỉ cần 7 ngàyvượt đường rừng đi bộ là có thể đến được vùng Đông Bắc Thái Lan và nơiđây cũng gần với Trung Quốc, là con đường những người yêu nước Việt Nam
có thể đi sang và ngược lại Nakhon Phanom tiếp giáp với Lào, là nước nằmtrong sự cai trị của thực dân Pháp, để trốn tránh sự đàn áp, truy lùng nhiềunhà yêu nước Việt Nam và con cháu của họ đã di cư sang đây một cách thuậnlợi Cũng có thể do vùng NakhonPhanom là nơi xa xôi hẻo lánh của Thái Lan,người Việt di cư có thế dễ dàng tránh được sự chú ý của nhà cầm quyền Thái,
và thường những nơi như thế là địa bàn thuận lợi để hoạt động cách mạngđược bí mật an toàn
Trang 37Cộng đồng người Việt ở Nakhon Phanom chủ yếu được hình thành ởgiai đoạn sau, có lịch sử hình thành và phát triển trong vòng hơn 100 năm vàchịu tác động của những biến cố lịch sử khác nhau Đây là cộng đồng ngườiViệt xa xứ luôn có mối quan hệ gần gũi với quê nhà, luôn giữ được những nétđặc sắc văn hóa Việt, coi đó là nguồn nội lực, là sức mạnh tinh thần để vượtqua những khó khăn, thử thách trong cuộc sống ở xứ người.
Hiện nay, cộng đồng người Việt ở Nakhon Phanom có khoảng gần 20ngàn người với nhiều thế hệ khác nhau đã cố kết thành một khối vững chắc,luôn nêu cao tinh thần đoàn kết, tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau và luôn hướng vềquê hương đất nước
Trang 38Chương 2 THỰC TRẠNG KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ ĐỜI SỐNG VĂN HÓA CỦA CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT Ở NAKHON PHANOM
2.1 Tình hình kinh tế - xã hội
Những người Việt sang cư trú tại Đông Bắc Thái Lan nói chung,Nakhon Phanom nói riêng là những người có ý chí kiên cường, lòng dũngcảm Sau khi vượt được dãy Trường Sơn, qua Lào rồi đặt chân đến NakhonPhanom trong tình cảnh đói rét, hiểm nguy luôn rình rập, kẻ còn người mất,hầu hết bà con người Việt phải dựa vào nhân dân Thái để tạm ổn định cuộcsống ban đầu Vốn siêng năng cần cù, kiều bào không quản ngại làm tất cảmọi công việc như dủi tôm, bắt cá, làm vườn, làm ruộng thuê, đốn củi, gánhnước thuê, chạy hàng xách, thợ may, thợ mộc, làm đường… Sau một vài năm,cùng với sự che chở, cưu mang của nhân dân Thái Lan và bà con Việt kiềusống lâu đời ở đây, những người Việt đã từng bước qua được cơn hoạn nạn,từng bước đi vào ổn định cuộc sống
Cũng từ đây, người Việt bắt đầu xây dựng nên những làng bản củamình Nhiều người cao tuổi kể lại rằng, lúc bấy giờ, Nakhon Phanom cònhoang vu, họ tập trung xây dựng làng có tên là Bạn Khăm Cơm Họ sống ởđây được một thời gian thì bị bệnh dịch tả, một số người bị bệnh chết, số cònlại đã bỏ làng đi tìm chỗ mới để sinh cơ lập nghiệp; một số theo đạo ThiênChúa thì về bám trụ tại làng Noỏng Xẻng; một số khác về lập nghiệp và xâydựng làng Bạn Na, tức là Bạn Narat ngày nay; một số về khai phá lập nghiệp
ở làng Bạn Phựng (còn có tên khác là làng “Cây ong”, lấy theo tên gọi củavùng đất có nhiều cây cổ thụ, nhiều ong về làm tổ) Người đầu tiên đến đấtnày là gia đình Cố Hùng, sau đó Cố Hiêng (con là Cố Khai, cha Cố Lập), ôngTrùm Nghiên cũng đến khai phá đất này Do có công xây dựng làng xóm và
Trang 39phát triển mở mang làm phồn vinh cho địa phương, nên được Nhà nước Tháilúc bấy giờ ban cho Cố Hùng chức vụ là Khủn Đệt Còn các gia đình của CốPhương, Cố Thuyết, Cố Thường, Cố Khoan thì về lập nghiệp và mở mang
khai phá xây dựng “Làng Mới” tiếng Thái gọi là Bản Mạy hay còn gọi là Bản
Na Choọc để chỉ vùng đất hoang vu, nhiều chó sói (Tiếng Thái gọi chó sói là
Mả Chíng Choọc) [49, tr.13].
Vào thời điểm di dân Việt mới đến, Bản Phựng, cũng như Bản Mạy làcánh rừng có nhiều cây cổ thụ, bên cạnh hai làng là các hồ nhỏ, quanh năm cónước, thuận tiện cho việc trồng trọt Gia đình các cố nói trên đã khai phá, chặt
cây, đốn gỗ và xẻ gỗ ra làm “Tụp” (Lán) để ở Bước đầu là trồng khoai, sắn,
đậu sau đó các cố làm nương, rẫy trồng lúa nước và các loại cây ăn quả như:dừa, cau, xoài, mít, khế, Đặc biệt là những loại cây truyền thống của ngườiViệt như trầu cau, chè xanh Hầu hết, vườn nhà ai cũng có một vườn chè,vườn trầu cau,…
Tiếp sau các làng Bản Tốn Phứng và Bản Na Choọc, là sự xuất hiện cáclàng Bản Làn Hảng Quang (tức là Bản Noỏng Nhạt ngày nay), và tiếp đến cácBản Noỏng Bùa, Bản Noỏng Veng, Bản Đoông Xoọc mới hình thành về sau
là bao quanh hồ Noỏng Nhạt
Cũng trong thời kì này, người Việt đã dựng lên những ngôi đền củamình Làng Mạy dựng Đền thờ Đức Đại Vương vào năm Phật lịch 2441, làngBạn Tốn Phứng dựng đền thờ Đức Thánh Hoàng,… Những ngôi đền này đãtrở thành nơi cố kết cộng đồng dân tộc, nơi người Việt bày tỏ tấm lòng, tìnhcảm của mình đối với đất nước bạn cũng như nơi lưu giữ những truyền thốngtốt đẹp của dân tộc [49 tr.15]
Mặc dù có đồng bằng màu mỡ, đất đai phì nhiêu nhưng NakhonPhanom là khu vực kém phát triển của vùng Đông Bắc Thái Lan Hầu hết cácchuyên gia và các nhà nghiên cứu ở Thái Lan đều khẳng định rằng, Nakhon
Trang 40Phanom phát triển được như ngày hôm nay là có công đóng góp rất lớn củaViệt kiều Khi di cư sang đến Nakhon Phanom, cộng đồng người Việt tậptrung nhiều nhất ở các khu vực chính là: khu vực thị xã Nakhon Phanom,huyện Sạ vàng Đen, Huyện Phăng khôn, và huyện Mương Nakhon,… Nhìnchung điều kiện kinh tế của Nakhon Phanom cũng như Đông Bắc Thái Lanvào thời gian này (1946) còn rất nghèo nàn.
Trước khi người Việt tản cư năm 1946 đến Nakhon Phanom, thì tại đây
đã có một cộng đồng người Việt sống lâu đời tại huyện Mương Nakhon.Người Việt tản cư sau năm 1946 gọi những người Việt này là “Việt cũ” Đây
là nơi tập trung đông nhất người Việt theo đạo Thiên chúa Người Việt đãsống ở đây chủ yếu là lớp người từ Việt Nam di cư sang từ thế kỷ XVIII cho
đến trước những năm 1945 Nghề nghiệp chính của họ là: làm nông nghiệp,
đánh bắt cá, kinh doanh, buôn bán nhỏ
Xét về điều kiện kinh tế thì Việt kiều ở huyện Mương Nakhon có mộtmức sống trung bình Tại khu vực này ít, có cơ hội buôn bán, làm giàu vì dân
cư thưa và lại không có ngành nghề chủ đạo Nhưng, khu vực này được bù lại
là có đất đai màu mỡ, hồ nước rộng lớn, nguồn thực phẩm vô cùng phong phú
mà thiên nhiên ban tặng cho họ Những gia đình Việt kiều ở huyện MươngNakhon có người học hành thành đạt, hoặc kinh doanh buôn bán ở các khuvực khác như: khu vực chợ người Việt ở thị xã Na khon, một số gia đình cócon em làm trong các cơ quan hành chính nhà nước của Nakhon Phanom, một
số khác làm việc ở các tỉnh khác hoặc ở thủ đô Băng cốc thì họ thường có đờisống kinh tế khá giả hơn
Thời gian đầu sang Thái, hầu hết người Việt phải dựa vào nhân dânThái và bà con Việt kiều sống lâu đời ở đây Lúc đầu người Việt đến NakhonPhanom, U đon và sau đó tìm đường đến các vùng đất khác như Sakôn, Khỏn