Tuy nhiên, theo Khoản 1 Điều 24 Nghị định 172/2013/NĐ-CP về thành lập, tổ chức lại, giải thể công ty TNHH một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu và công ty TNHH một thành viên là công
Trang 1A.MỞ ĐẦU
Việc Việt Nam trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) đã tạo nhiều cơ hội cho nền kinh tế Việt Nam phát triển mạnh mẽ, thúc đẩy sự ra đời hàng loạt của các tổ chức kinh tế, sự thành lập doanh nghiệp Trong thời buổi kinh tế thị trường hiện nay, các doanh nghiệp được thành lập nhiều, là một tín hiệu đáng mừng cho nền kinh tế đang phát triển của nước ta.Tuy nhiên, không phải doanh nghiệp nào khi được thành lập cũng đều tồn tại và phát triển theo đúng nguyện vọng của những người thành lập ra nó cũng như theo pháp luật Vì một lý do khách quan hay chủ quan nào đó mà chủ doanh nghiệp tiến hành giải thể, chấm dứt hoạt động của doanh nghiệp mình Để tìm hiểu rõ hơn các quy định của pháp luật về giải
thể doanh nghiệp, em xin chọn đề tài: “Bình luận các quy định của pháp luật về giải
thể doanh nghiệp” để tìm hiểu và trình bày.
B.NỘI DUNG
I MỘT SỐ VẤN ĐỀ KHÁI QUÁT VỀ GIẢI THỂ DOANH NGHIỆP.
1.Định nghĩa.
Giải thể doanh nghiệp là việc doanh nghiệp chấm dứt sự tồn tại, hoạt động kinh doanh do đã đạt được những mục tiêu mà doanh nghiệp đã đặt ra hoặc doanh nghiệp bị giải thể theo quy định của pháp luật Việc giải thể phải đáp ứng những điều kiện và tuân theo những trình tự, thủ tục nhất định do pháp luật quy định
2.Đặc điểm.
Giải thể doanh nghiệp có những đặc điểm cơ bản sau:
—Thứ nhất, giải thể doanh nghiệp dẫn đến việc chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp
về pháp lý và thực tế Theo quy định về trình tự thủ tục giải thể doanh nghiệp, mọi hoạt động của doanh nghiệp đều bị chấm dứt, doanh nghiệp phải tiến hành thanh lý tài sản, thực hiện việc thanh toán các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp Bước cuối cùng của
Trang 2thủ tục giải thể là xóa tên doanh nghiệp trong sổ đăng kí doanh nghiệp Điều này đồng nghĩa với việc doanh nghiệp đó không còn tồn tại trên thị trường
—Thứ hai, giải thể doanh nghiệp là thủ tục mang tính hành chính Để chấm dứt sự tồn tại, doanh nghiệp phải thực hiện rất nhiều thủ tục như chấm dứt hiệu lực của mã số thuế, nộp
hồ sơ giải thể,c ác nghĩa vụ về thuế và tài chính, hủy con dấu, làm thủ tục giải thể tại cơ quan đăng kí kinh doanh,… Đây đều là những thủ tục được tiến hành tại cơ quan hành chính, đó là
cơ quan đăng kí kinh doanh
—Thứ ba, giải thể doanh nghiệp mang tính tự nguyện hoặc bắt buộc Theo quy định của pháp luật hiện hành, có hai loại trường hợp giải thể doanh nghiệp Đó là tự nguyện giải thể và bắt buộc bị giải thể Trường hợp tự nguyện giải thể bắt nguồn từ ý chí của chủ sở hữu hoặc các chủ sở hữu doanh nghiệp, họ có quyền quyết định việc giải thể doanh nghiệp Đây
là trường hợp giải thể mang tính chất hoàn toàn tự nguyện Ngoài ra, nếu những doanh
nghiệp không còn đáp ứng các điều kiện để tiếp tục kinh doanh hay vi phạm các quy định của pháp luật như: nội dung kê khai trong hồ sơ đăng kí doanh nghiệp là giả mạo, doanh nghiệp ngừng hoạt động kinh doanh 01 năm mà không thông báo với Cơ quan đăng ký kinh doanh và cơ quan thuế,… theo Điều 211 Luật Doanh nghiệp 2014 thì sẽ bị thu hồi giấy chứng nhận đăng kí doanh nghiệp Trường hợp này, doanh nghiệp bị giải thể theo ý chí của
cơ quan nhà nước có thẩm quyền, việc giải thể mang tính bắt buộc
—Thứ tư, doanh nghiệp chỉ được giải thể khi bảo đảm thanh toán hết các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp Đây là đặc trưng của giải thể doanh nghiệp nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của các chủ thể liên quan đến tài chính của doanh nghiệp Dù doanh nghiệp giải thể với bất kỳ lí do gì thì doanh nghiệp phải đảm bảo thanh toán hết các khoản
nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp Chỉ khi có điều kiện này thì doanh nghiệp mới được giải thể Đây cũng là tiêu chí phân biệt với phá sản, tạm ngừng kinh doanh, chấm dứt hoạt động của chi nhánh, văn phòng đại diện…
—Thứ năm, nhà nước không đặt ra chế tài hạn chế quyền tự do kinh doanh của người quản lý, điều hành doanh nghiệp, không cấm đảm nhiệm các chức vụ điều hành quản lý doanh nghiệp khác sau khi giải thể doanh nghiệp
II BÌNH LUẬN CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ GIẢI THỂ DOANH NGHIỆP THEO LUẬT DOANH NGHIỆP NĂM 2014.
1.Các trường hợp giải thể doanh nghiệp.
Tại khoản 1 Điều 201 Luật Doanh nghiệp năm 2014, quy định có 4 trường hợp giải thể doanh nghiệp:
a) Kết thúc thời hạn hoạt động đã ghi trong Điều lệ công ty mà không có quyết định gia hạn
Trang 3Điều lệ công ty là bản cam kết của các thành viên về việc thành lập và hoạt động của công
ty Nếu các thành viên khi thành lập công ty mà có thỏa thuận về thời hạn hoạt động của công ty thì thời hạn này phải được ghi trong điều lệ công ty Khi kết thúc thời hạn hoạt động
đó, mà công ty không có quyết định gia hạn thì công ty phải tiến hành thủ tục giải thể
Trong thực tế, nhiều điều lệ công ty không ghi thời gian hoạt động bởi đây không phải nội dung bắt buộc trong điều lệ, nên sẽ không xuất hiện trường hợp giải thể khi kết thúc thời hạn được ghi trong điều lệ công ty
Bên cạnh đó, có một số trường hợp thời hạn hoạt động lại được ghi trong giấy chứng nhận đầu tư (Điều 39 Luật Đầu tư 2014) Riêng dự án đầu tư có vốn nước ngoài mà thành lập tổ chức kinh tế (doanh nghiệp) sẽ có thời hạn hoạt động và thời hạn này được ghi trong giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, chứ không phải ghi trong điều lệ công ty Vì vậy, quy định của pháp luật về trường hợp giải thể này vẫn chưa bao quát được tất cả các trường hợp giải thể của doanh nghiệp có thời hạn hoạt động, dẫn đến không đồng nhất giữa Luật Doanh nghiệp
và Luật Đầu tư
b) Theo quyết định của chủ doanh nghiệp đối với doanh nghiệp tư nhân, của tất cả thành viên hợp danh đối với công ty hợp danh, của Hội đồng thành viên, chủ sở hữu công ty đối với công ty trách nhiệm hữu hạn, của Đại hội đồng cổ đông đối với công ty cổ phần
Kế thừa từ Luật Doanh nghiệp năm 2005, Luật Doanh nghiệp năm 2014 quy định trường hợp giải thể theo quyết định của chủ sở hữu doanh nghiệp Các nước trên thế giới cũng đều ghi nhận trường hợp này xuất phát từ quyền tự do kinh doanh Chủ sở hữu doanh nghiệp vì lí do nào đó mà không muốn tiếp tục hoạt động kinh doanh thì họ hoàn toàn có quyền quyết định việc giải thể doanh nghiệp của mình Tùy thuộc vào từng loại hình doanh nghiệp mà chủ thể
có quyền quyết định việc giải thể doanh nghiệp là khác nhau: với công ty tư nhân là chủ sở hữu công ty, với công ty hợp danh là tất cả các thành viên hợp danh của công ty hợp danh, với công ty cổ phần là Đại hội đồng cổ đông, với công ty TNHH 2 thành viên trở lên là Hội đồng thành viên, với công ty TNHH 1 thành viên là chủ sở hữu công ty
c) Công ty không còn đủ số lượng thành viên tối thiểu theo quy định của Luật này trong thời hạn 06 tháng liên tục mà không làm thủ tục chuyển đổi loại hình doanh nghiệp
Nếu như 2 trường hợp ở trên là tự nguyện giải thể, thì trái lại, trường hợp giải thể này
là bắt buộc Một trong những điều kiện pháp lý bắt buộc để công ty tồn tại là phải có đủ số lượng thành viên tối thiểu Đối với mỗi loại hình công ty, pháp luật quy định số thành viên tối thiểu là khác nhau: công ty TNHH 2 thành viên trở lên là phải có tối thiểu 2 thành viên, công ty cổ phần là 3 cổ đông, với công ty hợp danh là 2 thành viên hợp danh Trong quá trình hoạt động, vì lí do nào đó, công ty không còn đủ số lượng thành viên tối thiểu theo quy định của pháp luật Khi đó, pháp luật không bắt buộc doanh nghiệp phải giải thể ngay, mà cho phép công ty được bổ sung thêm thành viên hoặc chuyển đổi sang loại hình doanh
nghiệp khác phù hợp Nếu quá thời hạn đó công ty không kết nạp thêm được thành viên mà công ty cũng không làm thủ tục chuyển đổi sang loại hình doanh nghiệp khác thì công ty sẽ
Trang 4bị giải thể Đây là quy định được cho là hợp lý hơn so với quy định Luật Doanh nghiệp năm 2005
Tuy nhiên, theo Khoản 1 Điều 24 Nghị định 172/2013/NĐ-CP (về thành lập, tổ chức lại, giải thể công ty TNHH một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu và công ty TNHH một thành viên là công ty con của công ty TNHH một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu) có quy định giải thể khi “kinh doanh thua lỗ 3 năm liên tiếp và có số lỗ lũy kế bằng ¾ vốn nhà nước tại công ty trở lên, nhưng chưa lâm vào tình trạng phá sản; không thực hiện được các nhiệm vụ do Nhà nước giao trong thời gian 2 năm liên tiếp sau khi đã áp dụng các biện pháp cần thiết; việc tiếp tục duy trì công ty là không cần thiết” Do đó, chúng ta nên quy định thêm trường hợp thứ 5 trong Luật là kinh doanh thua lỗ liên tiếp trong một số năm cụ thể và số lũy kế là bao nhiêu nhưng chưa lầm vào tình trạng phá sản
d) Bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp
Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp là sự chứng nhận cho sự tồn tại của doanh nghiệp và
để doanh nghiệp tiến hành các hoạt động kinh doanh Khi doanh nghiệp kê khai nội dung giả mạo trong hồ sơ đăng kí doanh nghiệp hoặc doanh nghiệp do những người bị cấm thành lập doanh nghiệp theo khoản 2 Điều 18 của Luật này thành lập; doanh nghiệp ngừng hoạt động kinh doanh 01 năm mà không thông báo với Cơ quan đăng ký kinh doanh và cơ quan thuế; hoặc doanh nghiệp không gửi báo cáo theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 209 của Luật này đến Cơ quan đăng ký kinh doanh trong thời hạn 06 tháng, kể từ ngày hết hạn gửi báo cáo hoặc có yêu cầu bằng văn bản; hoặc trường hợp khác theo quyết định của Tòa án ( theo Điều
211 Luật Doanh nghiệp năm 2014) thì doanh nghiệp sẽ bị cơ quan cơ thẩm quyền thu hồi giấy đăng kí doanh nghiệp, nghĩa là Nhà nước rút lại sự công nhận tư cách của doanh nghiệp
Do đó, doanh nghiệp bắt buộc phải giải thể
Như vậy, giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp là căn cứ pháp lý không thể thiếu cho sự tồn tại và hoạt động của các doanh nghiệp Khi doanh nghiệp vi phạm các quy định của pháp luật và bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp thì doanh nghiệp không thể tiếp tục tồn tại và hoạt động.Trong những trường hợp này, doanh nghiệp phải giải thể theo yêu cầu của cơ quan đăng ký kinh doanh
2.Điều kiện giải thể doanh nghiệp.
Cơ sở pháp lý quy định tại khoản 2 Điều 201 Luật Doanh nghiệp năm 2014 Để được giải thể, doanh nghiệp phải thỏa mãn đồng thời 2 điều kiện sau:
+ Doanh nghiệp bảo đảm thanh toán hết các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác
+ Doanh nghiệp không trong quá trình giải quyết tranh chấp tại Tòa án hoặc cơ quan trọng tài
Ngoài điều kiện doanh nghiệp bảo đảm thanh toán hết các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác, Luật Doanh nghiệp năm 2014 đã bổ sung thêm điều kiện giải thể doanh nghiệp là doanh
Trang 5nghiệp không trong quá trình giả quyết tranh chấp tại Tòa án hoặc cơ quan trọng tài nhằm bảo toàn tài sản của doanh nghiệp khi có tranh chấp và bảo vệ quyền và lợi ích của những chủ thể liên quan đến doanh nghiệp Ví dụ: Doanh nghiệp A tranh chấp với doanh nghiệp B Trong khoảng thời gian hai bên tranh chấp, doanh nghiệp A tiến hành giải thể, tài sản của doanh nghiệp A sẽ được đem đi thanh toán các khoản nợ của doanh nghiệp hoặc là có
phương án đảm bảo thanh toán các khoản nợ Nếu tòa xử cho doanh nghiệp A phải bồi thường cho doanh nghiệp B, khi mà A đã giải thể xong thì khi đó, A không còn tài sản để trả cho B và doanh nghiệp B bị thiệt hại
Như vậy, doanh nghiệp chỉ được giải thể khi bảo đảm thanh toán hết các khoản nợ
và nghĩa vụ tài sản khác và thêm nữa doanh nghiệp không trong quá trình giải quyết tranh chấp tại Tòa án hoặc cơ quan trọng tài Quy định này nhằm đảm bảo quyền lợi của các chủ thể có liên quan khi các bên đang trong quá trình giải quyết tranh chấp tại Tòa án hoặc cơ quan trọng tài
3.Thủ tục giải thể doanh nghiệp.
So với Luật Doanh nghiệp 2005, Luật doanh nghiệp 2014 đã có nhiều sự đổi mới Một trong những đổi mới đó là về thủ tục giải thể doanh nghiệp Nếu như Luật Doanh nghiệp năm
2005, quy định các trường hợp giải thể đều trong một điều luật, thủ tục tương tự nhau, không
có sự phân biệt rõ ràng thì đến Luaath Doanh nghiệp năm 2014, xuất phát từ bản chất của các trường hợp giải thể và sự xuất hiện của Tòa án việc giải thể doanh nghiệp, nhà làm luật
đã quy định rạch ròi, chi tiết 2 trình tự thủ tục giải thể doanh nghiệp như sau:
3.1 Trình tự, thủ tục giải thể doanh nghiệp trong trường hợp giải thể được quy định tại điểm a, b, c khoản 1 Điều 201 Luật Doanh nghiệp năm 2014.
Tại Điều 59 Nghị định số 78/2015/NĐ-CP và Điều 202 Luật doanh nghiệp năm 2014 quy định về trình tự, thủ tục giải thể trong các trường hợp trừ trường hợp giải thể do bị thu hồi giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp như sau:
Bước 1: Thông qua quyết định giải thể doanh nghiệp (Khoản 1 Điều 202 Luật Doanh nghiệp 2014)
Quyết định giải thể doanh nghiệp được coi như thông báo của doanh nghiệp đến cơ quan đăng kí kinh doanh, cơ quan thuế, các chủ nợ, người có quyền và nghĩa vụ, lợi ích liên quan, người lao động trước khi doanh nghiệp chấm dứt hoạt động
Việc thông qua quyết định giải thể doanh nghiệp được thực hiện theo quy định của pháp luật doanh nghiệp về triệu tập họp và thông qua quyết định của hội đồng thành viên (đối với công
ti trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên thì phải được số phiếu đại diện ít nhất 75% tổng
số vốn góp của các thành viên dự họp chấp thuận; đối với công ti hợp danh là phải được ít nhất ¾ tổng số thành viên hợp danh chấp thuận, trừ trường hợp điều lệ công ty quy định khác), của đại hội đồng cổ đông của công ty cổ phần (phải được ít nhất 65% tổng số phiếu
Trang 6biểu quyết của tất cả các cổ đông dự họp chấp thuận) hoặc do chủ sở hữu doanh nghiệp tư nhân, chủ sở hữu công ti trách nhiệm hữu hạn một thành viên trực tiếp quyết định
Quyết định giải thể doanh nghiệp bắt buộc phải có các nội dung sau: Tên, địa chỉ trụ sở chính của doanh nghiệp; lí do giải thể; thời hạn, thủ tục thanh lí hợp đồng và thanh toán các khoản nợ của doanh nghiệp (thời hạn thanh toán nợ, thanh lí hợp đồng không được không được vượt quá 06 tháng kể từ ngày thông qua quyết định giải thể); phương án xử lý các nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng lao động; họ, tên, chữ ký của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp
Bước 2: Gửi quyết định giải thể và biên bản họp đến Cơ quan đăng ký kinh doanh, chủ nợ và công khai quyết định này (Khoản 3, 4 Điều 202 Luật Doanh nghiệp năm 2014) Theo quy định của pháp luật hiên hành, trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày thông qua, quyết định giải thể và biên bản họp phải được gửi đến Cơ quan đăng ký kinh doanh, cơ quan thuế, người lao động trong doanh nghiệp, đăng quyết định giải thể trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp và phải được niêm yết công khai tại trụ sở chính, chi nhánh, văn phòng đại diện của doanh nghiệp
Trường hợp doanh nghiệp còn nghĩa vụ tài chính chưa thanh toán thì phải gửi kèm theo quyết định giải thể phương án giải quyết nợ đến các chủ nợ, người có quyền lợi và nghĩa vụ
có liên quan Thông báo phải có tên, địa chỉ của chủ nợ; số nợ, thời hạn, địa điểm và phương thức thanh toán số nợ đó; cách thức và thời hạn giải quyết khiếu nại của chủ nợ
Cơ quan đăng ký kinh doanh phải thông báo tình trạng doanh nghiệp đang làm thủ tục giải thể trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp ngay sau khi nhận được quyết định giải thể của doanh nghiệp Kèm theo thông báo phải đăng tải quyết định giải thể và phương án giải quyết nợ (nếu có)
Bước 3: Tổ chức thanh lí tài sản và thanh toán nợ (Khoản 2, 5 Điều 202 Luật doanh nghiệp 2014)
Ở bước này, pháp luật hiện hành quy định 2 nội dung: Người tổ chức thanh lí tài sản và thứ
tự thanh toán nợ Theo quy định tại khoản 2 Điều 202 Luật doanh nghiệp năm 2014: “Chủ doanh nghiệp tư nhân, Hội đồng thành viên hoặc chủ sở hữu công ti, Hội đồng quản trị trực tiếp tổ chức thanh lí tài sản doanh nghiệp, trừ trường hợp điều lệ công ti quy định thành lập
tổ chức thanh lý riêng” Quy định này nhằm tạo sự chủ động hơn cho doanh nghiệp, giúp đẩy nhanh thời gian và hiệu quả thanh lý tài sản của doanh nghiệp
Sau khi thanh lý tài sản, doanh nghiệp phải thanh toán các khoản nợ Việc thanh toán các khoản nợ phải được thực hiện theo một thứ tự nhất định Thứ tự đó được quy định tại khoản
5 Điều 202 Luật doanh nghiệp 2014:
Trang 7“a)Các khoản nợ lương, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật và các quyền lợi khác của người lao động theo thỏa ước lao động tập thể và hợp đồng lao động
đã ký kết;
b) Nợ thuế;
c) Các khoản nợ khác”
Bước 4: Gửi đề nghị giải thể đến cơ quan đăng kí kinh doanh và cơ quan đăng kí kinh doanh cập nhật tình trạng pháp lý của doanh nghiệp trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng
kí doanh nghiệp (khoản 7, 8 Điều 202 Luật doanh nghiệp 2014)
Sau khi thanh toán hết các khoản nợ của doanh nghiệp, người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp phải gửi đề nghị giải thể, hồ sơ giải thể đến cơ quan đăng kí kinh doanh trong thời hạn 05 ngày làm việc
Sau thời hạn 180 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định giải thể theo khoản 3 Điều 202 mà không nhận được ý kiến về việc giải thể từ doanh nghiệp hoặc phản đối của bên có liên quan bằng văn bản hoặc trong 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận hồ sơ giải thể, Cơ quan đăng ký kinh doanh cập nhật tình trạng pháp lý của doanh nghiệp trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng
ký doanh nghiệp
3.2 Trình tự, thủ tục giải thể doanh nghiệp trong trường hợp bị thu hồi giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc theo quyết định của Tòa án.
Điều 203 LDN 2014 quy định về trình tự, thủ tục giải thể doanh nghiệp trong trường hợp bị thu hổi giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc theo quyết định của Tòa án như sau:
Bước 1: Cơ quan đăng ký kinh doanh, phải thông báo tình trạng doanh nghiệp đang làm thủ tục giải thể trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp đồng thời với việc
ra quyết định thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc ngay sau khi nhận được quyết định giải thể của Tòa án đã có hiệu lực thi hành Kèm theo thông báo phải đăng tải quyết định thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc quyết định của Tòa án
Bước 2: Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc quyết định của Tòa án có hiệu lực, doanh nghiệp phải triệu tập họp để quyết định giải thể Quyết định giải thể và bản sao quyết định thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc quyết định của Tòa án có hiệu lực phải được gửi đến Cơ quan đăng ký kinh doanh, cơ quan thuế, người lao động trong doanh nghiệp và phải được niêm yết công khai tại trụ sở chính và chi nhánh của doanh nghiệp
Trường hợp doanh nghiệp còn nghĩa vụ tài chính chưa thanh toán thì phải đồng thời gửi kèm theo quyết định giải thể của doanh nghiệp phương án giải quyết nợ đến các chủ nợ, người có quyền lợi và nghĩa vụ có liên quan
Trang 8 Bước 3: Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp gửi đề nghị giải thể cho
Cơ quan đăng ký kinh doanh trong 05 ngày làm việc, kể từ ngày thanh toán hết các khoản nợ của doanh nghiệp
Bước 4: Sau thời hạn 180 ngày kể từ ngày thông báo tình trạng giải thể doanh nghiệp theo quy định mà không nhận được phản đối của bên có liên quan bằng văn bản hoặc trong 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận hồ sơ giải thể, Cơ quan đăng ký kinh doanh cập nhật tình trạng pháp lý của doanh nghiệp trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp
Như vậy, Luật doanh nghiệp 2014 đã quy định rõ hơn về trình tự, thủ tục giải thể đối với trường hợp bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc theo quyết định của Tòa án Điều này đã khắc phục được hạn chế của Luật doanh nghiệp năm 2005 khi chỉ quy định một thủ tục giải thể chung cho tất cả các trường hợp giải thể doanh nghiệp Đồng thời, Luật Doanh nghiệp năm 2014 đã có các quy định nhằm giúp doanh nghiệp rút khỏi thị
trường thuận lợi hơn, nhanh hơn và rẻ hơn bằng các quy định: giải thể tự động (quy định tại khoản 8 Điều 202 Luật doanh nghiệp 2014) Ngoài ra, theo Luật Doanh nghiệp 2014 về trình
tự, thủ tục giải thể doanh nghiệp, việc thanh toán các khoản nợ của doanh nghiệp được sửa đổi ưu tiên thanh toán nợ thuế sau đó với các khoản nợ khác (khoản 5 Điều 202 Luật doanh nghiệp 2014) Quy định này buộc các doanh nghiệp sau khi thanh toán các khoản nợ lương, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật và các quyền lợi khác của người lao động theo thỏa ước lao động tập thể và hợp đồng lao động đã ký kết thì phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán thuế trước đối với Nhà nước sau đó mới đến các khoản nợ khác
III THỰC TRẠNG CỦA VIỆC GIẢI THỂ DOANH NGHIỆP Ở
NƯỚC TA HIỆN NAY.
Từ sau cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới, trong bối cảnh chung của nền kinh tế, nền kinh tế Việt Nam gặp rất nhiều khó khăn Điều này tác động lớn đến hoạt động của các doanh
nghiệp Nhiều doanh nghiệp sau khi đăng ký thành lập doanh nghiệp đã không trụ vững được trên thị trường dẫn đến phải giải thể, phá sản
- Về tình hình chung:
Số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể trong 02 tháng đầu năm 2016 của cả nước là 2.195 doanh nghiệp, tăng 6,8% so với cùng kỳ năm trước
- Theo loại hình doanh nghiệp:
Trong tổng số doanh nghiệp giải thể của cả nước trong 02 tháng đầu năm 2016 có 905 công
ty TNHH 1 thành viên chiếm 41,2%; có 654 công ty TNHH 2 thành viên chiếm 29,8%; có
370 công ty cổ phần chiếm 16,9% và 266 doanh nghiệp tư nhân chiếm 12,1% So với cùng
kỳ năm 2015, số doanh nghiệp giải thể trong 02 tháng đầu năm 2016 tăng ở tất cả các loại
Trang 9hình doanh nghiệp, trong đó công ty TNHH 1 thành viên có tỷ lệ tăng cao nhất là 41,2%, tiếp đến là công ty TNHH 2 thành viên là 29,8% và các loại hình còn lại
- Theo quy mô vốn:
Trong 02 tháng đầu năm 2016 theo số liệu tại bảng 1 của Cục Quản lý đăng ký kinh doanh cho thấy, số lượng doanh nghiệp giải thể phần lớn là những doanh nghiệp có quy mô vốn đăng ký nhỏ dưới 10 tỷ đồng là 2.051 doanh nghiệp, chiếm tỷ lệ 93,4% trên tổng số doanh nghiệp giải thể củdo a cả nước trong 02 tháng đầu năm 2016 tăng 6,8% so với cùng kỳ năm
2015 Điều đó cho thấy rằng, những doanh nghiệp có quy mô vốn lớn thường có sức đề kháng và hoạch định chiến lược kinh doanh tốt hơn
TT Quy mô vốn đăng ký 02 tháng đầu năm 2015 02 tháng đầu năm 2016
Tổng số 2.055 2.195
1 0 – 10 tỷ đồng 1.921 2.051
2 10 – 20 tỷ đồng 62 61
3 20 – 50 tỷ đồng 32 47
4 50 – 100 tỷ đồng 19 15
5 Trên 100 tỷ đồng 21 21
Bảng 1 Số doanh nghiệp giải thể theo quy mô vốn (Đơn vị: DN)
- Theo vùng lãnh thổ:
Tình hình doanh nghiệp đăng ký giải thể trong 02 tháng đầu năm 2016 giảm tại một số vùng trong cả nước so với cùng kỳ năm 2015, cụ thể: Trung du và miền núi phía Bắc có 123 doanh nghiệp giảm 32,4%; Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung có 270 doanh nghiệp giảm 29,7%; Đồng bằng Sông Cửu Long có 424 doanh nghiệp giảm 13,6% và Tây Nguyên
có 68 doanh nghiệp giảm 9,3% Trong khi đó, khu vực Đông Nam Bộ và Đồng bằng Sông Hồng có số doanh nghiệp giải thể tăng lần lượt là 65,3% (Đông Nam Bộ có 914 doanh
nghiệp) và 7,0% (Đồng bằng Sông Hồng có 396 doanh nghiệp)
- Theo lĩnh vực hoạt động:
Phân theo lĩnh vực hoạt động, trong 02 tháng đầu năm 2016 có 2 ngành, lĩnh vực có số doanh nghiệp giải thể giảm so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Khai khoáng có 19 doanh nghiệp giảm 38,7%; Xây dựng có 212 doanh nghiệp giảm 28,9% Các ngành, lĩnh vực còn lại đều có số doanh nghiệp giải thể tăng so với cùng kỳ năm 2015 như Y tế và hoạt động trợ giúp xã hội có 16 doanh nghiệp tăng 300%; Tài chính, ngân hàng và bảo hiểm có 23 doanh nghiệp tăng 91,7%; Nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản có 111 doanh nghiệp tăng
Trang 1088,1%; duy nhất, lĩnh vực hoạt động dịch vụ khác có số doanh nghiệp giải thể không thay đổi so với cùng kỳ năm 2015
IV ĐÁNH GIÁ VÀ KIẾN NGHỊ.
1.Đánh giá.
Tìm hiểu về nguyên nhân giải thể, ngừng hoạt động, có tới 56,4% số doanh nghiệp trả lời do sản xuất thua lỗ kéo dài, 5,1% trả lời do năng lực quản lý, điều hành hạn chế và 38,5% trả lời
do nguyên nhân khác như thiếu vốn sản xuất kinh doanh, không tìm kiếm được thị trường hoặc đang thuộc diện bán hoặc chờ sắp xếp lại Nhìn chung, nguyên nhân chủ yếu dẫn đến việc các doanh nghiệp tiến hành hành việc giải thể doanh nghiệp gồm:
Thứ nhất, các doanh nghiệp phụ thuộc rất nhiều vào xuất khẩu Mức độ tác động của
cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đã ảnh hưởng sâu sắc đến kinh tế thương mại của Việt Nam, chính vì vậy, các doanh nghiệp dễ bị ảnh hưởng, gặp khó dẫn tới giải thể
Thứ hai, doanh nghiệp Việt Nam chủ yếu là doanh nghiệp vừa và nhỏ, có vốn đầu tư
thấp, tay nghệ, trình độ quản lý kinh doanh thấp … nên khả năng cạnh tranh thấp Điều này cũng dễ dẫn tới việc doanh nghiệp dễ phá sản, giải thể khi không thể cạnh tranh được trên thương trường
Thứ ba, doanh nghiệp Việt Nam nhỏ bé về quy mô nên tâm lý của các chủ doanh
nghiệp cũng dễ dàng buông xuôi khi gặp khó khăn hơn các doanh nghiệp lớn Ở Việt Nam, chuyện từ bỏ kinh doanh này chuyển sang kinh doanh việc khác là chuyện diễn ra hằng ngày
Và cuối cùng, công tác đào tạo nguồn nhân lực, đào tạo quản lý lao động còn yếu kém, công tác quản lý hỗ trợ phát triển khoa học công nghệ ở nước ta còn nhiều hạn chế, còn thua kém các nước khác rất nhiều
2 Kiến nghị
Để giải quyết những khó khăn, vướng mắc hiện nay về việc giải thể của doanh nghiệp,
có thể nghiên cứu triển khai một số giải pháp như sau:
Một là, tiếp tục nghiên cứu, đơn giản hóa những thủ tục hành chính của doanh nghiệp
tại các cơ quan quản lý nhà nước trước khi doanh nghiệp thực hiện nộp bộ hồ sơ giải thể tại
cơ quan đăng ký kinh doanh Trong đó, tập trung đơn giản hóa quy trình về kê khai và quyết toán thuế cho doanh nghiệp sau khi doanh nghiệp quyết định giải thể
Hai là, tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền về quản lý nhà nước đối với doanh
nghiệp cũng như pháp luật, chế tài xử phạt vi phạm về giải thể, phá sản doanh nghiệp nhằm nâng cao hiểu biết và ý thức chấp hành pháp luật của doanh nghiệp