Đồng thời chính sách đối ngoại tạo điều kiện giúp các tổ chức kinh tế tiếp cận với thị trường, khách hàng nước ngoài để mở rộng hoạt động thương mại quốc tế.. Nhiệm vụ của chính sách thư
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP HỒ CHÍ MINH
TIỂU LUẬN “THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ”
NHÓM 2
Đề tài :
“CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI CỦA HOA KỲ” Giảng viên hướng dẫn: ThS Nguyễn Xuân Đạo
Trang 2Mục lục
Mục lục 2
Lời mở đầu 3
1 Tổng quan về thương mại quốc tế 4
1.1 Định nghĩa thương mại quốc tế 4
1.2 Vai trò của thương mại quốc tế 4
2 Chính sách thương mại của Hoa Kỳ 5
2.1 Sơ lược nền kinh tế Hoa Kỳ 5
2.2 Bối cảnh hoạt động ngoại thương 6
2.3 Thành tựu của chính sách thương mại tự do của Hoa Kỳ 7
2.4 Tổng quan về nền kinh tế Hoa Kỳ trong thời gian gần đây 8
2.5 Hoạt động thương mại quốc tế 9
2.5.1 Từ chủ nghĩa bảo hộ tới thương mại tự do hóa 9
2.5.2 Đa phương hóa, khu vực hóa và song phương hóa 10
2.5.3 Nền kinh tế Hoa Kỳ 2011 13
2.5.4 Kinh tế Hoa Kỳ năm 2012 14
Kết luận 15
PHỤ LỤC I 15
PHỤ LỤC II 16
Trang 3Lời mở đầu
Chính sách thương mại quốc tế là chính sách của nhà nước bao gồm một hệ thống nguyên tắc và biện pháp thích hợp được áp dụng để điều chỉnh hoạt động ngoại thương phù hợp với lợi ích chung của Nhà nước trong từng giai đoạn Chính sách thương mại quốc tế là một hệ thống chính sách của Nhà nước nó phục vụ đắc lực cho đường lối phát triển kinh tế trong mỗi thời kỳ Nó ảnh hưởng tới quá trình tái sản xuất xã hội và sự tham gia của nền kinh tế quốc dân vào quá trình phân công lao động quốc tế
Chính sách thương mại quốc tế có liên quan mật thiết với chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta Nó là công cụ có hiệu lực để thực hiện chính sách đối ngoại,
mở mang quan hệ hợp tác hữu nghị với các nước trong khu vực và thế giới Đồng thời chính sách đối ngoại tạo điều kiện giúp các tổ chức kinh tế tiếp cận với thị trường, khách hàng nước ngoài để mở rộng hoạt động thương mại quốc tế
Nhiệm vụ của chính sách thương mại quốc tế của Nhà nước là tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức kinh doanh tham gia vào phân công lao động quốc tế, mở mang hoạt động xuất nhập khẩu và bảo vệ thị trường nội địa nhằm đạt mục tiêu, yêu cầu kinh tế, chính trị, xã hội trong hoạt động kinh tế đối ngoại
Trang 41 Tổng quan về thương mại quốc tế
1.1 Định nghĩa thương mại quốc tế
Thương mại quốc tế là việc trao đổi hàng hóa và dịch vụ (hàng hóa hữu hình và hàng hóa vô hình) giữa các quốc gia, tuân theo nguyên tắc trao đổi ngang giá nhằm đưa lại lợi ích cho các bên Đối với phần lớn các nước, nó tương đương với một tỷ lệ lớn trong GDP Mặc dù thương mại quốc tế đã xuất hiện từ lâu trong lịch sử loài người (xem thêm Con đường Tơ lụa và Con đường Hổ phách), tầm quan trọng kinh tế, xã hội và chính trị của nó mới được để ý đến một cách chi tiết trong vài thế kỷ gần đây Thương mại quốc tế phát triển mạnh cùng với sự phát triển của công nghiệp hoá, giao thông vận tải, toàn cầu hóa, công ty đa quốc gia và xu hướng thuê nhân lực bên ngoài Việc tăng cường thương mại quốc tế thường được xem như ý nghĩa cơ bản của "toàn cầu hoá"
1.2 Vai trò của thương mại quốc tế
a) Vai trò của thương mại quốc tế trong nền kinh tế quốc dân.
- Thương mại quốc tế phục vụ đắc lực cho công cuộc đổi mới kinh tế thông qua việc sử dụng tốt hơn nguồn vốn lao động và tài nguyên của đất nước, tăng giá trị ngày công lao động, tăng thu nhập quốc dân, tăng hiệu quả sản xuất, tạo vốn và kỹ thuật bên ngoài cho nền sản xuất trong nước, kích thích
sự phát triển của lực lượng sản xuất, làm bật dậy các nhu cầu tiềm tàng của người tiêu dùng
- Thương mại quốc tế góp phần mở rộng các quan hệ kinh tế đối ngoại, từng bước đưa thị trường nước ta hội nhập với thị trường thế giới, biến nước ta thành bộ phận của phân công lao động quốc tế Đó cũng là con đường để đưa kinh tế nước ta có bước phát triển nhảy vọt và nâng cao vị thế uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế
b) Vai trò của thương mại quốc tế ở doanh nghiệp.
- Thương mại quốc tế là một bộ phận của thương mại cho nên trước hết nó là mục tiêu lợi nhuận của doanh nghiệp Thông qua thương mại quốc tế các doanh nghiệp có thể tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh của mình
Trang 5- Thương mại quốc tế giúp cho quá trình sản xuất kinh doanh ở doanh nghiệp diễn ra bình thường và nâng cao vị thế của doanh nghiệp, tạo thế và lực cho doanh nghiệp không những ở thị trường quốc tế mà cả thị trường trong nước thông qua việc mua bán hàng hoá ở thị trường trong và ngoài nước, cũng như việc mở rộng các quan hệ bạn hàng
- Thương mại quốc tế có vai trò điều tiết, hướng dẫn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
2 Chính sách thương mại của Hoa Kỳ
2.1 Sơ lược nền kinh tế Hoa Kỳ
- Trong thời buổi cạnh tranh khốc liệt như hiện nay, để có được một chỗ đứng vững vàng, chắc chắn thì chắc hẳn một quốc gia sẽ phải có được những lợi thế, những chiến lược phát triển thuộc vào loại tầm cỡ thì mới có thể làm được việc đó Đặc biệt đối với nước gần như dẫn đầu thế giới về mọi mặt như Hoa Kỳ thì đó lại càng
là một thách thức vô cùng to lớn Với nền thương mại quốc tế lớn nhất toàn cầu thì Hoa Kỳ là cái tên được nhắc đến rất nhiều và là một nước có ảnh hưởng rất lớn đến nền kinh tế của tất cả các nước trên toàn hế giới
- HoaKỳ hay Mỹ (tên chính thức: Hợp chủng quốc Hoa Kỳ , là một nước Cộng
hòa lập hiến liên bang gồm có 50 tiểu bang và một đặc khu liên bang Đứng thứ ba
về dân số và diện tích trên thế giới.Trong nhiều thập kỷ, nó đã dẫn đầu thế giới về nhập khẩu, đồng thời còn là một trong ba nhà xuất khẩu hàng đầu của thế giới Được biết đến như là tâm điểm chính của thương mại thế giới và là thị trường xuất khẩu hàng đầu cho gần 60 quốc gia kinh doanh trên toàn thế giới
- Hoa Kỳ là một quốc gia có tầm ảnh hưởng lớn trong nền kinh tế toàn cầu được thể hiện rõ nhất thông qua sự ảnh hưởng của các chính sách thương mại đối với các quốc gia khác, là trụ sở chính của hầu hết các trung tâm và tổ chức tài chính lớn nhất thế giới cùng với việc sở hữu đồng tiền mạnh USD – được xem là phương tiện thanh toán toàn cầu thì các chính sách của Hoa kỳ đã gây ảnh hưởng mạnh và trực tiếp đến mậu dịch thương mại quốc tế Trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế hiện nay đều đòi hỏi sự thay đổi lớn để tránh các tác động tiêu cực do mở cửa thị trường gây ra Hoa Kỳ cũng không ngoại lệ, do đó đòi hỏi các chính sách phải linh hoạt và có độ nhạy với các thay đổi của môi trường thương mại Để biết được các phương pháp đối phó với tình hình mới của một nền kinh tế lớn với nhiều kinh nghiệm vượt qua khủng hoảng ta sẽ tìm hiểu một số chính sách thương mại quốc
tế mà quốc gia này đã áp dụng
Trang 62.2 Bối cảnh hoạt động ngoại thương
- Các chính sách ngoại thương của Mỹ đã đổi hướng mạnh mẽ trong hơn hai thế kỷ
từ khi Mỹ trở thành một quốc gia Trong buổi đầu của lịch sử dân tộc, chính phủ
và doanh nghiệp tập trung hầu hết vào phát triển nền kinh tế trong nước mặc cho những diễn biến xảy ra ở nước ngoài Nhưng từ cuộc Đại khủng hoảng kinh tế của những năm 1930 và Chiến tranh thế giới thứ hai, đất nước nhìn chung tìm cách giảm bớt hàng rào thương mại và phối hợp với hệ thống kinh tế thế giới Sự cam kết về thương mại tự do này có nguồn gốc cả về kinh tế lẫn chính trị; nước Mỹ ngày càng tiệm cận với cách nhìn nhận thương mại rộng mở không chỉ là phương tiện gia tăng lợi ích kinh tế của chính mình mà cũng còn là chìa khóa để xây dựng các mối quan hệ hòa bình giữa các quốc gia
- Hoa Kỳ thống lĩnh nhiều thị trường xuất khẩu trong phần lớn giai đoạn sau chiến tranh - đó là kết quả của sức mạnh kinh tế vốn có của nó, của thực tế là máy móc công nghiệp không hề bị đụng chạm gì đến bởi chiến tranh, và của các tiến bộ về khoa học công nghệ và kỹ thuật chế tạo của Mỹ Mặc dầu vậy, đến thập kỷ 1970, khoảng cách cạnh tranh về xuất khẩu giữa Mỹ và các nước khác đã trở nên hẹp dần Hơn thế nữa, các cú sốc về giá dầu mỏ, sự trì trệ kinh tế toàn cầu và sự gia tăng giá trị trao đổi ngoại tệ của đồng đôla đã cùng kết hợp với nhau trong suốt thập kỷ 1970 gây phương hại đến cán cân thương mại của Mỹ Thâm hụt thương mại của Mỹ ngày càng tăng cho đến tận những năm 1980 và 1990 do sở thích dùng hàng hóa nước ngoài của người Mỹ vẫn luôn trội hơn so với cầu về hàng hóa
Mỹ tại các nước khác Điều này phản ánh cả xu thế tiêu dùng nhiều hơn và tiết kiệm ít hơn của người Mỹ so với người dân châu Âu và Nhật Bản lẫn thực tế là trong giai đoạn này nền kinh tế Mỹ phát triển nhanh hơn châu Âu và Nhật Bản là nước đang gặp khó khăn về kinh tế
- Các tiến bộ công nghệ làm cho những hoạt động chuyển các công đoạn sản xuất ra nước ngoài như vậy càng trở nên thực tế hơn, và một số công ty tìm kiếm lợi thế
về mức lương thấp hơn ở nước ngoài, ít chướng ngại điều tiết hơn, và các điều kiện khác có thể làm giảm chi phí sản xuất
Tuy vậy, một yếu tố còn lớn hơn dẫn tới thâm hụt thương mại của Mỹ phình lên là giá trị đồng đôla tăng quá cao
- Gia tăng thâm hụt thương mại làm giảm bớt sự ủng hộ chính trị trong Quốc hội
Mỹ về tự do hóa thương mại trong thập kỷ 1980 và 1990 Các nhà lập pháp xem xét một loạt các kiến nghị bảo hộ trong suốt thời gian này, nhiều kiến nghị trong
số đó là của các ngành công nghiệp Mỹ đang phải đối mặt với cuộc cạnh tranh ngày càng hiệu quả của các nước khác Quốc hội cũng trở nên miễn cưỡng trong việc trao cho tổng thống quyền tự do hành động để thương lượng các hiệp định mới về tự do hóa thương mại với các nước khác Đỉnh cao của những hành động
đó là khi chấm dứt thời kỳ Chiến tranh lạnh, Hoa Kỳ đã áp đặt rất nhiều cấm vận thương mại đối với các quốc gia bị nước này coi là vi phạm các chuẩn mực hành
Trang 7vi được chấp nhận trong các vấn đề về nhân quyền, chủ nghĩa khủng bố, buôn bán
ma tuý, và phát triển các loại vũ khí giết người hàng loạt
- Mặc dù có những thụt lùi này về tự do thương mại, nhưng Hoa Kỳ vẫn tiếp tục đẩy mạnh tự do hóa thương mại trong các cuộc thương lượng quốc tế ở thập kỷ 1990, như phê chuẩn Hiệp định thương mại tự do Bắc Mỹ (NAFTA), hoàn thiện Vòng đàm phán thương mại đa phương Urugoay, và gia nhập các hiệp định đa phương nhằm thiết lập các quy định quốc tế về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và thương mại trong các dịch vụ viễn thông cơ bản và tài chính
- Tuy nhiên, cho đến tận cuối những năm 1990, định hướng tương lai của chính sách thương mại Hoa Kỳ vẫn còn chưa chắc chắn Chính thức, quốc gia này vẫn còn cam kết thực hiện tự do thương mại khi nó theo đuổi vòng đàm phán thương mại
đa phương mới; tiến hành xây dựng các hiệp định tự do hóa thương mại khu vực liên quan tới châu Âu, Mỹ Latinh, và châu Á; đồng thời tìm cách giải quyết tiếp các tranh chấp thương mại song phương với các quốc gia khác Nhưng sự ủng hộ chính trị cho những chính sách như vậy vẫn còn là một vấn đề Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa rằng Hoa Kỳ có ý định rút khỏi nền kinh tế toàn cầu Một số cuộc khủng hoảng tài chính, đặc biệt cuộc khủng hoảng làm rung chuyển châu Á vào cuối những năm 1990, đã cho thấy sự phụ thuộc lẫn nhau ngày càng tăng giữa các thị trường tài chính toàn cầu Khi Hoa Kỳ và các quốc gia khác tiến hành xây dựng các công cụ để giải quyết hoặc ngăn ngừa những cuộc khủng hoảng như vậy, họ nhận thấy mình đang xem xét những ý tưởng cải cách mà đòi hỏi phải gia tăng sự phối hợp và hợp tác quốc tế trong những năm tới
2.3 Thành tựu của chính sách thương mại tự do của Hoa Kỳ
Hoa Kỳ đã phê chuẩn ba hiệp định thương mại tự do với Colombia, Hàn Quốc và Panama, các thỏa thuận này sẽ tăng xuất khẩu của Mỹ và việc làm của người Mỹ
Tính đến 15 tháng 3 năm 2012, các hiệp định thương mại Mỹ-Hàn Quốc hiệp định thương mại quan trọng nhất trong gần hai thập kỷ, bây giờ là có hiệu lực Các cơ hội thỏa thuận này cung cấp cho các nhà sản xuất Mỹ, các nhà cung cấp dịch vụ, nông dân, chủ trang trại, và người lao động là những thành phần chính của Sáng kiến xuất khẩu quốc gia của Tổng thống Obama, nhằm mục đích tăng gấp đôi xuất khẩu của Mỹ vào cuối năm
2014 và hỗ trợ việc làm thêm ở Mỹ Cắt giảm thuế quan sẽ tăng xuất khẩu hàng hóa của
Mỹ $ 10-11 tỷ USD, hỗ trợ ước tính khoảng 70.000 việc làm trên khắp đất nước Cơ hộ I
Trang 8xuất khẩu cũng sẽ phát triển như là thỏa thuận mở của Hàn Quốc $ 580 tỷ thị trường dịch
vụ, sắp xếp hợp lý làm thủ tục hải quan, làm giảm tệ quan liêu, và tốt hơn bảo vệ quyền
sở hữu trí tuệ của Mỹ
Phê duyệt Hiệp định thương mại tự do Mỹ-Colombia Xúc tiến thương mại (TPA) 2007 sẽ
hỗ trợ them nhiều việc làm Mỹ, tăng xuất khẩu của Mỹ, và tăng cường khả năng cạnh tranh của Mỹ Hiệp định thương mại toàn diện loại bỏ thuế quan và các rào cản khác để xuất khẩu của Mỹ, mở rộng thương mại giữa hai nước và thúc đẩy kinh tế tăng trưởng cho cả hai.Ủy ban Thương mại Quốc tế (ITC) đã ước tính rằng việc cắt giảm thuế quan trong Hiệp định sẽ mở rộng xuất khẩu của Mỹ một mình hơn $ 1,1 tỷ đồng, hỗ trợ hàng ngàn việc làm thêm ở Mỹ ITC cũng được dự đoán rằng Hiệp định sẽ làm tăng GDP của
Mỹ $ 2,5 tỷ USD Hiệp định sẽ cung cấp truy cập mới đáng kể cho thị trường dịch vụ của Colombia $ 166 tỷ USD, hỗ trợ tăng cơ hội cho các nhà cung cấp dịch vụ của Hoa Kỳ Hàng hóa của Mỹ xuất khẩu sang Cô-lôm-bi-a trong năm 2010 là $ 12,0 tỷ Nền kinh tế của chúng tôi chủ yếu bổ sung về hàng hoá chúng tôi tàu nhau
Mỹ sử dụng chính sách bảo hộ cho ngành công nghệ thông tin và ngành công nghiệp IT ở các cấp độ khác nhau tại Ấn Độ
2.4 Tổng quan về nền kinh tế Hoa Kỳ trong thời gian gần đây
- Xếp thứ nhất về sản lượng kinh tế, còn gọi là tổng sản phẩm quốc nội (GDP), đạt 13,13 nghìn tỷ đô-la Mỹ trong năm 2006 Với ít hơn 5% dân số thế giới, khoảng 302 triệu người, nước Mỹ chiếm 20 đến 30% tổng GDP của toàn thế giới Riêng GDP của một bang – bang California - đạt 1,5 nghìn tỷ trong năm 2006, đã vượt quá GDP của tất cả các nước, chỉ trừ 8 nước, vào năm đó
- Đứng đầu về tổng kim ngạch nhập khẩu, khoảng 2,2 nghìn tỷ đô-la Mỹ, gấp 3 kim ngạch nhập khẩu của nước đứng thứ hai là Đức
- Đứng thứ hai về xuất khẩu hàng hóa – 1 nghìn tỷ trong năm 2006 - chỉ sau Đức, mặc
dù theo dự báo, Trung Quốc sẽ vượt Mỹ vào năm 2007 Đứng thứ nhất về xuất khẩu dịch
vụ với 422 tỷ đô-la trong năm 2006
- Đứng thứ nhất về thâm hụt thương mại, 785,5 tỷ đô-la trong năm 2006, lớn hơn rất nhiều lần so với bất kỳ quốc gia nào khác
- Đứng thứ hai về chuyên chở container đường biển trong năm 2006, chỉ sau Trung Quốc
- Đứng thứ nhất về nợ nước ngoài, ước tính hơn 10 nghìn tỷ đô-la vào giữa năm 2006
- Là địa điểm thu hút nhiều đầu tư trực tiếp nước ngoài nhất – trong lĩnh vực kinh
Trang 9doanh và bất động sản - đạt khoảng 177,3 tỷ đô-la trong năm 2006 Đứng đầu về địa điểm rót vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài của 100 tập đoàn đa quốc gia lớn nhất thế giới, bao gồm cả các tập đoàn từ những nước đang phát triển
- Đứng thứ năm về tài sản dự trữ trong năm 2005 với 188,3 tỷ đô-la, chiếm 4% thị phần thế giới, sau Nhật và Trung Quốc (mỗi quốc gia này chiếm 18%), Đài Loan và Hàn Quốc,
và đứng ngay trước Liên bang Nga Đứng thứ 15 về dự trữ ngoại hối và vàng, đạt khoảng
69 tỷ đô-la vào giữa năm 2006
- Đứng đầu về nguồn tiền gửi tại châu Mỹ La tinh và Khu vực Caribê, chiếm khoảng ¾ trong tổng số 62 tỷ đô-la trong năm 2006, từ những người di cư khỏi các khu vực này để tìm kiếm việc làm ở nước ngoài
- Đứng thứ nhất về tiêu thụ dầu mỏ, khoảng 20,6 triệu thùng mỗi ngày vào năm 2006 và đứng thứ nhất về nhập khẩu dầu thô với hơn 10 triệu thùng mỗi ngày
- Đứng thứ 3 về môi trường kinh doanh thông thoáng trong năm 2007, sau Singapore
và New Zealand
- Đứng thứ 20 trên 163, cùng với Bỉ và Chilê về các chỉ số Minh bạch quốc tế năm
2006 nhằm đo lường mức độ tham nhũng (các nền kinh tế có xếp hạng thấp được xem là
ít tham nhũng hơn)
2.5 Hoạt động thương mại quốc tế
2.5.1 Từ chủ nghĩa bảo hộ tới thương mại tự do hóa
- Hoa Kỳ không phải lúc nào cũng là nước chủ trương mạnh mẽ thương mại tự do Đôi khi trong lịch sử của mình, đất nước này còn nghiêng mạnh về chủ nghĩa bảo
hộ kinh tế Chủ nghĩa bảo hộ Hoa Kỳ đạt tới đỉnh cao vào năm 1930 bằng việc ban hành Đạo luật Smoot-Hawley, một đạo luật làm gia tăng rất mạnh các loại thuế quan của Mỹ Đạo luật này đã nhanh chóng dẫn đến sự trả đũa của các nước khác
và góp phần đáng kể vào cuộc khủng hoảng kinh tế đã làm chao đảo nước Mỹ và nhiều nước trên thế giới trong suốt những năm 1930
- Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, nhiều nhà lãnh đạo Hoa Kỳ cho rằng sự ổn định trong nước và sự trung thành tiếp tục của các nước đồng minh của Mỹ phụ thuộc vào sự khôi phục kinh tế của họ Sự giúp đỡ của Mỹ là rất quan trọng đối với sự khôi phục đó, nhưng các quốc gia này cũng cần những thị trường xuất khẩu - đặc biệt là thị trường Mỹ khổng lồ - để giành lại sự độc lập về kinh tế và đạt được tăng trưởng kinh tế Hoa Kỳ đã hỗ trợ cho quá trình tự do hóa thương mại và là nhân tố chủ chốt trong việc tạo ra Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT),
Trang 10đây là một bộ luật quốc tế về các quy định thuế quan và thương mại được ký bởi
23 nước vào năm 1947 Đến cuối thập kỷ 1980, hơn 90 nước đã tham gia hiệp định này
- Bên cạnh việc đặt ra bộ luật hành vi cho các vấn đề thương mại quốc tế, GATT đã
đỡ đầu một số vòng đàm phán thương mại đa phương, và Hoa Kỳ đã tham gia tích cực vào các vòng đàm phán này, thường đảm đương vai trò lãnh đạo
- Hoa Kỳ sẵn sàng cho phép các nước tiếp cận thị trường của mình một cách thuận lợi nếu các nước đó đáp lại bằng cách giảm bớt các rào cản thương mại của chính mình, như là một phần của các hiệp định đa phương hoặc song phương.
- Hoa Kỳ cũng thường xuyên thúc giục các nước khác phi điều tiết hóa các ngành công nghiệp của họ và từng bước bảo đảm rằng các hoạt động điều tiết còn lại là minh bạch, không phân biệt bất lợi đối với các công ty nước ngoài, và phù hợp với thông lệ quốc tế Mối quan tâm của Mỹ về phi điều tiết xuất hiện một phần từ sự
lo lắng rằng một số nước có thể sử dụng điều tiết như là một công cụ gián tiếp để kiềm chế hàng hóa xuất khẩu thâm nhập vào thị trường của họ
Hình ảnh về các nước trong GATT
2.5.2 Đa phương hóa, khu vực hóa và song phương hóa
- Một nguyên tắc khác nữa mà Hoa Kỳ theo đuổi trên vũ đài thương mại là đa phương hoá Trong nhiều năm, nó là cơ sở cho sự tham gia của Mỹ với vai trò lãnh đạo trong các vòng đàm phán thương mại quốc tế kế tiếp nhau Đạo luật mở rộng thương mại năm 1962, là căn cứ cho Vòng đàm phán thương mại Kennedy, đã lên đến cực điểm bằng một hiệp định của 53 quốc gia chiếm 80% thương mại quốc tế nhất trí cắt thuế quan với mức trung bình là 35% Năm 1979, do kết quả thành công của Vòng đàm phán Tokyo, Mỹ và gần 100 nước khác đã đồng ý đẩy mạnh cắt giảm thuế quan và giảm bớt các hàng rào thương mại phi thuế quan như các yêu cầu về cấp giấy phép
- Bên cạnh những cam kết về chủ nghĩa đa phương, những năm gần đây Mỹ cũng theo đuổi các hiệp định thương mại khu vực và song phương, một phần do các