Trong đề tài này, nhóm tác giả đi sâu phân tích chính sách thương mại quốc tế hay được hiểu là những quy định của Chính phủ nhằm điều chỉnh hoạt động thương mại quốc tế, được thiết
Trang 11
MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
DANH MỤC BẢNG, HÌNH 1
MỞ ĐẦU 2
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI 10
1.1 Cơ sở lý luận về chính sách thương mại 10
1.2 Các mô hình hội nhập kinh tế khu v ực và thế giới ngày nay 21
Chương 2 CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI CỦA BA NƯỚC ĐÔNG ÂUKHI GIA NHẬP LIÊN MINH CHÂU ÂU 25
2.1 Chính sách thượng củ a Ba Lan sau khi gia nhâ ̣p EU 25
2.2 Chính sách thương mại của Czech 31
2.3 Chính sách thương mại của Hungary 35
2.4 Đánh giá chung về chính sách thương mại của các nước Đông Âu sau khi gia nhập EU và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 39
Chương 3 CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI CỦA VIỆT NAM VỚI ASEAN 42
3.1 Cộng đồng kinh tế ASEAN 42
3.2 Chính sách thương mại của Việt Nam sau khi gia nhập WTO 46
3.3 So sánh điều kiê ̣n của Viê ̣t Nam v ới ASEAN - 6 47
3.4 Thương mại Viê ̣t Nam v ới các nước ASEAN trong thời gian gần đây 50
3.5 Hệ thống cam kết quốc tế trong thương mại quốc tế của Việt Nam 57
3.6 Quá trình điều chính CSTM của Việt nam khi hội nhập AEC 58
3.7 Đánh giá chung về chinh sách th ương ma ̣i của Viê ̣t Nam hâ ̣u WTO 66
Chương 4 KHUYẾN NGHỊ XÂY DỰNG CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI CỦA VIỆT NAM SAU KHI GIA NHẬP AEC 70
4.1 Bối cảnh thế giới và trong nước có tác động đến quan hệ thương mại hàng hóa của Việt Nam với các nước ASEAN 70
4.2 Thách thức và cơ hô ̣i khi Viê ̣t Nam gia nhâ ̣p AEC 78
4.2 Quan điểm, định hướng xây dựng chính sách thương mại của Việt Nam sau khi gia nhập AEC 82
4.4 Khuyến nghị giải pháp xây dựng chính sách thương mại của Việt Nam sau khi gia nhập AEC 84
KẾT LUẬN 95
TÀI LIỆU THAM KHẢO 96
Trang 21
DANH MỤC BẢNG, HÌNH Danh mu ̣c bảng biểu
2.1 Kim nga ̣ch thương ma ̣i của Ba Lan giai đoa ̣n 2010 - 2014 35
3.1 Các thị trường ASEAN trong XNK của Việt Nam 56
Danh mục hình
3.1 So sánh các trụ cô ̣t phản ánh năng lực ca ̣nh tranh của Viê ̣t
Nam với ASEAN 6 đến năm 2014
52
3.2 Kim ngạch xuất nhâ ̣p khẩu giữa Viê ̣t Nam và ASEAN 55
3.3 Cơ cấu nhóm hàng hóa nhâ ̣p khẩu của Viê ̣t Nam từ các nước
ASEAN
55
Trang 32
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Từ ngày 31/12/2015, cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) chính thức được thành lập, khi bản tuyên bố thành lâ ̣p có hiê ̣u lực ngay sau đó AEC là một trong ba trụ cột quan trọng của Cộng đồng ASEAN nhằm thực hiện các mục tiêu đề ra trong Tầm nhìn ASEAN 2020 Hai trụ cột còn lại là: Cộng đồng An ninh ASEAN và Cộng đồng Văn hóa - Xã hội ASEAN
Cộng đồng Kinh tế ASEAN là việc thực hiện mục tiêu cuối cùng của hội nhập kinh tế trong "Tầm nhìn ASEAN 2020", nhằm hình thành một khu vực kinh tế ASEAN ổn định, thịnh vượng và có khả năng cạnh tranh cao, trong đó hàng hóa, dịch
vụ, đầu tư sẽ được chu chuyển tự do, và vốn được lưu chuyển tự do hơn, kinh tế phát triển đồng đều, đói nghèo và chênh lệch kinh tế - xã hội được giảm bớt vào năm 2020
Gia nhâ ̣p AEC đ ược Đảng ta và Nhà nước đánh giá là cơ hội và thách thức đối với nền kinh tế Viê ̣t Nam trong tiến trình hô ̣i nhâ ̣p khu vực và quốc tế Từ năm 1986 đến nay, Viê ̣t Nam luôn lấy xuất khẩu làm đô ̣ng lực tăng trưởng kinh tế Vì thế, gia nhâ ̣p AEC là mô ̣t cơ hô ̣i lớn cho xuất nhâ ̣p khẩu của Viê ̣t Nam Tuy nhiên, nêu thực hiê ̣n tốt các khâu chuẩn bi ̣ và theo ki ̣p các nước trong ASEAN 6, thì đây sẽ là cơ hội mở ra mô ̣t thi ̣ trường tiêu dùng với hơn 620 triê ̣u dân (tính cả Việt Nam ) và GDP khoảng hơn 2.000 tỉ USD Hiện nay, các nước thành viên ASEAN là đối tác cung cấp hàng hóa cho Việt Nam lớn thứ 2 (chỉ sau Trung Quốc) và là khu vực thị trường xuất khẩu lớn thứ 3 của Việt Nam (sau Hoa Kỳ và EU ) Ngươ ̣c lại, nếu không có sự chuẩn
bị chu đáo cho tiến trình hội nhập , thì nguy cơ mất thị trường nội địa đối với các doanh nghiê ̣p trong nước là hoàn toàn có thể diễn ra
Trên thưc tế , ASEAN đang đươ ̣c chia thành 2 nhóm, 4 nước đang phát triển (Việt Nam, Lào, Campuchia, Myanma) và 6 nước còn la ̣i ở mă ̣t bằng cao hơn Thực trạng Việt Nam gia nhập AEC có nhiều nét tương đồng với các nước Đông Âu
(Czech, Ba Lan , Hungari) khi gia nhập Liên minh Châu Âu (EU) Việt Nam có nền kinh tế chuyển đổi và cơ cấu kinh tế tường đối giống với 3 nước Đông Âu giai đoa ̣n
2004 Ngoài ra , trình độ khoa học công nghệ của Việt Nam cũng thấp hơn nhóm ASEAN 6, hàng hóa khó cạnh tranh được với các nước ở n hóm trên Điều này cũng
Trang 43
tương đồng như 3 nước Đông Âu với các nước thuô ̣c EU cũ , có sự e ngại tại các quốc gia này về khả năng ca ̣nh tranh của hàng hóa trong nước với hàng hóa của các nước
EU Các nước Đông Âu và Việt Nam đ ều coi việc gia nhập cộng đồng kinh tế là một
cơ hô ̣i để thúc đẩy xuất khẩu hỗ trợ phát triển kinh tế và xã hô ̣i
Từ những vấn đề cấp thiết trên , viê ̣c nghiên cứu chính sách thương ma ̣i của Viê ̣t Nam hiê ̣n nay và những điều kiê ̣n thực tiễn trong xuất nhâ ̣p khẩu đang diễn ra là viê ̣c làm có ý nghĩa về cả lý luâ ̣n và thực tiễn Đề tài hướng đến viê ̣c đưa ra mô ̣t khuyến nghi ̣ cho viê ̣c xây dựng chính sách thương ma ̣i ta ̣i Viê ̣t Nam sau khi gia nhâ ̣p AEC, dựa trên những kinh nghiê ̣m có thể vâ ̣n du ̣ng được của chính sách thương ma ̣i tại các nước Đông Âu sau khi gia nhập EU
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đền đề tài trong nươ ́ c và quốc tế
Chính sách thương mại (CSTM) đã là mô ̣t thuâ ̣t ngữ phổ biến hiê ̣n nay trên thế giới cũng như ta ̣i Viê ̣t Nam Tổ chức thương ma ̣i thế giới (WTO) đã cung cấp thông tin về các nô ̣i dung của chính sách thương ma ̣i trên trang web của tổ chức n ày Tại Viê ̣t Nam, Phòng Thương ma ̣i và Công nghiê ̣p Viê ̣t Nam (VCCI) cũng đã cung cấp các thông tin về chính sách thương mại và hội nhập trên trang web
www.trungtamwto.vn Có thể thấy , thông tin về chính sách thương ma ̣ i hiê ̣n nay rất phổ biến trên cả bình diê ̣n quốc tế và trong nước
Có rất nhiều công trình trong nước nghiên cứu về CSTM qua các thời kỳ khác nhau Mỗi công trình đều nghiên cứu về CSTM của Việt Nam trong một thời kỳ nhất
đi ̣nh Tuy nhiên, do có nhiều đă ̣c thù riêng nên CSTM thay đổi liê n tu ̣c, nó chịu ảnh hưởng của rất nhiều các yếu tố tác đô ̣ng từ bên trong và bên ngoài Vì thế, nghiên cứu CSTM cho từ ng thời điểm ta ̣i mỗi quốc gia là luôn cần thiết
Bắt đầu từ năm 2000, nền kinh tế Việt Nam có những bư ớc hô ̣i nhâ ̣p với nền kinh tế khu vực và thế giới , các nhà nghiên cứu cũng đã tiến hành nghiên cứu CSTM cho thời kỳ hô ̣i nhâ ̣p này
Ngay từ năm 2003, Bùi Xuân Lưu đã công bố đề tài cấp bô ̣: “Những điều chỉnh chính sách thương mại Việt Nam s au khi gia nhập ASEAN : hiê ̣n trạng và phương hướng tiếp tục điều chỉnh”, đây là công trình rất sớm nghiên cứu về chính sách thương
mại của Việt Nam đối với khu vực ASEAN Có thể thấy được vai trò quan trọng của ASEAN với thương ma ̣i Viê ̣t Nam trong quá khứ cũng như hiê ̣n ta ̣i và tương lai
Trang 5đi ̣nh hướng đổi mới, hoàn thiện CSTM trong quá trình hô ̣i nhâ ̣p của Viê ̣t Nam
Nguyễn Văn Li ̣ch (2006) thông qua công trình nghiên cứu: “Chính sách thương mại Việt Nam trong giai đoạn hậu gia nhập WTO : vấn đề tha ́ ch thức và phương hướng điều chỉnh”, đã chỉ ra những thách thức lớn mà nền kinh tế Viê ̣t Nam gă ̣p phải
sau khi gia nhâ ̣p WTO : cạnh tranh gay gắt hơn đối với hàng hóa Việt Nam tại cả thị trường trong mà ngoài nước , sự phát triển về thư ơng ma ̣i bi ̣ ràng buô ̣c bởi các yếu tố liên quan đến môi trường , vê ̣ sinh an toàn , tiêu chuẩn kỹ thuâ ̣t Sau những phân tích , tác giả đã sử dụng kinh nghiệm của một số quốc gia khác để nêu ra một số giải pháp cho Viê ̣t Nam
Phạm Thi ̣ Hồng Yến (2008) trong bài viết : “Một số vấn đề điều chỉnh chính sách thương mại trong mối quan hệ với CNH , HĐH và hội nhập KTQT ở các nước đang phát triển”, đã nêu ra những nhân tố tác đô ̣ng đến tốc đô ̣ điều chỉnh ch ính sách
thương ma ̣i ta ̣i các nước đang phát triển như Viê ̣t Nam
Nguyễn Xuân Nữ (2008) giới thiê ̣u công trình nghiên cứu: “Tiếp tu ̣c hoàn thiê ̣n chính sách thương mại quốc tế của Việt Nam nhằm đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế”, cho thấy chính sách thương ma ̣i cần hoàn thiê ̣n theo các lĩnh vực như : hàng hóa, dịch vụ, đầu tư nước ngoài ta ̣i Viê ̣t Nam và bảo hô ̣ quyền sở hữu trí tuê ̣
Từ Thúy Anh (2009) trong bài viết: “Chính sách thương mại quố c tế trong bối cảnh suy thoái toàn cầu” , đã phân tích chính sách thương ma ̣i của Viê ̣t Nam theo cơ
cấu hàng hóa và có chỉ ra được những khiếm khuyết của cơ cấu hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam
Nguyễn Chiến Thắng (2011) trong tác phẩm : “Chính sách thương mại quốc tế trong mô hình tăng trưởng kinh tế mới giai đoạn 2011- 2020”, qua những phân tích và
đánh giá của mình, tác giả đã đưa ra một số kiến nghị về điều chỉnh chính sách thương mại để hướng tới nâng cao chất lượng tăng trưởng
Hoàng Đức Thân (2012) trong công trình nghiên cứu : “Chính sách thương mại và vấn đề nhập siêu của Việt Nam ”, tại Kỷ yếu Diễn đan kinh tế mùa thu đã phân tích
Trang 65
nguyên nhân nhâ ̣p siêu của Viê ̣t Nam trong 25 năm đổi mới của Viê ̣t Nam Sự bất hợp
lý trong cơ cấu kinh tế được cho là nguyên nhân chính của vấn đề nay
Kết hơ ̣p giữ chính sách thương mại và tăng trưởng kinh tế còn có các công trình của một số tác giả như
- Phan Tiến Ngọc (2014) với công trình : “Tác động của đa dạng hóa mặt hàng xuất khẩu đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam ”, chỉ mối quan hệ giữa việc đa dạng
hóa mặt hàng xuất khẩu sẽ là tiền đề cho tăng trưởng kinh tế , giải quyết vấn đ ề phụ thuô ̣c vào xuất khẩu mô ̣t số mă ̣t hàng chính Đây cũng là giải pháp cho viê ̣c cơ cấu la ̣i các mặt hàng cần đươ ̣c chú tro ̣ng phát triển
- Nguyễn Thị Thu Thủy (2015) giới thiê ̣u tác phẩm: “Tác động của xuất khẩu hàng hóa tới tăng trưởng kinh tế Việt Nam ”, đã cho thấy mối quan hệ giữa xuất khẩu
và tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam Điều này cho thấy nền kinh tế Viê ̣t Nam phu ̣ thuô ̣c rất lớn vào xuất khẩu Do đó, các chính sách thương mại sẽ giữ vai trò rất quan trọng trong việc giúp duy trì tăng trưởng của Viê ̣t Nam trong tương lai
- Lý Hoàng Mai (2015) giớ i thiê ̣u nghiên cứu : “Điều chỉnh chính sách ngoại thương Viê ̣t Nam trong quá trình thực hiê ̣n cam kết với tổ chức thương mại thế giới ”,
cho thấy đươ ̣c , trong mỗi giai đoa ̣n khác nhau khi hô ̣i nhâ ̣p với kinh tế quốc tế , thì chính sách ngoa ̣i thương luôn phải thay đổi để phù hơ ̣p với những biến đô ̣ng của trong
và ngoài nước
Ngoài các công trình nghiên cứu trong nước thì cũng có nhiều công trình nghiên cứu trên thế giới về chính sách thương ma ̣i của Viê ̣t Nam và các nước trong khu vực ASEAN
Hai tác giả Myers và Wharton (2005) đã giới thiê ̣u công trình : “Các nền kinh
tế chung biên giới Campuchia , Lào, Thái Lan và Viê ̣t Nam”, nghiên cứu hoa ̣t đô ̣ng
thương ma ̣i của 4 nền kinh tế trên
Prema-chandra Athukorala (2005) đã công bố bài viết: “Cải cách chính sách thương mại và cơ cấu bảo hộ ở Viê ̣t Nam ” Bài viết này xem xét hiện trạng cơ chế
chính sách thương mại ở Việt Nam dựa vào việc triển khai các cuộc cải cách chính sách định hướng thị trường trong một thập niên rưỡi vừa qua Trọng tâm của bài viết này là phần phân tích chi tiết về cơ cấu bảo hộ, tập trung vào các biện pháp khuyến khích sản xuất cạnh tranh với hàng nhập khẩu, sự thiên lệch trong cơ cấu biện pháp
Trang 76
khuyến khích chống lại sản xuất xuất khẩu so với sản xuất cạnh tranh hàng nhập khẩu Người ta phát hiện ra rằng, bất chấp những nỗ lực cải cách đáng kể, cơ cấu bảo hộ ở Việt Nam vẫn không tương đương với cơ cấu của các nước bạn hàng chính trong khu vực về mức độ và sự phân tán liên ngành của các tỷ lệ bảo hộ danh nghĩa và hiệu dụng
Nhà nghiên cứu Vanzetti (2007) nghiên cứu về chính sách thương ma ̣i của
Viê ̣t Nam trong bài viết: “Những tình thế lưỡng nan trong chính sách thương mại Viê ̣t Nam”, đánh giá những khó khăn mà Viê ̣t Nam đang gă ̣p phải khi tiến hành bảo hô ̣ mô ̣t số loa ̣i hàng hóa
SeemaNarayan, Tri Tung Nguyen (2015) đưa ra nghiên cứ u: “Does the trade gravity model depend on trading partners ? Some evidence from Vietnam and her 54 trading partners”, đánh giá sự phu ̣ thuô ̣c vào nhau giữa Viê ̣t Nam và 54 đối tác thương ma ̣i của mình
Ngoài ra, còn có một số nghiên cứu tương đồng về các nước Đông Âu như :
Mieczys aw Adamowicz, Anna Rytko (2006) nghiên cứ u trường hơ ̣p Ba Lan sau khi gia nhâ ̣p EU với công trình : “Polish Agro- Food Trade with European Countries Before and After Joining EU”, cho thấy sự điều chỉnh chính sách thương mại của Ba Lan sau khi gia nhập EU
Małgorzata Koszewska (2007) đưa ra công trình: “Poland’s Trade Policy and
its Changes in the Context of European Integration - Consequences for the Protective Clothing Market”, nghiên cứ u điển hình về bảo hô ̣ thi ̣ trường may mă ̣c sau khi gia nhâ ̣p EU của Ba Lan
Marek Belka (2013), trình bày kết quả của công trình : “How Poland’s EU Membership Helped Transform its Economy”, đánh giá những thay đổi về cơ cấu kinh
tế sau khi Ba Lan là thành viên của EU Thực tiễn đã diễn ra ta ̣i Ba Lan là những kinh nghiệm quý báu để Viê ̣t Nam có thể tham khảo
Lídia Csizmadia (2008), giớ i thiê ̣u nghiên cứu : “The Transition Economy of Hungary between 1990 and 2004”, đánh giá quá trình chuyển đối cơ cấu kinh tế ta ̣i Hungari trong gian đoa ̣n từ năm 1990 đến trước khi gia nhập EU
Jaroslaw Kundera (2012) đưa ra nghiên cứ u: “Poland in the European Union: from dynamic to slow economic growth”, cho thấy viê ̣c gia nhâp EU là đô ̣ng lực để
Trang 87
thúc đẩy tăng trưởng kinh tế tại Ba Lan Liê ̣u điều đó có diễn ra ở Viê ̣t Nam không , khi Viê ̣t Nam gia nhâ ̣p AEC, điều này cần được so sánh giữa hai quốc gia vớ i nhau
Hagemejer, Michalek (2006) trình bày những quan điểm của chính sách
thương ma ̣i của Ba Lan trong giai đoa ̣n sau khi gia n hâ ̣p EU theo mô hình Grossmann
– Helpman: “Political economy of Poland’s trade policy Empirical verification of Grossman-Helpman model” Đây cũn g là mô ̣t nghiên cứu đáng chú ý đối với Việt
Kalman Dezseri (2007) công bố nghiên cứ u : “Three years of EU membership
- the case of Hungary”, đưa ra những thuâ ̣n lơ ̣i và khó khăn sau 3 năm từ khi Hungari gia nhâ ̣p EU Trong nghiên cứu có cho thấy mô ̣t số sự thay đổi của CSTM của Hungari khi tham gia vào thi ̣ trường chung Châu Âu
Klára Katona (2011) đã giới thiê ̣u công trình : “Scope effects of FDI in CEE and in Hungari”, đây là căn cứ để đánh giá chính sách FDI vào các nước Trung và
Đông Âu cũng như Hungari Bài nghiên cứu cho thấy ảnh hưởng của chính sách thương ma ̣i có tác đô ̣ng đến viê ̣c thu hút vốn FDI Đây cũng là kinh nghiệm để Việt Nam có thể tham khảo
Bô ̣ Kinh tế Hungari (2015) giới thiê ̣u báo cáo tổng thể về ngoa ̣i thương của
Hungari trong giai đoa ̣n 2011 đến 2015: “Hungary’s foreign trade posts massive surplus”, đây là căn cứ để đánh giá chính sách thương ma ̣i của Hungari trong giai
đoa ̣n này
Karel Tomšík (2010) công bố nghiên cứu : “Changes of the Czech agriculture
after accessing to the EU”, đánh giá những thay đổi của nông nghiê ̣p Czech sau khi
quốc gia này gia nhâ ̣p EU Đây cũng là vấn đề mà Việt Nam sẽ gặp phải khi gia nhập AEC Nông nghiệp Viê ̣t Nam vẫn luôn là vấn đề cần được bảo hô ̣ trong thời gian tới
Tomáš Doucha, Karina Pohlová (2014) giới thiê ̣u công trình :“Czech agricultural trade after EU accession as a reflexion of the competitiveness of Czech agriculture and food industry under the EU single market and changes in WTO
Trang 98
commitments”, đánh giá sự phát triển của thương ma ̣i cho nông nghiê ̣p Czech sau khi gia nhâ ̣p EU và sức cạnh tranh của ngành nông nghiệp và thực phẩm
Fitzová, H., Žídek, L (2015), đưa ra kết quả nghiên cứu qua công trình :
“Impact of Trade on Economic Growth in the Czech and Slovak Republics”, đánh giá
tác động của thương mại đến tăng trưởng kinh tế tại Czech và Slovakia trong gia i đoa ̣n vừa qua Điều này cũng cho thấy những điểm tương đồng với Việt Nam , khi chúng ta cũng coi xuất khẩu là động lực để tăng trưở ng
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục tiêu nghiên cứu
- Đưa ra được định hướng cho CSTM của Việt Nam sau khi ra nhập cộng đồng kinh tế ASEAN
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứ u CSTM Viê ̣t Nam trong giai đoan 2010 - 2015
- Nghiên cứ u các nhân tố ảnh hưởng đến xuất nhập khẩu của Việt Nam
- Nghiên cứ u lơ ̣i thế so sánh của hàng hóa Viê ̣t Nam ta ̣i thi ̣ trường ASEAN
- Phân tích các yếu tố thâm dụng, điều kiện cầu và định hướng chiến lược của các mặt hàng xuất khẩu chính của Việt Nam
- Dự báo nhu cầu về hàng hóa Việt Nam tại thị trường ASEAN trong thời gian tới
- Năng lực ca ̣nh tranh của hàng hóa Viê ̣t Nam và hàng hóa các nước ASEAN tại thị trường Việt Nam
- CSTM của các nước Đông Âu sau khi gia nhập EU (Hungary, Ba Lan và Cộng hòa Czech)
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu CSTM của Viê ̣t Nam trong giai đoa ̣n 2010 và của Ba Lan , Czech, Hungary sau khi gia nhập EU
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Không gian nghiên cứ u : CSTM tại Việt Nam và một số nước Đông Âu , ASEAN, tập trung vào ba nhân tố là : năng lực ca ̣nh tranh , khoa ho ̣c công nghê ̣, chính sách hỗ trợ xuất nhập khẩu
Trang 109
- Hiệp định thương mại tự do giữa ASEAN với các đối tác thương ma ̣i
- Thờ i gian: Đề tài tâ ̣p trung vào chính sách thương ma ̣i của Viê ̣t Nam trong khoảng thời gian từ 2010 - 2015, của các nước Đông Âu sau năm 2004 (thời điểm gia nhâ ̣p EU)
5 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sẽ sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau đây:
- Phương pháp phân tích và tổng hơ ̣p : Còn gọi là phương pháp nghiên cứu tư liê ̣u thứ cấp, được sử dụng để thu thập, phân tích và khai thác thông tin từ các nguồn
có sẵn liên quan đến đề tài nghiên cứu; các văn kiện, tài liệu của Đảng, và Nhà nước ở Trung ương và địa phương
- Phương pháp xử lý thông tin: 1) thông tin định lượng, tuỳ thuộc vào tính hệ thống và khả năng thu thập thông tin, đề tài sẽ xử lý số liệu và trình bày dưới nhiều dạng, từ thấp đến cao, bao gồm: con số rời rạc, bảng số liệu, biểu đồ, đồ thị; 2) thông tin định tính, giúp nhận dạng bản chất, và các mối liên hệ bản chất giữa các sự kiện, được mô tả dưới dạng sơ đồ hoặc biểu thức toán đơn giản
Trên cơ sở cách tiếp cận được nêu ở trên, phương pháp được sử dụng chủ yếu
để nghiên cứu đề tài này là: Kết hợp lý luận và thực tiễn, phân tích, thống kê, so sánh, lịch sử, chứng minh, tổng hợp, hệ thống, quy nạp được sử dụng kết hợp để triển khai thực hiện đề tài Trong đó, các phương pháp: phân tích, so sánh, lịch sử, hệ thống được xác định là những phương pháp nghiên cứu chủ yếu của đề tài
Chương 4: Khuyến nghị xây dựng chính sách thương mại của Việt Nam sau
khi tham gia AEC
Trang 1110
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI
Thương ma ̣i quốc tế đươ ̣c hình thành và phát triển từ t hế kỷ XVII đến nay Trong quá trình toàn cầu hóa , mỗi quốc gia đều sản xuất hàng hóa dựa vào thế ma ̣nh của mình từ việc sử dụng các yếu tố thâm dụng Chính vì thế , mỗi quốc gia sẽ xây dựng CSTM quốc tế cho riêng mình nhưng vẫn phù hợp với xu hướng tự do thương mại của thế giới
1.1 Cơ sở lý luận về chính sách thương mại
1.1.1 Khái niệm chính sách thương mại
Theo nghĩa rô ̣ng , thì thương mại là toàn bộ các hoạt động kinh doanh trên thị trường, còn theo nghĩa hẹp, thương ma ̣i là quá trình mua bán hàng hóa di ̣ch vu ̣ trên thi ̣ trường, là lĩnh vực phân phối và lưu thông hàng hóa Nếu hoa ̣t đô ̣ng mua bán hàng hóa, dịch vụ có một bên là người nước ngoài thì người ta gọi đó là thương mại quốc tế
Chính sách thương mại (CSTM) là khái niệm đã được nhiều tài liệu khoa học chuyên ngành đề cập và làm sáng tỏ, đồng thời cũng có nhiều định nghĩa khác nhau trong các văn bản pháp quy của Việt Nam hoặc các quy định quốc tế Sự khác nhau căn bản nhất vẫn chỉ tập trung trong nội hàm của thuật ngữ “chính sách” và “thương mại” Trong phạm vi đề tài này, chúng tôi không đi sâu bàn luận về nội hàm của khái niệm CSTM mà sử dụng thuật ngữ thường được dùng phổ biến hiện nay
Theo nghĩa rộng, chính sách thương mại là hệ thống các quy đi ̣nh , công cụ và biê ̣n pháp thích hợp mà Nhà nước áp dụng để điều chỉnh các hoạt động thương mại trong và ngoài nước ở những thời kỳ nhất đi ̣nh nhằm đạt được các mục tiêu đã đề ra trong chiến lược phát triển kinh tế – xã hội Như vậy, vào những giai đoạn phát triển
khác nhau có thể sử dụng thuật ngữ chính sách thương mại nói chung, hoặc có thể phân chia ra thành 2 loại là CSTM quốc tế và chính sách thương mại trong nước Chính vì thế, theo nghĩa he ̣p “ CSTM quốc tế là mộ t hê ̣ thống các nguyên tắc , công cụ và biê ̣n pháp thích hợp mà Nhà nước sử dụng để điều chỉnh các hoạt động thương mại quốc tế của một quốc gia trong một thời kỳ nhất đi ̣nh nhằm đạt được các mục tiêu đề ra trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia đó” [6]
Krugman và Obstfeld cho rằng “ Chính sách thương mại quốc tế là nhưng chính sách mà các chính phủ thông qua về thương mại quốc tế”
Trang 1211
Theo Trung tâm Kinh tế quốc tế của Ú c (CIE), hê ̣ thống các chính sách thương mại quốc tế có thể được phân chia bao gồm các quy định về thương mại , chính sách xuất khẩu, hê ̣ thống thuế và các chính sách hỗ trợ khác
Như vâ ̣y, CSTM quốc tế là hê ̣ thống các giả i pháp mà Nhà nước sử du ̣ng trong chiến lươ ̣c phát triển kinh tế nhằm đa ̣t đến các mu ̣c tiêu của chiến lược như : mở rô ̣ng thị trường xuất khẩu, tăng cường hợp tác kinh tế quốc tế, điều chỉnh cơ cấu nhâ ̣p khẩu, đảm bảo sự cân bằng và ổn đ ịnh của cán cân thương mại Khái niệm này gắn liền với chức năng quản lý kinh tế của Nhà nước theo giai đoa ̣n tác đô ̣ng , nghĩa là mục tiêu của CSTM sẽ có sự thay đổi theo mục tiêu chiến lược trong từng thời kỳ phát triển khác nhau của nền kinh tế Vì vậy , khái niệm này thể hiện rõ tính định hướng phát triển của nền kinh tế nói chung và lĩnh vực kinh tế đối ngoa ̣i cũng như ngoa ̣i thương nói riêng trong các CSTM được sử dụng
CSTM là mô ̣t bô ̣ phâ ̣n cấu thành quan tro ̣ng t rong hê ̣ thống các chính sách kinh tế (bao gồm chính sách tài chính , chính sách tiền t ệ, chính sách công nghiệp ) của đất nước được Nhà nước sử du ̣ng nhằm thúc đẩy sự phát triển chung của nền kinh tế trên
cơ sở khai thác v à thu hút có hiệu quả các nguồn lực trong và ngoài nước , đồng thời đảm bảo thực hiê ̣n những cân đối chủ yếu của nền kinh tế như cân đối ngoa ̣ i thương, cân đối ngân sách CSTM cho thấy mối quan hê ̣ liên ngành , liên lĩnh vực củ a hoa ̣t
đô ̣ng thương ma ̣i trong nền kinh tế Do đó , vị trí của CSTM được đề cao trong hệ thống các chính sách kinh tế của đất nước và phù hợp với xu thế hội nhập quốc tế và khu vực của các quốc gia
Trong đề tài này, nhóm tác giả đi sâu phân tích chính sách thương mại quốc tế hay được hiểu là những quy định của Chính phủ nhằm điều chỉnh hoạt động thương mại quốc tế, được thiết lập thông qua việc vận dụng các công cụ (thuế quan và phi thuế quan) tác động tới các hoạt động xuất khẩu và nhập khẩu Hoạt động thương mại quốc tế được xem xét chủ yếu bao gồm thương mại hàng hoá
Trong điều kiê ̣n hô ̣i nhâ ̣p kinh tế - thương ma ̣i quốc tế của Viê ̣t Nam với khu vực và thế giới ngày càng mạnh, CSTM cần phải được xây dựng vừa phải tương thích với các cam kết song phương và đa phương , những vẫn phải phát huy được lợi thế so sánh để thúc đẩy xuất khẩu , bảo hộ hợp lý sản xuất trong nước , góp phần phát triển kinh tế - xã hội
Trang 1312
1.1.2 Nô ̣i dung và bản chất của chính sách thương mại
Về lý thuyết, có nhiều cách tiếp cận và phân loại CSTM khác nhau Xét về nguồn gốc, thì CSTM thuộc phạm trù quản lý của nhà nước Nó được phát triển dựa trên sự phát triển của khoa ho ̣c quản lý v à các học thuyết kinh tế , đă ̣c biê ̣t là của kinh tế ho ̣c quốc tế Do đó, CSTM luôn phải bao gồm các nô ̣i dung quản lý nhà nước về kinh tế, nô ̣i dung điều chỉnh cơ cấu kinh tế , cơ cấu sản xuất của nền kinh tế Chính vì thế C STM cần phải đồng bô ̣ và thống nhất với các chính sách khác Qua đó có thể khai thác hết khả năng của các nguồn lực trong nước và nước ngoài để nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế , đảm bảo được cân bằng giữa tổng cung và tổng cầu của toàn bộ nền kinh tế để không gây ra khủng hoảng
Về thực tiễn, trong hoạch định chính sách người ta thường phân loại các CSTM thành một số chính sách sau:
- Chính sách mặt hàng: Mặt hàng cấm kinh doanh; kinh doanh có điều kiện; tự
do kinh doanh
- Chính sách đối với các loại thị trường: Thị trường trong nước và thị trường nước ngoài; thị trường có các ưu đãi và không có ưu đãi; thị trường nông thôn và thị trường đô thị
- Chính sách đối với các chủ thể kinh doanh trên thị trường: Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; doanh nghiệp trong nước; doanh nghiệp vừa và nhỏ
- Các chính sách khác: Tài chính cho xuất nhập khẩu , tín dụng, đầu tư cho xuất nhâ ̣p khẩu, xúc tiến thúc đẩy thương mại
- Các quy đi ̣nh về tiêu chuẩn và quyền sở hữu trí tuê ̣
- Quy định có liên quan đến tiêu chuẩn thương nhân được phép tham gia hoa ̣t
đô ̣ng XNK hàng hóa
Bên cạnh đó, gắn với mục tiêu, tính đặc thù và sự phân công trong quản lý nhà nước về thương mại, người ta còn phân chia chính sách thương mại làm 3 nhóm chính sách như:
- Chính sách phát triển thương mại nội địa;
- Chính sách phát triển xuất nhập khẩu;
- Chính sách hội nhập kinh tế quốc tế
Trang 1413
Có thể thấy nội dung của CSTM rất đa dạng , có liên quan đến nhiều hoạt động kinh tế, nhiều lĩnh vực kinh tế - kỹ thuật, nhưng về thực chất , CSTM đều hướng đến mục tiêu hạn chế hay khuyến khích phát triển thương mại Các nước đều muốn tối đa hóa lợi ích của mình khi tham gia vào thương mại thế giới , do đó, bản chất của CSTM
là tham vo ̣ng của Nhà nước nh ằm gia tăng lơ ̣i ích thu được của nền kinh tế khi tham gia vào các hoa ̣t đô ̣ng ngoa ̣i thương Tuy nhiên, khi tham gia thương ma ̣i quốc tế , thì ngoài cái được cũng sẽ có cái mất , quan tro ̣ng là Nhà nước cần phải t ính toán được tổng thể trong dài ha ̣n tổng lợi ích phải lớn hơn tổng thiê ̣t ha ̣i về mo ̣i mă ̣t [6]
Trong xu thế toàn cầu hóa và liên kết khu vực, CSTM đang đươ ̣c điều chỉnh theo hướng giảm thiểu bảo hô ̣ và tự do hơn hướng tới khuyến khích giao thương hơn là cản trở, nhà nước tôn trọng các nguyên tắc thị trường , tôn trọng các cam kết quốc tế đã ký kết để ta ̣o ra môi trường tốt nhất cho sự phát triển thương ma ̣i quốc tế
1.1.3 Các công cụ của chính sách thương mại
Các công cụ của CSTM có thể được phân chia thành các công cụ thuế quan và phi thuế quan
1.1.3.1 Công cụ thuế quan
Thuế quan là một loại thuế đánh vào mỗi đơn vị hàng hóa xuất hay nhập khẩu của mỗi quốc gia Thuế quan bao gồm: thuế quan xuất khẩu và thuế quan nhập khẩu
- Thuế quan xuất khẩu là loại thuế đánh vào mỗi đơn vị hàng hóa xuất khẩu Thuế xuất khẩu hiện nay ít được các quốc gia áp dụng vì hiện nay cạnh tranh trên thị trường quốc tế đang diễn ra quyết liệt, để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp cạnh tranh mở rộng nên nhà nước chỉ đánh thuế đối với một số mặt hàng có kim ngạch lớn, mặt hàng ảnh hưởng đến an ninh quốc phòng
- Thuế quan nhập khẩu là một loại thuế đánh vào mỗi đơn vị hàng hóa nhập khẩu Thuế nhập khẩu theo truyền thống được đưa ra chủ yếu để tăng thu cho ngân sách, tuy nhiên nó cũng có thể để: giảm nhập khẩu bằng cách làm cho chúng trở nên đắt hơn so với các mặt hàng thay thế có trong nước; chống lại các hành vi phá giá bằng cách tăng giá hàng nhập khẩu của mặt hàng phá giá lên tới mức giá chung của thị trường; bảo hộ cho các lĩnh vực sản xuất then chốt, các ngành công nghiệp còn non trẻ,…
Trang 1514
- Thuế quan nhân nhượng: đươ ̣c áp dụng cho một loại mặt hàng nhập khẩu được tính theo vị trí địa lý của quốc gia tham gia thương mại giúp cho một loại hàng hóa đi vào một trong những nước trong khối từ những nước nằm trong khối này không phải chịu thuế
- Thuế quan đánh trên hàng hóa của những nước đươ ̣c hưởng nguyên tắc tối huệ
quốc (MFN - Most favoured nation) [12]
1.3.1.2 Các hàng rào phi thuế quan
Biê ̣n pháp phi thuế quan là những công cu ̣ được các chính phủ sử du ̣ng khá phổ biến trong thương ma ̣i quốc tế nhằm ha ̣n chế hay khuyến khích XNK Các biện pháp phi thuế quan bao gồm trợ cấp xuất khẩu, hạn ngạch nhập khẩu, hạn chế xuất khẩu tự nguyện, các yêu cầu về nội địa hoá, trợ cấp tín dụng xuất khẩu, quy định về mua sắm của chính phủ, các hàng rào hành chính, khuyến khích doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài xuất khẩu, khu chế xuất, khu công nghiệp, các quy định về chống bán phá giá và trợ cấp
a) Hạn ngạch
- Là quy định của nhà nước về số lượng hoặc trị giá nhập khẩu hoặc xuất khẩu một mặt hàng nào đối với 1 thị trường cụ thể trong một thời gian cụ thể
- Phân loại:
+ Theo đối tượng áp dụng:
Hạn ngạch xuất khẩu: Đối với mặt hàng thiết yếu, kiểm soát để đảm bảo nhu cầu trong nước Hoặc thị trường nhập khẩu quy định hạn ngạch nhập khẩu
Hạn ngạch nhập khẩu: Thường áp dụng với loại hàng hóa cần thực thi chế độ bảo hộ cao, chặt chẽ cho các ngành sản xuất trong nước đặc biệt các ngành non trẻ có khả năng phát triển trong tương lai hoặc mang lại phúc lợi xã hội lớn
+ Theo tính chất áp dụng:
Hạn ngạch tuyệt đối (chủ yếu đối hàng với nhập khẩu): Phần hàng hóa vượt quá hạn ngạch cho phép sẽ không được làm thủ tục thông quan Khi đó doanh nghiệp xuất khẩu cần thuê kho ngoại quan cho hạn ngạch năm sau hoặc tái xuất khẩu
Hạn ngạch thuế quan: Phần hàng hóa vượt quá mức hạn ngạch cho phép vẫn có thể thông quan nhưng phải chịu mức thuế quan cao hơn thông thường
b) Giấy phép nhập khẩu
Trang 1615
Giấy phép nhập khẩu là các thủ tục hành chính được sử dụng để thực hiện chế độ cấp phép nhập khẩu Đòi hỏi đệ trình đơn hay các tài liệu khác (không liên quan tới mục đích hải quan) tới các cơ quan hành chính thích hợp là điều kiện tiên quyết để được phép nhập khẩu
Tuy nhiên, thủ tục hành chính để thực hiện chế độ cấp phép không được bóp méo thương mại do sử dụng không thích hợp các thủ tục đó Các qui tắc đối với thủ tục cấp phép nhập khẩu phải được áp dụng trung lập (neutral) và được quản lý theo một cách thức công bằng và hợp lý
c) Hàng rào kĩ thuật trong thương mại quốc tế
Là các tiêu chuẩn kĩ thuật đối với hàng hóa nhằm bảo vệ con người và môi trường sinh thái
Phân loại:
- Quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm
- Quy định về bảo vệ môi trường
- Quy định về dãn nhãn sinh thái
- Quy định về bao bì và cách thức đóng gói sản phẩm
Một vài tiêu chuẩn phổ biến:
- Quy định về sức khỏe và an toàn: Hệ thống tiêu chuẩn VSATTP, quy định về thực tiễn nông nghiệp tốt VIETGAP,…
- Quy định về bảo vệ môi trường: ISO 14000 và các phiên bản khác
- Quy định về trách nhiệm xã hội: SA 8000
- Quy định về quản lí chất lượng: ISO 9000
d) Hạn chế xuất khẩu tự nguyện
Nội dung: Là yêu cầu của nước nhập khẩu đối với nước xuất khẩu về việc cắt
giảm quy mô hàng hóa xuất khẩu nhằm giảm thiểu mức độ gây tổn hại đến các nhà sản xuất nội địa ở nước nhập khẩu Nếu nước xuất khẩu không thực hiện thì nước nhập khẩu sẽ áp dụng các biện pháp trả đũa
Nguyên tắc tối huệ quốc: Trong quan hệ thương mại, các bên tham gia ký kết cam kết dành cho nhau sự đãi ngộ không kém phần thuận lợi hơn sự đãi ngộ mà mình đang hoặc sẽ dành cho bất kỳ một nước thứ ba nào
e) Cấm xuất khẩu, nhập khẩu (Prohibitions)
Trang 1716
Cấm xuất khẩu, nhập khẩu là biện pháp bảo hộ cao nhất, gây ra hạn chế lớn nhất đối với thương mại quốc tế Trong thương mại quốc tế có nhiều trường hợp cấm nhập khẩu như: cấm hoàn toàn, cấm theo mùa, cấm tạm thời, cấm vận, cấm sản phẩm nhạy cảm, tạm dừng cấp phép nhập khẩu, WTO yêu cầu không được phép áp dụng, nếu không có lý do chính đáng Tuy nhiên, các thành viên có thể thi hành các biện pháp cấm xuất khẩu, nhập khẩu trong một số trường hợp ngoại lệ
f) Pháp lệnh chống bán phá giá
Theo Hiệp định về chống bán phá giá của WTO (ADP): bán phá giá là việc bán
một hàng hoá nào đó với giá thấp hơn giá của nó trên thị trường nội địa của nước xuất khẩu
Chính sách chống bán phá giá đảm bảo cạnh tranh bình đẳng đồng thời bảo vệ lợi ích của các nhà sản xuất trong nước trước áp lực cạnh của hàng hóa nhập khẩu nước ngoài
Trong điều kiện hàng rào phi thuế quan đang được loại bỏ dần, chúng ta cần có một cơ chế mới, phù hợp hơn với thông lệ quốc tế để bảo vệ quyền lợi chính đáng của các nhà sản xuất trong nước cũng như quyền lợi trong dài hạn của người tiêu dùng khi hiện tượng bán phá giá xảy ra
g) Các biện pháp hỗ trợ xuất khẩu
Bao gồm:
- Các hoạt động xúc tiến thương mại của chính phủ (cung cấp thông tin thị trường, hỗ trợ nghiên cứu và khảo sát thị trường, hoạt động tư vấn kinh doanh, tổ chức hội chợ triển lãm ở trong và ngoài nước, hoạt động quảng bá tiêu thủ sản phẩm của nước ngoài)
- Các hoạt động cung cấp tín dụng thương mại nhằm hỗ trợ khách hàng nước ngoài mua các sản phẩm do doanh nghiệp và tổ chức kinh tế trong nước sản xuất
h) Chính sách mua hàng của chính phủ
Quy định một tỷ lệ nhất định hàng hóa mà chính phủ mua sắm là từ các nhà sản xuất trong nước chư không phải nhà sản xuất nước ngoài [12]
1.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến chí nh sa ́ ch thương ma ̣i
Khi đề cập đến chính sách tức là đề cập đến chủ thể ban hành chính sách, mục đích mà chủ thể hướng đến là gì? Lợi ích thu được khi ban hành chính sách đó? Vấn
Trang 181.1.4.1 Mô hình, cơ chế quản lý kinh tế mà quốc gia đó lựa chọn
Trong lịch sử phát triển của nhân loại, do khác nhau về hệ tư tưởng và con đường xây dựng, phát triển kinh tế, đã có hai mô hình kinh tế được các quốc gia lựa chọn: mô hình kinh tế thị trường và mô hình kinh tế tập trung Ở mô hình kinh tế thị trường các quy luật kinh tế được tôn trọng, hoạt động thương mại được chú trọng và đảm bảo tính liên tục, do đó, các yếu tố thuộc về thị trường được đảm bảo nên CSTM của quốc gia luôn hướng về thị trường, khai thác thị trường để thu lại lợi ích cao nhất
từ hoạt động thương mại Ngược lại, mô hình kinh tế tập trung, nhà nước quản lý nền kinh tế chủ yếu bằng mệnh lệnh hành chính dựa trên hệ thống chỉ tiêu pháp lệnh chi tiết áp đặt từ trên xuống dưới Các doanh nghiệp hoạt động trên cơ sở các quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và các chỉ tiêu pháp lệnh được giao Tất cả phương hướng sản xuất, nguồn vật tư, tiền vốn, định giá sản phẩm, tổ chức bộ máy, nhân sự, tiền lương đều do các cấp có thẩm quyền quyết định Khi nền kinh tế chuyển sang giai đoạn phát triển theo chiều sâu dựa trên cơ sở áp dụng các thành tựu của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ hiện tại thì cơ chế quản lý này càng bộc lộ những khiếm khuyết của nó, làm cho kinh tế các nước theo mô hình tâ ̣p trung trước đây; lâm vào tình trạng trì trệ, khủng hoảng Đây thực sự là nhân tố tác động tiêu cực đến CSTM của các quốc gia theo mô hình này
1.1.4.2 Sự ổn định chính trị của quốc gia
CSTM và chính trị cũng có mối liên hệ rất chặt chẽ Đặc trưng nổi bật về chính trị thể hiện ở định hướng chính trị mà mỗi chế độ chính trị nhằm đạt tới Sự ổn định chính trị là điều kiện hết sức quan trọng trong sự phát triển thương mại, nó tạo ra môi trường thuận lợi cho các hoạt động kinh doanh, đảm bảo an toàn về đầu tư, về quyền
sở hữu các tài sản Đó là điều kiện thuận lợi để thúc đẩy thương mại phát triển Ngược lại sự thịnh vượng thương mại là yếu tố quan trọng đưa lại sự thịnh vượng kinh
tế cho các quốc gia, các khu vực kinh tế Do vậy, đây là yếu tố tác động quan trọng đến sự ổn định chính trị Vì suy cho đến cùng kinh tế quyết định chính trị Hội nhập
Trang 1918
kinh tế thương mại quốc tế là quá trình mở rộng giao lưu kinh tế giữa nhiều quốc gia với các chế độ chính trị khác nhau CSTM như một nhân tố quan trọng tác động liên kết lợi ích của các quốc gia Nhờ vậy mà mang lại những lợi ích to lớn cho sự chung sống hoà bình giữa các quốc gia có thể chế chính trị khác nhau thậm chí đối lập (ASEAN là một ví dụ điển hình) Thương mại là nhân tố tạo nên sự ổn định chính trị thế giới và khu vực Tuy nhiên thương mại mà bản chất của nó là vì lợi nhuận luôn đi cùng với cạnh tranh khốc liệt, đó là những cuộc cạnh tranh không khoan nhượng giữa các quốc gia nên cũng là nguyên nhân trực tiếp hoặc sâu xa của nhiều mâu thuẫn và xung đột chính trị Do đó, sự ổn định hay bất ổn về chính trị là nhân tố tiếp theo tác
động đến chính sách thương mại của các quốc gia
1.1.4.3 Nhóm nhân tố thuộc về môi trường vĩ mô, thị trường
Hiện nay, hầu hết các quốc gia trên thế giới đã không còn lựa chọn mô hình kinh tế tâ ̣p trung hoàn toàn hay kinh tế tự do , mà thường chọn mô hình kinh tế hỗ hợp kết hơ ̣p cả hai mô hình trên Do vậy, cần xem xét sự tác động đến CSTM của một quốc gia phải được dựa trên các yếu tố:
Thứ nhất, các yếu tố thuộc về môi trường kinh tế vĩ mô
- Môi trường trong nước bao gồm rất nhiều các yếu tố như: địa kinh tế; sự ổn định kinh tế vĩ mô; mức độ đầy đủ, đồng bộ và thống nhất của hệ thống pháp luật; sự
ổn định, nhất quán và minh bạch của các chính sách; mức độ cải thiện các thủ tục hành chính; hiệu lực của bộ máy tổ chức và hiệu suất làm việc của đội ngũ công chức; độ mở, tính năng động và sức cạnh tranh của nền kinh tế trong nước
- Các yếu tố thuộc môi trường quốc tế: môi trường quốc tế chứa đựng cả những
cơ hội và thách thức, ảnh hưởng tới CSTM của doanh nghiệp, của ngành và nền kinh
tế, bao gồm: Xu hướng toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới làm thay đổi nhu cầu và cung ứng hàng hoá, dịch vụ thúc đẩy thương mại quốc tế và đầu tư nước ngoài Cạnh tranh trong thương mại ngày càng quyết liệt, gay gắt hơn làm thay đổi vị trí dẫn đạo thị trường; hệ thống tài chính quốc tế phát triển tạo thuận lợi cho thương mại và đầu tư,
xu hướng sáp nhập các công ty lớn, các tập đoàn đa quốc gia trong nhiều lĩnh vực để chi phối thị trường khu vực và toàn cầu Xu hướng các rào cản thương mại đan xen với quá trình tự do hoá thương mại diễn ra ở cả các nước phát triển và đang phát triển
Thứ hai, các yếu tố về thị trường
Trang 2019
- Dung lượng thị trường: xu hướng phát triển về quy mô, dung lượng và thay đổi cơ cấu thị trường của các nước nhập khẩu cũng như thị trường nội địa; sự mở cửa thị trường và giảm bớt rào cản kỹ thuật trong thương mại; sự phát triển các thị trường mới
- Khách hàng: quy mô và cơ cấu nhu cầu; thu nhập và hướng sử dụng thu nhập, quyết định mua sắm và đầu tư của người tiêu dùng; sự ổn định và phát triển khách hàng; sự sẵn sàng mua và trả giá; tập quán thói quen và sự tín nhiệm của khách hàng; sự liên kết giữa khách hàng và các nhà cung cấp
- Các nhà cung cấp: số lượng các nhà cung cấp; quy mô, cơ cấu, chất lượng, giá
cả của hàng hoá; sự phát triển các dịch vụ hỗ trợ thương mại; tính ổn định của nguồn hàng và sự đa dạng các nhà cung cấp; năng lực tài chính, công nghệ và quản trị của nhà cung cấp; uy tín trong thực hiện hợp đồng và giao hàng đúng hạn Số lượng các đối thủ cạnh tranh, các hình thức và thủ pháp cạnh tranh; những ưu thế và bất lợi thế cạnh tranh của đối thủ; những hỗ trợ thương mại, cạnh tranh trong nước và quốc tế; các xu hướng cạnh tranh đa phương
Thứ ba, sự phát triển của ngành và các doanh nghiệp trong nước
Sự phân công chuyên môn hoá, liên kết và hợp tác của ngành thương mại Sự phát triển của phân công chuyên môn hoá về các dịch vụ có tính chất sản xuất trong thương mại; mối quan hệ hợp tác giữa ngành thương mại với các ngành sản xuất vật chất và dịch vụ hỗ trợ; sự liên kết trong nội bộ ngành như bán buôn và bán lẻ, hệ thống thương mại nội địa và xuất nhập khẩu, thương mại của các chủ thể thuộc thành phần kinh tế nhà nước với các thành phần khác; sự liên kết hợp tác giữa hệ thống kinh doanh vừa và nhỏ với các doanh nghiệp lớn trong và ngoài nước trong chuỗi sản xuất, cung ứng và tiêu thụ sản phẩm; sự phát triển thương mại theo ngành, nhóm hàng và khu vực lãnh thổ Đây là những nhân tố ảnh hưởng đến CSTM cả về kinh tế và xã hội Ngoài ra, sự phát triển các hình thức thương mại mới cũng là một trong những nhân tố thúc đẩy mở rộng lưu thông hàng hoá, nâng cao hiệu quả CSTM của quốc gia
- Chiến lược và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Lợi thế so sánh của đất nước được khai thác và sử dụng có hiệu quả hay không suy cho cùng được thể hiện ở doanh nghiệp
Trang 211.1.4.4 Các hiệp định thương mại quốc tế mà các quốc gia tham gia
Các quốc gia trên thế giới hiện nay dù lớn hay nhỏ, sớm hay muộn đều đi theo
xu hướng tham gia ngày càng nhiều vào quá trình hợp tác kinh tế khu vực và thế giới,
đa phương, đa chiều, đa lĩnh vực, trong đó thương mại là một trong những lĩnh vực được coi là trọng tâm Chính đây là những căn cứ thực tế để đi tới cái đích cuối cùng của quá trình toàn cầu hoá hướng tới đó là một nền kinh tế toàn cầu thống nhất không còn biên giới quốc gia về kinh tế Mỗi quốc gia dù ở trình độ phát triển đến đâu cũng tìm thấy lợi ích cho mình khi tham gia vào các hiệp định kinh tế quốc tế Đối với các nước phát triển họ có thể đẩy mạnh hoạt động thương mại, đầu tư và chuyển giao công nghệ ra nước ngoài, mở rông quy mô sản xuất, tận dụng và khai thác được các nguồn lực từ bên ngoài như tài nguyên, lao động và thị trường…cũng như gia tăng các ảnh hưởng kinh tế và chính trị của mình trên trường quốc tế Ví dụ: sự thay đổi chính sách thuế quan khi tham gia khu vực mậu dịch tự do (FTA-Free Trade Area): Đặc trưng cơ bản đó là những thành viên tham gia khu vực mậu dịch tự do thực hiện giảm thiểu thuế quan cho nhau Việc thành lập khu vực mậu dịch tự do nhằm thúc đẩy thương mại giữa các nước thành viên Những hàng rào phi thuế quan cũng được giảm bớt hoặc loại bỏ hoàn toàn Hàng hoá và dịch vụ được di chuyển tự do giữa các nước Tuy nhiên khu vực mậu dịch tự do không quy định mức thuế quan chung áp dụng cho những nước ngoài khối, thay vào đó từng nước thành viên vẫn có thể duy trì chính sách thuế quan khác nhau đối với những nước không phải là thành viên Trên thế giới hiện nay có rất nhiều khu vực mậu dịch tự do, đó là khu vực mậu dịch tự do Đông Nam Á (AFTA), khu vực mậu dịch tự do Bắc Mỹ (NAFTA), khu vực mậu dịch tự do Trung Mỹ, Hiệp hội thương mại tự do Mỹ La tinh (LAFTA) là những hình thức cụ thể của khu vực mậu dịch tự do
Trang 2221
1.2 Các mô hình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới ngày nay
Sự phu ̣ thuô ̣c và gắn bó với nhau trong quá trình phát triển kinh tế ở những cấp
đô ̣ khác nhau , giữa các quốc gia trên pha ̣m vi mô ̣t khu vực hay thế giới đã ta ̣o thành các liên kết đa phương ở những mức độ và những phạm v i khác nhau Qua đó các mô hình hội nhập kinh tế, thương ma ̣i khu vực và thế giới đã hình thành và phát triển cùng nhau hết sứ c đa da ̣ng và phong phú Xét về mức độ hội nhập (có thể coi đây là sự gắn kết hay phu ̣ thuô ̣c lẫn nhau giữa các quốc gia ) từ “thấp” đến “cao” thì các mô hình phổ biến hiê ̣n nay gồm:
- Thỏa thuận chung về ưu đãi thuế quan
- Khu vực mâ ̣u di ̣ch tự do
- Thị trường chung
- Liên minh kinh tế và Liên minh tiền tê ̣
Bảng 1.1: Các hình thức liên kết quốc tế
Hàng hóa tự
do lưu thông Thuế quan riêng
Thuế quan chung
Thống nhất CSTK, CSTT Khu vực mâ ̣u
(Nguồn: Đỗ Đức Bình, Giáo trình Kinh tế quốc tế, Nxb Đại học Kinh tế quốc dân)
Trên thế giới đã hình thành nhiều loa ̣i hình và quy mô liên kết khác nhau từ sau chiến tranh Thế giới thứ II Mô ̣t trong những mô hình đó phải kể đến là Liên minh Châu Âu (EU) được hình thành từ Hiê ̣p ước Rome năm 1957 và gần đây nhất là Cộng đồng kinh tế AEC
1.2.1 Liên minh Châu Âu
Hiện nay, Liên Minh châu Âu có diện tích là 4.422.773 km2 với dân số là 492,9 triệu người; GDP/ đầu người là 28.100 USD/ năm Các thành viên của EU kết hợp lại tương ứng với nền kinh tế lớn nhất thế giới về GDP, đứng thứ bảy trên thế giới
về diện tích và đứng thứ ba trên thế giới về dân số EU được miêu tả là “một gia đình
Trang 2322
của các quốc gia châu Âu dân chủ”, mặc dù phạm vi châu Âu đang là vấn đề tranh luận, đặc biệt liên quan đến việc gia nhập có thể xảy ra của Thổ Nhĩ Kỳ
EU đã phát triển một thị trường chung thông qua hệ thống luật pháp tiêu chuẩn
áp dụng cho tất cả các nước thành viên nhằm đảm bảo sự lưu thông tự do của con người, hàng hóa, dịch vụ và vốn EU duy trì các chính sách chung về thương mại, nông nghiệp, ngư nghiệp và phát triển địa phương 16 nước thành viên đã chấp nhận đồng tiền chung, đồng Euro, tạo nên khu vực đồng Euro EU đã phát triển một vai trò nhất định trong chính sách đối ngoại, có đại diện trong Tổ chức Thương mại Thế giới, G8, G-20 nền kinh tế lớn và Liên hiệp quốc
Là một tổ chức quốc tế, EU hoạt động thông qua một hệ thống chính trị siêu quốc gia và liên chính phủ hỗn hợp Những thể chế chính trị quan trọng của EU bao gồm Ủy ban Châu Âu, Nghị viện Châu Âu Hội đồng Liên minh Châu Âu, Hội đồng Châu Âu, Tòa án Công lý Liên minh Châu Âu và Ngân hàng Trung ương Châu Âu
a) Kinh tế của liên minh châu Âu
Ngay từ lúc mới thành lập, EU đã đặt ra mục tiêu trọng tâm là thiết lập một thị trường kinh tế duy nhất ở châu Âu bao gồm lãnh thổ của tất cả các quốc gia thành viên Hiện tại, hệ thống tiền tệ chung đang được sử dụng ở 16 nước thuộc Liên minh châu Âu, thường biết đến với tên gọi khu vực đồng euro (“eurozone”) Vào năm 2009, sản lượng kinh tế của Liên minh châu Âu chiếm khoảng 21% tổng sản lượng kinh tế toàn cầu, ước tính vào khoảng 14,8 nghìn tỉ USD, trở thành nền kinh tế lớn nhất thế giới EU cũng đạt được sản lượng xuất khẩu và nhập khẩu lớn nhất thế giới, về hàng hóa và dịch vụ, đồng thời cũng là đối tác thương mại lớn nhất đối với các thị trường
lớn trên thế giới như Ấn Độ và Trung Quốc
Mục tiêu chiến lược của EU là làm cho EU trở thành “nền kinh tế có sức cạnh tranh
và năng động nhất thế giới” vào khoảng năm 2010, nhưng EU đã không đạt được mục tiêu này
Phần đóng góp của EU vào tổng sản phẩm thế giới (Gross world product - GWP) ổn định khoảng 1/5 Sự tăng trưởng GDP, mặc dù mạnh ở các nước thành viên mới, nhưng đang bị ảnh hưởng bởi sự tăng trưởng chậm của Pháp và đặc biệt là Đức, Italy Các nước Benelux cũng là những nước tăng trưởng chậm; trong khi các nước thành viên mới như Ba Lan, đang tăng nhanh
Trang 2423
b) Thương mại của EU
EU xuất khẩu nhiều nhất thế giới (2.415 tỉ Euro) và đứng hàng thứ hai về nhập khẩu (2.188 tỉ Euro)1
Việc buôn bán giữa các nước thành viên thuận lợi nhờ đã dỡ bỏ hàng rào thuế quan và sự kiểm soát biên giới Trong khu vực euro, việc buôn bán thuận lợi do không có sử dụng hệ thống tiền tệ khác trong giao dịch với đa số các nước thành viên
EU còn đại diện cho tất cả các thành viên của nó ở Tổ chức Thương mại Thế giới và hoạt động thay mặt các thành viên trong các cuộc tranh luận
c) Cơ cấu kinh tế của EU
Lĩnh vực dịch vụ từ lâu là lĩnh vực quan trọng nhất ở EU, đóng góp 69,4% GDP, so với ngành sản xuất công nghiệp là 28,4% GDP và nông nghiệp chỉ chiếm 2,3% GDP
EU đã hình thành chính sách nông nghiệp chung (Common Agricultural Policy) nhằm tài trợ cho công cuộc hiện đại hoá các cơ sở sản xuất nông nghiệp, nhất
là việc đảm bảo một giá cho các sản phẩm nông nghiệp chính (ngũ cốc và sữa) và làm cho giá nông sản của họ thấp hơn so với thị trường thế giới Hiện nay mức tài trợ này tương ứng với 40 - 50 % chi tiêu của EU Điều này bị chỉ trích như là sự cản trở thương mại giữa các quốc gia, và làm tổn hại đến các nước đang phát triển Pháp là nước nhiệt tình nhất của chính sách nông nghiệp chung và có nền kinh tế đứng thứ ba trong khối, là nước đề xướng chính sách này
EU là địa điểm du lịch chính, thu hút nhiều du khách từ bên ngoài liên minh và các công dân bên trong liên minh Việc du lịch bên trong các nước thuận lợi hơn đối với thành viên của các nước EU Tất cả các công dân của các nước thành viên được quyền đi lại bất kỳ nước thành viên nào mà không cần hộ chiếu Pháp là địa điểm du lịch hàng đầu, và có nhiều du khách Tây Ban Nha, Italy, Đức, Hy Lạp và Ao cũng là các nước phát triển du lịch hàng đầu
d) Chính sách thương mại chung của Liên minh Châu Âu
Chính sách thương mại chung (CCP) là một trong những trụ cột chính trong quan hệ của EU với các nước khác trên thế giới Đây là một lĩnh vực không thể thiếu trong thẩm quyền của Liên minh (Điều 3 của Hiệp ước về chức năng của Liên minh
1
http://ec.europa.eu/trade/policy/eu-position-in-world-trade/
Trang 2524
châu Âu (TFEU), nghĩa là chỉ EU, chứ không phải bất cứ quốc gia thành viên đơn lẻ nào, có thể ban hành luật về những vấn đề thương mại và ký kết các hiệp định thương mại quốc tế CCP ám chỉ việc thực hiện đồng bộ quan hệ thương mại với các nước thứ
ba, nhất là thông qua các phương tiện thuế quan chung và quy chế xuất nhập khẩu chung Cơ sở của chính sách này là liên minh hải quan với một Biểu thuế chung áp dụng với bên ngoài và phạm vi của chính sách này được xác định tại Điều 207 của Hiệp ước TFEU, bao gồm:
- Thay đổi về thuế suất;
- Ký kết các hiệp định về thuế quan và thương mại liên quan đến thương mại hàng hóa và dịch vụ, cũng như các khía cạnh thương mại của sở hữu trí tuệ, đầu tư trực tiếp nước ngoài, đạt được sự đồng bộ trong các biện pháp tự do hóa, chính sách xuất khẩu và các biện pháp bảo hộ thương mại như những biện pháp áp dụng trong trường hợp bán phá giá hoặc trợ cấp;
- CSTM chung phải được thực thi theo những nguyên tắc và mục tiêu của chính sách đối ngoại của Liên minh
Trong quan hệ quốc tế của mình, EU ủng hộ “thương mại tự do công bằng” (Điều 3.5 của Hiệp định TEU)
Trang 2625
Chương 2 CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI CỦA BA NƯỚC ĐÔNG ÂU
KHI GIA NHẬP LIÊN MINH CHÂU ÂU
Trong chương 1, đề tài đã giới thiệu những lý thuyết cơ bản về C STM và những mô hình liên kết quốc tế đã được thực hiê ̣n từ sau năm 1945 Trong chương 2,
đề tài sẽ phân tích CSTM của 3 nước Đông Âu, cụ thể là Ba Lan , Czech và Hungary
Ba quốc gia Đông Âu này đều là nền kinh tế chuyển đổi và cơ cấu hàng hóa xuất nhâ ̣p khẩu có n hiều nét tương đồng giống với Viê ̣t Nam Kết quả phân tích được rút ra thành những bài học kinh nghiệm cho CSTM của Việt Nam khi gia nhập AEC
Năm 2004, EU bắt đầu mở rô ̣ng về phía đông , ba nước Đông Âu được cho ̣n kết nạp lần đầu là Ba Lan, Czech và Hungari EU gồm các nước có nền kinh tế phát triển
ở trình độ cao hơn so với 3 nước Đông Âu, vì thế, khi chuẩn bi ̣ gia nhâ ̣p vào EU , Ba Lan, Czech và Hungari với cơ cấu kinh tế thiên về nông nghiê ̣p và công n ghiê ̣p nhe ̣ đã
có những lo lắ ng về năng lực ca ̣nh tranh của hàng hóa trong nước với hàng hóa được sản xuất tại các thuô ̣c EU Tuy nhiên, sau khi gia nhâ ̣p EU cả 3 nước Đông Âu này đều đã tiến hành điều chỉ nh CSTM của mình để phù hợp với điề u kiê ̣n sẵn có Chính sự điều chỉ nh ki ̣p thời này đã giúp thương ma ̣i của cả 3 quốc gia này và EU mở rô ̣ng
cả về số lượng và chất lượng
2.1 Chính sách thượng cu ̉ a Ba Lan sau khi gia nhâ ̣p EU
2.1.1 Tổng quan về nền kinh tế Ba Lan
Cộng hòa Ba Lan (tiếng Ba Lan: Rzeczpospolita Polska) là một quốc gia ở Trung Âu, tiếp giáp với các nước Đức, Slovakia, Séc, Ukraina, Belarus, Litva, Nga và biển Baltic; diện tích 322577 km², dân số 38,56 triệu gần như thuần chủng người Ba Lan, đa phần (95%) theo đạo Công giáo La Mã được truyền bá vào đây khi nhà nước
Ba Lan đầu tiên hình thành vào thế kỷ thứ 10 Ngày 1 tháng 5 năm 2004 Ba Lan chính thức gia nhập EU sau khi đã đáp ứng tiêu chuẩn của một nước thành viên, tức là có nền dân chủ và kinh tế thị trường Trong 10 năm qua Ba Lan đã thay đổi mình và góp phần thay đổi châu Âu một cách hết sức ấn tượng
Xuất khẩu trong 10 năm qua của Ba Lan tăng 4%, nếu so với các nước trong khối EU thì mức độ tăng trưởng đó chỉ đứng sau Hà Lan Năm 2014 giá trị xuất khẩu của Ba Lan vào các nước EU tăng hơn 3,5 lần so với trước khi gia nhập Ba Lan là
Trang 27tế châu Âu duy nhất có thể tránh được suy thoái kinh tế cuối những năm 2000 Kể từ khi thay đổi thể chế chính tri ̣, Ba Lan đã theo đuổi một chính sách tự do hóa nền kinh
tế Đó là một ví dụ về sự chuyển đổi từ kế hoạch tập trung sang một nền kinh tế chủ yếu dựa vào thị trường xuất khẩu thành công nhất của nước này bao gồm máy móc thiết bị, đồ nội thất, thực phẩm, quần áo, giày dép và mỹ phẩm Đối tác thương mại chiến lược của Ba Lan là Đức
Sau khi gia nhập EU, chính sách thương mại của Ba Lan đã có nhiều thay đổi
để phù hợp với Chính sách thương mại chung của EU
Bảng 2.1: Kim nga ̣ch thương ma ̣i của Ba Lan giai đoa ̣n 2010 – 2014
2.1.2 Chính sách thương mại của Ba Lan sau khi gia nhập EU
a Hệ thống thuế quan
Ba Lan là thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới và Liên minh Châu
Âu Ba Lan áp dụng hệ thống thuế quan đối ngoại chung của EU đối với hàng hóa
nhập khẩu từ các nước khác ngoài EU
Kể từ khi gia nhập EU, hệ thống thuế của Ba Lan đã dần được sửa đổi với dự định khuyến khích đầu tư nước ngoài vào Ba Lan và tạo thêm công ăn việc làm cho người dân nước này Việc cải cách hệ thống thuế được thực hiện trong quá trình Ba Lan thực hiện việc tuân thủ và hài hóa các qui định pháp luật của mình với luật pháp của EU
Hệ thống thuế của Ba Lan gồm 12 loại thuế như sau:
Trang 2827
o 9 loại thuế trực tiếp
- Thuế thu nhập doanh nghiệp (CIT)
- Thuế thu nhập cá nhân (PIT)
- Thuế đối với các giao dịch dân sự
- Thuế bất động sản
- Thuế đánh vào các phương tiện vận tải
- Thuế đối với tài sản thừa kế, cho, tặng
- Thuế lâm nghiệp
- Thuế đối với động vật (chó)
o 3 loại thuế gián tiếp
- Thuế đối với hàng hóa và dịch vụ (VAT)
- Thuế đánh vào một số mặt hàng được sản xuất, bán hoặc dùng trong nội địa (excise tax)
- Thuế đối với trò chơi
Ba Lan áp dụng chính sách hạn chế nhập khẩu đối với một số loại hàng hóa cần
có giấy phép nhập khẩu vào Ba Lan do Bộ Kinh tế Ba Lan cấp Các mặt hàng này bao gồm:
- Sản phẩm phục vụ trong lĩnh vực quân đội
- Vật liệu phóng xạ
- Chất nổ
- Vũ khí, đạn dược
- Vật liệu có khả năng bắt cháy cao
- Các mặt hàng nhập khẩu theo diện quản lý bằng hạn ngạch, hàng hóa và tiền nhập khẩu tạm thời theo các thỏa thuận quốc tế [B1]
Tất cả các công ty dự định có cơ sở hiện diện thương mại tại Ba Lan hoặc thực hiện các hoạt động kinh doanh ở nước này đều được cơ quan thuế tại địa bàn đăng ký hoạt động kinh doanh cấp mã số thuế Để tính thuế, tất cả các đối tượng thuộc diện phải thanh toán tiền thuế phải có tài khoản thuế riêng hoặc tài khoản thuế cá nhân Hệ thống thuế ở Ba Lan là thống nhất trên toàn lãnh thổ và chỉ có một số khác biệt nhỏ giữa các địa phương
Trang 29có tham gia ký kết có thể được hưởng các miễn trừ hoặc ưu đãi về thuế
Thuế VAT được đưa vào thực hiện ở Ba Lan trong năm 1993 Kể từ ngày 1/5/2004 thuế này được hài hòa với hệ thống thuế VAT chung của EU Mức thuế suất VAT 22% được tính trên trị giá đã bao gồm thuế nhập khẩu của hầu hết các mặt hàng Mức thuế VAT 7% được áp dụng đối với những sản phẩm như thực phẩm, nông phẩm
và lâm sản thiết yếu, dược phẩm, hàng hóa dành cho trẻ em, quần áo, nhạc cụ, ấn phẩm báo chí, một số loại máy móc nông nghiệp và vật liệu xây dựng
Thuế đánh vào một số mặt hàng được sản xuất, bán hoặc dùng trong nội địa được áp dụng đối với các mặt hàng xa xỉ nhập khẩu hoặc được sản xuất trong nước Các mặt hàng này bao gồm xăng, ô tô, thuốc lá, muối, lông thú, thuyền buồm nhẹ, máy ảnh có quay video và một số loại đầu máy thu hình
- Thuế nhập khẩu: Ba Lan tuân thủ Hiệp định Chung về Thuế quan và Thương
mại (GATT) mà sau này là WTO và có hệ thống thuế theo HS2
Các qui định của Hải quan Ba Lan về thuế suất thuế nhập khẩu được xây dựng trên cơ sở các chỉ thị liên quan của EU mở rộng Phần lớn hàng hóa nhập khẩu vào Ba Lan phải chịu mức thuế suất là 30%, thuế suất đối với các mặt hàng rượu là trên 300% và 100% đối với một số mặt hàng xa xỉ khác
b Các hàng rào phi thuế quan
Tiêu chuẩn chất lươ ̣ng hàng hóa
Tiêu chuẩn chuất lươ ̣ng hàng hóa ta ̣i Ba Lan tuân thủ các yêu cầu về tiêu chuẩn theo các hướng dẫn chung của Liên minh Châu Âu Mặc dù không phải là vấn đề bắt buộc, tuy nhiên nhiều nhà nhập khẩu Ba Lan yêu cầu đối tác nước ngoài của họ phải đăng ký ISO 9000 Qui trình đăng ký ISO không rẻ và nhu cầu của thị trường đối với việc đăng ký cũng khác nhau tuỳ theo nhóm sản phẩm và dịch vụ
2 tiếng Anh là HS Code, là mã số của hàng hóa xuất nhập khẩu theo một hệ thống phân loại hàng hóa
có tên là “Hệ thống hài hòa mô tả và mã hóa hàng hóa” (HS - Harmonized Commodity Description and Coding System)
Trang 3029
Khi thâm nhập thị trường Ba Lan, các công ty cần xem xét những tiêu chuẩn bắt buộc có thể áp dụng đối với từng sản phẩm và dịch vụ cụ thể Nhà nhập khẩu là một trong những nguồn thông tin hữu ích để tìm hiểu về các yêu cầu này, ít nhất là trong giai đoạn ban đầu
- Quy định về bao gói, nhãn mác
Hàng hóa nhập khẩu vào Ba Lan phải được bao gói cẩn thận tùy theo bản chất của hàng hóa, phương thức vận tải và điều kiện thời tiết trong quá trình vận chuyển
Thùng đựng hàng ở lớp ngoài cùng cần có thông tin về người nhận hàng, cảng đến và được đánh số thứ tự như ghi trong phiếu đóng gói trừ phi nội dung về hàng hóa trong thùng hàng đã được xác định bằng cách khác Số hợp đồng bán hàng cũng cần được ghi trên thùng hàng
Một số yêu cầu đặc biệt về nhãn mác được áp dụng đối với hàng thực phẩm Đặc biệt, thành phần nguyên liệu của hầu hết các loại thực phẩm (bao gồm cả các chất phụ gia) và ngày sản xuất/ hạn sử dụng cũng phải được ghi rõ ràng trên nhãn mác Các mặt hàng thực phẩm, dược phẩm và mỹ phẩm cần có thông tin về hạn sử dụng, mô tả hàng hóa và thành phần nguyên liệu trên nhãn mác bằng tiếng Ba Lan
Một số loại da cũng phải tuân thủ các qui định đặc biệt liên quan đến nhãn mác Nhãn mác chứng nhận về độ an toàn cho người dùng CE (European Conformity) là nhãn hiệu bắt buộc đối với hàng hoá (theo quy định) và được coi như hộ chiếu thương mại vào thị trường EU Trước hết, CE chú trọng đến vấn đề an toàn cho người tiêu dùng và bảo vệ thiên nhiên hơn là đến chất lượng của sản phẩm CE là bắt buộc đối với các sản phẩm, được quy định tại 25 nước EU, trong đó có Ba Lan
Nhãn CE chỉ yêu cầu đối với những loại sản phẩm gồm: đồ chơi; máy móc; thiết bị điện; thiết bị điện tử; thiết bị y tế; thiết bị bảo hộ cá nhân; thiết bị áp lực; thiết
bị y tế cấy ghép; thiết bị y tế chẩn đoán trong ống nghiệm; thiết bị vô tuyến và viễn thông đầu cuối; bình áp lực đơn giản; các dụng cụ đốt cháy nhiên liệu khí gas; thang máy; các thiết bị dùng cho ngành giải trí; thiết bị cân không tự động; các đường cáp treo
Để bán sán phẩm trong danh mục nêu trên cho thị trường gồm 25 nước thành viên của EU trong đó có Ba Lan, các nhà xuất khẩu nước ngoài cần áp dụng dấu CE Những quy định sản phẩm có mang nhãn CE cho các nhà sản xuất một số cơ hội lựa
Trang 3130
chọn, cũng như phải quyết định những vấn đề an toàn sức khỏe cần quan tâm, những
mô hình đánh giá tính hợp chuẩn nào thích hợp nhất với quá trình sản xuất cụ thể, và liệu có phải sử dụng những tiêu chuẩn chung của toàn Châu Âu hay không [B10]
Các sản phẩm được sản xuất theo tiêu chuẩn của CEN, CENELEC và ETSI là những sản phẩm đạt chuẩn chung, được coi là đã thỏa mãn yêu cầu của các Chỉ thị
EU Nhà sản xuất lúc này có thể đánh nhãn CE cho sản phẩm của mình và đưa ra tuyên bố sản phẩm của mình thực hiện đúng các qui định Nhà sản xuất có thể không sử dụng các tiêu chuẩn chung của EU, nhưng phải chứng tỏ rằng sản phẩm của mình vẫn thỏa mãn các qui định thiết yếu nhất về an toàn và chất lượng Rào cản thương mại xảy ra khi tiêu chuẩn về thiết kế, chứ không phải chất lượng, được các tổ chức tiêu chuẩn Châu Âu xây dựng, và khi đối tác nước ngoài không có thông tin về quá trình tiêu chuẩn vì không có mặt ở Châu Âu
Mục đích của CE chủ yếu là để làm đơn giản hóa quá trình kiểm tra thị trường tối thiểu đối với một số mặt hàng của các cơ quan kiểm soát quốc gia của các nước thành viên Mặc dù nhãn CE được dùng chủ yếu cho mục đích kiểm tra, người tiêu dùng có thể coi đây là một dấu hiệu chứng nhận chất lượng Nhãn CE không bao gồm thông tin kỹ thuật cụ thể của sản phẩm, nhưng phải có đủ thông tin để cơ quan kiểm soát có thể tìm đến nhà sản xuất hoặc là đại diện của nhà sản xuất ở Châu Âu Thông tin này không nên xuất hiện bên cạnh nhãn CE, mà được khai trong bản tuyên bố thỏa mãn qui trình, chứng nhận qui trình (nhà sản xuất hay người đại diện lúc nào cũng phải sẵn sàng xuất trình giấy chứng nhận qui trình và hồ sơ kỹ thuật của sản phẩm) hoặc trên những văn bản kèm theo sản phẩm
- Quy định về kiểm dịch động vật
Động vật, thực vật và các sản phẩm từ động thực vật cần có giấy chứng nhận kiểm dịch bằng tiếng Ba Lan và tiếng Anh do cơ quan hữu quan của nước xuất xứ cấp Tất cả các mặt hàng thực phẩm đều phải tuân thủ các quy định về kiểm dịch trước khi nhập khẩu vào Ba Lan Nhiều loại thực phẩm phải chịu sự kiểm tra về kiểm dịch của Cục Kiểm dịch Quốc gia (State Sanitary Inspection Agency) khi đến lãnh thổ Ba Lan Nhà xuất khẩu nước ngoài nên liên hệ trước với nhà nhập khẩu Ba Lan để có thông tin chi tiết về vấn đề kiểm dịch trước khi xuất hàng Tất cả các loại dược phẩm phải được đăng ký với Viện Instytut Lekow của Bô Y tế và Phúc lợi Xã hội (Ministry of Health
Trang 3231
and Social Welfare) và phải được chấp thuận được lưu hành và bán tại Ba Lan Ủy ban Dược phẩm Quốc gia (State Commission of Drugs) thuộc Bộ Y tế và Phúc lợi Xã hội (Ministry of Health and Social Welfare) chịu trách nhiệm đối với việc thẩm định
và chấp thuận về chất lượng của dược phẩm nhập khẩu
Khu vực kinh tế đặc biệt
Khu vực kinh tế đặc biệt (Special Economic Zone - SEZ) là khu vực dành riêng cho các hoạt động sản xuất hoặc phân phối với những điều kiện ưu đãi Mục đích của SEZ là hỗ trợ sự phát triển mang tính khu vực SEZ được thành lập nhằm:
- Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của các khu vực tại Ba Lan;
- Xúc tiến phát triển và sử dụng các giải pháp công nghệ hiện đại trong nền kinh tế Ba Lan;
- Tăng cường khả năng cạnh tranh của hàng hóa và dịch vụ;
- Tìm kiếm biện pháp sử dụng hiệu quả và năng suất đối với các tài sản hậu công nghiệp và cơ sở hạ tầng;
- Khuyến khích việc tạo lập những việc làm mới Ở Ba Lan có khoảng 14 khu kinh tế đặc biệt Ban quản lý của từng khu phụ trách việc cấp giấy phép kinh doanh trong khu và giúp đỡ nhà đầu tư vào khu đó thực hiện các thủ tục và quy trình đầu tư (chẳng hạn như tạo điều kiện thuận lợi trong việc liên hệ với các cơ quan chính quyền địa phương hoặc trung ương, mua hoặc thuê đất…) [B3]
2.2 Chính sách thương mại của Czech
2.2.1 Tổng quan về nền kinh tế của Czech
Cộng hòa Czech (tiếng Séc: Česká republika), hay gọi tắt là Czech là 1 quốc gia thuộc khu vực Trung Âu, với diện tích 78.867km2 và 10,647 triệu dân (theo số liệu năm 2014)
Czech là một nước nghèo về tài nguyên (chỉ có than đá, than nâu, quặng sắt, cao lanh, cát làm thuỷ tinh nhưng trữ lượng nhỏ), nhưng có nền công nghiệp phát triển khá sớm với một số ngành mũi nhọn như sản xuất máy công cụ, máy năng lượng,
ô tô, hoá dầu, thiết bị y tế, sản xuất pha lê, bia
Những năm 1990 trở về trước, kinh tế phát triển chủ yếu theo chiều rộng kém hiệu quả Từ năm 1990, Czech tập trung thực hiện tư hữu hoá, cơ cấu lại nền kinh tế,
mở cửa Thời kỳ 1993-1996 cải cách đạt kết quả bước đầu, tăng trưởng kinh tế khá
Trang 3332
(năm 1996 GDP tăng 4,8%) Czech được kết nạp làm thành viên Tổ chức các nước phát triển OECD năm 1995 Thời kỳ 1997-1999 kinh tế Czech suy thoái do thực hiện cải cách kinh tế nhanh và tư nhân hoá ồ ạt, cơ cấu kinh tế không vững chắc, nguồn lực
bị phân tán, chuyển đổi kinh tế theo chiều sâu bị hạn chế, chậm thay đổi công nghệ và hiện đại hoá, sản phẩm khó cạnh tranh trên thị trường quốc tế, nhập siêu lớn Từ năm
2000, kinh tế Czech bắt đầu hồi phục
Czech là một nền kinh tế thị trường ổn định và thịnh vượng tích hợp chặt chẽ với EU, đặc biệt là kể từ khi gia nhập EU năm 2004 Ngành công nghiệp ô tô là ngành công nghiệp lớn nhất, cùng với các nhà cung cấp của nó, lươ ̣ng sản xuất toàn ngành chiếm gần 24% của Czech Do xu hướng bảo thủ, hướng nội nên hệ thống tài chính Czech vẫn tương đối khỏe mạnh ít chịu tác động của cuộc khủng hoả ng tài chính toàn cầu 2008 Nền kinh tế Czech nhỏ, định hướng xuất khẩu vẫn còn nhạy cảm với những biến động kinh tế của các thị trường xuất khẩu chính, đặc biệt là Đức Khi Tây Âu và Đức rơi vào suy thoái vào cuối năm 2008, nhu cầu đối với hàng hóa Czech giảm mạnh, dẫn đến cầu giảm trong sản xuất công nghiệp và xuất khẩu Kết quả là, GDP thực giảm mạnh trong năm 2009 Toàn bộ nền kinh tế phục hồi chậm trong 6 tháng cuối năm 2009 và tăng trưởng yếu trong hai năm tiếp theo Tuy nhiên, trong năm 2012
và năm 2013, nền kinh tế rơi vào suy thoái lần nữa, cả về sụt giảm nhu cầu trong khối
EU và các biện pháp thắt lưng buộc bụng của chính phủ, dẫn tới sự tăng trưởng thấp trong năm 2014
Năm 2004, Czech chính thức trở thành một thành viên của EU, đòi hỏi nước này phải thúc đẩy quá trình cải cách kinh tế để tiến kịp với các nước trong khối EU, trong đó có chính sách thương mại
2.2.2 Chính sách thương mại của Cộng hòa Czech sau khi gia nhập EU
a Hệ thống thuế quan
Hệ thống thuế của Czech đối với hàng nhập khẩu có tính rõ ràng và ổn định cao Là một thành viên của EU, do đó, thuế nhập khẩu vào Czech áp dụng chung cho tất cả các sản phẩm đến từ các nước không thuộc EU
Hàng năm Ủy ban Châu Âu sẽ đăng trên Công báo của Cộng đồng về biểu thuế quan hưởng theo Tối huệ quốc (MFN) đối với tất cả danh mục hàng nhập khẩu vào Cộng đồng Nếu so sánh theo mức tối thiểu và tối đa thì mức thuế cao nhất vẫn là các
Trang 3433
mặt hàng như thịt, sản phẩm sữa, ngũ cốc và rau hoa quả chế biến và không chế biến Đối với hàng nông sản, mức thuế từ 0% đến 470,8%; đối với hàng không phải nông sản có mức thuế từ 0% đến 36,6%
Về cơ bản, biểu thuế quan được chia thành ba nhóm:
+ Nhóm thứ nhất áp dụng đối với hàng hóa nhập khẩu từ các nước có thực hiện quy chế tối huệ quốc (MFN)
+ Nhóm thứ hai là thuế quan ưu đãi, áp dụng đối với hàng nhập khẩu từ các nước đang phát triển được hưởng đơn thuần ưu đãi GSP của EU
+ Nhóm thứ ba, được gọi là thuế quan đặc biệt, thực hiện đối với hàng nhập khẩu từ một số nước đang phát triển được hưởng ưu đãi theo hiệp định song phương khác như cá nước trong các hiệp định Châu Âu, EC – ACP và các nước chậm phát triển nhất
- Thuế giá trị gia tăng
Thuế giá trị gia tăng (VAT) thông thường ở Cộng hoà Séc là 22%, 5% cho một
số mặt hàng được chỉ định như thực phẩm và dược phẩm
b Các hàng rào phi thuế quan
Tiêu chuẩn
- Quy định về bao gói nhãn mác
Yêu cầu về nhãn mác phụ thuộc vào loại sản phẩm và mục đích sử dụng Nói chung, nhãn hàng hóa phải được ghi bằng tiếng Czech và có thể được dán thêm kèm với sản phẩm Các thông tin trên nhãn hàng hóa phải bao gồm: tên sản phẩm, tên nhà sản xuất, nước xuất xứ, và trong một số trường hợp phải có hướng dẫn sử dụng Nhãn của một số mặt hàng như thực phẩm, đồ uống, phụ gia thực phẩm và hàng dệt may, phải cung cấp cả số lượng và thành phần cấu tạo… Thêm vào đó, các quy ước quốc tế
về nhãn cảnh báo cho các sản phẩm tiêu dùng cũng được áp dụng Các yêu cầu về nhãn mác của Czech hòa hợp với các quy định của EU từ năm 2002 Các nhà nhập khẩu và phân phối Czech phải chịu trách nhiệm về nhãn mác đúng của sản phẩm trên thị trường Czech và có thể tư vấn cho các nhà xuất khẩu nước ngoài về các yêu cầu đặc biệt đối với nhãn mác
- Quy định về kiểm dịch động thực vật
Trang 3534
Việc nhập khẩu động vật sống, cá, thức ăn cho súc vật và các sản phẩm từ động vật vào Czech là đối tượng của những đạo luật nghiêm khắc Những sản phẩm như vậy cần phải có rất nhiều các loại giấy chứng nhận kiểm dịch khi muỗn nhâ ̣p khẩu vào quốc gia này [B6]
- Quy định về tiêu chuẩn đối với hàng hoá và dịch vụ
Czech hoà nhập với các tiêu chuẩn theo quy định của Châu Âu Các hàng hóa được chứng nhận tại Czech hay các nước thành viên khác của EU có thể được bán tại Czech Thêm vào đó, các sản phẩm được chứng nhận đáp ứng tiêu chuẩn Châu Âu (được xác định bởi dấu “CE”) bởi phòng thí nghiệm kiểm tra cơ quan chức năng Hoa
Kỳ cũng được chấp thuận Tiêu chuẩn ISO 9000 được sử dụng ngày càng nhiều tại Czech như là bằng chứng của sản phẩm chất lượng cao Về nội địa, dấu “Czech Made” (làm tại Czech) là một phần thưởng cho các sản phẩm được chứng nhận là chất lượng rất tốt, thân thiện với môi trường và được người tiêu dùng ưa chuộng Đây là phần thưởng cho các sản phẩm của Czech mà được sản xuất tại các công ty hay doanh nghiệp đăng ký tại Czech
Chứng nhận hợp chuẩn: Các sản phẩm được kiểm tra và chứng nhận ở nước
xuất khẩu hầu như đều phải kiểm tra và lấy chứng nhận lại tại EU do tiêu chuẩn khác nhau giữa tiêu chuẩn bảo vệ sức khoẻ và sự an toàn của người tiêu dùng và môi trường Nếu sản phẩm không qua được đạo luật kiểm tra kỹ thuật đặc biệt của EU, chúng sẽ bị báo cáo để điều tra sự an toàn của sản phẩm cũng như có thể thêm vào yêu cầu quốc gia
Các tiêu chuẩn của EU được lập ra những năm gần đây theo phương pháp tiếp cận mới để hòa hợp cả các quốc gia thành viên và các nền kinh tế nhằm cho phép tự
do lưu thông sản phẩm Điểm đặc trưng của phương pháp tiếp cận mới là được đóng dấu CE [B16]
Khu vực tự do thương mại
Có 11 khu vực tự do thương mại được thiết lập ở nhiều thành phố trên khắp nước Czech Vật liệu, các thành phần cấu thành và các bán sản phẩm được miễn thuế hải quan và VAT nếu được nhập khẩu vào các khu tự do thương mại để phục vụ hoạt
đô ̣ng lắp ráp Nếu hàng hóa sau đó được sử dụng trong nhà máy hay trong quá trình cuối cùng của sản phẩm mà sau đó lại tái xuất, chúng cũng được miễn thuế nhập khẩu
Trang 3635
và VAT Thuế nhập khẩu và VAT được tính trên giá trị khai báo của hàng hóa nếu chúng được lưu thông tự do trên thị trường Liên minh Châu Âu Các quy định tương tự được áp dụng cho các hàng hóa được đặt tại kho hàng Tuy nhiên, hoạt động sản xuất nói chung không được cho phép diễn ra ta ̣i các khu vực này nhằm ha ̣n chế ô nhiễm môi trường [B2]
2.3 Chính sách thương mại của Hungary
Hungary là một quốc gia không giáp biển thuộc khu vực Trung Âu Nước này tiếp giáp với Slovakia về phía bắc, Áo về phía tây, Slovenia về phía tây nam, Croatia
và Serbia về phía nam, Romania và phía đông và Ukraina và phía đông bắc
2.3.1 Tổng quan nền kinh tế Hungary
Ngay từ cuối những năm 1960, Hungary đã tìm cách tự do hóa nền kinh tế một cách giới hạn và chuyển đổi thành công sang nền kinh tế thị trường (1990) dựa trên cơ
sở nền kinh tế tập trung bao cấp, với mức thu nhập đầu người bằng khoảng 2/3 thu nhập trung bình của 25 nước thành viên EU Là một nước phát triển kinh tế trung bình, công nghiệp và nông nghiệp phụ thuộc nhiều vào ngoại thương Để thực hiện chuyển đổi kinh tế, ngay từ thời kỳ đầu, Hungary chủ trương đẩy nhanh tư nhân hoá,
về cơ bản năm 1997 hoàn thành quá trình này Trong nhiều năm liền, Chính phủ thông qua tư nhân hoá chủ yếu bằng cách "bán" các nhà máy, xí nghiệp cho các công ty đa quốc gia
Từ năm 1997, nền kinh tế bắt đầu đi vào quỹ đạo phát triển ổn định, GDP tăng trưởng 4-5%/năm Nền kinh tế Hungary đã có sự phát triển vượt bậc được đánh dấu bằng việc gia nhập Liên minh Châu Âu vào tháng 5/2004 Khu vực kinh tế tư nhân đóng góp hơn 80% GDP cả nước Từ cuối năm 2008, Hungary bị ảnh hưởng mạnh của khủng hoảng tài chính thế giới, thâm hụt ngân sách cao (9,5% GDP), mỗi năm phải trả lãi nợ nước ngoài tới 4% GDP, gánh nặng an sinh xã hội cao nhất khu vực Trung Âu (60% GDP) đã buộc Chính phủ nước này phải đề nghị IMF hỗ trợ 25 tỉ USD để cứu hệ thống ngân hàng khỏi sụp đổ, đồng thời phải áp dụng các biện pháp khắc khổ Năm 2009 nền kinh tế tăng trưởng âm 6,3% Sang năm 2010, kinh tế Hungary đã phục hồi, thâm hụt ngân sách giảm còn 3,8%, lạm phát 4,5%, dự trữ ngoại
tệ khá mạnh (45,7 tỷ USD), GDP tăng trưởng 0,8% Nền kinh tế bắt đầu hồi phục
Trang 3736
trong năm 2010 với một sự thúc đẩy lớn từ xuất khẩu, đặc biệt là thị trường Đức, và đạt mức tăng trưởng khoảng 1,7% trong năm 2011
Bảng 2.2: Kim ngạch thương mại của Hungary
Hiện nay, EU là thị trường xuất khẩu quan trọng nhất, chiếm 80% tổng giá trị xuất khẩu của Hungary Trong đó Đức được coi là đối tác kinh tế lớn nhất của Hungary Năm 2012, xuất khẩu của Hungary đạt 90,23 tỷ USD, các mặt hàng xuất chủ yếu gồm máy móc, thiết bị (chiếm 61%), các sản phẩm chế tạo khác (28,7%), thực phẩm (6,5%), nguyên liệu (2%) Các đối tác chủ yếu là Đức (chiếm 25,5% tổng kim ngạch), I-ta-li-a (5,7%), Pháp (5,4%), Ru-ma-ni (5,3%), Slovakia (5%), Áo (4,5%) Nhập khẩu đạt 87,37 tỷ USD, các mặt hàng nhập chủ yếu gồm máy móc, thiết bị (50%), nhiên liệu và điện (11%), thực phẩm và nguyên liệu Các đối tác chủ yếu là Đức (25%), Trung Quốc (8,6%), Nga (7,3%), Áo (6%), Hà Lan (4,7%), Pháp (4,5%), Xlô-va-ki-a (4%), I-ta-li-a (4%), Ba Lan (4%) [B12]
2.3.2 Chính sách thương mại của Hungary sau khi gia nhập EU
Từ khi gia nhập EU năm 2004, Hungary phải thay đổi chính sách thương mại
để theo các quy định chung của khối EU
a Hệ thống thuế quan
- Thuế nhập khẩu:
Do là thành viên của EU kể từ 1/5/2004 nên Hungary đã thông qua việc thực hiện các chính sách và biện pháp ngoại thương chung của Liên minh Do vậy, thuế suất thuế nhập khẩu của nước này là ngang với các mức thuế suất của EU và thường thấp hơn so với mức thuế suất trước đây của Hungary khi nước này chưa gia nhập Liên minh Thuế nhập khẩu áp dụng đối với tất cả hàng hóa nhập khẩu vào Hungary, được tính theo giá hàng (là giá CIF) và hài hòa với các công ước của GATT trước đây
Trang 3837
và sau này là WTO Mức thuế suất thuế nhập khẩu là khác nhau với từng nhóm sản phẩm và dịch vụ khác nhau và tuỳ theo nước xuất xứ của hàng hóa / dịch vụ
- Thuế giá trị gia tăng (VAT)
VAT là loại thuế kinh doanh áp dụng đối với tất cả các giai đoạn sản xuất của một mặt hàng, bao gồm cả các giao dịch xuất nhập khẩu Mức thuế suất thuế VAT được xác định bởi từng nước thành viên trong EU Mức thuế này ở Hungary là 25% Mức thuế suất thuế VAT được tính giảm đối với một số sản phẩm nhất định như các mặt hàng tiêu dùng thiết yếu, thực phẩm, đồ điện, gỗ, sách…
Đối với hàng nhập khẩu, VAT được tính trên giá CIF + trị giá thuế nhập khẩu
đã thanh toán của hàng hóa Du khách đến Hungary có thể được hoàn thuế VAT nếu mua hàng hóa trị giá từ 50.000 HUF trở lên Việc hoàn thuế được thực hiện tại sân bay, biên giới hoặc qua thẻ tín dụng
Thuế đánh với một số mặt hàng sản xuất, bán hoặc tiêu dùng trong nội địa, thuế tiêu thụ đặc biệt Theo qui định của EU, các nước thành viên phải đánh thuế sản xuất, bán hoặc tiêu dùng nội địa đối với dầu khoáng, cồn và đồ uống có cồn, thuốc lá Trong giai đoạn chuyển đổi các qui định pháp luật của quốc gia để phù hợp với các qui định liên quan của EU, Hungary có thời gian trì hoãn việc áp dụng loại thuế này đối với thuốc lá điếu đến năm 2008 Hungary cũng được áp dụng mức thuế giảm đối với việc sản xuất các loại rượu hoa quả phục vụ sử dụng cá nhân (với mức sản xuất tối đa không quá 50 lít cho mỗi hộ sản xuất)
- Thuế thu nhập doanh nghiệp
Ở Hungary, thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp là 16%, là mức thấp nhất trong số tất cả các nước OECD Thuế này được tính trên tổng số thu nhập thuộc diện chịu thuế của công ty Năm tính thuế thường bắt đầu từ ngày 1/1 đến 31/12 mặc dù các công ty có thể đặt ngày tính thuế khác nhau
b Các hàng rào phi thuế quan
Tiêu chuẩn hàng hóa
Tiêu chuẩn hóa ngày càng trở nên quan trọng đối với việc di chuyển tự do hàng hóa qua biên giới EU, trong đó có Hungary Để đảm bảo sản phẩm đáp ứng các tiêu chuẩn cần thiết, nhà xuất khẩu nên quen với hai khái niệm là dấu CE và các chỉ thị tiếp cận mới (New Approach directives) Dấu CE được coi là hộ chiếu giúp các nhà
Trang 3938
sản xuất lưu thông các sản phẩm công nghiệp của mình một cách tự do trong EU, chứng nhận rằng hàng hóa đáp ứng các yêu cầu về an toàn và sức khoẻ Tất cả các nhà sản xuất ở trong và ngoài EU muốn bán hàng tại EU thì cần dán dấu CE lên sản phẩm theo qui định nêu tại các chỉ thị tiếp cận mới
- Quy định về bao gói, kỹ mã hiệu và nhãn mác
Qui định về nhãn mác hàng hóa ở Hungary đã hoàn toàn hài hòa với các qui định của EU Yêu cầu đối với nhãn mác và ký mã hiệu của hàng hóa tùy thuộc vào từng loại hàng và mục đích sử dụng Nhìn chung, nhãn mác phải được ghi bằng tiếng Hungary vào có thể được gắn với sản phẩm hoặc có tờ rơi đi kèm sản phẩm Thông tin trên nhãn mác phải bao gồm tên sản phẩm, tên nhà sản xuất, và trong một số trường hợp là hướng dẫn sử dụng Nhãn mác cho một số sản phẩm như thực phẩm, đồ uống, phụ gia thực phẩm và hàng dệt phải có thêm thông tin về thành phần nguyên liệu Hàng tiêu dùng cần có nhãn cảnh báo đối với các trường hợ p nguy hiểm đến con người và môi trường xung quanh
- Dấu chứng nhận về độ an toàn cho người dùng (CE)
CE (European Conformity) là nhãn hiệu bắt buộc đối với hàng hoá (theo qui định) và được coi như hộ chiếu thương mại vào thị trường EU Trước hết, CE chú trọng đến vấn đề an toàn cho người tiêu dùng và bảo vệ thiên nhiên hơn là đến chất lượng của sản phẩm CE là bắt buộc đối với các sản phẩm, được qui định tại 25 nước
EU, trong đó có Hungary
Mục đích của CE chủ yếu là để làm đơn giản hóa quá trình kiểm tra thị trường tối thiểu đối với một số mặt hàng của của các cơ quan kiểm soát quốc gia của các nước thành viên Mặc dù dấu CE được dùng chủ yếu cho mục đích kiểm tra, người
tiêu dùng có thể coi đây là một dấu hiệu chứng nhận chất lượng
Khu vực tự do thương mại
Những qui định về việc quản lý khu vực tự do thương mại (FTZ) ở các nước thành viên mới của EU được xác định thông qua các thỏa thuận song phương giữa những nước thành viên mới và EU Thông thường, trong EU, một số khu vực địa lý nhất định có thể được gọi là FTZ EU chấp thuận khu vực đó là FTZ nếu các công ty hoạt động sản xuất trong khu này không làm gì ảnh hưởng tiêu cực đến các thị trường
Trang 40Để thúc đẩy quá trình chứng nhận tiêu chuẩn cho sản phẩm cuối cùng, doanh nghiệp có thể tham gia các chương trình đánh giá tính hợp chuẩn tự nguyện Hệ thống chứng nhận của CEN là Keymark, dấu CENCER, và Nhóm Hiệp định Tiêu chuẩn Châu Âu
2.4 Đánh giá chung về chính sách thương mại của các nước Đông Âu sau khi gia nhập EU và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
2.4.1 Kinh nghiê ̣m từ ba nước Đông Âu
Ba Lan đã dỡ bỏ các loa ̣i trợ cấp cho nông nghiê ̣p trong nước không phù hợp với những quy đi ̣nh chung của EU , nhưng thực thi hỗ trợ sản xuất nông nghiê ̣p chất lươ ̣ng cao cho xuất khẩu theo tiêu chuẩn EU (hỗ trơ ̣ nông dân đầu tư khoa ho ̣c kỹ thuâ ̣t vào sản xuất nông nghiê ̣p ) Đơn giản hóa các thủ tu ̣c cấp phép cho các công ty Tây Âu đươ ̣c đầu tư và liên kết với các công ty trong nước hoa ̣t đô ̣ng trong lĩnh vực nông nghiê ̣p Thiết lập các Khu vực kinh tế đặc biệt dành riêng cho các hoạt động sản xuất hoă ̣c phân phối với những điều kiện ưu đãi nhằm mu ̣c đích thực đẩy tăng trưởng kinh tế của các khu vực tro ̣ng điểm Ba Lan cũng kiên quyết bảo hô ̣ thi ̣ trường m ay
mă ̣c của mình, vì đây là lĩnh vực có nhiều lao động đang làm việc
Chính phủ Czech đã xây dựng CSTM theo hướng mở, khuyến khích các doanh nghiê ̣p trong nước liên kết với các công ty Tây Âu đă ̣c biê ̣t là Đức , tạo điều kiện ch o hình thức này phát triển thông qua 11 khu vực tự do thương ma ̣i được thiết lập ở nhiều thành phố trên khắp nước Czech Vật liệu, các thành phần cấu thành và các bán sản