Khái quát quan hệ thương mại Mỹ - EU : - EU là đối tác thương mại quan trọng và lớn nhất trên thế giới của Mỹ kể cả xuất khẩu, nhập khẩu cũng như đầu tư, quan hệ này ngày càng lớn mạnh c
Trang 1CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI CỦA HOA KỲ
I.CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI CỦA HOA KỲ ĐỐI VỚI EU
1 Khái quát quan hệ thương mại Mỹ - EU :
- EU là đối tác thương mại quan trọng và lớn nhất trên thế giới của Mỹ (kể cả xuất khẩu, nhập khẩu cũng như đầu tư), quan hệ này ngày càng lớn mạnh cùng với sự mở rộng của EU thành EU-27 từ 1/1/2007
- Mỹ và EU chiếm khoảng một nửa tổng GDP của thế giới, vì vậy quan hệ này không chỉ quan trọng đối với nền kinh tế Mỹ và EU mà còn gây ảnh hưởng rất lớn đến nền kinh tế thế giới Do đó Mỹ luôn chú trọng phát triển quan hệ thương mại với EU, thể hiện qua các hội nghị, các hiệp định thương mại song phương và đa phương và đặc biệt qua các con số thực tiễn
- Năm 2009, kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu của Mỹ - EU như sau:
Hàng hóa: nhập khẩu khoảng $286 tỷ , xuất khẩu khoảng $223 tỷ
Dịch vụ: nhập khẩu khoảng $167 tỷ và xuất khẩu khoảng $178 tỷ
Đầu tư: Mỹ đầu tư vào EU khoảng $71 tỷ, EU đầu tư vào Mỹ khoảng $170 tỷ
- Tuy nhiên, cũng vì đây là hai nền kinh tế phát triển vào bậc nhất trên thế giới, trong quan hệ thương mại, hai bên luôn phải cạnh tranh với nhau và cũng không thể tránh khỏi xảy ra mâu thuẫn, tranh chấp
2 Chính sách cạnh tranh của Mỹ đối với EU
Về nông nghiệp:
- Mỹ thực hiện các chính sách trợ cấp cho ngành nông nghiệp với mức trợ cấp rất lớn khoảng $20 tỷ mỗi năm, đồng thời Mỹ cũng đánh thuế nhập khẩu đối các mặt hàng nông sản từ EU rất cao Tuy nhiên, mức trợ cấp và mức thuế của EU cũng không hề thấp Để tạo môi trường thân thiện hơn cho lĩnh vực thương mại nông nghiệp, Mỹ đã lên kế hoạch cắt giảm dần khoảng 60% trợ cấp và 90% thuế cho nông nghiệp với điều kiện EU cũng phải cam kết cắt giảm ít nhất 50% thuế (trong khi mức thuế hiện nay là 90%)
- Việc EU đưa ra lệnh cấm nhập khẩu và sử dụng thực phẩm biến đổi gen khiến Mỹ hằng năm phải gánh chịu thiệt hại kinh tế lên đến hàng trăm triệu USD , tranh chấp ngày càng căng thẳng và Mỹ đã phải nhờ tới sự can thiệp của WTO
- EU còn gây áp lực với Mỹ bằng các tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm Để đáp trả,
Mỹ cũng áp dụng các biện pháp trừng phạt thuế quan “Cuộc chiến hormone” (việc sử dụng hormone tăng trưởng đối với sản phẩm thịt bò của Mỹ) là một mâu thuẫn lớn trong quan hệ thương mại giữa hai bên trong suốt hơn 20 năm
Về công nghiệp:
- Chiến tranh thép đã từng khiến quan hệ thương mại Mỹ-EU trở nên căng thẳng.Với lập luận để bảo vệ nền công nghiệp thép của Mỹ- một nền công nghiệp với quá nhiều công
ty hoạt động manh mún, chi phí lao động cao, Mỹ đã tăng thuế nhập khẩu thép từ 8 lên 30% Ngay sau đó, EU cũng đưa ra danh sách các mặt hàng nhập khẩu từ Mỹ phải chịu mức thuế và quota mới để trả đũa
- Hàng không là một thị trường đem lại những khoản lợi nhuận khổng lồ cho cả Mỹ và
EU Trong nhiều năm, hai hãng máy bay Boeing của Mỹ và Airbus của châu Âu đã có nhiều khiếu nại lẫn nhau tại WTO về các khoản trợ giá Mỹ đệ đơn kiện lên WTO, cáo buộc EU vi phạm khi hào phóng trợ giá Airbus phát triển các loại máy bay mới Ngay sau đó, EU cũng phản pháo bằng việc đệ đơn kiện Mỹ sử dụng các nguồn vốn hỗ trợ không chính đáng cho Boeing
Trang 2 Dù là những đối tác chiến lược, lâu dài của nhau nhưng việc cạnh tranh, mâu thuẫn
là không tránh khỏi trong quan hệ thương mại giữa Mỹ và EU
II CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI CỦA HOA KỲ ĐỐI VỚI NHẬT BẢN
1 Khái quát quan hệ thương mại Mỹ - Nhật
Quan hệ thương mại hai nước thực sự nở rộ kể từ sau “sự thần kỳ Nhật Bản” Năm
1965, Nhật bắt đầu thời kỳ xuất siêu sang Mỹ của mình Nếu như Nhật Bản luôn đạt được mức thặng dư thương mại rất cao thì ngược lại, Mỹ phải gánh chịu khoản thâm hụt không hề nhỏ, phần lớn là do những chính sách hạn chế nhập khẩu và nguồn vốn đầu tư nước ngoài của chính phủ Nhật
Những năm 90 được coi là thời kỳ của những va chạm trong mối quan hệ này, khi Mỹ bắt đầu cứng rắn hơn với đối tác và Nhật cũng muốn khẳng định sự độc lập của mình với Mỹ Tuy nhiên, sau cuộc khủng hoảng tài chính Đông Á, cùng với sự nổi lên của Trung Quốc, Mỹ dần lấy lại thế cân bằng nhất định và Nhật dần mất đi sự quan tâm của đối tác số Một của mình
2 Nội dung chính sách Mỹ
Chính sách thương mại của Mỹ dành cho Nhật là kết hợp giữa 2 mặt tự do hóa thị trường của Nhật Bản và sử dụng các biện pháp bảo hộ cho nền kinh tế trong nước
Tự do hóa thị trường Nhật Bản
- Gây sức ép mở cửa nền kinh tế
- Khuyến khích và thúc đẩy Nhật Bản thay đổi luật pháp, cải cách cơ cấu
- Tăng cường đầu tư trực tiếp của nước ngoài vào Nhật Bản
- Khuyến khích Nhật Bản phát triển dựa vào nhu cầu trong nước
- -Thúc đẩy Nhật tham gia vào các diễn đàn, đàm phán đa phương
Các biện pháp bảo hộ
- Mỹ áp dụng các biện pháp thuế quan và phi thuế quan lên các mặt hàng mũi nhọn của Nhật Bản xuất khẩu vào Mỹ, đặc biệt là ngành chế tạo
- Hạn chế cơ hội đầu tư ở Mỹ của Nhật Bản
3 Triển khai
a Tự do hóa thị trường
- Đơn phương: Phá giá tiền tệ, ủng hộ các nhà lãnh đạo thân Mỹ…
- Song phương: các cuộc hội đàm chính, ký kết các hiệp định như: Hiệp định khung Mỹ-Nhật, Hiệp định tăng cường xóa bỏ quy chế năm 1998, Hiệp định đầu tư song phươmg BIT )
- Đa phương: Mỹ ủng hộ Nhật gia nhập GATT/WTO, vòng đám Uruguay, Hiệp định hạn chế xuất khẩu tự nguyện,
b Các biện pháp bảo hộ
- Đe dọa sử dụng điều khoản Siêu 301
- Áp dụng thuế các mặt hàng oto và linh kiện từ Nhật (mà gần đây là thuế đánh vào linh kiện vòng bi của Nhật)
- Đạo luật Exon-Florio
Quan hệ thương mại giữa hai người khổng lồ này tuy cũng có lúc bị đẩy đến mức căng thẳng, nhưng do ràng buộc về chính trị nên cả hai luôn cố gắng dàn xếp các xung đột này Trong thời kỳ Nhật Bản lâm vào khủng hoảng và suy thoái cuối 90s, nhờ những hỗ
Trang 3trợ về kỹ thuật và quản lý từ Mỹ nên nước này dần dần vực dậy nền kinh tế, nhưng đồng thời cũng phải chứng kiến “sự hoán vị’ về sức mạnh kinh tế
III CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI CỦA HOA KỲ ĐỐI VỚI TRUNG QUỐC
1 Nội dung chính sách:
Trong thời kỳ chiến tranh lạnh: chính sách bao vây và cấm vận đối với Trung Quốc sau
sự kiện Thiên An Môn T6/1989
Trong những năm 90, Chính sách thương mại của Mỹ dựa trên nguyên tắc “can dự và
mở rộng”:
- Khôi phục lại các hình thức buôn bán, đầu tư, liên doanh kinh tế giữa Mỹ và TQ, không phản đối các tổ chức tài chính quốc tế cho TQ vay tiền, đồng thời đề ra một số chính sách và biện pháp buộc TQ mở cửa thị trường
- Thông qua buôn bán để thúc đẩy TQ mở cửa hơn nữa cho hàng hóa Mỹ, dành quyền đi vào thị trường TQ trên một số lĩnh vực quan trọng như hàng không, thiết bị viễn thông, máy tính
- Thúc đẩy TQ xóa bỏ hàng rào phi thuế quan còn tồn tại, loại bỏ hệ thống quản lý ngoại
tệ phức tạp, hạ thấp thuế quan đánh vào hàng Mỹ
- Cải tiến các biện pháp hỗ trợ các xí nghiệp buôn bán và hợp tác với TQ, tạo điều kiện cho các công ty Mỹ có thể cạnh tranh với các công ty khác trong hoạt động đầu tư ở TQ
Từ 2000 đến nay, Mỹ thi hành chính sách “can dự kinh tế” với Trung Quốc
- Khuyến khích nền kinh tế TQ phát triển ổn định theo hướng thị trường một cách toàn diện
- Mỹ muốn thâm nhập sâu vào nền kinh tế TQ
- Tiếp tục kiềm chế TQ nhưng phải duy trì hợp tác cùng có lợi
2 Triển khai chính sách:
- 1996, Mỹ chính thức trao quy chế tối huệ quốc cho TQ
- Thúc đẩy đàm phán và hướng TQ hội nhập vào nền kinh tế thế giới Cuối 1999, 2 nước đạt được những thỏa thuận quan trọng, mở đường cho TQ gia nhập WTO, đây là kết quả 10 năm đàm phán giữa hai nước
- 2000, Mỹ thông qua quy chế thương mại bình thường vĩnh viễn cho TQ
- Sử dụng hàng rào kỹ thuật hạn chế hàng hóa của TQ: dư lượng chất kháng sinh, dịch bệnh, chất bảo quản, tiêu chuẩn mẫu mã, quy cách sản phẩm
- Tăng cường hỗ trợ đầu tư vào TQ để tiếp cận thị trường TQ
- Chống bán phá giá đối với hàng TQ: sản phẩm dệt may, đồ gia dụng, sản phẩm nông nghiệp
- Gây sức ép đòi TQ nâng giá đồng NDT và thực hiện nghiêm túc quyền sở hữu trí tuệ, gây áp lực TQ mở cửa nhiều hơn nữa và tăng tiêu dùng nội địa TQ
IV CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI HOA KỲ ĐỐI VỚI CÁC NƯỚC ASEAN
1 Nội dung chính sách:
Trong khu vực châu Á cũng như trên thế giới, vị thế của ASEAN ngày càng được khẳng định Trong thời gian gần đây, cùng với chính sách châu Á và cách nhìn nhận đúng đắn về sự phát triển của ASEAN, Mỹ dười thời kỳ tổng thống Obama đã mở rộng
Trang 4quan hệ thương mại với các nước trong khu vực và đưa ASEAN trở thành bạn hàng lớn thứ tư sau NAFTA, EU và Nhật Bản
2 Triển khai chính sách:
Đối với khu vực ASEAN nói chung, trong giai đoạn triển khai chính sách châu Á
của mình, Mỹ và cụ thể là ASEAN đã đạt được những thành tựu nhất định:
- Trao đổi hàng hoá hai chiều ASEAN - Mỹ đạt 84 tỉ USD trong 6 tháng đầu năm nay, tăng 28% so với năm trước
- Nguồn đầu tư trực tiếp nước ngoài của Mỹ tại ASEAN đạt tổng 153 tỉ USD năm 2008
- Nguồn đầu tư trực tiếp nước ngoài của ASEAN tại Mỹ là 13,5 tỉ USD
Trong khu vực có ba quốc gia tiêu biểu nhất cho việc phát triển thương mại ASEAN - Mỹ đó là : Indonesia, Việt Nam và Singapore
Indonesia: Indo là thị trường tiềm năng (đứng thứ 4 thế giới về dân số với khoảng 237
triệu người) Hiện Indonesia chưa phải là đối tác thương mại quan trọng của Mỹ Tuy nhiên, Mỹ đang muốn tăng gấp đôi xuất khẩu sang châu Á và Indonesia là một trong những thành viên chủ chốt của ASEAN và là một trong những nền kinh tế mới nổi của khu vực nằm trong nhóm G20
Việt Nam: Hàng xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường Mỹ đạt giá trị 7,9 tỷ USD,
tăng 14% so với cùng kì năm ngoái
+ Hàng dệt may vẫn đứng đầu danh sách các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam vào Mỹ, đạt 3,2 tỷ USD, tăng 12%; tiếp theo là đồ gỗ và nội thất, đạt 985 triệu USD, tăng 27%; và giày dép, đạt gần 910 triệu USD, tăng 9,6%
+ Về nông sản, đạt giá trị xuất khẩu 455 triệu USD, tăng 30,7%; và thủy sản, đạt giá trị 366 triệu USD, tăng 5,9%
+ Cũng trong thời gian này, nhập khẩu từ Mỹ vào Việt Nam đạt hơn 2 tỷ USD,
+ Thương vụ Việt Nam tại Mỹ ước tính kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ năm 2010 có thể đạt 14,2 tỷ USD, tăng 15% so với năm 2009
Singapore: Vào năm 2004, Mỹ và Singapore đã ký Hiệp định thương mại tự do Từ khi
hiệp định được đưa vào thực thi năm 2004, trao đổi thương mại giữa hai nước đã tăng thêm 20% , đạt 86,3 tỷ SGD năm 2008 Các luồng đầu tư song phương cũng tăng trưởng kỷ lục, đạt mức 51,5 tỷ SGD năm 2007 ( cuối năm 2003 mới chỉ là 37,7 tỷ SGD)
Mặc dù, ASEAN là một đối tác quan trong trong thương mại của Mỹ nhưng cho dù Tổng thống Obama đã nói đến tầm quan trọng của thương mại ở châu Á trong bản Thông điệp Liên bang năm 2010 và trong chuyến thăm châu Á hồi tháng 9/2009, thực
tế là Mỹ vẫn chưa có một chiến lược thương mại rõ ràng Do đó, mà thành tựu đạt được trong quan hệ thương mại Mỹ- ASEAN chưa có gì nổi bật