khóa luận, luận văn, thạc sĩ, tiến sĩ, cao học, đề tài
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1 PGS TS Ngô Văn Doanh
2 PGS TS Phạm Quang Hoan
HÀ NỘI – 2013
Trang 3MỤC LỤC
Trang
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ
LÝ THUYẾT, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU, ĐỊA BÀN
NGHIÊN CỨU
8
1.1 Tình hình nghiên cứu 8
1.1.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 8
1.1.2 Tình hình nghiên cứu ở trong nước 12
1.2.1 Một số khái niệm 19
1.2.2 Các cách tiếp cận lý thuyết của đề tài 22
1.2.3 Phương pháp nghiên cứu 29
1.3 Địa bàn nghiên cứu 30
1.3.1 Vài nét về quá trình hình thành cộng đồng người Việt ở
Đông Bắc Thái Lan
32
1.3.2 Khái quát về Cộng đồng người Việt ở tỉnh Sakôn
Nakhon
36
1.3.2.1 Đôi nét về tỉnh Sakôn Nakhon 36
1.3.2.2 Cộng đồng Người Việt ở tỉnh Sakôn Nakhon 37
CHƯƠNG 2 ĐỜI SỐNG VĂN HÓA TINH THẦN CỦA CỘNG
ĐỒNG NGƯỜI VIỆT Ở TỈNH SAKÔN NAKHON HIỆN NAY
47
2.1 Sự hiện diện của văn hóa tinh thần 47
2.1.1 Trong công trình công cộng 47
2.1.2 Trong trang trí nhà cửa 50
Trang 42.1.4 Trong ăn uống 56
2.2 Giáo dục truyền thống, bảo tồn tiếng Việt 59
2.3 Việc thực hành các khía cạnh văn hoá tinh thần 64
2.3.2 Phong tục tang ma 72
2.3.3 Các phong tục lễ tết trong năm 76
2.3.4.3 Tín ngưỡng thờ cúng ông bà tổ tiên và các anh hùng dân tộc
83
2.4.1 Trong gia đình và Cộng đồng 85
2.4.2 Với chính quyền Thái 85
2.4.3 Với người Thái địa phương 87
2.4.4 Với người Việt trong nước 88
CHƯƠNG 3 BIẾN ĐỔI VÀ HỘI NHẬP VĂN HÓA CỦA CỘNG
ĐỒNG NGƯỜI VIỆT Ở SAKÔN NAKHON
91
3.2 Hội nhập với các phong tục của người Thái 99
3.2.1 Về phong tục hôn nhân 99
3.4.1.Tác động của các chính sách Thái Lan 116
3.4.2 Yếu tố nội sinh (bên trong cộng đồng) 120
Trang 53.4.3 Yếu tố ngoại sinh (bên ngoài cộng đồng) 123
3.4.4 Tác động của toàn cầu hóa 126
3.5 Một số so sánh về văn hóa tinh thần của Việt kiều Sakôn Nakhon với các tỉnh khác của Đông Bắc Thái Lan và ở Lào
127
CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN 132
Một số kiến nghị 149
Các công trình đã công bố liên quan đến luận án 151
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong những năm gần đây, Đảng và nhà nước ta luôn quan tâm đến cộng
đồng người Việt Nam đang sinh sống ở nước ngoài Mặc dù sống ở nước ngoài,
nhưng người Việt vẫn mang trong mình tinh thần văn hóa dân tộc, họ chính là những người đại diện quảng bá văn hóa và hình ảnh đất nước Việt Nam đến với
bè bạn Quốc tế
Hiện nay việc nghiên cứu về cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài là một trong những nhiệm vụ quan trọng của nhà nước ta, nhằm mục đích tìm hiểu được những tâm tư nguyện vọng của Cộng đồng người Việt Nam đang sinh sống
ở nước ngoài để nhà nước có những chính sách thích hợp hơn đối với Kiều bào Hiện có khoảng trên 4 triệu người Việt đang sinh sống ở trên 100 quốc gia khác nhau trên thế giới, trong đó ở Thái Lan có khoảng trên 110.000 người
Tìm hiểu, nghiên cứu văn hoá tinh thần của cộng đồng người Việt Nam ở tỉnh Sakôn Nakhon nói riêng và Thái Lan nói chung, nhằm góp phần thực hiện tốt nhất chủ trương của Việt Nam đối với chính sách Việt Kiều trong tình hình mới hiện nay Ngoài ra, việc nghiên cứu này còn góp phần và vào việc giữ vững bản sắc văn hoá tốt đẹp của con người Việt Nam, như trong Báo cáo chính trị
Đại hội toàn quốc lần thứ IX của Đảng cộng sản Việt Nam đã nêu: “Cộng đồng
người Việt Nam ở nước ngoài là một bộ phận không tách rời và là một nguồn lực của cộng đồng dân tộc Việt Nam Mọi người Việt Nam, không phân biệt dân tộc, tôn giáo, nguồn gốc xuất thân, địa vị xã hội, lý do ra nước ngoài, mong muốn góp phần thực hiện mục tiêu chung:độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, một nước Việt Nam giàu mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh" (Trích
Nghị quyết số 36- NQ/TW của Bộ chính trị ban hành ngày 26/3/2004 về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài)
Trang 7Việc nghiên cứu về văn hóa của người Việt ở Thái Lan còn đưa ra những gợi ý, kiến nghị với nhà nước nhằm đưa ra những chính sách thích hợp trong việc gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa truyền thống của người Việt Nam ở nước ngoài, để bản sắc văn hóa truyền thống ấy trở thành động lực cho sự đoàn kết cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài với người Việt trong nước
Trong lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc Việt Nam, Thái Lan cũng từng
là mảnh đất lý tưởng cho người Việt Nam sang sinh sống và hoạt động cách mạng cứu nước Đợt di cư đông đảo nhất của người Việt đến Thái Lan vào năm 1945-1946 Nguyên nhân chính là sau khi Pháp quay trở lại tái chiếm Đông Dương, những người Việt đang sinh sống ở Viêng Chăn, Thà Khẹc và một số nơi khác, đã đoàn kết cùng nhân dân Lào chiến đấu chống lại Thực dân Pháp Cuộc chiến đấu đã bị thất bại, dẫn đến hàng chục ngàn người Việt đã phải vượt sông Mê kông sang các tỉnh vùng Đông Bắc, Thái Lan lánh nạn (trong đó có tỉnh Sakôn Nakhon)
Tỉnh Sakôn Nakhon là một trong số 7 tỉnh Đông Bắc có người Việt sinh sống, không có đường biên giới tiếp giáp với Lào, nằm ở vị trí trung tâm giữa các tỉnh có người Việt Số lượng người Việt xếp vào loại trung bình so với các tỉnh, ngoài ra còn là nơi chủ tịch Hồ chí Minh đã đến hoạt động cách mạng và lập trường học cho con em Việt kiều trong những năm đầu thế kỷ XX
Trong thời gian sinh sống tại Sakôn Nakhon cũng như ở các tỉnh Đông Bắc Thái Lan, Cộng đồng người Việt đã hết lòng đoàn kết ủng hộ nước nhà trong suốt hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ Sakôn Nakhon cũng
là tỉnh đầu tiên được phép của chính phủ Thái Lan cho thành lập Hội người Việt Nam vào năm 2007 Gần đây, vào đầu năm 2013, Hội Việt Kiều tại Thái Lan được Chính phủ Thái Lan cho phép thành lập Tổng Hội người Việt Nam tại Thái Lan và cũng đặt trụ sở tại đây
Cộng đồng người Việt ở Sakôn Nakhon cũng là một trong những cộng đồng có tính cần cù, sáng tạo trong kinh doanh Việt Kiều Sakôn Nakhon có
Trang 8trình độ giáo dục cao, và mức thu nhập kinh tế được xếp vào loại cao so với Việt Kiều ở các tỉnh khác của Thái Lan Trong lĩnh vực văn hóa, người Việt thế hệ thứ nhất và thứ hai vẫn nỗ lực hết mình trong việc bảo lưu nền văn hóa truyền thống, đặc biệt trong vấn đề về văn hóa ẩm thực, ngôn ngữ (tiếng Việt), thờ cúng ông bà tổ tiên và trong nghi lễ tang ma Nhưng kể từ thế hệ thứ ba trở đi đã dần biến đổi và hội nhập vào văn hóa Thái ngày nhanh chóng (đặc biệt thể hiện qua việc sử dụng tiếng Việt ngày một giảm đi)
Vì vậy nghiên cứu về văn hóa tinh thần của trường hợp Cộng đồng người Việt ở tỉnh Sakôn Nakhon, Thái Lan nhằm tìm hiểu những nét sinh hoạt văn hóa tinh thần trong đời sống hàng ngày, còn tìm hiểu thêm và lý giải về nguyên nhân dẫn đến quá trình vừa bảo tồn văn hóa truyền thống Việt vừa biến đổi, hội nhập vào dòng chảy văn hóa xã hội Thái Thông qua đó còn tìm hiểu thêm về các chính sách của Thái Lan đối với Cộng đồng người Việt qua các thời kỳ, tình hình giáo dục và địa vị kinh tế xã hội của người Việt Nam ở Thái Lan Ngoài ra, thông qua tìm hiểu về văn hóa cộng đồng người Việt tại Thái Lan còn nhằm hiểu biết hơn về văn hóa Thái Lan và đây là một trong những nhân tố quan trọng trong việc góp phần củng cố và làm tăng mối tình hữu nghị giữa hai nước
Trước những vấn đề đặt ra và yêu cầu mới của Đảng và nhà nước ta hiện nay đối với Cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, thì rất cần có những công trình cụ thể nghiên cứu chuyên sâu về văn hóa của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài Ở trong nước vấn đề nghiên cứu về văn hóa tinh thần của Cộng đồng người Việt nam ở nước ngoài còn khá khiêm tốn, hầu như chưa có công trình nào đi sâu vào tìm hiểu nghiên cứu trường hợp cụ thể nào ở Thái Lan, mà chỉ dưới dạng bài báo, hồi ký Bên cạnh đó, với quan tâm sâu sắc của Đảng và Nhà nước tới cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài hiện nay, nên tôi mạnh
dạn chọn đề tài tìm hiểu nghiên cứu về Đời sống văn hóa tinh thần của cộng đồng người Việt ở Đông Bắc Thái Lan (Trường hợp tỉnh Sakôn Nakhon)
Trang 9
2 Mục đích nghiên cứu
Để thực hiện đề tài Đời sống văn hóa tinh thần của Cộng đồng người Việt
ở nước ngoài, thông qua trường hợp nghiên cứu Cộng đồng người Việt ở tỉnh Sakôn Nakhon Thái Lan, đề tài tập trung vào nghiên cứu tìm hiểu một số mục tiêu cơ bản sau:
- Tìm hiểu về một số nét sinh hoạt văn hoá tinh thần trong đời sống hàng ngày của Cộng đồng người Việt tại tỉnh Sakôn Nakhon
- Tìm hiểu những quá trình bảo lưu văn hóa truyền thống và biến đổi và hòa nhập văn hóa của Cộng đồng người Việt vào xã hội Thái
- Tìm hiểu những nguyên nhân chính tác động đến sự bảo lưu và biến đổi, hội nhập văn hóa của Cộng đồng người Việt tại tỉnh Sakôn Nakhon, Thái Lan
- Nêu ra những tâm tư và nguyện vọng của các thế hệ Việt Kiều về đời sống văn hóa tinh thần của mình, cung cấp cho Đảng và Nhà nước những cứ liệu khoa học, nhằm đưa ra những chính sách thích hợp nhằm bảo tồn phát huy bản sắc văn hóa của Cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài
3 Đối tượng, phạm vi và địa bàn nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là đời sống văn hóa tinh thần của
“Cộng đồng người Việt” hay “Việt Kiều” đang sinh sống tại tỉnh Sakôn Nakhon,
Thái Lan, nghĩa là những người Việt đã di cư sang sinh sống nhiều năm ở Thái Lan (bao gồm những người đã hoặc chưa được nhập quốc tịch Thái), mà phần lớn trong số họ đã di cư sang sinh sống tại Thái Lan từ những năm 1975 trở về trước) Cộng đồng người Việt được đề cập đến trong luận án là người Việt (tộc người Việt) trong Cộng đồng 54 dân tộc Việt Nam Văn hóa là một phạm trù rộng lớn, nên trong khuôn khổ của một đề tài luận án nghiên cứu về văn hóa tinh thần, chúng tôi chỉ tập trung vào những mặt văn hóa tinh thần nổi trội của Cộng đồng người Việt ở Sakôn Nakhon trong quá trình bảo lưu, gìn giữ và biến đổi,
hội nhập vào văn hóa xã hội Thái: Về sử dụng ngôn ngữ; Phong tục cưới hỏi;
Trang 10Phong tục tang ma; Tôn giáo tín ngưỡng; Văn hóa ứng xử; Và những yếu tố tác động đến vấn đề bảo lưu và biến đổi văn hóa ấy
Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi về không gian: Chủ yếu tập trung khảo sát tìm hiểu, nghiên cứu
Cộng đồng người Việt Nam đang sinh sống tại khu vực Huyện Mương và khu vực Thết sạ ban (trung tâm) thành phố Sakôn, tỉnh Sakôn Nakhon, Thái Lan
Phạm vi về thời gian: Tìm hiểu nghiên cứu Cộng đồng người Việt tản cư
từ sau năm 1945 đến hiện nay đang sinh sống tại thành phố Sakôn Nakhon, Thái Lan (Tiến hành nghiên cứu văn hóa của Cộng đồng người Việt từ năm trong khoảng thời gian từ năm 2000 đến 2012)
Địa bàn nghiên cứu: Được chúng tôi khảo sát nghiên cứu tại huyện
Mương Amphor Mương và khu vực quận Thết sạ ban (trung tâm của thành phố Sakôn) với ba lý do: Thứ nhất, Thành phố Sakôn là nơi tập trung Việt Kiều đông nhất của tỉnh nhất của tỉnh Thứ hai: Sakôn là nơi được mở Trung tâm Việt Nam
học đầu tiên, Hội người Việt Nam đầu tiên tại Thái Lan và có trụ sở Tổng hội
người Việt Nam tại Thái Lan Thứ ba: Việt Kiều ở Sakôn chịu khó, tiết kiệm,
làm kinh doanh giỏi nên có điều kiện kinh tế khá nhất so với các tỉnh khác có người Việt cư trú ở Đông Bắc Thái Lan Thế hệ Việt Kiều Sakôn thứ nhất cũng luôn có những hoạt động tích cực trong việc trong việc bảo lưu giữ gìn văn hóa,
và phần lớn thế hệ này đều là Việt Kiều yêu nước
4 Nguồn tư liệu của luận án
Nguồn tư liệu để hoàn thành luận án chủ yếu là tài liệu điền dã do chúng tôi thu thập tại địa bàn nghiên cứu tại Huyện Mương và khu vực Thết sạ ban, thành phố Sakôn Nakhon, Thái Lan Đó là kết quả của các cuộc phỏng vấn, phỏng vấn sâu, trao đổi, thảo luận với các thế hệ Việt Kiều và các nhà nghiên cứu là người bản địa nghiên cứu về Cộng đồng người Việt tại Thái Lan
Trang 11Tác giả đã thực hiện 4 chuyến điền dã thực địa, được bố trí vào các thời gian khác nhau để đảm bảo có cái nhìn tổng quát về các sự kiện sinh hoạt văn hóa tinh thần của Cộng đồng người Việt trong 3 năm gần đây Bên cạnh đó còn
sử dụng tư liệu trong những chuyến điền dã trong từ năm 2000, cùng với 3 chuyến điền dã trong thời gian viết luận văn thạc sĩ từ năm 2005 đến 2008 Vì đây là đề tài nghiên cứu còn mới, nên thông tin điền dã qua những đợt phỏng vấn điều tra là những nguồn tài liệu rất quan trọng để hoàn thành luận án này
Ngoài nguồn tư liệu điền dã chúng tôi còn dựa trên các tài liệu nghiên cứu
về Việt Kiều tại Thái Lan được xuất bản bằng ba thứ tiếng: tiếng Việt, tiếng Thái
và tiếng Anh
Nguồn tài liệu bằng tiếng Việt dựa trên một số văn bản, Nghị định, chính sách chính thức của Bộ ngoại giao Việt Nam, Ủy ban người Việt Nam ở nước ngoài, Tạp chí Quê hương online Các sách, các bài viết đã công bố trên các tạp chí, công trình đề tài nghiên cứu về người Việt ở Thái Lan đã được xuất bản công bố trong nước
Nguồn tài liệu bằng tiếng Thái và tiếng Anh được dựa trên các công trình, luận án đã xuất bản tại Thái Lan, một số văn bản chính sách của Thái đối với Cộng đồng người Việt mà tác giả đã thu thập ở một số thư viện các trường đại học lớn của Thái Lan như Đại học Chulalongkorn, Đại học Thammasat, Đại học Chiang Mai, Đại học Khỏn Kèn, Đại học Mahasarakham, Đại học Rajabat Sakôn Nakhon
5 Đóng góp của luận án
Thông qua nghiên cứu trường hợp cụ thể về văn hóa tinh thần, quá trình bảo lưu, biến đổi và hội nhập văn hóa của một Cộng đồng người Việt di cư sang Thái Lan, chúng tôi hy vọng luận án sẽ có một số những đóng góp mới sau:
Trang 12- Là công trình đầu tiên tập hợp và hệ thống hóa tư liệu một cách đầy đủ
và chuyên sâu về đời sống văn hoá nói chung của Cộng đồng người Việt đang sinh sống ở tỉnh Sakôn Nakhon, vùng Đông Bắc Thái Lan
- Là công trình đầu tiên đi sâu mô tả phân tích những khía cạnh về văn hóa tinh thần thông qua các hoạt động về bảo lưu, biến đổi và hội nhập tiếp xúc với văn hóa Thái để hòa nhập vào xã hội Thái của người Việt ở Sakôn Nakhon
- Qua phân tích về những nét bảo lưu, hội nhập văn hoá và những mong muốn của Việt Kiều tỉnh Sakôn Nakhon, hy vọng luận án sẽ phần nào đóng góp giúp cho Đảng nhà nước có những chính sách thích hợp để góp phần bảo tồn và phát huy văn hoá tinh thần của Cộng đồng người Việt Nam ở tỉnh Sakôn Nakhon nói riêng và Thái Lan nói chung
- Những nghiên cứu trong luận án sẽ là cứ liệu tin cậy để tham khảo cho các công trình nghiên cứu tiếp theo về Cộng đồng người Việt ở nước ngoài sau này
6 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận án gồm 4 chương
Chương 1 Tổng quan về tình hình nghiên cứu, cơ sở lý thuyết,
phương pháp nghiên cứu, địa bàn nghiên cứu
Chương 2 Đời sống văn hóa tinh thần của Cộng đồng người Việt ở
tỉnh Sakôn Nakhon hiện nay
Chương 3 Biến đổi và hội nhập văn hóa của Cộng đồng người Việt ở
Sakôn Nakhon
Chương 4 Kết quả và bàn luận
Trang 13CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU,
CƠ SỞ LÝ THUYẾT, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU,
ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 1.1 Tình hình nghiên cứu
Chủ trương của Đảng và nhà nước ta luôn coi Cộng đồng người Việt Nam
ở nước ngoài là một bộ phận không thể tách rời của dân tộc Việt Nam Vì vậy
nhà nước đã có nhiều chương trình nghiên cứu về Cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài nhằm đưa ra những chính sách thích hợp để bảo tồn và phát huy văn hóa của người Việt Nam ở nước ngoài, đặc biệt là đối với Việt Kiều ở các nước Đông Nam Á như Thái Lan, Lào, Campuchia
Cộng đồng người Việt Nam ở Thái Lan đã được nhiều học giả Việt Nam, Thái Lan và các học giả quốc tế quan tâm nghiên cứu từ lâu Đặc biệt, trong những năm gần đây, có nhiều công trình nghiên cứu khoa học đã công bố rất đáng chú ý về quá trình di cư, địa vị chính trị, đời sống kinh tế văn hóa, và tổ chức xã hội của Cộng đồng người Việt ở Thái Lan Nhưng cho đến nay, trong lĩnh vực về nhân học văn hóa vẫn chưa có một công trình nào tập trung đi sâu vào tìm hiểu nghiên cứu chuyên biệt về quá trình bảo lưu, hội nhập và biến đổi văn hoá của một Cộng đồng người Việt điển hình ở Thái Lan
1.1.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Việc nghiên cứu Cộng đồng người Việt ở Thái Lan đã được các học giả người phương Tây như Pháp, Mỹ và các học giả là người Thái Lan nghiên cứu
từ rất sớm Các công trình nghiên cứu của các học giả nước ngoài chủ yếu tập chung vào địa vị thân thế, hoàn cảnh nhập cư và các chính sách của Thái Lan đối với người Việt sinh sống tại Thái Lan
Trang 14Công trình nghiên cứu nghiên cứu cơ bản đáng chú ý nhất về người Việt ở
Thái Lan đầu tiên được xuất bản năm 1970, Vietnamese in Thailand (Người Việt
ở Thái Lan) của Peter A Poole đã miêu tả, phân tích khá đầy đủ và tổng quát về
người Việt Nam từ những năm đầu di cư sang đất Thái, chủ yếu là thế hệ Việt Kiều tản cư sang Thái năm 1946 Tác giả đã phân tích khá sâu về thái độ phản ứng, các chính sách của Thái Lan đối với Việt Kiều và phản ứng của Việt Kiều đối với chính phủ Thái Lan Công trình này chủ yếu phân tích trên quan điểm chính trị về địa vị người Việt Nam ở nước ngoài chứ chưa tập trung nghiên cứu
về đời sống văn hóa của Việt Kiều
Tiếp theo đó là luận án tiến sĩ của người Thái là Vichan Champsari tại
Khoa Chính trị Trường Đại học Thamasat vào năm 1973 là Người Việt Nam tản
cư và an ninh của Thái Lan (Khôn Duôn ộp pa dốp lé khoam măn không khỏng Thái) được xuất bản bằng tiếng Thái Tác giả đã dành nhiều thời gian đề cập đến
lịch sử di cư của người Việt chủ yếu từ trước chiến tranh thế giới thứ hai, nguyên nhân của người Việt di cư đến đất Thái vào giai đoạn sau chiến tranh thế giới thứ hai, phân tích vai trò của chủ tịch Hồ Chí Minh trong việc đấu tranh giải phóng dân tộc và đối với Thái Lan Công trình này chủ yếu đề cập sâu đến các chính sách quản lý của Thái Lan đối với Cộng đồng người Việt tản cư trên đất Thái qua các thời kỳ cho đến những năm 1970, đến việc tiến hành cho hồi hương người Việt Nam tị nạn về miền Bắc Việt Nam trong những năm 1960 Mặc dù công trình cũng đã phân tích đến một số nét văn hóa, tôn giáo, phong tục của Cộng đồng người Việt, nhưng chỉ hạn chế ở một số trang và chủ yếu nói đến văn hóa truyền thống của người Việt trước những năm 1970 Nhìn chung, đây là một công trình có giá trị cao trong việc nghiên cứu về địa vị chính trị của Việt Kiều Thái Lan tản cư sau năm 1945
Công trình bằng tiếng Thái Người Việt ở Thái Lan của tác giả Pussadee
Chandavimol (được Quỹ nghiên cứu Thái Lan hỗ trợ đầu tư) đã được xuất bản năm 1999 Đây cũng là công trình nghiên cứu tương đối đầy đủ về lịch sử hình
Trang 15thành Cộng đồng Việt tại Thái Lan và các chính sách của nhà nước Thái đối với Việt Kiều Nhưng, nhìn chung, công trình này cũng chỉ đưa ra được một số nét
về văn hóa của Cộng đồng người Việt tại Thái Lan trước năm 1945 Tác giả chỉ tập trung nghiên cứu về đời sống Cộng đồng người Việt di cư từ trước đây (người Việt cũ) đang sinh sống ở Băng Cốc
Trong tác phẩm bằng tiếng Thái khác Trường hợp nghiên cứu gia đình
người Việt của Ngamphit Satsanguon, Khoa Chính trị trường Đại học
Chulalongkorn xuất bản năm 2002 Đây là một công trình nghiên cứu khoa học rất công phu, nhưng chủ yếu phân tích về cấu trúc về gia đình của người Việt tại Cộng đồng Sảm Sẻn ở Băng cốc, một Cộng đồng Việt Kiều ở đây đã du nhập vào Thái Lan từ thế kỷ XVIII (thời kỳ Rama III) Đây là một công trình nghiên cứu khoa học được đánh giá cao về gia đình người Việt ở Băng Cốc, vì vậy nó cũng gợi mở hữu ích cho các công trình nghiên cứu về người Việt ở Thái Lan sau này
Một công trình nghiên cứu khác cũng nghiên cứu khá chi tiết về người
Việt ở Thái Lan bằng tiếng Thái đó là Ngôi làng Hữu nghị Thái Việt, Làng
Nachooc: Quá khứ và hiện tại của Artha Nantachukra Trong công trình, tác giả
đã phân tích sâu về lịch sử hình thành Cộng đồng, đời sống văn hoá xã hội, phong tục tập quán của Cộng đồng người Việt sinh sống lâu đời trên mảnh đất bản Nachooc thuộc tỉnh Nakhon Phanôm Vì công trình chỉ nghiên cứu trường hợp của một làng cụ thể (đây là một trong những ngôi làng thuần Việt nhất trên đất Thái hiện nay) và Cộng đồng người Việt ở ngôi làng này đã di cư đến Thái Lan từ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, nên công trình chưa đại diện cho các nghiên cứu về Cộng đồng người Việt di cư từ sau 1946
Một công trình nghiên cứu khác liên quan trực tiếp đến người Việt ở Sakôn Nakhon và cũng là công trình tập thể, do Trung tâm nghiên cứu về Việt
Nam của trường Đại học Rajabat Sakôn Nakhon thực hiện là: Chương trình thu
thập thông tin về dân số người Việt Nam tại tỉnh Sakôn Nakhon và đặc điểm tộc
Trang 16người Việt Nam tỉnh Sakôn Nakhon Công trình nghiên cứu hoàn thành và được
xuất bản bằng tiếng Thái vào năm 2002 Đây là một công trình đầu tiên, đầy đủ nhất nghiên cứu về đặc điểm dân cư và thống kê tương đối đầy đủ về số lượng, giới tính, độ tuổi của người Việt sống tại từng huyện trong tỉnh Sakôn Nakhon Công trình cũng dành khoảng trên 10 trang điểm qua về các nét văn hoá và phong tục đời sống của Việt Kiều tại Sakôn Nakhon
Năm 2006, Thanyathip Sripana, giảng viên khoa Chính trị trường Đại học
Chulalongkorn đã cho xuất bản công trình Việt Kiều Thái Lan trong mối quan hệ
Thái Lan -Việt Nam Cuốn sách tập trung viết về vai trò của Việt Kiều trong mối
quan hệ Việt Nam - Thái Lan Có thể nói, đây là một công trình nghiên cứu quy
mô và đầy đủ nhất từ trước đến nay về Việt Kiều Thái Lan Tác giả đã tiếp cận được rất nhiều nguồn tài liệu của cả hai nước và dành ra nhiều thời gian để phân tích rõ các vấn đề: Quá trình di cư của người Việt sang đất Thái, vai trò của người Việt trong mối quan hệ ngoại giao giữa hai nước Việt Nam và Thái Lan, phong trào yêu nước của Việt Kiều, các chính sách của chính phủ Thái đối với Việt Kiều, những hoạt động trong đời sống kinh tế - văn hoá xã hội của người Việt (kể cả những người Việt đã từng sống ở Thái Lan và hồi hương về nước) Trong công trình, có một chương về đời sống văn hóa của Việt Kiều ở Thái Lan
và Việt Kiều đã hồi hương về Việt Nam (từ trang 278–314) Tuy nhiên, vì là công trình nghiên cứu Việt Kiều trong mối quan hệ Việt Nam-Thái Lan, nên trong phần viết về văn hóa của Việt Kiều, tác giả chỉ đề cập tới một cách khái quát, chứ chưa đi sâu vào nghiên cứu chi tiết các phong tục văn hoá trong đời sống của Việt Kiều
Trong năm 2006, một tác giả người Thái khác là Sukprida Phanomdong
cũng đã xuất bản cuốn Hồ Chí Minh – Ông Tiên sống mãi Tác giả đã dành một
chương từ trang 47- 60 để viết về thời gian Bác Hồ lưu lại hoạt động cách mạng
ở Đông Bắc Thái Lan (trong đó có Sakôn Nakhon) trên con đường đi tìm đường cứu nước Trong cuốn sách, tác giả đã đề cập tới tấm gương hoạt động cách
Trang 17mạng và nhân cách của Hồ Chủ tịch, mối quan hệ giữa Việt Kiều với Bác Hồ và giữa Bác Hồ với Việt Kiều trong thời gian hoạt động cách mạng ở Thái Lan, chứ không mô tả về văn hoá Cộng đồng Việt ở Thái Lan
Ngoài ra, còn một số bài viết của tác giả là người Thái về Việt Kiều, nhưng chủ yếu nghiên cứu về lịch sử di cư, đời sống chính trị chứ chưa tập trung
nghiên cứu sâu về đời sống văn hóa của Việt Kiều Các bài viết nổi bật như Bao
giờ người Việt Nam được nhập quốc tịch Thái của tác giả Thanyathip Sripana
đăng trên tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, năm 2004; bài viết Làng hữu nghị
Nachooc của tác giả Artha Nantachukra, Trường Đại học Mahasarakham tại hội
thảo 30 năm quan hệ ngoại giao Việt Nam-Thái Lan do Viện nghiên cứu Đông Nam Á tổ chức
Gần đây nhất vào năm 2010, có chương trình phim thời sự “Phăn sẻng
rúng” (Một nghìn cầu vồng) thuộc Kênh truyền hình Thái Lan (Thai PBS), một
chương trình giới thiệu về các nét văn hóa, lễ hội, tôn giáo của các tộc người ở Thái Lan và các nước láng giềng Loạt phim này đã sản xuất 4 tập phim về đời sống văn hóa hàng ngày của Việt Kiều ở vùng Đông Bắc Thái Lan Trong 4 tập phim, các nhà làm phim đã đi sâu vào phỏng vấn nhiều thế hệ Việt về văn hóa
ẩm thực, nghi lễ thờ cúng ông bà tổ tiên, phong tục ngày lễ, Tết, và sử dụng tiếng Việt của Việt Kiều
1.1.2 Tình hình nghiên cứu ở trong nước
Trong công trình của Trần Trọng Đăng Đàn Người Việt Nam ở nước
ngoài xuất bản năm 1997, cũng có đánh giá tổng quan về người Việt ở Thái Lan
Ngoài ra, gần đây, tác giả còn xuất bản cuốn Người Việt Nam ở nước ngoài
không chỉ có “Việt Kiều” (năm 2005) Tác giả chủ yếu đề cập đến vấn đề tên gọi
tổ chức, hoạt động của Việt Kiều tại Thái Lan Một công trình khác có tên là Việt
Kiều Lào - Thái với quê hương của Trần Đình Riên xuất bản năm 2005, cũng tập
trung nghiên cứu phân tích sâu vào đời sống và những hoạt động của kiều bào đối với quê hương đất nước cũng như những năm tháng gian nan vất vả của
Trang 18Cộng đồng Việt Kiều Lào-Thái và tình cảm đặc biệt của họ dành cho quê hương, chứ không tập trung nghiên cứu sâu về đời sống văn hoá của Việt Kiều Tác giả
Trần Ngọc Danh đã viết cuốn Bác Hồ ở Thái Lan năm 1999 Cuốn sách đã ghi
chép lại những mẩu chuyện về cuộc đời hoạt động của Bác Hồ tại Thái Lan và những ảnh hưởng lớn của Bác tới Việt Kiều Thái Lan (từ nhân cách văn hóa, sinh hoạt hàng ngày đến tư tưởng chính trị, tinh thần yêu nước) trong những năm
30 của thế kỷ XX
Năm 2006, Nguyễn Quốc Lộc đã xuất bản công trình “Người Việt ở Thái
Lan–Campuchia-Lào” Công trình đã khái quát bức tranh của Cộng đồng người
Việt ở 3 nước Tác giả dành một chương nói về Người Việt ở Thái Lan, phân tích
tương đối kỹ về quá trình di cư và đời sống của Cộng đồng người Việt ở Thái qua các thời kỳ từ thế kỷ XVI đến đầu thế kỷ XIX; Đầu thế kỷ XX đến 1945; từ
1945 đến 1975; từ 1975 đến nay Trong giai đoạn từ 1945 đến 1975, tác giả phân tích về các tổ chức cách mạng, quá trình hoạt động cách mạng và các cuộc hồi hương của Việt Kiều trong những năm 1960 Trong giai đoạn từ 1975 đến nay, chủ yếu phân tích về quan hệ ngoại giao giữa hai nước, về phân bố dân cư và các hoạt động kinh tế, văn hóa của Việt Kiều Trong đó, tác giả đã phân tích khá nhiều về văn hóa của Việt Kiều ở Thái Lan (14 trang): đó là về văn hóa gia đình, các ngày lễ tết, thờ cúng tổ tiên, tang ma, các công trình văn hóa vật thể như chùa chiền trên đất Thái, và giáo dục ngôn ngữ
Có thể nói đây là công trình nghiên cứu tương đối khái quát về Cộng đồng người Việt, từ khi bắt đầu di cư đến Thái Lan cho đến hiện nay Công trình đã đề cập tương đối nhiều về văn hóa của Việt Kiều như phân tích về một số công trình kiến trúc chùa chiền của người Việt xây dựng từ thế kỷ trước ở Băng cốc Trong khi đó, phần lớn người Việt tản cư sinh sống ở Đông Bắc Thái Lan là từ sau giai đoạn 1945 đến nay Mặc dù phần nghiên cứu về văn hóa của Cộng đồng người Việt chưa được đầy đủ nhưng nhìn chung đây là một công trình nghiên
Trang 19cứu tương đối sâu về đời sống của người Việt tại Thái Lan và có giá trị tin cậy cho các công trình nghiên cứu về người Việt ở Thái Lan
Cuốn sách Người Việt ở Thái Lan 1910-1960 do Nguyễn Văn Khoan chủ
biên, xuất bản năm 2008, bao gồm tập hợp 45 bài viết của nhiều tác giả là những người đã từng hoạt động tại Thái Lan, và nghiên cứu về Thái Lan (có cả một số bài viết của các tác giả là người Thái Lan) Các bài viết nói về nhiều khía cạnh: lịch sử, văn hóa, chính trị… của Việt Kiều Thái Lan từ năm 1910 đến năm 1960
Các nội dung liên quan chủ yếu đến Việt Kiều như: Kiều bào ta ở Thái Lan
hướng về tổ quốc; Việt Kiều ở Thái Lan trong những năm 1945-1947; Việt Kiều Thái Lan từ 1964 đến nay; Người Việt Nam ở Thái Lan: Cầu nối văn hóa trong quan hệ Thái Việt; Việt Kiều trên đất Thái Lan…Nhìn chung, các bài viết rất đa
dạng chủ yếu được viết dưới dạng ghi chép những hồi ức, nội dung đều nói về đời sống của Việt Kiều trong quá khứ, phong trào yêu nước, đời sống kinh tế, văn hóa, tình đoàn kết hữu nghị, quan hệ ứng xử với nhân dân Thái Trong 45 bài viết, chủ yếu các tác giả tập trung vào viết lại những kỷ niệm khi mới đầu sang Thái sinh sống và quá trình hoạt động cách mạng mà chưa có bài viết nào phân tích sâu về đời sống văn hóa của Việt Kiều Trong tập hợp này đáng chú ý
có bài viết Người Việt Nam ở Thái Lan: Cầu nối văn hóa trong quan hệ Thái-
Việt của Thanyathip tác giả đã phân tích tương đối kỹ đến vai trò của văn hóa
của Cộng đồng người Việt tại Thái Lan, trong mối quan hệ Thái Lan- Việt Nam
và quá trình gìn giữ văn hóa của Cộng đồng người Việt trên đất Thái Nhưng bài viết còn ở mức độ khiêm tốn (chưa đầy 2 trang)
Bài viết về Việt Kiều ở tỉnh Sakon Nakhon Đời sống của Cộng đồng
người Việt tại tỉnh Sakôn Nakhon của Nguyễn Hồng Quang đăng trên tạp chí
Nghiên cứu Đông Nam Á số 4/2004, đã miêu tả, đánh giá tìm hiểu một số nét cơ bản nhất của Việt Kiều đang sinh sống tại tỉnh Sakôn Nakhon như về quá trình di
cư của người Việt và hình thành Cộng đồng người Việt ở Sakôn Nakhon, về đời sống kinh tế văn hóa, giáo dục, vấn đề sử dụng ngôn ngữ, và ảnh hưởng của các
Trang 20chính sách của Thái đến Cộng đồng Việt Kiều ở đây và những nguyện vọng tâm
tư của Việt Kiều, thái độ của chính quyền Thái đối với Cộng đồng người Việt tại Sakôn Nakhon Tác giả đã đưa ra những nghiên cứu bằng phương pháp điền dã quan sát và phỏng vấn sâu, nên đã có được những thông tin cụ thể về một Cộng đồng người trong một tỉnh ở Đông Bắc Thái Lan Mặc dù vậy, bài viết cũng chỉ nghiên cứu một cách tổng quát về kinh tế, văn hóa xã hội của Cộng đồng người Việt ở Sakôn Nakhon Bài viết chưa tập trung nghiên cứu sâu về các vấn đề diễn biến và những tác động chính đến các hoạt động sinh hoạt văn hóa hàng ngày của Cộng đồng người Việt ở đây
Trong bài viết khác Quá trình bảo lưu và hội nhập văn hóa của người Việt
ở Đông Bắc Thái Lan của Nguyễn Hồng Quang đăng trên tạp chí Nghiên cứu
Đông Nam Á số 5/ 2011, cũng đã khái quát cơ bản về sự hình thành Cộng đồng người Việt ở Thái Lan Qua các thời kỳ thông qua việc bảo lưu (văn hóa Việt) và hội nhập văn hóa (văn hóa Thái), phân tích, thông qua một số nét văn hóa cơ bản như ngôn ngữ, văn hóa ẩm thực, các phong tục cưới hỏi, tang ma…, những nguyên nhân tác động đến việc sự bảo lưu và hội nhập văn hóa của người Việt ở Đông Bắc Thái Lan (thế hệ di cư sau năm 1945) Trong khuôn khổ bài tạp chí, tác giả mới chỉ chủ yếu tập chung vào các tác động ảnh hưởng đến quá trình bảo lưu và hội nhập văn hóa của người Việt ở Đông Bắc chung chung, chưa đi sâu vào nghiên cứu những trường hợp biến đổi văn hóa của một Cộng đồng người trên một địa bàn cụ thể Trên phương diện văn hóa tinh thần của người Việt, tác giả cũng chưa đi sâu vào phân tích việc tiến hành các nghi lễ tâm linh trong Cộng đồng để đưa ra một bức tranh toàn diện hơn về văn hóa của Cộng đồng người Việt ở Thái Lan Đây là bài viết mang tính tổng hợp về Cộng đồng Việt Kiều, nên chưa tập trung phân tích sâu về những tác động đến việc bảo lưu và giữ gìn văn hóa của Cộng đồng người Việt
Bài viết về văn hóa người Việt ở Thái Lan, tác giả Nguyễn Hồng Quang:
Tìm hiểu văn hóa tang ma của Cộng đồng người Việt ở tỉnh Sakôn Nakhon,
Trang 21Thái Lan đăng trên tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á số 11/ 2012 Tác giả đã đi
sâu vào nghiên cứu phân tích một số những nét bảo lưu và biến đổi về văn hóa tinh thần của Cộng đồng người Việt ở Sakôn Nakhon thông qua nghi lễ tang ma Mặc dù là bài viết liên quan trực tiếp đến văn hóa tinh thần của người Việt nhưng chỉ mới tập trung ở một khía cạnh về văn hóa tinh thần thông qua nghi lễ tang ma, chứ chưa phải là đại diện cho các mặt văn hóa tinh thần của người Việt
ở Sakôn Nhưng bài viết cũng có nhiều gợi mở liên quan trực tiếp đến đề tài của luận án
Ở Việt Nam, ngoài những công trình sách và các bài viết liên quan đến đề tài đã xuất bản, gần đây còn nhiều các công trình cấp nhà nước, và cấp bộ, luận văn liên quan đến nghiên cứu về Việt Kiều Thái Lan của các trường Đại học, Ủy ban nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài…
Công trình đề tài cấp bộ Quá trình hình thành, phát triển và vai trò của
người Việt ở Thái Lan trong lịch sử của Trường Đại học Vinh do Nguyễn Công
Khanh chủ trì, năm 2009 được chia thành 3 nội dung chính: Quá trình hình thành, đời sống vật chất và tinh thần của Cộng đồng Việt Kiều ở Thái Lan; đóng góp của Cộng đồng người Việt ở Thái Lan với tổ quốc; đóng góp của người Việt
ở Thái Lan đối với sự phát triển quan hệ hữu nghị và giao lưu văn hóa Việt Thái
Đề tài đã tập trung nghiên cứu sâu nhất vào quá trình đóng góp của Việt Kiều đối với tổ quốc, đối với phát triển quan hệ hai nước, chiếm phần lớn nội dung của đề tài (khoảng 80 trang) Tuy chủ yếu đề cập phân tích sâu đến sự hình thành
và vai trò của người Việt ở Thái Lan trong lịch sử, nhưng đề tài cũng đã đề cập một cách tổng quát đến các khía cạnh đời sống văn hóa vật chất, đời sống văn hóa tinh thần và những đóng góp về giao lưu văn hóa của Việt Kiều trong văn hóa Việt-Thái ở dạng khái quát
Đề tài nghiên cứu Cộng đồng người Việt Nam tại Thái Lan dưới góc độ
văn hóa của Ủy ban nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài, Bộ Ngoại giao,
do Phạm Hải Bằng làm chủ nhiệm là một trong những đề tài nghiên cứu trực tiếp
Trang 22đến góc độ văn hóa của Cộng đồng người Việt ở Thái Lan Đề tài này được chia làm 3 phần: Giới thiệu một số nét chính về đất nước Thái lan; Lịch sử Cộng đồng người Việt tại Thái Lan; Nhận xét và kiến nghị Phần viết về văn hóa của Việt Kiều chủ yếu được tập trung trong phần 2 (trang 32- 48) Trong nội dung về văn hóa, đề tài chỉ giới thiệu ở mức khái quát về đời sống văn hóa, đặc trưng văn hóa nổi bật, gia đình người Việt, tâm linh, ẩm thực, ngôn ngữ, sự gắn kết Cộng đồng và giữ gìn bản sắc dân tộc người Việt ở Thái Lan
Công trình khoa học đề tài cấp nhà nước Những đặc trưng cơ bản về con
người và văn hóa của Cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài hiện nay do
PGS TS Vũ Hào Quang làm chủ nhiệm, cơ quan chủ trì: Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, đã được nghiệm thu năm 2010 Chương III của đề tài đã
đề cập đến các nội dung chính: Bối cảnh nhập cư của người Việt vào Thái Lan sau những năm 1945; Thực trạng đời sống gia đình Việt Kiều ở Thái Lan; Nhận thức của Cộng đồng Việt ở Thái Lan về những phẩm chất và điều kiện cần thiết của họ ở nước sở tại; đặc trưng cơ bản của Cộng đồng Việt Kiều Thái Lan; sự khác biệt giữa các thế hệ Việt Kiều ở Thái Lan; sự hội nhập của Cộng đồng Việt Kiều vào cư dân bản địa; người bản địa đánh giá vị thế Cộng đồng người Việt Nam so với Cộng đồng các dân tộc của các nước láng giềng như Lào, Campuchia; mức độ nắm bắt được những thông tin về đời sống kinh tế, văn hóa–
xã hội Việt Nam qua các kênh truyền thông; những người thuộc thế hệ thứ 2 sinh
ra và lớn lên ở nước sở tại còn giữ được những phong tục tập quán trong gia đình; duy trì các giá trị văn hóa truyền thống của thế hệ thứ ba ở Thái Lan; sử dụng ngôn ngữ của thế hệ thứ ba trong giao tiếp gia đình; những khó khăn lớn nhất đối với Việt Kiều hiện nay; đánh giá về mức độ hạnh phúc của gia đình; đánh giá về địa vị kinh tế gia đình mình so với các gia đình Việt Kiều khác ở nước sở tại; những nhân tố tác động đến việc nhập cư vào Thái Lan; văn hóa Cộng đồng và tổ chức Cộng đồng Việt tại Thái Lan; mô tả thực trạng nhân khẩu
Trang 23xã hội người Việt Nam đang định cư tại Thái Lan theo mẫu nghiên cứu; và cuối cùng là phần kết luận về Cộng đồng Việt Kiều Thái Lan
Đây là một công trình đầu tiên ở Việt Nam tập trung một tập thể các nhà nghiên cứu, các nhà giáo có uy tín nghiên cứu một cách đầy đủ nhất về Việt Kiều ở Thái Lan Bằng các phương pháp nghiên cứu điều tra xã hội học, bảng hỏi và phỏng vấn sâu, phỏng vấn nhóm, các tác giả đã đầu tư khá nhiều thời gian cho công trình nghiên cứu này Kết quả là đã đưa ra được một công trình nghiên cứu khá đầy đủ về địa vị thân phận, về gia đình, văn hóa của Cộng đồng người Việt ở Thái Lan Tuy nhiên, công trình này chưa phân tích sâu về quá trình hình thành Cộng đồng và các tác động của các chính quyền Thái đến Cộng đồng, sự liên kết giữa thế hệ Việt Kiều trước năm 1945 với thế hệ Việt Kiều tản cư năm 1945-1946 Vì mục đích của công trình là nghiên cứu đặc trưng cơ bản về con người và địa vị xã hội của người Việt ở Thái Lan, nên công trình tập trung nghiên cứu điều tra kỹ về vấn đề gia đình, kinh tế, sử dụng ngôn ngữ, và giáo dục Trong phần văn hóa của người Việt ở Thái Lan, nhóm tác giả chưa phân tích nhiều về các khía cạnh văn hóa liên quan đến văn hóa tinh thần Ngoài ra, công trình nghiên cứu còn chưa phân tích nhiều về quá trình bảo lưu, và hội nhập văn hóa của Cộng đồng và chưa phân tích sâu những nguyên nhân dẫn đến quá trình bảo lưu và hội nhập văn hóa Mặc dù công trình khoa học này đã đóng góp rất nhiều cho việc nghiên cứu về Việt Kiều, nhưng hạn chế của công trình là chưa đưa được ra những kiến nghị cơ bản cho chính phủ Việt Nam, đây cũng là một vấn đề quan trọng trong việc góp phần quan tâm đến nhu cầu văn hóa của người Việt Nam ở nước ngoài
Nhìn chung, cho đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu, bài viết
có giá trị khoa học cao ở trong nước và nước ngoài liên quan đến Cộng đồng người Việt ở Đông Bắc Thái Lan Các tác giả chủ yếu sử dùng các phương pháp nghiên cứu như lịch sử, nhân học văn hóa, nghiên cứu liên ngành để nghiên cứu
về Cộng đồng người Việt Nam trên đất Thái Từ năm 1976 về trước, các công
Trang 24trình chủ yếu viết về những chính sách của Thái Lan đối với người Việt và địa vị của người Việt trên đất Thái trong những năm chiến tranh chống Pháp và chống
Mỹ Từ năm 1976 đến nay, các công trình và các bài viết tập trung nghiên cứu
về kinh tế- xã hội, sự hoà nhập của Cộng đồng người Việt vào xã hội Thái Đặc biệt, trong thời gian gần đây, đã có một số luận án, luận văn, một số bài viết của các nhà nghiên cứu về Cộng đồng người Việt Nam tại Thái Lan
Trên đây là những công trình nghiên cứu cơ bản nhất về Việt Kiều ở Thái Lan, các tác giả đều đã dành nhiều thời gian nghiên cứu trực tiếp về người Việt ở Thái Lan Hầu hết các công trình này mang tính giá trị khoa học và độ tin cậy cao được nhiều nhà nghiên cứu về Việt Kiều Thái Lan tiếp theo sử dụng để tham khảo Đặc biệt là các vấn đề hình thành Cộng đồng, đời sống kinh tế, chính trị và địa vị của người Việt trên đất Thái Lan từ thế kỷ XVII cho đến nay Tuy nhiên,
vì nhấn mạnh đến các vấn đề đã phân tích trên, nên chưa có công trình nào đi sâu vào nghiên cứu văn hóa riêng biệt và có ý nghĩa thực tiễn để đóng góp cho việc xây dựng nên một chính sách văn hóa thích hợp đối với Việt Kiều Thái Lan Vì vậy, luận án sẽ thừa hưởng những kết quả của những công trình nghiên cứu của các tác giả đi trước để xây dựng nên một bức tranh tổng thể về những giá trị văn hóa, từ quá trình hình thành Cộng đồng cho đến những tác động đến việc bảo lưu
và hội nhập vào văn hóa xã hội Thái trong một nghiên cứu trường hợp (Case Study) về Cộng đồng người Việt tại tỉnh Sakôn Nakhon Do nhiệm vụ quy định,
luận án chủ yếu tập trung vào phân tích, tìm hiểu sâu về mặt văn hóa tinh thần
của Cộng đồng người Việt di cư trong phạm vi thời gian từ năm 1945-1946 trở lại đây tại tỉnh Sakôn Nakhon
1.2 Cơ sở lý thuyết
1.2.1 Một số khái niệm
Một số thuật ngữ và khái niệm liên quan đến tên gọi người Việt Nam ở Thái Lan, qua cách gọi của người Việt Nam và người Thái Lan
Trang 25“Việt Kiều” là cụm từ chỉ chung cho tất cả người Việt Nam có quá trình
nhập cư ở nước ngoài qua các thời kỳ khác nhau và trong những hoàn cảnh khác nhau vào một quốc gia nào đó như Việt Kiều Mỹ, Việt Kiều Pháp, Việt Kiều Úc, Việt Kiều Thái… (cụm từ này cũng được Cộng đồng người Việt Nam tại Thái Lan tự gọi nhau, ví dụ Việt Kiều Uđon – Cộng đồng người Việt sống ở tỉnh Uđonthani, Việt Kiều Ubôn – người Việt ở tỉnh Ubôn Ratchathani Việt Kiều Sakôn - Cộng đồng người Việt ở tỉnh Sakôn Nakhon) Những người Việt đã và
đang sinh sống tại Thái Lan có quốc tịch hoặc có giấy tàng đao (giấy kiều dân)
thì gọi là Việt Kiều Thái Lan, những người Việt đang sinh sống định cư ở Mỹ gọi là Việt Kiều Mỹ…
Thuật ngữ “Việt Kiều” không bao gồm những người Việt Nam đang theo
học, hoặc công tác ngắn hạn, dài hạn được nhà nước Việt Nam cử sang Thái Lan công tác (như tham quan du lịch, hợp đồng lao động, kinh doanh, cán bộ ngoại giao…)
Hiện nay, từ "Kiều bào" cũng được Chính phủ Việt Nam dùng với ngữ
nghĩa Việt Kiều "Kiều bào là bộ phận không thể tách rời của dân tộc Việt Nam”
Một số tên gọi đối với Cộng đồng người Việt tại Thái Lan: “Khôn Thái chứa sải chao Việt Nam” (Người Thái Lan gốc Việt) là tên gọi chính thức trong các văn bản của Thái Lan Hay gọi tắt là “Khôn Việt” (Người Việt) “Khôn Duôn Ộp pa dốp” (người Việt tản cư hay người Việt di cư), là tên gọi trước đây
người Thái hay gọi người Việt di cư sang Thái Lan năm 1946 Các tên gọi khác
như: “Duôn kàu” (Người Việt cũ) là người Việt di cư sang Thái Lan trước năm
1945 “Duôn Mày” (người Việt mới) di cư sang Thái Lan sau năm 1945
Trong luận án này, chúng tôi sử dụng 1 trong 3 cụm từ: “Cộng đồng
người Việt ở Thái Lan”, “Việt Kiều Thái Lan” và “Kiều bào Thái Lan” những
thuật ngữ này chỉ nói đến những người Việt đã và đang sinh sống ở Thái Lan, có thể đã có quốc tịch hoặc có thể chưa được nhập quốc tịch Thái Lan
Trang 26Văn hóa: Theo định nghĩa Văn hóa của UNESCO: "Văn hoá phản ánh và
thể hiện một cách tổng quát sống động mọi mặt cuộc sống của con người đã diễn
ra trong quá khứ, cũng như đang diễn ra trong hiện tại, qua hàng bao thế kỷ, nó cấu thành nên một hệ thống các giá trị truyền thống, thẩm mỹ và lối sống, mà dựa vào đó từng dân tộc khẳng định bản sắc riêng của mình" Phát biểu của
Tổng giám đốc UNESCO trong buổi lễ phát động Thập niên thế giới phát triển
văn hóa được tổ chức tại Paris ngày 21- 01- 1988:
Văn hóa tộc người: Là tổng thể những đặc trưng của văn hóa vật thể và
phi vật thể giúp cho việc phân biệt giữa tộc người này với tộc người khác, giữa các nhóm khác nhau Chính văn hóa tộc người là nền tảng nảy sinh và phát triển của ý thức tự giác tộc người Văn hóa tộc người là tổng thể những yếu tố văn hóa mang tính đặc trưng và đặc thù tộc người, nó thể hiện chức năng cố kết tộc người làm cho tộc người này khác với tộc người khác
Văn hóa tinh thần trong dân tộc học: Là một trong ba hình thái văn hóa
của mỗi tộc người, bao gồm: tôn giáo, tín ngưỡng, kiêng cữ, văn học dân gian,
âm nhạc hội họa, điêu khắc, giáo dục, nghệ thuật dân gian, các tri thức khoa học, v.v… [80, 817]
Văn hóa vật chất trong dân tộc học: Là một trong các hình thức văn hóa
của mỗi tộc người, bao gồm làng bản, nhà cửa, áo quần, trang sức, ăn uống, phương tiện đi lại, công cụ sản xuất, vũ khí, v.v… [80, 817]
Giao lưu và tiếp biến văn hóa: Là hiện tượng xảy ra khi những nhóm
người (Cộng đồng, dân tộc) có văn hóa khác nhau giao lưu tiếp xúc với nhau tạo nên sự biến đổi về văn hóa của một hoặc cả hai nhóm Giao lưu văn hóa tạo nên
sự dung hợp, tổng hợp và tích hợp văn hóa ở các Cộng đồng, ở đó, có sự kết hợp giữa các yếu tố "nội sinh" với yếu tố "ngoại sinh" tạo nên sự phát triển văn hóa phong phú, đa dạng và tiến bộ hơn
Trang 27Quá trình giao lưu văn hóa gồm có: các phương thức “chọn lọc” các yếu
tố vay mượn hoặc “phản ứng” lại sự vay mượn; các hình thức hội nhập các yếu
tố này vào mô thức văn hóa gốc; các cơ chế tâm lý tạo điều kiện dễ dàng hay không cho việc hội nhập văn hóa; và cuối cùng là các hậu quả chủ yếu của giao lưu văn hóa, bao gồm các phản ứng tiêu cực, đôi lúc có thể xảy ra với các phong trào “chống lại giao lưu văn hóa”
Biến đổi văn hóa: Mọi văn hóa có khuynh hướng vừa chấp nhận vừa
chống lại thay đổi Nói một cách khác, các khuynh hướng tân tiến khuyến khích cái mới, trong khi những khuynh hướng bảo thủ cố chống lại cái mới, gìn giữ cái
cũ Có ba nguyên nhân dẫn đến thay đổi văn hóa: Do sự thay đổi nội tại của xã hội; do tiếp xúc giữa các nền văn hóa; do thay đổi trong môi trường tự nhiên
Văn hóa truyền thống: Trong tiếng Việt hiện đại là một từ gốc Hán Việt,
do vậy nó không thể không chịu ảnh hưởng quan niệm của người Trung Hoa về
khái niệm này Theo từ điển Từ Hải, từ truyền thống được định nghĩa “truyền
thống là sức mạnh của tập quán xã hội được lưu truyền lại từ lịch sử Nó tồn tại ở các lĩnh vực chế độ (chế độ xã hội), tư tưởng, văn hóa, đạo đức Truyền thống có tác dụng khống chế vô hình đến hành vi xã hội của con người Truyền thống là biểu hiện tính kế thừa của lịch sử” Vậy văn hóa truyền thống là văn hóa có kế thừa của lịch sử và được lưu truyền từ lịch sử
1.2.2 Các cách tiếp cận lý thuyết của đề tài
Nhân học văn hóa nghiên cứu văn hóa dưới nhiều khía cạnh khác nhau để tìm hiểu con người và những biến đổi về văn hóa trong đời sống con người, nghiên cứu văn hóa tộc người cụ thể Từ nửa cuối thế kỷ 20, cách tiếp cận văn hóa đã được dựa trên những công trình của ngành nhân học và dân tộc học Đó là thuyết khuyếch tán (Difussionism) của Wiliamn James Fery, E Smith cho rằng
có nhiều trung tâm văn hóa từ đó lan tỏa ra thế giới Còn B Malinowski đại biểu của lý thuyết chức năng cho rằng cấu truc xã hội văn hóa được xem như một tổng thể, trong đó các thể chế được khảo sát như là yếu tố tạo thành qua thời
Trang 28gian Trường phái Kant mới với Weber cho thấy vai trò lớn của văn hóa với tính cách là một hệ thống đặc thù và các giá trị và các ý niệm không ngừng tác động đến sự phát triển của xã hội.[35, 101]
- Phương pháp tiếp cận lý thuyết dân tộc học
Cách tiếp cận truyền thống của dân tộc học chính là dân tộc học miêu tả (ethnography) Vì vậy để miêu tả đúng và đủ về văn hóa, lối sống của một tộc người các nhà nhân học phải sống cùng với nhóm tộc người mình nghiên cứu Cách tiếp cận này gắn với phương pháp quan sát tham gia (participant observation) tập trung dài ngày (cùng ăn, cùng ở, cùng nói) trong môi trường của tộc người mà mình nghiên cứu Một cách tiếp cận trong dân tộc học nữa là cách tiếp cận lịch sử và so sánh, bởi chỉ qua so sánh, nhà nhân học mới xác định được những điểm giống và khác giữa văn hóa của các dân tộc khác nhau, (theo chiều đồng đại), cũng như các yếu tố truyền thống và các yếu tố đương đại trong một nền văn hóa hoặc so sánh giữa hai Cộng đồng người cùng cư trú trên một địa bàn nhưng có những sự khác biệt lớn về văn hóa, đặc biệt là trong nghiên cứu sự bảo lưu và biến đổi văn hóa của một Cộng đồng người di cư đến cư trú ở địa bàn một Cộng đồng người khác trong một thời gian khá lâu (trường hợp trong luận án nghiên cứu Cộng đồng người Việt di cư đến tỉnh Sakon Nakhon từ năm 1945 cho đến nay) Mỗi Cộng đồng dân cư hay cá nhân di cư đều gắn với những lý do lịch sử cụ thể, bằng phương pháp so sánh lịch sử có thể phân tích các mối quan
hệ sự kiện theo thời gian, không gian và bối cảnh kinh tế chính trị, để rút ra những kết luận về những đặc trưng văn hóa của Cộng đồng qua các thời kỳ lịch
sử khác nhau
- Lý thuyết vùng văn hóa
Vùng văn hóa là một khái niệm dùng để chỉ một vùng lãnh thổ, một khu vực địa lý có sự tương đồng về môi trường tự nhiên; có quá trình lịch sử lâu dài,
ở đó có các dân tộc cư trú khá lâu đời, giữa họ luôn diễn ra quá trình giao lưu
Trang 29tiếp biến văn hóa, dẫn tới hình thành sắc thái văn hóa đặc trưng của vùng bên cạnh bản sắc văn hóa riêng của mỗi dân tộc
Nghiên cứu vùng văn hóa để thấy được dấu ấn văn hóa của con người, thấy được các sắc thái văn hóa đa dạng của các vùng, của các tộc người; thấy được quy luật hình thành và biến đổi văn hóa trong các môi trường không gian địa lý nhất định, thấy được con đường và các phương thức giao lưu, ảnh hưởng qua lại giữa các vùng… Như vậy nghiên cứu vùng văn hóa sẽ thấy được đặc trưng văn hóa của con người trong quá trình lịch sử và trên một vùng không gian
cụ thể, qua đó có thể phân biệt được văn hóa của vùng này với vùng khác, so sánh những yếu tố văn hóa nào tương đồng, những yếu tố nào dị biệt Đó là mối quan hệ giữa cái chung (văn hóa vùng) và cái riêng (văn hóa của tộc người) trong văn hóa [35,108]
- Lý thuyết biến đổi văn hóa (Cultural change)
Biến đổi văn hóa: là một quá trình diễn ra trong tất cả các xã hội và là một lĩnh vực nghiên cứu về nhân học mà đã phát triển phức tạp và nhiều chuyển đổi quan trọng Những người ủng hộ thuyết tiến hóa cuối thế kỷ XIX như Edward B Tylor (1881) và Lewis Henry Mogan (1877) nhìn nhận các nền văn hóa phi phương Tây ở trạng thái tương đối tĩnh tại (xem Tiến hóa) Đối với họ, các xã hội đó có thể được sắp xếp có tôn ti trật tự trên một thước chia độ từ xã hội nguyên thủy đến xã hội văn minh trong đó các tộc người dưới đáy thước không thông minh giỏi giang như những người trên đỉnh thước
Lý thuyết về quá trình biến đổi văn hóa của Dennis O’Neil (2008) Theo Dennis O’Neil, tất cả các nền văn hóa thay đổi qua thời gian Tuy nhiên, hầu hết các nền văn hóa về cơ bản là bảo thủ trong đó có xu hướng chống lại sự thay đổi Quá trình thay đổi các nền văn hóa là rất phức tạp Vì vậy, chúng ta phải có một cách tiếp cận toàn diện để nghiên cứu các nền văn hóa và môi trường trong
đó chúng tồn tại Có ba nguồn gốc ảnh hưởng hoặc tạo áp lực cho cả thay đổi và
Trang 30sự phản kháng với thay đổi: Áp lực trong xã hội; sự liên hệ giữa xã hội; sự thay đổi trong môi trường tự nhiên
Trong một xã hội, quá trình dẫn đến thay đổi bao gồm sự can thiệp và mất văn hóa Sự can thiệp có thể là công nghệ, tư tưởng, chính sách Mất văn hóa là một kết quả tất yếu của các mô hình văn hoá cũ được thay thế bằng những cái mới Quá trình dẫn đến sự phản kháng thay đổi bao gồm tập quán và sự hội nhập của những đặc điểm văn hóa Các thiết chế văn hóa hội nhập với nhau và sự ảnh hưởng lẫn nhau là nguyên nhân chính dẫn đến sự thay đổi Quá trình dẫn đến sự thay đổi như là kết quả liên hệ giữa các xã hội, đó là: Sự khuếch tán (suffusion), tiếp biến (acculturation), chuyển biến văn hóa (transculturation)
Dennis O’Neil đã tóm tắt về lý thuyết biến đổi văn hóa như sau:
Trong xã hội Giữa các xã hội
- Lý thuyết về giao lưu và tiếp biến văn hóa
Là khái niệm được trường phái nhân học Anglo Saxon đưa vào Mỹ cuối thế kỷ XIX để chỉ sự tiếp xúc trực tiếp và lâu dài giữa hai nền văn hóa khác nhau
và hậu quả của cuộc tiếp xúc này là sự thay đổi hay biến đổi của một loại hình văn hóa hay của cả hai nền văn hóa đó Theo các nhà Nhân học Mỹ, sự giao lưu,
• Can thiệp
• Mất văn hóa
• Năng động của nhóm bên trong
Trang 31tiếp biến văn hóa là quá trình một nền văn hóa thích nghi, ảnh hưởng từ một nền văn hóa khác bằng cách vay mượn nhiều nét đặc trưng của nền văn hóa ấy Vì thế sự giao lưu, tiếp biến văn hóa cũng là một cơ chế khác của biến đổi văn hóa,
đó là sự trao đổi của những đặc tính văn hóa nảy sinh khi các Cộng đồng tiếp xúc trực diện và liên tục [35,12]
Phương pháp tiếp cận biến đổi văn hóa quan trọng khác trong nhân học Bắc Mỹ là về vấn đề sinh thái văn hóa Sự giao lưu tiếp biến văn hóa cũng là một
cơ chế khác của biến đổi văn hóa, đó là sự trao đổi những đặc tính văn hóa nảy sinh khi các Cộng đồng tiếp xúc trực diện và liên tục Các hình mẫu văn hóa nguyên thủy của một Cộng đồng hoặc của cả hai Cộng đồng có thể bị biến đổi thông qua cách tiếp xúc này (Redfield, Linton, Herskovist, 1936) Các thành tố của các nền văn hóa biến đổi, song mỗi nền văn hóa vẫn giữ tính riêng biệt của mình [35,11]
Quá trình giao lưu tiếp biến văn hóa có thể diễn ra một cách cưỡng bức thông qua sự thống trị về quân sự, hoặc diễn ra bằng con đường hòa bình hơn thông qua các cơ chế buôn bán, truyền đạo (Người Việt ở Thái Lan chuyển từ Phật giáo Đại thừa sang Phật giáo tiểu thừa – nam thanh niên đến tuổi vào chùa
tu trong một thời gian nhất định) Tuy nhiên, dù ngay cả bằng con đường hòa bình, nếu không đủ bản lĩnh, qua quá trình tiếp xúc giao lưu giữa hai nền văn hóa thì xã hội yếu hơn sẽ bị xã hội mạnh tác động thay đổi Trong thực tế, quá trình giao lưu tiếp biến văn hóa có thể dẫn đến sự đánh mất bản sắc của một nền văn hóa ngay cả khi dân tộc đó đang tồn tại (Biểu hiện rõ nét thông qua trường hợp người Việt thế hệ thứ ba trở đi còn sử dụng được rất ít tiếng Việt)
Giao lưu văn hóa bao hàm trong đó sự chung sống của ít nhất hai nền văn hóa (của hai Cộng đồng, hai dân tộc, hai đất nước) và giao lưu là hình thức quan
hệ trao đổi văn hóa cùng có lợi, giúp đáp ứng một số nhu cầu không thể tự thỏa mãn của mỗi bên, giúp tăng sự hiểu biết lẫn nhau giữa các nền văn hóa để từ đó làm nảy sinh nhiều nhu cầu mới thúc đẩy mỗi nền văn hóa phát triển Do đó giao
Trang 32lưu văn hóa là dạng cộng sinh giữa các nền văn hóa (thể hiện rõ nét nhất thông qua các lễ hội và nghi lễ hàng ngày)
Lợi ích căn bản và lâu dài mà giao lưu văn hóa đem lại là thúc đẩy sự phát triển của mỗi nền văn hóa Lịch sử cho thấy, không một nền văn hóa nào có thể phát triển nhanh hoặc vượt bậc mà không có sự giao lưu với nền văn hóa khác Giao lưu văn hóa làm cho những Cộng đồng, những quốc gia dân tộc đóng kín trở thành những hệ thống mở, đã mở trở nên ngày càng mở hơn
Tiếp biến văn hóa - một hình thức biến nhiều lợi ích tiềm năng mà giao lưu văn hóa đem lại thành những lợi ích thực tế - là hiện tượng tiếp nhận có chọn lựa một số yếu tố văn hóa ngoại lai và biến đổi chúng cho phù hợp với điều kiện
sử dụng bản địa, tức phù hợp với văn hóa bản địa, và sau một thời gian sử dụng
và biến đổi tiếp thì chúng trở thành những yếu tố văn hóa bản địa ngoại sinh
Đến lúc này những người dân ở nơi xuất xứ của những yếu tố văn hóa đó cũng không còn nhận ra chúng vốn là của mình Rõ nhất là trong ngôn ngữ (do người Việt đã được công nhận là công dân Thái nên đã hòa nhập vào xã hội Thái rất nhanh mà quên dần đi tiếng mẹ đẻ - tiếng Việt)
Điều kiện đủ để có biến đổi: Sự gặp gỡ, tiếp xúc giữa các nền văn hóa thật
ra chỉ là điều kiện cần mà thôi chớ chưa phải là điều kiện đủ để cho sự vay mượn, học hỏi xảy ra Điều kiện đủ để đưa đến vay mượn và thích nghi văn hóa
là sự có mặt của những yếu tố sau đây: (1) tinh thần khai phóng của người vay mượn, (2) sự tự do chấp nhận cái mới lạ của người vay mượn, và (3) sự lợi ích của những gì được vay mượn học hỏi Văn hóa không thay đổi nếu các thành phần trong nền văn hóa đó không có tinh thần cởi mở, không chấp nhận những cái mới lạ của nền văn hóa khác Mặt khác dù các thành phần chấp nhận những cái mới lạ của văn hóa khác nhưng không có tự do để học hỏi, thực hiện thì văn hóa cũng không có cơ hội thay đổi Có thể vì luật lệ cứng rắn của quốc gia, có thể vì tính khắt khe của phong tục tập quán mà người ta không có đủ tự do để học hỏi và thực hiện điều gì mới lạ trong cuộc sống
Trang 33- Lý thuyết chức năng: (Functionalism)
Đây là một trong những lý thuyết khoa học ra đời từ rất sớm được ứng dụng trong triết học, xã hội học trước khi đến với nhân học hiện đại Người được coi như cha đẻ của học thuyết này là Emile Durkheim, nhưng trước đó Herbert Spencer (1820-1903) đã sử dụng nó trong các nghiên cứu của ông về khoa học
xã hội “Có thể tóm tắt tư tưởng cơ bản của chức năng luận như sau: Bất kỳ một
hệ thống ổn định nào cũng bao gồm những bộ phận khác nhau nhưng liên hệ với nhau, chúng cùng nhau vận hành để tạo nên cái toàn bộ, tạo nên sự ổn định hệ thống Có thể xem là hiểu được một bộ phận trong hệ thống khi hiểu được cái cách mà nó đóng góp vào sự vận hành của hệ thống Sự đóng góp vào việc vận hành ổn định của hệ thống được gọi là chức năng Các lý thuyết về chức năng luận của Durkheim được tiếp nối bởi Alfred Radcliffe-Brown (1881-1955) và Bronislaw Malinowski (1884-1942), Robert Merton (1910-2003) và Talcott Parsons (1902-1979)
Ở Anh, một phương pháp tiếp cận biến đổi văn hóa có ảnh hưởng lớn từ những năm 1920 đến 1950, đó là thuyết chức năng có liên quan đến cả Raclife Brown và Malinowski Thuyết chức năng có phương pháp tiếp cận thay đổi một cách bảo thủ vì thuyết này cho rằng các xã hội và các nền văn hóa hòa nhập tương đối tốt và ổn định Với quan điểm này, nếu một nền văn hóa thay đổi thì sau đó nó sẽ phải chịu những tác động bên ngoài Những nhà chức năng luận không có ý định nghiên cứu thay đổi, mối quan tâm chính của họ là các mối quan hệ qua lại về chức năng của các hệ thống văn hóa và xã hội chứ không phải cách thức các hệ thống này được thay đổi
Bronislaw Malinowski (1884–1942), là người đưa ra thuyết chức năng tập trung ở hiện tại, để chống lại thuyết tiến hóa hướng đến tương lai và thuyết truyền bá hướng về quá khứ Theo ông, chỉ có quãng thời gian ở giữa là nơi mà nhà nhân học có thể nghiên cứu các xã hội loài người một cách khách quan; cần quan sát trực tiếp các nền văn hóa trong tình trạng hiện tại, không cần truy ngược
Trang 34về nguồn gốc vì hão huyền và không có chứng cứ khoa học; mỗi nền văn hóa hình thành một hệ thống cân bằng theo chức năng, trong đó các yếu tố phụ thuộc lẫn nhau, nên cần loại trừ việc nghiên cứu riêng rẽ; văn hóa biến đổi chủ yếu đến
từ bên ngoài, do sự giao tiếp văn hóa
1.2.3 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu điền dã là phương pháp nghiên cứu được sử
dụng chủ yếu của luận án Phương pháp này bao gồm các thao tác cơ bản như: thu thập tài liệu, quan sát tham dự, phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm Chúng tôi thực hiện quan sát tham gia tại địa bàn nghiên cứu để trực tiếp tìm hiểu đời sống kinh tế văn hóa xã hội và sinh hoạt của Việt Kiều Từ đó, chúng tôi đi sâu vào tìm hiểu những giá trị văn hóa tinh thần được bảo lưu và biến đổi trong đời sống hàng ngày của Cộng đồng người Việt tại Thái Lan
Phỏng vấn sâu được chúng tôi tiến hành tại địa bàn nghiên cứu Đối tượng
của các cuộc phỏng vấn này là: Người cao tuổi, những người đang hoạt động trong Hội người Việt Nam tại tỉnh Sakôn Nakhon (và một số tỉnh khác, Việt Kiều đã hồi hương), thế hệ Việt Kiều thứ hai, thế hệ Việt Kiều thứ ba Nội dung phỏng vấn tập trung vào các vấn đề sử dụng ngôn ngữ, sinh hoạt văn hóa tinh thần hàng ngày và thông qua các dịp lễ, tết truyền thống, những suy nghĩ và trăn trở của Việt Kiều tại Sakôn Nakhon về bảo lưu, giữ gìn và những biến đổi hội nhập văn hóa tinh thần đang diễn ra
Ngoài ra, chúng tôi cũng tiến hành phỏng vấn và trao đổi với những nhà nghiên cứu về Việt Kiều là người Thái Lan, và phỏng vấn những người Thái bản địa để hiểu rõ thêm về các chính sách của Thái Lan đối với Cộng đồng người Việt Nam tại Thái Lan qua các thời kỳ và ảnh hưởng của các chính sách này đối với quá trình hội nhập về mặt văn hóa của người Việt vào xã hội Thái
Thảo luận nhóm trong luận án được chúng tôi sử dụng như một phương
pháp thu thập thông tin Chúng tôi tiến hành 3 buổi thảo luận nhóm tại địa bàn
Trang 35nghiên cứu Mỗi nhóm thảo luận gồm 6 – 8 người đại diện cho các thế hệ Việt Kiều trên cơ sở đảm bảo cơ cấu độ tuổi, giới tính Nội dung thảo luận tập trung vào những phản hồi về vấn đề bảo lưu và biến đổi, hội nhập văn hóa hiện nay của Việt Kiều
Phương pháp điều tra xã hội học được thực hiện thông qua bảng hỏi đã
được chuẩn bị sẵn Việc nghiên cứu chú trọng phân tích định lượng, điều tra theo bảng hỏi thiết kế trước tại 75 hộ gia đình nhằm thu nhập những thông tin về sử dụng ngôn ngữ, tín ngưỡng, cưới hỏi, tang ma… Từ đó, kết hợp với các số liệu
và báo cáo điều tra từ các nguồn có sẵn, chúng tôi tiến hành phân tích các số liệu
để tìm ra khuynh hướng bảo lưu và hội nhập biến đổi văn hóa của Cộng đồng người Việt…
Phương pháp so sánh được sử dụng trong nghiên cứu này để so sánh các
nội dung nghiên cứu theo chiều lịch đại và đồng đại (so sánh văn hóa của Cộng đồng người Việt từ lúc mới di cư sang đất Thái cho đến nay qua 4 thế hệ ; So sánh bảo lưu và biến đổi văn hóa của Việt Kiều Sakôn Nakhon với Việt Kiều các tỉnh khác so với Thái Lan, ngoài ra còn mở rộng so sánh với Việt Kiều tại Lào
Phương pháp tổng hợp thống kê Sau khi các nguồn tài liệu và số liệu
phỏng vấn có được chúng tôi tiến hành phân tích, tổng hợp số liệu để đánh giá mức độ hội nhập về văn hóa của các thế hệ Việt Kiều
1.3 Địa bàn nghiên cứu
Thái Lan được được chia làm 76 tỉnh thành, và được phân chia thành 5 vùng địa lý kinh tế cơ bản Thủ đô Băng cốc nằm ở vùng trung tâm Thái Lan Năm 2000, Thái Lan có 796 quận, 81 tiểu quận và 50 quận thuộc Băng cốc Các tỉnh đều có thủ phủ (Mương) mang tên tỉnh (ví dụ là tỉnh Phukệt thì có thủ phủ là Mương Phukệt)
Tỉnh Sakôn Nakhon nằm trong khu vực văn hóa Đông Bắc (hay còn gọi sản), người Việt di cư đến Sakôn Nakhon cũng trong hoàn cảnh tương tự với
Trang 36I-người Việt đến các tỉnh vùng I-sản Vì vậy, trước khi nghiên cứu tìm hiểu về người Việt ở tỉnh Sakôn Nakhon, chúng tôi tìm hiểu tổng thể về lịch sử và quá trình hình thành cộng đồng người Việt ở vùng Đông Bắc Thái Lan
Đông Bắc Thái Lan bao gồm 19 tỉnh: Ămnát Chạrơn, Burirăm, Chayaphum, Kalasỉn, Khỏn Kèn, Lơi, Mahảsarakham, Mụcđahản, Nakhon Phanôm, Nakhon Ratchasỉma, Nỏngbua Lamphu, Noọng Khai, Rói Ẹt, Sakôn Nakhon, Sỉsakệt, Surin, Ubôn Rátchathani, Uđonthani, Yasổthon Khu vực I-sản
có diện tích gần 160.000 km2 Đây là vùng đất khô cằn, không màu mỡ như những vùng đồng bằng trung tâm của Thái, lúa chỉ canh tác được một vụ và hoàn toàn phụ thuộc vào lượng mưa thiên nhiên Phía Đông của khu vực có dòng sông
Về kinh tế: vùng Đông Bắc Thái Lan chủ yếu là vùng nông nghiệp Cây trồng ở đây thường là các loại lúa tẻ, nếp (chiếm khoảng 60% đất canh tác) tiếp theo là sắn và mía, trồng dâu nuôi tằm Nông nghiệp là khu vực chiếm tỷ trọng lớn nhất trong nền kinh tế, khoảng 22% sản lượng thu nhập của khu vực, so với 8,5% toàn bộ của Thái Lan Người dân chủ yếu chăn nuôi gia súc gia cầm làm thực phẩm Nghề thủ công truyền thống ở vùng này rất nổi tiếng với nghề dệt lụa Vùng Đông Bắc được coi là vùng kinh tế kém năng động nhất của Thái Lan do
có khí hậu tương đối khắc nghiệt, đặc biệt về mùa khô hạn Thu nhập bình quân đầu người được coi là khu vực thấp nhất của Thái Lan Ví dụ, vào năm 2002,
Trang 37bình quân mức thu nhập là 3.928 bạt/1 tháng (trên toàn quốc trung bình là 6.445 bạt/1 tháng)
Về văn hoá lễ hội: có nhiều điểm chung với văn hoá của nước láng giềng Lào, điều này được thể hiện qua: ẩm thực, trang phục, kiến trúc chùa chiền, nghệ thuật và lễ hội Vùng Đông Bắc Thái Lan được biết đến rất nổi tiếng với nhiều
lễ hội quanh năm Hát múa Mỏ lăm được coi là loại hình âm nhạc truyền thống
chính trong khu vực Đông Bắc và được dùng trong hầu hết các lễ hội
1.3.1 Vài nét về quá trình hình thành cộng đồng người Việt ở Đông Bắc Thái Lan
Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng những nhóm người Việt đầu tiên định cư
ở Thái Lan là ở Ayuthaya từ thế kỷ XVII Vào thời kỳ này, Ayuthaya đã mở cửa giao lưu hàng hoá bằng đường biển với các nước Phương Tây như Bồ Đào Nha,
Hà Lan, Pháp Vào giữa thế kỷ XVII, tại Ayuthaya đã có “Làng Việt Nam” hay
“Trại Việt Nam” [38, 10] Người Việt đến Thái Lan hồi thế kỷ XVII do nhiều nguyên nhân khác nhau như qua buôn bán đường biển rồi đến đây lập thương điếm (trong thế kỷ XVII Ayuthaya được coi là một trong những thương cảng buôn bán sầm uất nhất ở Châu Á), còn một số khác là do bị bắt làm tù binh trong chiến tranh hoặc do những nguyên nhân về kinh tế đã tìm sang đất Thái Lan sinh sống Những người Việt nhập cư giai đoạn này hầu hết là những người theo đạo Thiên Chúa, và sống ở ven biển Nam Trung Bộ Việt Nam [38, 26]
Thời kỳ Thônburi (1767- 1782), một số người trong gia quyến và thuộc hạ
của Chúa Nguyễn Phước Xuân dấy binh chống Tây Sơn tại Quảng Nam nhưng thất bại, đã chạy vào Hà Tiên rồi tìm đường vượt biển sang Thái Lan lánh nạn Cũng vào khoảng thời gian này, tại Trung Quốc đã có sự bất ổn Mạc Thiên Tứ một người gốc Hoa đã trốn chạy khỏi đất Trung Hoa sang định cư ở đất Hà Tiên
và sau đó được chúa Nguyễn giao cho trấn thủ đất Hà Tiên, sau khi bị nghĩa quân Tây Sơn đánh bại, cũng chạy sang cầu cứu triều đình Thônburi Cả hai
Trang 38nhóm người này đều được vua triều đình Thônburi là Tạksỉn tạo điều kiện cho sinh sống ở đây và coi họ là “gia đình Hoàng tộc lưu vong”
Thời kỳ Băng cốc (từ Triều đại Rama I - đến Rama III), vào năm 1782
Nguyễn Phúc Ánh (người Thái gọi là ông Chiêng Xử), sau khi bị quân Tây Sơn đánh bại ở Sài Gòn-Gia Định, đã cùng với gia quyến và nhóm tàn quân cũng tìm đường chạy sang cầu cứu Vua Xiêm lúc này là Rama I (1782-1809) Vua Xiêm chấp nhận cho cư trú tại Sảm xẻn và được hưởng rất nhiều ưu đãi Vào năm
1787, Nguyễn Ánh đã tìm cách bí mật rời Băng cốc trở về nước, nhưng chỉ có khoảng 150 người cùng trở về với Nguyễn Ánh trên 4 chiến thuyền lớn Như vậy,
số người Việt còn lại vẫn sống tại Băng cốc và được vua Rama I cho định cư tại Bang Phô Vào năm 1787, có lẽ không lâu sau khi Nguyễn Ánh trở về nước, thì một nhóm người Việt khác do đô đốc Nguyễn Huỳnh Đức (một viên tướng chỉ huy của Nguyễn Ánh) cùng với khoảng 5000 tàn quân do bị quân của Tây Sơn bắt cầm tù đã trốn thoát và chạy trốn bằng đường bộ qua Lào sang Băng cốc và cũng được vua Rama I giúp đỡ và cho định cư tại Bang phô Vua Rama I thoả thuận cho một số chiến thuyền lớn để giúp Nguyễn Huỳnh Đức trở về nhưng với điều kiện là phải để cho binh lính của ông ta ở lại đất Thái nếu có nguyện vọng Khoảng 2/3 số binh lính của Nguyễn Huỳnh Đức đã ở lại đất Thái Cùng với số giáo dân khoảng gần 600 người đến Sảm Sẻn (vào năm 1785) thì con số người Việt lúc này ở Băng cốc đã lên tới khoảng 5000 người Cùng với số người Việt theo đạo Phật từ miền Bắc và miền Trung theo đường bộ qua Lào đến Băng Cốc
đã hình thành một Cộng đồng người Việt đông đảo ở Thái Lan và sống tập trung
ở hai khu vực Bang phô và Sảm xẻn [51, 64]
Vào triều đại vua Rama III (1824-1858), trong cuộc chiến tranh giữa Xiêm với Việt Nam trên đất Campuchia kéo dài suốt 15 năm, quân Xiêm đã bắt khoảng 500 tù binh và người Việt là những người theo đạo Thiên chúa đưa về Sảm xẻn Như vậy số lượng người Việt nhập cư vào Thái Lan giai đoạn này là không đáng kể
Trang 39Sự hình thành cộng đồng người Việt ở vùng Đông Bắc, Thái Lan, giai đoạn trước năm 1945 Vào thời Triều đại Rama IV (1851 - 1868), đã diễn ra đợt
di cư đông đảo của người Việt đầu tiên vào vùng Đông Bắc Thái Lan Nhóm người này chủ yếu từ miền Trung và miền Bắc Việt Nam bằng đường bộ sang Lào rồi vượt sông Mê kông đến vùng Đông Bắc Thái Lan Nguyên nhân di cư chủ yếu do bị đàn áp tôn giáo dưới triều vua Minh Mạng (1820-1841) Thái Lan lúc này dưới sự lãnh đạo đất nước của vua Rama IV, là vị vua có đầu óc canh tân đất nước đã đưa ra chủ trương khai phá mở mang miền Đông Bắc Với chủ trương đó, Thái Lan đã tạo điều kiện thuận lợi cho người Việt nhập cư Cũng trong thế kỷ XIX, đặc biệt là kể từ triều vua Minh Mạng (1820 - 1841) đến cuộc xâm chiếm Bắc kỳ của người Pháp, do bị quan lại ngược đãi, một số giáo dân đã phải chạy sang Thái lánh nạn Vào đầu năm 1881, các nhà truyền giáo người Pháp ở Bắc Việt Nam và Lào đã mở rộng các hoạt động sang Đông Bắc Thái Lan Do thiếu giáo hội, nên họ hướng ảnh hưởng của mình vào các làng, đặc biệt
ở một số làng như Thare (Sakôn Nakhon) và Thà bò (Noọng Khai)
Vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, sau khi đã hoàn tất việc xâm chiếm Việt Nam, Pháp đã đưa ra nhiều chính sách sưu thuế nặng nề và bắt phu dịch Việc này đã khiến hàng loạt người dân Việt Nam rời bỏ làng quê ra đi tìm nơi đất mới làm ăn sinh sống Một số người dân miền Trung, và miền Bắc Việt Nam
đã di cư sang Lào và các tỉnh thuộc Đông Bắc Thái Lan Trong thời gian này, phong trào chống chủ nghĩa thực dân diễn ra trên khắp Việt Nam, đặc biệt là ở miền Trung Đó là các phong trào Cần Vương của Tôn Thất Thuyết và tiếp theo
là phong trào Đông Du Sang đầu thế kỷ XX, các phong trào trên lắng xuống, nhiều nhà yêu nước cùng những người có tâm huyết với sự nghiệp giải phóng dân tộc đã chạy sang cư trú ở Xiêm để tìm đường cứu nước
Ngày 3/10/1893, chính phủ Xiêm buộc phải ký với Pháp một Hiệp ước mà người Thái Lan gọi là Hiệp ước bất bình đẳng Theo hiệp ước này, Thái Lan phải mất phần đất bên bờ tả ngạn sông Mê kông cho Pháp Kèm theo Hiệp ước, còn
Trang 40có quy ước thỏa thuận lấy khu đất chạy dọc sông Mê kông dài 25 km bên bờ Thái Lan làm khu phi quân sự và khu mậu dịch tự do Hiệp ước có điều khoản quy định những người dưới quyền bảo hộ của Pháp được tự do đi lại và buôn bán trong khu vực này Điều kiện này tạo nên cơ hội tốt để người Việt đang sinh sống ở Lào đi lại hoạt động buôn bán trao đổi hàng hoá ngày càng nhộn nhịp Nhóm người này có thể được coi là Cộng đồng người Việt đầu tiên hoạt động thương mại ở Đông Bắc Thái Lan Đến giai đoạn từ đầu thế kỷ XX cho đến năm
1945, người Việt nhập cư vào Thái Lan vẫn diễn ra rải rác, nhưng lại mang màu sắc chính trị rõ nét hơn, chứ không đơn thuần là kinh tế
Sự hình thành cộng đồng người Việt ở vùng Đông Bắc, Thái Lan, giai đoạn sau năm 1945 Đợt di cư lớn nhất của người Việt vào vùng Đông Bắc Thái
Lan là vào thời kỳ năm 1945-1946 Người Thái gọi những người Việt nhập cư
vào đất Thái lúc này gọi là “Khôn Duôn Ộp pa dốp” (nghĩa là người Việt tản cư hay người Việt di cư), hoặc là “Duôn Mày” nghĩa là Việt mới di cư sang Thái
Lan Sau chiến tranh thế giới thứ hai, thực dân Pháp vạch kế hoạch tái chiếm Đông Dương với mưu đồ khôi phục các thuộc địa đã bị mất
Vào đầu năm 1946, sau khi đánh chiếm được Sạvănnakhệt ngày 15/3/1946, thì đến ngày 21/3/1946 thực dân Pháp cho máy bay rải truyền đơn kêu gọi đầu hàng với nội dung: Buộc Thà Khẹc phải giao nộp vũ khí quân trang, quân dụng của lực lượng vũ trang quân giải phóng Sau khi phát lệnh 15 phút nếu quân giải phóng không chấp hành, Thực dân Pháp sẽ lập tức ném bom đánh chiếm Thà Khẹc Trong đợt ném bom đầu tiên này đã khiến số đông nhân dân Lào và người Việt phải bỏ cả tài sản nhà cửa tản cư sang Thái Lan với hai bàn tay trắng Những người di tản sang đất Thái còn bị máy bay của Pháp ném bom
và xả súng khi họ đang vượt sông sang đất Thái, trong số đó rất nhiều người đã
bị chết trôi mất xác, những người không chạy thoát thì bị lính Pháp bắn chết và đẩy xác họ xuống dòng sông Mê kông